Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVThienYTongVanCongHouston. Show all posts
Showing posts with label VCNVThienYTongVanCongHouston. Show all posts

Tuesday, 2 May 2017

TÊN VC TỐNG VĂN CÔNG NẦY NGUYÊN LÀ TỔNG BIÊN TẬP BÁO LAO ĐỘNG - NÓ HIỆN SỐNG NẰM VÙNG TẠI TEXAS VỚI BÚT HIỆT LÀ THIỆN Ý./-TCL

TỐNG VĂN CÔNG LÀ 1 TÊN VC NẰM VÙNG NÓ GIẢ BỘ KÈM VÀO TỰA SÁCH CHỮ "CHỐNG CỘNG" ĐỂ BÁN SÁCH - AI NGU CỨ NHÀO VÔ MUA SÁCH NÓ NHÉ./-TCL

================

Hồi ký của nhà báo Tống Văn Công: Đến già mới chợt tỉnh – Từ theo Cộng đến chống Cộng
Ảnh bìa hồi ký Tống Văn Công
Về tác giả Tống Văn Công: Được xem như một trong những nhà báo lão thành của nền “báo chí cách mạng”, ông Tống Văn Công đã trở thành “kẻ thù” của đảng chỉ vì nhìn ra chân tướng chế độ và mạnh mẽ lên tiếng đòi hỏi cải cách dân chủ. Ông bị quy chụp là “phần tử chống đảng điên cuồng”, chỉ vì ông bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa. Ông Tống Văn Công vừa cho ra mắt quyển hồi ký “Đến già mới chợt tỉnh – Từ theo cộng đến chống cộng”. Ông thuật lại đời làm báo của mình. Ông cũng nhắc lại nhiều chuyện oái oăm khác trong chế độ mà ông từng phục vụ và từng tung hô để rồi nhận ra rằng chế độ ấy chỉ được dựng lên bằng dối trá. Dưới đây là vài trích đoạn trong hồi ký trên.

Kỳ 1: TÔN ĐỨC THẮNG, PHẠM VĂN ĐỒNG VÀ VỤ ÁN ĐƯỜNG BARBIER

Năm 1949 anh Lê Văn Chánh (hiện nay là Phó Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam) bạn đồng hương của tôi được kết nạp vào Đảng, sau đó được học một khóa chính trị, chương trình học gồm có: Chủ nghĩa xã hội khoa học; Cách mạng dân chủ mới; Lịch sử Đảng. Trong giáo trình lịch sử Đảng, có một bài về tổ chức tiền thân của Đảng là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Chủ tịch Kỳ ủy của tổ chức này (cấp lãnh đạo Nam Kỳ) là Tôn Đức Thắng.

Năm 1928 ông Tôn Đức Thắng chủ trì “tòa án cách mạng” xử tử hội viên Lê Văn Phát (người xã Mỹ Chánh, Ba Tri, Bến Tre) về tội yêu đương. Các hội viên thực hiện bản án bằng cách bóp cổ Lê Văn Phát đến chết, rồi đổ xăng đốt để không thể nhận diện. Anh Chánh và tôi vô cùng kinh ngạc, rồi tự an ủi “đó là một thời ấu trĩ đã qua”. Hàng chục năm sau, nhà thơ Hoàng Hưng trong dịp đi Pháp về kể, anh được đọc quyển hồi ký “Passion, Betrayal and Revolution in Colonial Saigon” của bà Nguyễn Trung Nguyệt, một trong bốn người thực hiện bản án nói trên kể lại chuyện xưa. (Ba người kia là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh bị tòa án Pháp xử tử, bà Nguyệt là phụ nữ nên được hạ mức án xuống tù chung thân, đày ra Côn Đảo).

Mãi gần đây tôi mới biết hồi ấy Tuần báo Phụ Nữ Tân văn (trụ sở ở số 42 đường Catinat, trước năm 1975 là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi) số 14, xuất bản ngày Một tháng 8 năm 1929 đã có bài tường thuật như sau: “Trong đêm mùng 8 rạng ngày 9 tháng 12 năm 1928 xảy ra vụ giết người quá tàn bạo và dã man tại căn nhà số 5, đường Barbier mà hung thủ là những người trong Phân bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội ở Nam Kỳ. Nạn nhơn là Lê Văn Phát, bí danh là Mỹ, Lang, bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội theo điều lệ của đảng: Lê văn Phát ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt”. Và tội phản bội theo điều lệ đảng được các đồng chí của Phát giải thích: “Phát không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng”. Ba đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong tổ chức của Phát (23, 24, và 26 tuổi) thi hành bản án đã được tòa án cách mạng phán quyết.

Tôn Đức Thắng, 40 tuổi chủ trì tòa án vì ông là Chủ tịch Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tòa án Pháp xử Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Phạm Văn Đồng 10 năm cấm cố vì “đồng ý bản án tử hình” nói trên. Bốn tên ra tay giết người, bị xử tử hình là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn văn Thinh, cô Nguyễn Trung Nguyệt bị đày ra Côn Đảo.” Sau này các giáo trình Lịch sử Đảng viết lại vụ án đường Barbier: Bác Tôn bị thực dân Pháp gán vào tội chủ mưu giết người trong vụ ám sát một người hợp tác với chính quyền thuộc địa Nam Kỳ tên là Phát. Họ cho rằng, các đồng chí của ông thực hiện vụ giết người ở đường Barbier. Nhờ một đồng chí trẻ đứng ra nhận mình là chủ mưu và nhờ sự vận động của một số nhân sĩ trí thức như bà Trần Thị Cừu, đốc học Nguyễn Văn Bá, luật sư Trịnh Đình Thảo, nên ông chỉ bị chính quyền thuộc địa tuyên án 20 năm chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo.

Lịch sử Đảng cho rằng trước đó cụ Tôn bị bắt lính năm 1914 và bị đưa sang Pháp, sung vào hải quân phục vụ cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất. Khi Cách mạng Tháng 10 Nga nổ ra, Pháp đưa hạm đội đi đàn áp. Cụ Tôn đã làm binh biến kéo cờ đỏ trên thiết giáp hạm ở Hắc Hải. Sau đó Cụ về nước thành lập Công hội đỏ ở Xưởng Ba Son năm 1920. Năm 1925, Cụ Tôn lãnh đạo cuộc đình công ở Xưởng Ba Son giam chân chiến hạm Pháp khiến chúng không kịp đi tham gia đàn áp cách mạng Trung Quốc. Về các sự kiện nói trên, giáo sư sử học Christoph Giebel của Đại học Washington tác giả quyển sách “Tiền bối tưởng tượng của những nhà cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” (Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) đã cho rằng: “Không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời thế chiến thứ nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các tổ chức cách mạng tại Sài Gòn. Ông Tôn không bị bắt lính mà được tuyển mộ. Và ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kỳ con tàu nào của Pháp liên quan vụ binh biến ở Hắc Hải. Bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên con tàu ở Hắc Hải để kết nối cách mạng Việt Nam với Cách mạng tháng Mười Nga.” Theo Giebel, “cuộc đình công ở Ba Son không phải là đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không giam chân được chiến hạm Pháp trên đường sang Trung Quốc.”

…….

Kỳ 2: “Cụ Hồ bày ra Đảng Dân Chủ với Đảng Xã Hội để dụ khị mấy thằng trí thức đang lớ ngớ, gom vào hai cái đảng này để tiện việc quản lý, giáo dục đó thôi!”

Thursday, 20 April 2017

Ở HOUSTON CÓ ĐẾN 2 NGƯỜI LẤY BÚT HIỆU "THIỆN Y" ....

THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG XƯNG LÀ HỘI LUẬT KHOA- NÓ LÀ MỘT TÊN VC NẰM VÙNG TRONG SINH VIÊN LUẬT- LÀ ĐỨA KHỐN NẠN ĐỨNG RA KÊU GỌI MỸ PHẢI RÚT KHỎI MIỀN NAM VÔ ĐIỀU KIỆN - NÓ THƯỜNG VIẾT BÀI BÊNH VỰC VIỆT CỘNG=
THIỆY Ý THỨ 2 LÀ CỦA TÊN VC TỐNG VĂN CÔNG CỰU TỔNG BIÊN TẬP BÁO LAO ĐỘNG CỦA VIỆT CỘNG - HẮN VỀ HƯU VÀ ĐƯỢC CON, RỂ BẢO LÃNH QUA SỐNG Ở HOUSTON - NÓ THƯỜNG XUYÊN VIẾT BÀI ĐĂNG TRONG NƯỚC GIẢ BỘ NHƯ CÒN ĐANG SỐNG TRONG HẼM VIỆT CỘNG KIM NGÂN. *BÀI NẦY CÓ VẼ LÀ CỦA THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG LUẬT KHOA/-TCL

====================


Kính thưa Qúi Vị:
Đọc bài viết của ông Thiện Ý , chúng tôi thấy ông Thiện Ý chẳng có thiện tâm, thiện tánh mà đang dùng cái trò chữ và nghĩa để binh vực cho Linh Mục Vũ Thành vì cá nhân ông ta là một tín đồ Công giáo
Ông Thiện Ý nghĩ rằng với văn phong và chữ nghĩa của ông có thể lấp liếm được vấn đề sai trái của Linh mục Vũ Thành và công khai kết án cho qúi vị đi biểu tình ở Toà Giám Mục là tạo sự chia rẽ giữa những người Quốc Gia Chân Chính ?
Người Quốc Gia Chân Chính là người có lập trường chống Cộng minh bạch. Một khi có lập trường minh bạch thì tức nhiên ở đó có đường lối sinh hoạt rõ ràng ?
Ông dùng chữ và nghĩa của ông để binh vực việc làm không rõ ràng của Linh Mục Vũ Thành rồi kết án những người chống Cộng Chân Chính này là những kẽ đang gây nên tình trạng chia rẽ những người Quốc Gia ? (Trích)
 “…    Một ví dụ điển hình gần nhất và mới nhất là vụ việc ở Houston liên quan đến việc tổ chức Hội chợ gây quỹ hàng năm của Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam diễn ra trong ba ngày mà ngày cuối cùng trùng với ngày 30-4-1975. Xin được nhắc lại là Hội chợ này đã bị nhiều người Việt quốc gia chống cộng khắp nơi phản đối vì trùng với thời điềm ngày Quốc hân 30-4 và Tháng Tư đen. Đó là một sự phản đối chính đáng vì trong thân phận chung là người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản không nên có lễ hội vui chơi trong dịp đau buồn này. Thế nhưng sau khi họp bàn giữa Ban tổ chức Hội chợ với đại diện Tổ chức Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Các vùng phụ cận, cùng đại diện các chính đảng, các đoàn thể và thân hào nhân sĩ chống cộng, đã đi đến giải pháp là Hội chơ “Crawfish Festival” thay vì  ba ngày như mọi năm, rút lại hai ngày. Ngày cuối cùng trùng ngày 30-4 sẽ là ngày cầu nguyện  cho  anh linh các chiến sĩ và đồng bào đã vị quốc vong thân và buổi tối giáo dân của giáo xứ sẽ cùng nhau tham dự ngày Quốc hận 30-4 do Cộng Đồng tổ chức tại khuôn viên chợ Hong-Kong 4 trên đại lộ Bellaire, vùng Southwest Houston. Mặc dầu, giải pháp này không phải là tối ưu, nhưng được đa số tham dự chấp nhân vì thông cảm với Ban tổ chức đã lỡ chuẩn bị mọi mặt cho Hội chợ, chỉ lưu ý là trong các năm tới tổ chức Hội chợ nên tránh xa ngày 30-4. Giải pháp này cũng được công luận cho là hợp tình, hợp lý, có thể chấp nhận được. Đúng ra, vì lợi ích chống cộng cần sự đoàn kết nội bộ, không cần phải tiếp tục biểu tình chống đối. Vì việc làm này chắc chắn không có hiệu quả buộc Ban tổ chức Hội chợ hủy bỏ, dời ngày, mà chỉ có hậu quả là sứt mẻ tình đoàn kết nội bộ những người Quốc gia chống cộng, chỉ có lợi cho Việt cộng…" ( hết trích)
Những cái lấp liếm của ông Thiện Ý tôi đã từng trình bày qua nhìều bài viết của chúng tôi về ông qua thái độ binh vực những hành động làm lợi cho VC của Thiện Ý như bài viết hôm nay
Ông có biết người ta chống ông Vũ Thành vì ông ta đã tuyên bố "Đối với ông ta ngày 30 tháng 4 KHÔNG PHẢI LÀ NGÀY QUỘC HẬN QUỐC TÁNG MÀ LÀ NGÀY CUẢ QUỐC ÁN, QUỐC CƯỜNG"

Click cái link này và nghe ở phút 3:54 ông Vũ Thành nói "Đối với ông ta 30/4 KHÔNG PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN..." và ý kiến phản đối của thính giả gọi vào ở phút 21:26 mà bị ông Dương Phục dục giả cắt ngang .

 Chúng tôi đã từng nghe ông và ông Dương Phục tung hứng trên đài SAIGON-HOUSTON 900 AM nhiều lần như cái ý kiến có lập trường chính trị mà không có thái độ chính trị . Như vậy hôm nay cả hai ông cũng có ý binh vực cho Linh Mục Vũ Thành nhưng ông Dương Phục khôn ngoan hơn có lẽ còn có ý thức tôn trọng sự hiểu biết của thính giả và độc giả.
Còn như ông Thiện Ý cứ nghĩ mình là bồ chữ của thiên hạ nên xem thường sự hiểu biết của người dân.
Không lẽ ông ĐỒNG Ý VỚI LM VŨ THÀNH LÀ NGÀY 30/4 KHÔNG PHẢI LÀ NGÀY QUỐC HẬN??
Ngay 30/4 là ngày thịt rơi máu đổ với biết bao sinh linh cũng như trên 300,000 gia đình Quân Cán Chính VNCH tan nhà nát cửa con cái trong một phút chốc bơ vơ giữa góc đường xó chợ . Vậy thì QUỐC CƯỜNG CHỖ NÀO? 
Đừng tưởng mình là con tằm đang nhả tơ trong khi người dân đã thấy rõ cái con NHỘNG TRONG CÁI KÉN RỒI
Cá nhân tôi ủng hộ TS Mai Thanh Truyết , nhà báo Mai Loan và tất cả anh em trong cuộc biểu tình này

Tôn Nữ Hoàng Hoa
20/4/2017

On Tuesday, April 18, 2017 1:08 PM, "hungthe hungthe42@yahoo.com [VN-TD]" <VN-TD@yahoogroups.com.au> wrote:


       Kính chuyển một baì viết giá trị phổ biến, ht


----- Forwarded Message -----
From: "'San Le D.' sanduyle wrote [TiengGoiNonSong]" <TiengGoiNonSong@yahoogroups.com>
To: 
Sent: Tuesday, April 18, 2017 9:11 AM
Subject: [TiengGoiNonSong] Fw: LAM THE NAO PHAN BIET GIUA NGUOI VIET QUOC GIA CHAN CHINH VOI VIET CONG NAM VUNG?

KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG MUON CHONG TRUNG CONG PHAI DIET VIET CONG MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN

----- Forwarded Message -----
From: luatkhoavietnam . <luatkhoavietnam
Sent: Tuesday, April 18, 2017 8:59 AM
Subject: LAM THE NAO PHAN BIET GIUA NGUOI VIET QUOC GIA CHAN CHINH VOI VIET CONG NAM VUNG?

Những vấn đề của chúng ta:
LÀM THẾ NÀO PHÂN BIỆT GIỮA NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHÂN CHÍNH VỚI VIỆT CỘNG NẰM VÙNG?
Thiên Ý.
     Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam hiện nay, kể từ sau 30-4-1975, để khẳng định “Ai thắng Ai?” , Việt cộng đã và đang tiếp tục các thủ đoạn phân hóa, lũng đoạn các Cộng Đồng Người Việt Quốc gia, thành trì chống cộng cuối cùng của người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản (1). Một trong những thủ đoạn đó là cài cắm người nằm vùng trong các Cộng đồng mà chúng ta thường gọi là bọn tay sai cộng sản “nằm vùng”.
     Vậy, làm thế nào để phân biệt giữa người Việt Quốc gia chân chính với tay sai nằm vùng của Việt cộng?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi lần lượt trình bầy:
1.- Thế nào là người Việt quốc gia chân chính?
2.- Thế nào là Việt cộng nằm vùng?
3.-Làm thế nào phân biệt…?
I/- THẾ NÀO LÀ NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHÂN CHÍNH?
     Theo nhận định của chúng tôi: Người Việt quốc gia chân chính là người luôn đứng vững trên lập trường Quốc gia, Dân tộc, Dân chủ, kiên trì chống cộng cho đến khi nào thành đạt mục tiêu lý tưởng “dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam, để phát triển toàn diện đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của thời đại”; vì độc lập dân tộc, tự do dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam hiện tại cũng như các thế hệ tương lai.
     Để thành đạt mục tiêu chủ yếu trên, người Việt quốc gia chân chính luôn nhận thức và chỉ hành động sao cho có lợi mà không có hại cho sự nghiệp chống cộng vì tự do, dân chủ cho Việt Nam.
II/- THẾ NÀO LÀ VIỆT CỘNG NẰM VÙNG?
     Việt cộng nằm vùng là những người do Việt cộng gài vào nội bộ của Việt quốc (gọi chung phe Quốc gia), dưới vỏ bọc là người quốc gia, để bao che cho các hoạt động nhằm: nắm vững tình hình nội bộ Việt quốc,khai thác triệt để các mâu thuẫn nội bộ tự phát hay tạo ra những mâu thuẫn mới để phân hóa, gây bất ổn triền miên, làm suy yếu Việt quốc, nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu của Việt cộng là tiêu diệt Việt quốc.
    Theo đó, không phải bây giờ, mà trước đây trong giai đoạn chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975), Việt cộng cũng đã thực hiện khá thành công trong việc gài người nằm vùng trong lòng chính quyền quốc gia Việt Nam Công Hòa các cấp, các ngành.Sau ngày 30-4-1975, nhiều tên Việt cộng nằm vùng trong các cơ quan chính trị, quân sự, tôn giáo, sinh viên học sinh, không bị an ninh VNCH phát hiện, đã xuất đầu lộ diện, nhiều kẻ trong số này đã đóng vai trò lãnh đạo trong bộ máy đảng và nhà nước các cấp trong cái gọi là “Vùng mới giải phóng ở Miền Nam”…Điều này chẳng cần nói ra cụ thể thì những người việt quốc gia ai cũng đã biết.
     Hiện tại, trong 42 năm qua, Việt cộng cũng vẫn bổn cũ soạn lại và tinh vi hơn để phù hợp với “Tình hình và nhiệm vụ mới”. Tình hình mới là phe Việt quốc không còn chính quyền, quân đội, lãnh thổ… chỉ còn có dân tỵ nạn cộng sản, sống quy tụ thành các các cộng đồng sắc dân thiểu số trong lòng các quốc gia cưu mang ở hải ngoại. Thực tế là các Cộng đồng này đã như thành trì chống cộng của Việt quốc và cũng là hậu phương hổ trợ cho tiền tuyến chống cộng của nhân dân trong nước. Nhiệm vụ mới của Việt cộng nằm vùng là làm sao bằng mọi thủ đoạn tinh vi gây bất ổn thường trực, lũng đoạn và phá nát sự đoàn kết trong các Cộng đồng, để không còn ai nghe ai, tin ai, chống phá lẫn nhau…(2)
     Mặc dầu bổn cũ soạn lại, nhưng thực tế Việt cộng vẫn gặt hài được thành quả “nằm vùng” theo đúng ý đồ trong tình hình và nhiệm vụ mới. Tiếc rằng Việt quốc chúng ta dường như đã quên bài học kinh nghiệm quá khứ, về sự bất ổn chính trị, phân hóa chính quyền do nằm vùng của Việt cộng gây ra trong hơn 20 năm chiến tranh. Vì thế, sau 42 năm qua, nhiều Cộng đồng bất ổn triền miên, một số chính đảng quốc gia, các tổ chức, đoàn thề chính trị, xã hội…ít nhiều đều bi phân hóa cách này cách khác, trong đó có bàn tay nằm vùng tác động.Chúng ta biết, nhưng phải chấp nhận thưc tế, với nỗ lực của một số cá nhân và đoàn thể chống cộng nhằm hạn chế tác hại của các hoạt động nằm vùng của Việt cộng, chứ không thể tiêu diệt được chúng.
III/- LÀM THẾ NÀO PHÂN BIỆT…?
     Nỗ lực cá nhân cũng như của các đoàn thể chống cộng bao lâu nay vẫn chỉ là tìm cách giúp nhau phân biệt giữa người Việt quốc gia chân chính với những tên tay sai Việt cộng nằm vùng, với hiệu quả hạn chế.Việc đưa ra một số tiêu chuẩn để phân biệt giữa người Việt quốc gia chân chính với Việt cộng nằm vùng cũng là nỗ lực cá nhân chúng tôi thể hiện qua nhiều bài viết trong vòng 25 năm qua, từ khi ra hải ngoại (1992-2017) (3)
    Theo chúng tôi căn cứ trên các tiêu chuẩn sau đây để phân biệt:
   1.- Sự khác biệt rõ rệt về nhận thức được thể hiện qua các hoạt động của một Việt quốc khác với Việt cộng như đã trình bầy ở trên: Chỉ làm những việc có lợi, không có hại cho công cuộc chống cộng vì dân chủ.
   2.- Thái độ bầy tỏ và cung cách xử sự của người Việt quốc gia với người Việt quốc gia, mỗi khi có bất đồng, mâu thuẫn nội bộ, khác với đối với Việt cộng. Sự khác biệt được  nhận biết qua:
   - Thái độ, hành động ương kính, bao dung, xây dựng, tôn trọng sự thật, với chiến hữu khi có bất đồng, không nhục mạ, miệt thị, bịa đặt, chụp mũ, và mang tính hận thù như với Việt cộng, thể hiện qua ngôn từ viết hay nói.
   
     Một ví dụ điển hình gần nhất và mới nhất là vụ việc ở Houston liên quan đến việc tổ chức Hội chợ gây quỹ hàng năm của Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam diễn ra trong ba ngày mà ngày cuối cùng trùng với ngày 30-4-1975. Xin được nhắc lại là Hội chợ này đã bị nhiều người Việt quốc gia chống cộng khắp nơi phản đối vì trùng với thời điềm ngày Quốc hân 30-4 và Tháng Tư đen. Đó là một sự phản đối chính đáng vì trong thân phận chung là người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản không nên có lễ hội vui chơi trong dịp đau buồn này. Thế nhưng sau khi họp bàn giữa Ban tổ chức Hội chợ với đại diện Tổ chức Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Các vùng phụ cận, cùng đại diện các chính đảng, các đoàn thể và thân hào nhân sĩ chống cộng, đã đi đến giải pháp là Hội chơ “Crawfish Festival” thay vì  ba ngày như mọi năm, rút lại hai ngày. Ngày cuối cùng trùng ngày 30-4 sẽ là ngày cầu nguyện  cho  anh linh các chiến sĩ và đồng bào đã vị quốc vong thân và buổi tối giáo dân của giáo xứ sẽ cùng nhau tham dự ngày Quốc hận 30-4 do Cộng Đồng tổ chức tại khuôn viên chợ Hong-Kong 4 trên đại lộ Bellaire, vùng Southwest Houston. Mặc dầu, giải pháp này không phải là tối ưu, nhưng được đa số tham dự chấp nhân vì thông cảm với Ban tổ chức đã lỡ chuẩn bị mọi mặt cho Hội chợ, chỉ lưu ý là trong các năm tới tổ chức Hội chợ nên tránh xa ngày 30-4. Giải pháp này cũng được công luận cho là hợp tình, hợp lý, có thể chấp nhận được. Đúng ra, vì lợi ích chống cộng cần sự đoàn kết nội bộ, không cần phải tiếp tục biểu tình chống đối. Vì việc làm này chắc chắn không có hiệu quả buộc Ban tổ chức Hội chợ hủy bỏ, dời ngày, mà chỉ có hậu quả là sứt mẻ tình đoàn kết nội bộ những người Quốc gia chống cộng, chỉ có lợi cho Việt cộng…
     Thề nhưng, đột nhiên người ta đọc được trên mạng internet một “Thông báo” mời tham gia biểu tình trước Tòa Tổng Giám Mục Tổng Giáo phận Galveston Houston, với mục đích chống Hội chợ gây quỹ của Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam..
     Trước sự việc trên, chúng tôi có viết bài “Không thể không lên tiếng vì một người công chính” để phân tích khách quan nôi vụ và yêu cầu trả lại sự công bình cho linh mục chánh xứ Vũ Thành. Vì Ngài không có quyền và trách nhiệm gì trong việc chọn ngày giờ, chương trình tổ chức Hội chợ, nhưng lại bị “thỉnh thoảng người ta vẫn đọc được đâu đó những bài chỉ chích, phê phán, kết án Linh mục Chánh xứ Vũ Thành như là người quyết định tất cả nên có trách nhiệm. Một số bài sử dụng những ngôn từ bất xứng, vô văn hóa có tính bới móc, nhục mạ, xúc phạm đến nhân phẩm con người, nhất nữa con người ấy là một vị chân tu, một người công chính…”
     Sau bài viết của tôi, người ta có chuyển cho tôi hai email thể hiện hai cung cách trái ngược: Một người bầy tỏ sự bất đồng, qua ngôn ngữ viết đúng cung cách một người Việt quốc gia chân chính; một kẻ khác bầy tỏ sự bất đồng, qua ngôn ngữ không khác gì tên Việt cộng nằm vùng vì nó thể hiện hận thù, miệt thị, và muốn kích động dẫn đến bất ổn cộng đồng. Xin trích đoạn nguyên văn như sau:
“Kính thưa quý anh,
Vấn đề email của “Thiện Ý” Nguyễn Văn Thắng không đáng quan tâm vì ycó quan hệ mật thiết với Vũ Thành, và Trịnh Tiến Tinh, do đó hắn bêng vực hai tên đó cũng không có gì là lạ cả,Tuy nhiên hắn càng bênh vực bao nhiêu, mọi người càng hiểu sự thâm độc của Trịnh Tiến Tinh bấy nhiêu, và việc làm của đoàn người đi biểu tình trước Tòa Tổng Giám Mục Địa Phận Galveston Houston là đúng…” (hết trích)
    Quý độc giả lưu ý đến các từ ngữ chúng tôi tô đậm để thấy rõ sự miệt thị và hằn thù với cá nhân chúng tôi, Linh mục Vũ Thành và Ông Trịnh Tiến Tinh. Chúng toi là ai? -, đều là những người Việt quốc gia chống cộng. Ngôn từ này chỉ có Việt cộng mới dùng và bắt dân chúng dùng mỗi khi nói đến kẻ thù như: gọi những lãnh đạo VNCH trước đây là “Thằng Diệm, Thằng Nhu, Thằng Thiệu- Kỳ- Khiêm…”, chắc mọi người Việt quốc gia còn nhớ? Nay kẻ viết email đề tên Bùi Ngọc Thắng (không rõ tên thật hay giả) do Ông Bùi Ngọc Tuyền (một trọng những người ký thông báo kêu gọi và tham gia biểu tình trước Tòa Tổng Giám Mục) đã chuyển đến tôi, lại miệt thị dùng đại từ “Y và hắn” đối với tôi, gọi Linh mục Vũ Thành và Ông  Trịnh Tiến tinh là “hai tên đó…”, sách mé gọi linh mục Vũ thành không kèm danh vị…thì Quý độc giả nghĩ sao?
     Ngoài ra, qua trích đoạn trên, có một chi tiết bịa đặt, không đúng sự thật là tôi và Linh mục Vũ  Thành cũng như Ông Trịnh Tiến  Tinh chưa một lần nào giáp mặt nói chuyện với nhau bao giờ cả. Thế mà email bịa đặt viết như thật:
“Vấn đề email của “Thiện Ý” Nguyễn Văn Thắng không đáng quan tâm vì ycó quan hệ mật thiết với Vũ Thành, và Trịnh Tiến Tinh, do đó hắn bênh vực hai tên đó cũng không có gì là lạ cả…”.
     Dẫn chứng điển hình trên chỉ để phân biệt giữa người Việt quốc gia chân chính với tay sai cộng sản nằm vùng, nhưng đừng ai truy chụp là chúng tôi muốn ám chỉ những người biểu tình chống Hội chợ của  Giáo xứ Các  Thánh Tử Đạo Việt Nam ở Houston là Việt cộng. Tất cả có thể khẳng định không sợ sai lầm rằng, hầu hết là người Việt quốc gia chân chính, chống cộng vì mục tiâu dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam. Nhưng không loại trừ có tay sai Việt cộng nằm vùng len lòi vào để làm nhiệm vụ mà chúng ta phải cảnh giác.
     Nhân đây cũng nhắn gửi đến Tổng lãnh sự Việt cộng ở Houston, Chi bộ đảng CSVN lãnh đạo lãnh sự quán và chỉ đạo tổ “Tình báo đối ngoại”, rằng mọi âm mưu thủ đoạn cài người vào nội bộ người Việt quốc gia, có thể nhất thời gây bất ổn, xáo trộn cộng đồng Houston, phân hóa được một bộ phận nhỏ trong cộng đồng này. Nhưng tuyệt đối sẽ không bào giờ phá nát được sự đoàn kết của toàn khối người Việt quốc gia chống cộng vì tự do, dân chủ cho Việt Nam. Nhất là sẽ không bao giờ thay đổi được chiều hướng mới không thể đảo ngược “Dân chủ tất thắng độc tài các kiểu”, trong đó có độc tài CSVN. Vì đó là xu thế  thời đại và chiều hướng phát triển tất yếu của thực tiễn và lịch sử  Việt Nam. Sự tiêu vong chế độ độc tài toàn trị CSVN đã là tất yếu, chỉ còn là thời gian sớm hay muộn mà thôi. Đây không chỉ là niềm tin mà là một thự cte61 ngày càng khẳng định:Cuối cùng, công cuộc chống cộng vì tự do dân chủ cho Việt Nam của người Việt quốc gia kéo dài nhiều thập niên qua cũng sẽ là một “thắng lợi tất yếu”, để khẳng định “Chân lý, chính nghĩa Quốc gia” tất thắng “Phi lý, ngụy nghĩa Cộng sản”.
Thiện Ý
Houston, ngày 18-4-2017
Ghi chú: (1), (2), (3) để tham khảo chi tiết hơn các thủ đoạn của Việt cộng,xin đọc thêm một số bài liên quan đến chủ đề này, trong hai Tuyển tập những bài viết của Thiện Ý trong vòng 25 năm qua (1992-2017) sẽ ấn hành nhân dịp 30-4-2017:
     1.- Cuộc nội chiến Quốc- Cộng- Ai thắng ai?
                   Tập I: Việt quốc
     2.- Cuộc nội chiến Quốc- Cộng- Ai thắng ai?
                   Tập II: Việt cộng

Monday, 14 April 2014

THẰNG VIỆT CỘNG NẰM VÙNG NGUYỄN VĂN THẮNG LUẬT KHOA NẦY NĂM XƯA NÓ TỰ XƯNG LÀ ĐẠI DIỆN THANH NIÊN SINH VIÊN CẢ SÀIGÒN VÀ HÀ NỘI YÊU CẦU MỸ RÚT QUÂN VÔ ĐIỀU KIỆN

CHÍNH THẰNG KHỐN NẠN NẦY ĐÃ TIẾP TAY CHO VIỆT CỘNG ĂN CƯỚP MIỀN NAM- BÂY GIỜ NÓ LẠI NÓI NẦY NÓI NỌ VÌ NÓ TƯỞNG KHÔNG AI BIẾT NÓ LÀ AI ./- Mt68

Tưởng niệm biến cố 30-4-1975, nhìn lại lịch sử:
CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐÃ BỊ BỨC TỬ NHƯ THẾ NÀO?
Thiện Ý  
nguyễn văn thắng
tống văn công 
   
        
Để tưởng niệm biến cố 30-4-1975 lần thứ 39, chúng tôi xin gửi lại trích đoạn trong Chương III (Việt Nam đã và đang đi vào thế chiến lược Quốc tế mới như thế nào), Phần III của tập tài liệu nghiên cứu lý luận “VIỆT NAM TRONG THẾ CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ MỚI”, ấn hành Tháng 4-1995 và tái bản Tháng 4-2005 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.



Thật vậy, vì không nắm được ý đồ chiến lược của Mỹ, CS Hà Nội đã hăm hở nhào vào giai đọan cuối cùng của cuộc chiến. Trong giai đọan này, nếu chỉ nhìn qua hiện tượng, người ta thấy như có sự ăn ý giữa Mỹ và CSBV, kẻ tung, người hứng để cùng cưỡng tử chế độ VNCH một cách ngọan mục.
1.- KHỞI ÐI TỪ SỰ KIỆN PHƯỚC LONG:
2.- ÐẾN SỰ KIỆN BANMÊTHỘT THẤT THỦ – THỬ THÁCH CUỐI CÙNG CHO TRỤ CỘT CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ÐỘ.
3.- THẢM CẢNH CUỐI CÙNG KẾT THÚC MỘT QUÁ TRÌNH, MỘT
   CUỘC CHIẾN
       
         Thảm cảnh bắt đầu từ vụ Buônmêthuột thất thủ, tiếp đến là quyết định của TT Thiệu bỏ ngỏ Cao nguyên cho cộng quân, di tản chiến thuật. Thế là quân dân các vùng di tản bị rơi vào tình cảnh tán lọan. Nhiều quân nhân bỏ ngũ chậy về lo cho gia đình di tản. Những người dân thường cũng rời bỏ cửa nhà, ruộng vườn, tài sản tháo chậy về phía tự do như dòng thác đổ. Người ta ghi nhận có đến nửa triệu quân dân Cao nguyên di tản về  Nha Trang, một tỉnh ven biển Miền Trung  của Việt Nam Cộng Hòa, phòng tuyến cuối cùng của Quân Địan II, Quân Khu II. . .Mà “Sau quyết định của Ông Thiệu, Quân Địan II tan vỡ nhanh như một giấc chiêm bao, mới đầu hôm sớm mai mà Quân Đoàn đã bị tiêu hủy trong nháy mắt. Hành lang phía Tây Sài Gòn bị đe dọa trầm trọng. . .”.
        
         Trong khi đó ở Huế, quân dân rút về Đà Nẵng, rồi tranh nhau tìm đường ra biển . Một số khác theo đường bộ tháo chạy về phía Nam như một “Đại lộ kinh hoàng”. Vì trên đại lộ ấy, nhiều cảnh đau lòng đã diễn ra. Người ta đã phải chứng kiến cảnh tranh sống sát hại nhau, nạn thổ phỉ cướp bóc, hãm hiếp công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Mọi giá trị nhân bản, đạo đức bị chà đạp; tình huynh đệ chi bình, nghĩa đồng bào trở thành xa lạ trong cuộc “rút lui chiến thuật” đầy hỗn lọan này.. Thảm cảnh này cũng diễn ra tương tự ở nhiều tuyến “Rút lui chiến thuật” khác trên các nẻo đường đất nước. Mọi người tháo chạy về phía tự do, vì lúc ấy có lời đồn đãi rằng “Đã có thương lượng cho CSBV một nửa lãnh thổ VNCH mà không chống cự. . .”
        
        Quả thực đến đầu Tháng 4 năm 1975, một nửa lãnh thổ VNCH đã bõ ngỏ cho Cộng quân đến tiếp quản. Tốc độ rút quân quá nhanh đến độ đối phương  không kịp tiếp thu, không đủ người và thực ra cũng không cần đủ người để giữ đất. Trong vòng vài tuần, 150.000 binh sĩ VNCH đã tự hủy và mất khả năng chiến đấu. Thế quân bình chiến lược hoàn toàn bị đảo ngược. Chế độ VNCH ở Miền Nam Việt Nam lâm nguy!
       Mặc dầu thực tế diễn ra đúng với ý muốn của Hoa Kỳ, nhưng TT. Gerald Ford lúc đó vẫn làm ra vẻ quan tâm đến việc cứu vớt số phận đã được an bài của VNCH. Ông Ford đã đề nghị ngân khỏan viện trợ quân sự  bổ xung 700 triệu Mỹ kim trang bị và lập cầu không vận khẩn cấp chuyển đồ tiếp tế  cho Quân Lực VNCH. Hành đồng này của TT. Ford chẳng khác chi hành động của một nhà đạo đức giả, một bác sĩ vô lương tâm, biết rằng con bệnh sắp chết và cái chết ấy có một phần trách nhiệm do mình gây ra, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra hết lòng muốn cứu sống con bệnh. Dẫu sao, đó cũng chỉ là những lời tuyên bố để che đậy một  ý đồ cũng chẳng thay đổi được thực tế.
         Thực tế lúc đó là, Ông Bùi Diễm, Đại sứ VNCH tại Mỹ, đã từ Washington trở về tuyên bố một cách tuyệt vọng, rằng “Không còn hy vọng gì về phía Mỹ nữa, chúng ta phải tính đến các điều kiện thực tế. . .”. Thực tế là một nửa nước đã mất, người ta chỉ còn trông chờ vào một cứu tinh. Nhưng nào còn ai dám làm cứu tinh, khi người Mỹ đã bỏ cuộc. Vậy chỉ còn trông chờ một phép lạ,mà phép lạ thì siêu hình khó xẩy ra. Vậy chỉ còn cách chấp nhận thực tế mà tờ New York Time số ra ngày 1-4-1975 đã phản ánh tổng quát “Quân Bắc Việt đã tràn lên khắp đất nước và chỉ gặp vài kháng cự lẻ tẻ, lãnh thổ bị chiếm là do bỏ cuộc thực sự. . .”.
         Theo sự đánh giá của một nhân viên cao cấp CIA có mặt vào những giờ phút hấp hối của chế độ VNCH thì “Lúc này, để bảo vệ Sàigòn quân Nam Việt đang tơi tả, chỉ còn tương đương sáu sư đoàn, đương đầu với 18 sư đoàn quân Bắc Việt, một đa số áp đảo. Điều mà Nam Việt Nam hy vọng thực hiện là lập một phòng tuyến án ngự cuối cùng chậy từ một phần đất Cao nguyên xuống tới bờ biển Miền Trung, xuyên ngang thị trấn Xuân Lộc. . .”.(28).
         Thế nhưng tình hình thực tế ngày càng nguy kịch. Trong lúc lâm nguy người ta lại nói nhiều đến giải pháp được Mỹ khuyến khích từ lâu, là thương lượng với CS để thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần. Đây cũng là giải pháp tương tự từng được qui định trong Hiệp Định Genève 1954, nhưng đã không được các bên thực hiện. Đó cũng là giải pháp bị bác bỏ năm 1965 vì đường lối chiến tranh đã được lựa chọn. Nay một lần nữa giải pháp được chọn lựa trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hịa bình cho Việt Nam năm 1973.
         Thực ra, đây là một giải pháp chỉ có giá trị pháp lý trên văn bản có tính  nguyên tắc, thực tế  thâm tâm người Mỹ cũng không muốn nó được thực hiện, vì họ không còn muốn dính lứu thêm nữa mà chỉ muốn cắt bỏ chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Vì rằng, để cho chế độ này tồn tại dưới bất cứ hình thức nào đều làm cản trở  tiến trình đi vào thế chiến lược quốc tế mới của Mỹ. Điều này cũng phù hợp với tham vọng của  CSBV, không muốn thương lượng trong điếu kiện hiện lại quá thuận lợi cho họ, mà chỉ cần  Ông Thiệu bị lật đổ bằng chính người của Ông ta. Họ muốn chế độ VNCH sụp đổ trước khi họ đến tiếp quản mà không phải tàn phá giết chóc nhiều. Họ muốn một sự xụp đổ từ từ để còn cho họ nguyên vẹn những chiến lợi phẩm, đúng ra là mọi tài sản của chế độ bị xụp đổ không do sức mạnh chiến đấu của họ.
       
        Đúng như lòng mong muốn của CS Hà nội, Ông Thiệu đã phải từ chức trước áp lực quần chúng và các phe phái tranh dành quyền lực dưới sự đạo diễn cùa CIA; bằng một bài diễn văn gay gắt  Ông Thiệu đã tố cáo sự phản bội của Mỹ, được truyền đi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phương tiện mà truớc đó người Mỹ đã thiết lập cho chế độ VNCH làm công việc tuyên truyền lôi kéo những con tim, khối óc và cả mạng sống của nhân dân Miền Nam Việt Nam đi vào chiến lược chống cộng bảo vệ chế độ và phần đất tự do MNVN như một “ tiền đồn thế giới tự do” ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế của Mỹ!
      Đây là những lời tố cáo muộn màng của Ông Thiệu:
         “ Họ bỏ rơi chúng tôi. Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với với một nước đồng minh nhỏ. . .”(29).(Lại một lầm lẫn lớn, cho đến lúc này Ông Thiệu vẫn chưa nhận ra thực trạng này: Chưa bao giờ VNCH được Mỹ đối xử như một đồng minh); Rồi Ông Thiệu hằn học oán trách người Mỹ: “Các Ông bỏ chạy để mặc chúng tôi làm cái việc mà các Ông làm không xong. Chúng tôi không có gì hết mà các Ông  lại muốn chúng tôi hoàn thành điều mà các Ông không làm nổi. . . Khi ký Hiệp Định hóa bình, Mỹ đã thỏa thuận sẽ thay thế vũ khí trên căn bản một đổi một. Nhưng Mỹ không giữ lời. Ngày nay còn ai có thể tin vào lời hứa hẹn của Mỹ nữa hay không?. .  .” (30)
        
         Ngày 26 tháng 4 năm 1975, nghĩa là năm ngày sau khi TT. Thiệu từ chức, Quốc Hội Sài Gòn đã khởi đầu bằng một thông báo, theo đó người được Tổng Thống Thiệu chỉ định nắm quyền Tổng Thống VNCH  (theo Hiến Pháp) là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, nay lại được Quốc Hội ủy nhiệm quyền tuyển chọn một người thay thế Ông trong chức vụ Tổng Thống VNCH. Trên căn bản thông báo này, quyền Tổng Thống Trần Văn Hương đã chỉ định Đại Tướng Dương Văn Minh làm Tổng Thống VNCH (ngoài dự liệu của Hiến Pháp). Ngày 28-4-1975, Tướng Minh nhậm chức, cử giáo sư Vũ Văn Mẫu vào chức vụ Thủ Tướng, đứng ra thành lập chính phủ hoà giải, thay thế chính phủ chống cộng cuối cùng của Ông Nguyễn Bá Cẩn mới được thành lập trước đó một tuần.
         Như vậy là Tướng Dương Văn Minh, người hùng của cuộc đảo chánh năm 1963, đưa đến sự cáo chung nền Đệ nhất VNCH, nay lại được  Mỹ tuyển chọn làm nhiệm vụ khai tử nền Đệ Nhị VNCH mà chính Ông đã góp phần tạo dựng.
         Mặc dầu hai Ông TT. Dương Văn Minh và Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đã cố gắng đơn phương giương cao ngọ cờ “Hoà giải và hòa hợp dân tộc”, với một số động tác mời chào giả tạo,như ra thông cáo giả vờ đuổi hết người Mỹ, rằng trong vòng 48 giờ đồng hồ, người Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam; ra quyết định thả hết các tù chính trị (tức tù Việt cộng). . . Nhưng tất cả đã muộn rồi, CSBV đã cảm thấy đang ở thế thượng phong, chẳng cần “hòa giải hòa hợp” với ai nữa. Vì “hòa giải hòa hợp dân tộc” vốn chỉ là  chiến thuật thường được CS xử dụng khi chưa đủ sức thanh toán đối phương, giành thắng lợi tối hậu là độc chiếm được chính quyền mà thôi.
         
         Sau đây là một đọan tường thuật  của một nhà văn Việt Cộng về những giây phút cuối cùng của cái  “Chính phủ hòa giải hòa hợp”  vào giờ thứ 25 của cuộc chiến:
       “. . . 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975
         Chiếc xe tăng tiến vào xô đổ cánh cửa sắt của Dinh Độc Lập. Từ trên xe nhẩy xuống, một tổ chiến sĩ Quân Giải Phóng trẻ măng mặc đồng phục lá cây, cầm lá cờ mầu đỏ xanh có ngơi sao vàng, lao nhanh về phía dinh.
         Những thành viên của chính phủ Dương Văn Minh mới nhận chức ngày hôm trước về tề tựu tại phòng chính của dinh Độc Lập, đứng dậy khi những người cán bộ của Quân Đoàn II, mặt sạm khói súng và bụi đường xa bước vào. Họ đã tiến quân qua nhiều thành phố suốt dọc bờ biển Miền Trung tới đây.
         Dương Văn Minh nói:
-Toàn thể chính phủ VNCH đều có mặt đợi các ngài đến để bàn giao chính quyền.
        Một cán bộ nói:
- Các ông còn gì nữa để bàn giao! Các ông phải đầu hàng vô điều kiện!” (31).
        
       Khi đọc những lời tường thuật trên đây, người bàng quan không khỏi cảm thấy tội nghiệp cho Tướng Dương Văn Minh, khi thấy lịch sử dường như đã luôn chọn ông làm công việc “Khai sơn phá thạch”, nôm na là làm công việc lót đường để cho kẻ khác gặt hái thành quả.
      Trong khi đó một phóng viên của hãng thông tấn AP ở lại Sàigòn đến phút chót đã kể lại:
        “ Không có một tiếng súng nào, hàng trăm người Sàigòn cũng như tôi đứng há miệng nhìn đoàn xe tăng ngày càng nhiều của cộng sản tiến vào thành phố. Đến trưa, mọi chuyện đều xong. Trong suốt 13 năm viết về chiến tranh Việt Nam, tôi không bao giờ tưởng  đến chuyện nó kết thúc theo lối này. Tôi hình dung phải có một cuộc mặc cả về chính trị tương tự như đã xẩy ra  ở Lào mười năm về trước. Hoặc là một trận đánh theo kiểu  Armageddon ở Châu Âu trong Thế Chiến Hai, mà kết cuộc là thành phố bị tan nát. Chuyện đầu hàng là điều hoàn toàn tôi không ngờ tới. . .” (32)
        
         Một viên chức CIA đã rời Việt Nam trong toán CIA cuối cùng vào ngày 30-4-1975, thì đã ghi lại những hình ảnh cuối cùng của cuộc chiến như sau:
          “ Chiếc máy bay trực thăng đã bắt đầu rời khỏi Tòa Đại Sứ. Người xạ thủ ở đuôi máy bay đang cúi rạp người trên súng của mình. Máy bay vòng trên thành phố. Trong khỏanh khắc tôi có thể nhìn thấy bóng dáng của một trong những cửa sổ tiệm rượu Mini Bar, một tiệm nổi tiếng vào bậc nhất ở Sàigịn, nơi biết bao chàng lính Mỹ đã mất sạch cả cơ nghiệp cùng với sự ngây thơ của mình. Và rồi chiếc máy bay ngoặt lại, hướng về phía Nam, bay qua Biên Hòa, thấy toán xe Bắc Việt đèn sáng trưng đang uốn mình trên con đường vào Biên Hoà. . . Trong phút chốc, kiến trúc khổng lồ mầu xám của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ đã bao lấy chúng tôi như một cái kèn khổng lồ bằng kim khí. . .” (33)
         Một ngày trước khi Sàigịn rơi vào tay Hà Nội (29-4-1975), Đại sứ Mỹ cuối cùng Martin đã bình tĩnh ngồi ở bàn làm việc trongTòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sàigịn đợi lệnh từ Hoa Thịnh Đốn trả lời yêu cầu của ông xin gia hạn di tản. Nhưng từ Tòa Bạch Ốc đã ban ra lệnh cuối cùng:
         “ Tổng Thống Hoa Kỳ lệnh cho Đại sứ Martin phải rời đi bằng chiếc máy bay này”. Đĩ là chiếc máy bay CH-46 được gởi đến đĩn Martin mang tên “Lady Ace 09” (32 bis)
        
       Như vậy là cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt với thái độ phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ, người khởi đầu và cũng là người kết thúc  sinh mạng một chế độ công cụ của mình. Micheal Maclear, một nhà báo Mỹ trong cuốn “Việt Nam, cuộc chiến tranh mười nghìn ngày” đã  ghi lại cảm tưởng của Martin đối với cuộc chiến kết thúc là “thấy nhẹ cả người”. Đó là cuộc chiến tranh chưa bao giờ được chính thức  gọi là chiến tranh, dù nó là cuộc chiến tranh dài nhất  của Mỹ đã chấm dứt. Nó là “một cuộc xung đột “, “một sự dính líu”, “một kinh nghiệm” và thất bại của nó sẽ được các sử gia có thể phán xét, không còn là mối bận tâm của nhân dân Hoa Kỳ. Rất đơn giản, họ nghĩ là họ đã chiến đấu, hoặc người của họ đã chiến đấu, thế là đủ. Từ hai năm về trước, họ đã thực hiện được một nền hòa bình cho họ tại Việt Nam. Hầu hết người Mỹ đã cảm thấy  “một nền hòa bình trong danh dự” đã đạt được như người ta bảo. Giờ đây, họ đang nhìn với vẻ bang quan chán ngắt, có đôi chút sửng sốt, song sự thật không phải hoàn toàn bị bất ngờ. Tám năm chiến đấu của Mỹ, chỉ trong nhiều tuần đã trở thành vô nghĩa. . .
        Vô nghĩa ư?
       Thực ra, cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế đã chỉ có thể là vô nghĩa và  vô ích với nhân dân Mỹ, khi mà họ đã phải gánh chịu mọi chi phí cho cuộc chiến, với cái giá máu xương của 58.000 binh sĩ con em của họ phải bỏ mạng tại Việt Nam, mà vẫn không thực hiện được mục đích cao cả là giúp nhân dân Việt Nam bảo vệ được chế độ dân chủ và phần đất tự do ở Miền Nam Việt Nam. Nhưng nó vẫn có ý nghĩa và lợi ích đối với chính quyền Mỹ, khi sự kết thúc chiến tranh đến vào lúc mà  mà các mục tiêu chiến lược  của họ đã đạt được qua cuộc chiến, mở ra một thời kỳ đầy triển vọng sau chiến tranh cho công cuộc làm ăn mới của giới tư bản Mỹ ở vùng này, trong khung cảnh một thế chiến lược quốc tế mới.
        Riêng đối với nhân dân Việt Nam, cuộc chiến tranh kéo dài trên 20 năm (1954-1975)  kết thúc như thế thì quả là vô nghĩa và tàn hại. Và sự chấm dứt cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này, vừa là nỗi đau, vừa là niềm vui chung cho cả dân tộc Việt Nam. Là nỗi đau cho nhân dân Miền Bắc vì đã từng phải sống khổ cực, hy sinh chiến đấu cho một chiêu bài giả hiệu “Độc lập dân tộc, chống đế quốc, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước  trong hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc. . .”; Cũng là nỗi đau của  nhân dân yêu chuộng “tự do dân chủ”ở Miền Nam Việt Nam, vì đã ngay tình và nhiệt thành lao vào  một cuộc chiến “ bảo vệ chế độ tự do dân chủ”.
         Từ nỗi đau chung này,nhân dân hai miền Bắc – Nam Việt Nam cùng có chung một mối hận đối với những kẻ cầm quyền trên cả hai miền Nam –Bắc, từng là công cụ đắc lực  một thời cho ngọai bang, đã xô đẩy nhân dân hai miền vào một cuộc chiến tàn hại và vô ích.
         Người dân tự hỏi:  Tại sao cũng trong gọng kềm của của chủ nghĩa thực dân mới, Bắc Hàn và Nam Hàn đã có thể cùng tồn tại để chờ cơ may thống nhất một cách hòa bình, còn Việt Nam thì đi đến thống nhất bằng một cuộc chiến tranh “nồi da sáo thịt” tàn sát lẫn nhau và tàn phá tan hoang đất nuớc?. Công tội của các tập đoàn lãnh đạo công cụ tay sai ngọai bang trong quá khứ cũng như hiện tại, mai này sẽ được lịch sử phán xét công minh.
         Nhưng dẫu sao, cuộc chiến tranh  cốt nhục tương tàn chấm dứt cũng nên coi là  một niềm vui chung của cả dân tộc. Vì đây là cơ may mới cho đất nước vươn lên trong thời kỳ các nước giầu tỏ ra thực tâm muốn giúp các nước nghèo đi vào thế ổn định để phát triển, trong nỗ lực thiết lập một nền trật tự thế giới mới hay là một hệ thống kinh tế quốc tế mới. Đó là chiến lược “Toàn cầu hoá”: Toàn cầu hóa về chính trị bằng một tiến trình hoà bình dân chủ hoá các chế độ độ ctài các kiểu; và toàn cầu hóa về kinh tế với một  một tiến trình thị trường hoá toàn cầu. Trong khung cảnh ấy, các quốc gia lớn nhỏ cạnh tranh,cùng tồn tại hòa bình và  các bên đều cùng có lợi (ít hay nhiều).
       
         Như thế, chiều hướng mới xem ra có vẻ tốt đẹp. Nhưng chấm dứt cuộc chiến bằng sự triệt tiêu chế độ cực hữu VNCH mới chỉ là bước thứ nhất của một quá trình đưa đất nước  ta vào vận hội mới của một thế chiến lược quốc tế mới. Chúng ta còn phải trải qua bước thứ hai của quá trình này, là triệt tiêu chế độ cực tả Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) hiện nay. Vì chỉ sau đó, đất nước ta mới đi vào đúng quỹ đạo của một chiến lược quốc tế mới mà các cường quốc cực đã và đang nỗ lực thực hiện.
         Vậy thì, quá trình triệt tiêu chế độ cực tả CHXHCNVN đã và đang diễn ra như thế nào? Đó là bước thứ hai của tiến trình ba bước mà chúng tôi sẽ tiếp tục trình bầy.
                                
Thiện ý
( Trích: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới.Khởi thảo từ trong nước năm 1977. Ấn hành lần đầu 1995 và tái bản năm 2005 tại Hoa Kỳ)
   
Tài Liệu Trích Dẫn:
- (1), (2): Sách đã dẫn, chú thích của (1) và (2), Phần II.
- (3), (4), (5) và (6): Lịch sử Việt Nam (1945), Nhà xuất Bản Giáo Dục -1987 (trang 185, 186, 187).
- (7) Diễn văn nhậm chức của TT. Hoa Kỳ Richard Nixon ngày 20-1-1969.
- (8), (9) và (14): Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Mơột Điệp Viên, Hữu Mai. NXB/QĐND – Hà nội – 1989 (trang 272, 276, 288).
- (10), (11), (17), (19) và (24): Gián Điệp Nhị Trùng – Trần Trung Quân. NXB Nam Á- Paris 1990 (trang 346, 347, 339, 335, 337 và 338)
- (12), (13), (15), (25) đến (33): Michael Maclear, NXB Thamer Mathuen. London 1981.
        M. Maclear mợt nhà báo Mỹ đã được giải thưởng Pulitzer nhờ những bài viết về chiến tranh Viêt Nam. Trong chiến tranh Việt Nam, tác giả đã đi từ Hà Nội đến Sàigòn, gặp gỡ nhiều nhân vật Việt Mỹ. Sau chiến tranh, tác giả đã căn cứ vào những kinh nghiệm trải qua và các tài liệu về chiến tranh Việt Nam do Peter Arnett, Trưởng Văn Phòng hãng thông tấn AP ở Sài Gòn, cũng là bạn thân của tác giả cung cấp; với các cuơôc phỏng vấn nhiều nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ, chế đô Hà Nội và VNCH trước đây. Tất cả đã được tác giả hệ thống hóa trong cuơốn sách viết về cuộơc chiến Việt Nam này.
_