Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVLeXuanKhoa. Show all posts
Showing posts with label VCNVLeXuanKhoa. Show all posts

Saturday, 29 May 2021

THẬT RA 2 ĐỨA NẦY ĐỀU TỒI BẠI NHƯ NHAU: LX KHOA ĐỨA CẦM ĐẦU TRONG NHÓM 36 TRÍ THÚI HẢI NGOẠI GỞI KIẾN NGHỊ XIN PHÂN VIỆT CỘNG- CÒN NĐ THÚI LÀ MỘT TÊN CỰC KỲ LƯU MANH CHUYÊN SỐNG BẰNG PHÂN TƯƠI MỸ ./-TCLãnh




DANH SÁCH 36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI

Tái lập Danh Sách
36 TRÍ NGU HẢI NGOẠI
KIẾN NGHỊ XIN PHÂN VIỆT CỘNG
(Do Lê Xuân Khoa cầm đầu , phổ biến đầu Tháng 10/2011)

1-DOÃN QUỐC SĨ-Chuyên gia CHO MƯỢN TÊN-USA
2-ĐINH XUÂN QUẾ-USA
3-ĐOÀN THANH LIÊM-USA
4-HỒ BẠCH THẢO-USA
5-LÊ THANH MINH CHÂU-USA
6-LÊ XUÂN KHOA-Anh của Tài Tử LÊ QUỲNH-USA
7-LÊ TRỌNG QUÁT-PHÁP
8-NGHIÊM PHƯƠNG MAI-CANADA
9-NGÔ ĐÌNH LONG-USA
10-NGUYỄN THẾ ANH-PHÁP
11-NGÔ QUỐC DŨNG-USA
12-NGUYỄN PHẠM ĐIỀN-ÚC CHÂU
13-NGUYỄN THỊ NGỌC GIAO-USA
14-NGUYỄN ĐỨC HIỆP-ÚC CHÂU
15-NGUYỄN NGỌC LINH-Cựu VIỆT TẤN XẢ VNCH-USA
16-NGUYỄN PHÚC QUẾ- Cựu Phủ Đặc Ủy Trưởng TỴ NẠN CỘNG SẢN VNCH- PHÁP
17-NGUYỄN THÁI SƠN-PHÁP
18-NGUYỄN HỮU XƯƠNG-PHÁP
19-PHẠM HỒNG CÔNG-CANADA
20-PHẠM PHAN LONG-USA
21-PHẠM XUÂN YÊM-Vật lý Paris-PHÁP-DSVC Nằm vùng
22-PHAN TẤN HẢI-USA-DS TRÍ VẬN của VĨNH HẢO
23-PHÙNG LIÊN ĐOÀN-USA
24-TẠ VĂN TÀI –USA-QGHC
25-TĂNG THỊ THÀNH TRAI-USA-(Đỡ đầu LS Tập sự cho Tạ Văn Tài)
26-THÁI VĂN CẦU-USA
27-THÁI CÔNG TỤNG-CANADA
28-TRẦN ĐÌNH DŨNG-USA
29-TRIỀU GIANG (NANCY BÙI-Giao lưu kinh tài VC-Xuất cảng cà phê)
30-TRỊNH HỘI –USA (Giao lưu VC-Chồng hôi sữa của Kỳ Duyên)
31-TRƯƠNG HỮU LƯƠNG-PHÁP
32-TRƯƠNG HỒNG SƠN (TRƯƠNG VŨ)-USA
33-TRƯƠNG BỔN TÀI –USA- VC Nằm vùng trong tổ đặc công Hải Ngoại của BÙI TÍN)
34-VŨ GIẢN-THỤY SĨ- VC Nằm vùng lãnh Bằng khen Hà Nội.
35-VŨ KHÁNH THÀNH-ANH QUỐC
36-VŨ QUỐC THÚC –PHÁP- GS Vô liêm sỉ, già sắp chết mà còn háo danh

Wednesday, 27 May 2020

RẤT TIẾC PHẠM HÒANG HỘ LÀ TÁC GIẢ CÂU NỊNH CỘNG "5 KG RAU MUỐNG BẰNG 1 KG THỊT BÒ"- LÊ XUÂN KHOA NHÓM NGUYỄN NGỌC BÍCH LẠI MUỐN HÒA HỤP HÒA GIẢI VỚI VIỆT CỘNG- HỌC CHO NHIỀU MÀ CHẠY THEO ĐUÔI VC THÀNH RA CHẰNG CÓ LỢI ÍCH GÌ CHO ĐẤT NƯỚC./-TCL

  45 năm chính sách “triệt người”

Mạnh Kim
 
Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long (cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học, người nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”), kể lại thảm cảnh một vụ tịch thu sách năm 1975 sau khi chính quyền mới tiếp quản Sài Gòn: “Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhập tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu… Cả chủ tiệm cũng mạng vong”…
image.png
Giáo sư Lê Xuân Khoa, cựu phó Viện trưởng Viện Đại Học Sài Gòn 
 
Câu chuyện ông chủ hiệu sách uất ức thà chết còn hơn nhìn “băng đỏ” gom và ném sách đi đốt chỉ là một trong những bi kịch của miền Nam sau 1975. Không chỉ đốt sách, con người cũng bị triệt, đến tận cùng. Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư… đều bị tống đi học tập cải tạo. Miền Nam không chỉ đột nhiên rơi vào tình trạng thống khổ cùng cực mà còn chứng kiến những cảnh không thể tưởng tượng: phu nhân đại tá đi bán rong, vợ giáo sư buôn vỉa hè, thầy giáo mưu sinh bằng xích lô, ký giả chạy xe lam, con sĩ quan xếp hàng mua từng ký gạo…
 
Những hình ảnh đã đột ngột làm biến dạng miền Nam sau 1975. Những câu chuyện trải dài theo ký ức và nghe (tưởng chừng) “phi thực tế” đến nỗi những thế hệ sau này khi được kể nghĩ chắc hẳn là chuyện bịa. Đã có cả trăm quyển sách viết về những câu chuyện này, từ đi tù cải tạo đến vượt biên bỏ mạng. Nhắc lại không phải “đào xới” chuyện cũ. Để thấy rằng, “di sản” 1975 đến giờ vẫn tiếp tục còn sau 45 năm. Chính sách triệt tiêu con người sau 1975 vẫn tồn tại. Đó mới là điều cần nói.
 
Trong số “đối tượng” hứng chịu sự trả thù vô lý và nghiệt ngã có những trí thức đỉnh cao mà trí tuệ họ xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt. Có lẽ không gương mặt nào trong Bộ Chính trị hoặc nhân vật nào trong “nội các” hiện tại có thể so với những bậc trí thức VNCH về trình độ lẫn nhân cách. Điều đáng tiếc nhất là một số trí thức này đã phải “trả giá” cho lòng yêu nước, chỉ bởi họ quá yêu nước, khi họ chọn ở lại mà không đi nước ngoài sau 1975, với niềm tin ngây thơ vào chế độ mới và với nhiệt tâm đóng góp tái thiết sau chiến tranh. Quê hương, với họ, là nước nhà; là đất nước và mái nhà.
 
GS Nguyễn Duy Xuân (trái) và GS Phạm Hoàng Hộ
 
Sinh năm 1929 tại Cần Thơ, giáo sư Phạm Hoàng Hộ có bằng Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris; bằng Cao học Vạn Vật học, Paris; bằng Thạc sĩ/Agrégé Vạn vật học; bằng Tiến sĩ Khoa học/Vạn vật học, Paris. Giáo sư Hộ từng là giám đốc Hải học viện Nha Trang; Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục; Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ… Ông cũng là Hội viên Hội Thực vật học Pháp; Hội viện Hội Tảo học Quốc tế; Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế; Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong… Giáo sư Hộ chính là người vận động cho bằng được việc thành lập ngôi trường đại học đầu tiên ở miền Tây vào giữa thập niên 1960. Đó là Viện Đại học Cần Thơ, nơi canh nông trở thành môn khoa học chính quy được đào tạo như một chuyên ngành đại học.
 
Sau 9 năm sống dưới chế độ mới, giáo sư Hộ, từ khát vọng, trở nên thất vọng. Môi trường giáo dục bị thay đổi hoàn toàn. Nó bị cào xé rách nát để thay bằng chiếc áo thô đính băng đỏ. Ý nghĩa và triết lý giáo dục khai phóng bị vất xó. Theo lời kể của bác sĩ Ngô Thế Vinh, năm 1977, giáo sư Hộ phải học lớp chính trị 18 tháng về “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Không chấp nhận chương trình giáo dục bị “đảng hóa”, giáo sư Hộ phản đối quyết liệt. Cuối cùng, năm 1984, khi được Chính phủ Pháp mời sang thỉnh giảng, giáo sư Hộ quyết định ở lại Paris. Tại Pháp, ông vùi mình vào Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris (thuộc hệ thống Đại học Sorbonne), miệt mài làm việc suốt sáu năm, bổ túc cho công trình Cây Cỏ Việt Nam của ông – một công trình đồ sộ có giá trị đến mức giới thực vật học thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ.
 
Nhắc đến giáo sư Hộ, không thể không nhắc đến giáo sư Nguyễn Duy Xuân. Không như giáo sư Hộ, giáo sư Xuân có số phận cay nghiệt gấp nhiều lần. Từng được giáo sư Hộ mời về Viện Đại học Cần Thơ thay mình ở ghế viện trưởng, giáo sư Xuân tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Vanderbilt-Hoa Kỳ. Giáo sư Xuân cũng là vị Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Một bài báo trên Thanh Niên (28-4-2015) nhắc lại: “Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, trước ngày 30-4-1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, giáo sư Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam”.
 
Không chỉ không được trọng vọng, giáo sư Xuân còn bị tống đi tù, bị giam tại trại Hà-Nam-Ninh. Cuối cùng, năm 1986, giáo sư Xuân bỏ mạng chốn thâm sơn cùng cốc. Nhắc lại điều này, bác sĩ Ngô Thế Vinh không giấu được chua xót: “Tôi không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đọa độc ác và vô ích của những người cộng sản thắng cuộc, nếu giáo sư Nguyễn Duy Xuân, một tiến sĩ kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước, vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975 thì không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu”…
 
(Ảnh: Uyên Nguyên)
 
Sẽ phát triển và tiến xa tới đâu, nếu Việt Nam sau 1975 trân trọng trí tuệ và tài năng của các trí thức như giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Nguyễn Duy Xuân, giáo sư Lê Xuân Khoa, cụ Bùi Diễm, bác sĩ Ngô Thế Vinh, giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, ông Đỗ Văn Thảo (cựu Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia; bị đi “cải tạo”), giáo sư Vũ Quốc Thông (Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn, cũng bị đi tù)?… Sẽ còn phát triển và tiến xa tới đâu, nếu chế độ đang cai trị – luôn dễ bị “kích động” một cách thái quá cái gọi là “tự hào dân tộc” – biết dùng hiền tài, để sự tự hào có phần đóng góp của những trí thức đỉnh cao và trí thức đúng nghĩa? Trí thức chân chính là những người không chỉ “thể hiện” lòng yêu nước bằng ngôn từ. Họ là những người không bao giờ ngưng bồn chồn lo lắng cho sự tụt hậu nước nhà cùng sự lấn át ngoại bang.
 
Trong bài viết trên tờ Một Thế Giới ngày 2-2-2017, tác giả Lê Học Lãnh Vân thuật lại tâm sự của giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong một lần gặp ông tại Pháp giữa thập niên 1980: “Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!”…
 
Bác sĩ Ngô Thế Vinh (Ảnh: Quảng Pháp)
 
Cách đây hai năm, khi nghe giáo sư Lê Xuân Khoa vừa trải qua ca phẫu thuật ngặt nghèo, tôi đã vào viện thăm. Ông nằm giữa đống dây nhợ gắn quanh gần như kín người. Không thể nói vì miệng mũi còn vướng ống, ông ra hiệu cho cô con gái lấy tấm bảng. Ông viết, chỉ một câu, nhưng nghe nặng trịch, mỗi chữ như một nhát búa: “Tôi lo mất nước về tay Tàu rồi”. Và ông rươm rướm. Nằm trên giường bệnh, thập tử nhất sinh, ông chẳng nghĩ gì khác ngoài quê hương. Ông không lo gì khác ngoài cái lo “mất nước”, về sự lệ thuộc gần như toàn diện của Việt Nam với Trung cộng. Bao nhiêu người trong hệ thống lãnh đạo Việt Nam hiện tại có thể bị đánh thức lòng tự ti dân tộc bởi nhát búa lương tri của một vị trí thức gần 90 tuổi như giáo sư Lê Xuân Khoa?
 
Chưa ai thống kê cho thấy hiện có bao nhiêu trí thức kiều bào vang danh nước ngoài nhưng không được mời về hoặc họ không buồn về. Thậm chí có những người bị cấm về, dù hệ thống tuyên truyền chế độ luôn ra rả về sự “trân trọng đón chào” trí thức hải ngoại. Một số trí thức đã quyết định không về. Họ không tin và họ có đủ bằng chứng để không tin nhà cầm quyền. Khi những Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Chu Hảo… còn là “thành phần phản động” thì không ai còn ngây thơ để ngộ nhận sự “thành thật” của nhà cầm quyền đối với trí thức. 45 năm sau 1975, chế độ cai trị vẫn tiếp tục chính sách “triệt người”, “triệt” cả chính người của họ. Trí thức muốn đóng góp và xây dựng nhằm thay đổi chính sách đã và sẽ không có cơ hội.  
 
Một trong những trí thức mà khi tiếp xúc, tôi luôn nhìn thấy sự nhiệt tình dữ dội của ông dành cho nước nhà. Nói chuyện với ông có cảm giác như đang ngồi trước một sinh viên tràn đầy nhiệt huyết, dù ông đã gần 80 tuổi. Đó là bác sĩ Ngô Thế Vinh. Ông là một trong những người Việt Nam luôn nặng tình với miền Tây, với đồng bằng sông Cửu Long, một cách bền bỉ, dù quê quán ông ở Hà Nội. Ông là tác giả quyển khảo cứu Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng
      Ông cũng là tác giả quyển Mekong, dòng sông nghẽn mạch… Việt Nam không chỉ có dòng Mekong nghẽn mạch. 
                   Việt Nam đang bị nghẽn cả dòng trí tuệ của các bậc trí thức minh tuệ-hùng tâm.

Mạnh Kim

Sunday, 1 November 2015

LÊ XUÂN KHU Ở KHÔNG LẠI XÚI NGƯỜI VIỆT HẢI NGỌAI ĂN KÍT VIỆT TÀU CỘNG- RẢNH RỖI HÃY MAU KÝ VÀO ĐỂ LÊ XUÂN KHU NỘP CHO VC./- Mt68


2015-11-01 15:08 GMT+01:00 Khoa Le <tuvan09@gmail.com>:
Kính chuyển và xin quý anh chị tham gia ký tên gấp vì đã sát ngày Tập Cận Bình đến Việt Nam, và lần này hắn sẽ đọc diễn văn trước Quốc hội VN, qua đó hắn sẽ vừa phủ dụ vừa đe dọa toàn thể dân tộc ta.

Bản Tuyên bố này sẽ được đưa ra trước nhân dân và quốc tế trong vòng 24 tiếng. Nếu ai ký tên chậm thì sẽ được bổ túc sau.
Tôi thành khẩn kêu gọi các anh chị ký tên (chỉ cần tên họ, thành phố và quốc gia, có thêm chức vụ nghề nghiệp càng tốt). Nội dung hoàn toàn biểu thị lòng yêu nước và mối quan tâm chung của mọi người Việt Nam trước hiểm họa mất nước và diệt chủng. Tuyệt nhiên không có ai lãnh đạo hoặc mưu đồ chính trị cá nhân nào. 

Tôi đã ở tuổi gần đất xa trời, cố gắng hưởng ứng việc làm này vì thiển nghĩ đây là nghiã vụ và cơ hội lịch sử cho những con dân Việt Nam còn có lòng đối với quê cha đất tổ cùng lên tiếng cảnh cáo tên thủ lãnh Trung cộng và đám tay sai bán nước ở Hà Nội. Chúng ta có thể còn có ý kiên khác biệt nhưng nhất định hành động thể hiện lòng yêu nước thì không thể khác được.

Xin quý anh chị ký tên vào bản Tuyên bố này do Xã hội Dân sự trong nước khởi xướng và mời bạn bè, bà con cùng ký gấp. Xin gửi email đồng ý ký tên về địa chỉ sau đây (như anh Nguyễn Quang A đã ghi ở cuối bản Tuyên bố::


Kính chào quý anh chị,

Lê Xuân Khoa

Tuesday, 25 August 2015

THẰNG KHỐN NẠN LÊ XUÂN KHOA CHÁU CỦA LÊ QUỲNH NẦY - THUỘC NHÓM XÃ HỘI DÂN XẠO -CỨ XƯNG GIÁO XƯ MÀ NGU HƠN CHĂN TRÂU NHIỀU

BỞI VÌ VC HỌP ĐẠI HỌNG 12 ĐỂ CHIA NHAU ĂN UỐNG - CHỨ ĐÂU PHẢI HỌP NHAU ĐỂ TRẢ LỜI THAY ĐỔI HAY BÁN NƯỚC CÓ ĐÚNG KHÔNG ? TỐN GIẤY MỰC NHƯ VẦY CHỈ LÀM GIẤY ĐI CẦU CHO VC./- Mt68



Việt Nam trước Đại Hội Đảng 12
Đi theo Tàu hay đi với Mỹ? Thay đổi ôn hòa hay bạo loạn?

Lê Xuân Khoa

Sau khi viết bài “Việt Nam: Cơ hội cuối cùng hay những bước Đột phá cần thiết” (tháng Sáu, 2014) tôi nghĩ sẽ không phải làm gì khác hơn là theo dõi tình hình trong và ngoài nước, trông đợi những thay đổi có lợi ích cho đất nước. Tháng Bảy năm nay, nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, được gọi là “chuyến thăm lịch sử”, tôi lại thấy cần đóng góp thêm một số nhận xét về tình hình mới. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Trọng cho thấy phe bảo thủ thân Trung Quốc dường như đã muốn quay lưng lại phía Bắc Kinh và tiến tới gần hơn với Hoa Kỳ. Lý do của sự chuyển hướng này là vì Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam và Tập Cận Bình lại có thái độ khinh miệt TBT Nguyễn Phú Trọng sau sự cố giàn khoan HD-981. Phe thân Trung Quốc vừa căm hận vì bị Bắc Kinh hạ nhục, vừa lo ngại phe chống Trung Quốc có thể làm một cuộc đảo chính với sự ủng hộ của nhân dân đang phẫn nộ đối với một chính quyền bị coi là “hèn với giặc, ác với dân”. Mặc dù chuyến thăm nước Mỹ của ông Trọng có tính biểu tượng nhiều hơn là thực chất, sự kiện Tổng thống Barack Obama đặc biệt tiếp đón người cầm đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Phòng Bầu dục và bản Tuyên Bố về Tầm nhìn chung Việt-Mỹ đã giúp cho Nguyễn Phú Trọng gỡ lại được thể diện sau khi bị Tập Cận Bình làm mất mặt, do đó quan hệ hợp tác Việt-Mỹ có triển vọng gia tăng nhiều hơn về cả hai mặt kinh tế và quân sự.

Một điểm tích cực khác cần được chú ý trong chuyến công du này của TBT Nguyễn Phú Trọng là, tại thủ đô Hoa Kỳ, ông đã hai lần xác nhận vai trò quan trọng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Lần đầu, trong bản Tuyên bố chung Việt-Mỹ, ông Trọng “nhìn nhận sự thành công của người Việt Nam tại Hoa Kỳ và nhiều đóng góp của họ đối với sự phát triển của Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như đối với mối quan hệ song phương tốt đẹp hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”. Lần thứ hai là trong bài diễn văn được soạn trước (tức là đã được tính toán kỹ) tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), ông Trọng đã dùng những từ “đặc biệt” và “hết sức quan trọng” để nói về “cộng đồng đông đảo người Việt Nam tại Hoa Kỳ” mà ông định nghĩa rất chính xác và thân tình là “công dân Hoa Kỳ và cũng là đồng bào của chúng tôi”. Những lời phát biểu chính thức này của lãnh đạo số một ở Việt Nam cho thấy một cách nhìn mới và một thái độ đúng đắn của nhà cầm quyền trong nước đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Sự thể bên ngoài thì như thế nhưng chiều hướng chính sách của Việt Nam vẫn chưa rõ rệt sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng. Nội bộ lãnh đạo Đảng đang thảo luận đóng kín và gay go về những quyết định cho 5 năm tới để được thông qua trong Đại hội 12 vào đầu năm 2016. Dù sao, đường lối lãnh đạo mới sẽ phải được thấy rõ trong các dự thảo văn kiện của Trung ương Đảng mà, theo thông lệ, sẽ được công bố khoảng năm tháng trước Đại hội. Giả thiết Đảng và Nhà nước thật sự muốn chuyển hướng sang phía Hoa Kỳ, bài viết này sẽ đóng góp một số ý kiến cụ thể về sự phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ, cũng như sứ mệnh xây dựng sức mạnh dân tộc bao gồm vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt.
Phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Việt Nam và Hoa Kỳ đang có mối quan tâm chung trước sự kiện lãnh đạo Bắc Kinh đang biến Trung Quốc thành một “nhà nước hung đồ” (rogue state) có tham vọng bá quyền, hành động phi pháp, đe dọa hòa bình và phát triển trong khu vực, nhất là xâm phạm độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Quan hệ Việt-Mỹ cần được phát triển từ đối tác toàn diện sang hợp tác chiến lược toàn diện, và VN đang rất cần sự giúp đỡ của HK để có thể tự bảo vệ độc lập và phục hồi kinh tế. Mục tiêu chung ấy đã được cả hai chính phủ khẳng định và đang nỗ lực gia tăng hợp tác trên mọi lãnh vực.
Quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ là duy trì quyền tự do lưu thông trên Thái Bình Dương, bảo vệ an ninh và phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các nước trong khu vực. Trước những hành động ngang ngược của Trung Quốc thể hiện quyết tâm làm chủ Biển Đông Nam Á, nhất là bồi đắp các bãi đá thành đảo, xây dựng đường bay và căn cứ quân sự trong khu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Hoa Kỳ cần có sự hợp tác của Việt Nam để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Đối với lãnh đạo Việt Nam, mối quan tâm sâu sắc nhất trong quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ là sự tồn tại của Đảng và chế độ. Nỗi lo ngại này đã được Hoa Kỳ giải tỏa từ chuyến thăm Washington của CT Trương Tấn Sang năm 2013, nhưng nhóm bảo thủ muốn được xác nhận rõ hơn trong chuyến thăm Mỹ năm nay của TBT Nguyễn Phú Trọng. Họ đã được toại nguyện khi thấy Tổng Thống Hoa Kỳ tiếp Tổng Bí Thư Đảng CSVN tại Phòng Bầu Dục và bản Tuyên bố chung năm nay xác nhận điều hai bên đã công bố năm 2013, “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.”
Rào cản duy nhất trên con đưòng hợp tác toàn diện là vấn đề cải thiện nhân quyền ở VN. Thật là một nghịch lý khi các lãnh đạo Việt Nam đều thấy rõ hậu quả nghiêm trọng của cơ chế hiện thời, muốn xây dựng một “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”nhưng lại coi vấn đề cải thiện nhân quyền như một đe dọa cho chế độ và ổn định xã hội. Dù sao, quyền con người cũng đã được khẳng định ngay trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nguồn gốc từ bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Chân lý này về quyền con người cũng là nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp VN 2013, được ghi rõ trong Điều 3: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” Ngoài ra, với tư cách một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cũng cam kết tôn trọng bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đặc biệt là Công ước Quốc tế về các Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.
Trong bài diễn văn tại trung tâm CSIS, TBT Nguyễn Phú Trọng xác nhận “còn không ít vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết trong đó có vấn đề quyền con người, nhưng chúng tôi đang nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.” Như vậy, đã đến lúc Việt Nam cần vận dụng những nỗ lực không mệt mỏi đó vào việc thể hiện quyền con người như đã được ghi trong Tuyên ngôn độc lập 1945, mô tả đầy đủ trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và gần đây nhất được xác nhận lại trong Hiến pháp 2013.
Thật ra, trong những cuộc thảo luận giữa Mỹ và VN về nhân quyền không có sự khác biệt về định nghĩa hay nội dung của nhân quyền mà chỉ có sự khác thường trong cách giải thích và thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Sau 70 năm cầm quyền, trong đó có 40 năm thống nhất và 20 năm quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, vấn đề quyền con người sẽ không thể được giải quyết nếu Việt Nam cứ viện dẫn một cách nhàm chán những lý do về “cách hiểu khác” của Việt Nam về vấn đề nhân quyền và quả quyết “Việt Nam không có tù nhân lương tâm hay chính trị mà chỉ có tù hình sự.” Nói thẳng ra, đây chỉ là một cách mua thời gian cho sự lạm quyền của chế độ.
Xin hỏi: Chính phủ có tôn trọng nhân quyền hay không khi công an bắt bớ và đánh đập tàn nhẫn những người dân đi biểu tình bất bạo động chỉ để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất và biển của Việt Nam? Xin hãy trả lời: tại sao blogger Tạ Phong Tần viết bài chống tham nhũng rất đúng mà bị kết án 10 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”? tại sao nhạc sĩ trẻ Việt Khang làm hai bản nhạc yêu nước rất chân tình “Anh là ai” và “Việt Nam tôi đâu” mà bị án 4 năm tù và 2 năm quản chế, cũng với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”? tại sao doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức bày tỏ chính kiến khác biệt của một trí thức trong cuốn sách “Con đường nào cho Việt Nam” lại bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” và lãnh án tới 16 năm tù? Đây chỉ là một ít thí dụ điển hình cho hàng trăm người bị bắt giữ vì phát biểu ý kiến khác biệt nhưng hoàn toàn ôn hòa, không một người nào có hành vi bạo động. Làm sao có thể hiểu được khi TBT Nguyễn Phú Trọng tuyên bố giữa thủ đô Hoa Kỳ: “Tôi khẳng định rằng Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề nhân quyền, quyền con người. Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.” Ông còn quả quyết: "Người dân Việt Nam chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay." Ôi, thế này thì Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây phương cần phải học tập và áp dụng mô hình dân chủ của Việt Nam.
Nhân quyền là một chân lý phổ quát, không có một chính thể nào có thể nhân danh nhân quyền để vi phạm “quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc” của con người. Ngay cả chính trị học Nho giáo cũng dựa trên cơ sở “dân vi quý” tức là các chính sách của nhà nước phài phù hợp với ý nguyện của nhân dân, vì “Ý Dân là Ý Trời”. Dân là nước, chính phủ là thuyền, và như lời Mạnh Tử “nếu lãnh đạo coi dân như cỏ rác thì dân sẽ coi lãnh đạo như thù địch”. Trong trường hợp đó, thay vì tiếp tục chở thuyền, nước sẽ lật thuyền. Thật là một sự tình cờ thú vị vì quan điểm về dân chủ này lại được khai triển rành mạch trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, ngay sau đoạn có câu về quyền con người được Hồ Chí Minh dùng để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945, hoàn toàn phù hợp với tình trạng VN ngày nay, dù đây là tiếng nói của 13 tiểu bang đầu tiên của nước Mỹ ngày 4.7.1776 chống lại sự áp bức của Vương quốc Anh:
Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.
Thật vậy, sự thận trọng sẽ buộc người ta hiểu rõ rằng một chính quyền đã được thiết lập qua một thời gian dài thì không nên thay đổi chỉ vì những lý do đơn giản, nhất thời. Mọi kinh nghiệm đều đã chứng tỏ điều đó, rằng khi cái xấu còn trong chừng mực chịu đựng nổi, thì nhân loại dễ cam chịu nó, hơn là tự trao cho mình quyền loại bỏ những thể chế mà họ đã quen thuộc. Nhưng khi hàng loạt các hành vi lạm quyền và chiếm đoạt theo đuổi những mục tiêu giống nhau, lộ rõ ý đồ áp chế họ dưới ách chuyên quyền độc đoán, thì họ có quyền và có bổn phận phải lật đổ chính quyền đó và bổ nhiệm những chiến sĩ mới để bảo vệ nền an ninh của họ trong tương lai . . .”
Trong trường hợp Việt Nam, không chỉ có vấn đề “chế độ chuyên quyền độc đoán,” nhóm lãnh đạo ngày nay còn mắc tội phản quốc nếu không kịp thời chuyển hướng, phủ nhận bản mật ước nhục nhã giữa hai Đảng ở Thành Đô năm 1990, vô giá trị vì không hề được Quốc hội thông qua, do lỗi lầm của nhóm lãnh đạo hồi đó.
Tôi không nghĩ rằng trong những cuộc thảo luận về nhân quyền, các đại diện Hoa Kỳ muốn ép buộc Việt Nam phải rập khuôn tổ chức chính trị, sinh hoạt văn hóa và xã hội của nước Mỹ; họ chỉ yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người mà VN đã xác định trong Hiến pháp 2013 nhưng không thi hành. Những quyền tự do căn bản đó không chỉ phù hợp với Hiến pháp và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ mà cũng phản ánh tinh thần của bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và rất đúng với ý nguyện của nhân dân Việt Nam.
Như vậy, đã đến lúc phải khai thông những cuộc thảo luận Việt-Mỹ về vấn đề nhân quyền. Việt Nam hãy bỏ ý định đòi Mỹ phải chấp nhận quan điểm ngoan cố của mình trong chuỗi đối thoại đã kéo dài 20 năm qua. Nói rằng “có cách hiểu khác nhau” về nhân quyền là một lối nói ngụy biện, trái với Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp 2013. Nói rằng “không nên để các vấn đề nhân quyền cản trở quan hệ hai nước” là cách nói vơ vào, có nghĩa là chuyện nhân quyền chỉ để nói chơi, chuyện chính là các dự án đầu tư, thương mại và viện trợ của HK cho VN. Nói thế là không biết rằng chính phủ Mỹ luôn luôn chịu áp lực của Quốc hội về vấn đề nhân quyền. Vì vậy, cùng với quyết định thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và chọn sự hợp tác bình đẳng với Hoa Kỳ, Việt Nam cần dứt khoát từ bỏ thái độ lúng túng, trì hoãn, nói một đàng làm một nẻo, khiến cho quan hệ phát triển với Hoa Kỳ bị trì trệ, Trung Quốc lấn át, nhân dân càng phẫn nộ.
Chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng là cơ hội tốt nhất cho chính quyền chứng tỏ quyết định sáng suốt và thành thật, củng cố lòng tin chiến lược đối với Hoa Kỳ và được sự ủng hộ của nhân dân. Việt Nam chỉ cần thi hành những điều đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung : “. . . bảo đảm rằng mọi người, bao gồm cả những thành viên của các nhóm dễ bị tổn thương, không phân biệt giới, chủng tộc, tôn giáo hoặc khuynh hướng giới tính, và bao gồm cả người tàn tật, được hưởng đầy đủ các quyền con người. Hoa Kỳ hoan nghênh những nỗ lực hiện nay của Việt Nam hài hòa hóa luật với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế mà Việt Nam thực hiện nhằm phát triển toàn diện đất nước, kể cả trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản.”
Vì những lẽ trên, chính quyền không nên chậm trễ thiết lập một lộ trình chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ, bắt đầu bằng việc phóng thích tất cả những người bị bắt giữ vì yêu nước và vận động dân chủ một cách hòa bình. Chính quyền cần mở ngay những cuộc đối thoại thẳng thắn với trí thức độc lập và ban hành một số biện pháp cởi mở về tự do, dân chủ.
Cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt
Sự kiện TBT Nguyễn Phú Trọng chính thức nhìn nhận vai trò của người Mỹ gốc Việt trong chuyến đi lịch sử này đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong thái độ và chính sách của lãnh đạo Việt Nam, không chỉ đối với công dân Mỹ gốc Việt mà còn đối với toàn thể người Việt đã trở thành công dân ở nhiều nước khác trên thế giới. Sự chuyển hướng này là một bước đột phá cần thiết, đặc biệt đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, vì cộng đồng này có thể gây ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Nếu sự chuyển hướng này là có thật thì cũng đã đến lúc Nghị quyết 36 năm 2004 của Bộ Chính trị phải được thay thế bằng một văn kiện khác, vì những người soạn Nghị quyết 36 đã sai lầm khi thiết lập một chính sách chung cho hai đối tượng khác nhau là Việt kiều và công dân ngoại quốc gốc Việt. Việt kiều (hay kiều bào) là những công dân Việt Nam ra nước ngoài trong một thời gian để làm lao động, tu nghiệp, du học, đầu tư kinh doanh, hay công tác có thời hạn cho chính phủ, làm việc cho các tổ chức quốc tế hay tư nhân. Chính sách giúp đỡ và bảo vệ (hay trừng phạt) Việt kiều không thể áp dụng đối với những người đã trở thành công dân ngoại quốc. Về mặt pháp lý, công dân ngoại quốc gốc Việt là người nước ngoài, có quyền lợi và bổn phận với quốc gia mình đã nhập tịch; “gốc Việt” chỉ có ý nghĩa về mặt tình cảm giữa những người đồng chủng, nhưng yếu tố tình cảm này lại rất quan trọng vì qua đó họ sẽ đóng góp cho đất nước nhiều hơn là người dị chủng, nếu họ được chính quyền đối xử có tình, có nghĩa. Ngay cả khi bị chính quyền nghi ngờ và gây nhiều khó khăn, những cá nhân hay tổ chức nhân đạo do người Việt nước ngoài thành lập vẫn vì tình nghĩa đồng bào mà tiếp tục giúp đỡ dân nghèo, những nạn nhân của bịnh tật, của thiên tai và bất công xã hội. Người ngoại quốc khác chủng tộc đến Việt Nam với mục đích làm ăn, xong việc rồi về nước, hiếm khi có sự ràng buộc tình cảm với quốc gia sở tại.
Bài này chủ yếu nói về công dân Mỹ gốc Việt nhưng cũng đúng cho những công dân gốc Việt từ các nước khác. Chính sách của chính quyền trong nước đối với công dân nước ngoài gốc Việt cho đến nay, trừ một số trường hợp, vẫn là một chính sách ban ơn và có mục đích khai thác. Do thói quen suy nghĩ và hành động ở những nước dân chủ, tất cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về tới Việt Nam, dù chỉ để du lịch hay thăm bà con, cũng ít nhiều đều bị nhân viên an ninh kiểm soát, theo dõi. Điều này có thể hiểu được và tạm coi là chuyện bình thường. Nói chung thì với phương tiện khá đầy đủ của một du khách, người Mỹ gốc Việt có thể sống thoải mái ở bất cứ tỉnh, thành nào trên toàn quốc. Tuy nhiên, khi có công việc phải liên lạc với một cơ quan chính quyền, nếu không quen biết hay được giới thiệu trước, thì sẽ thường bị rắc rối về thủ tục, tốn kém thì giờ và có thể tiền bạc nữa.
Đáng chú ý là trường hợp những giáo sư, học giả, nhà văn, về Việt Nam tìm kiếm tài liệu nghiên cứu hay viết sách, nếu không được phép trước mà tự ý tiếp xúc với các cá nhân có tư tưởng cấp tiến hay những tổ chức không chính thức ở trong nước, sẽ không khỏi bị công an mời đến “làm việc”, có thể bị cảnh cáo, ngăn cấm hay trục xuất, tùy theo mức độ bị nghi ngờ. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) từ bên ngoài về làm chương trình nhân đạo hay giáo dục đều phải khai báo để được sự chấp thuận của Ủy ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM) tại Hà Nội hay chi nhánh ở các địa phương. Trừ một vài trường hợp quá “thân” với chính quyền, các NGO Mỹ gốc Việt dù đã hoàn tất mọi thủ tục và giúp đỡ đồng bào từ nhiều năm qua vẫn chưa được PACCOM công nhận trong danh sách các NGO được chính thức hoạt động tại Việt Nam. Ngay cả một tập hợp trên 30 NGO Mỹ gốc Việt (VANGO Network) thành lập năm 2005 sau những hội nghị chính thức với PACCOM , Ford Foundation và USAID, để phối trí các chương trình nhân đạo được hiệu quả hơn, cho đến nay cũng vẫn chưa được PACCOM chính thức công nhận.
Những trí thức, chuyên gia và thành viên của các NGO ở nước ngoài không ít thì nhiều đều khó chịu về những thủ tục khó khăn hay những hạch hỏi vô lý về chính trị do quen biết những người hay tổ chức đang bị công an theo dõi ở trong hay ngoài nước. Một số quyết định không trở lại Việt Nam cho đến khi nhà nước thay đổi chính sách. Nhưng rất nhiều người, vì nhu cầu công việc, vì cần thăm nom cha mẹ già hay những lý do bình thường khác, đã phải nhẫn nhịn để khỏi bị làm khó dễ khi xin “thị thực” (tôi dùng chữ “visa” đã quốc tế hóa dễ hiểu hơn). Phải nói thẳng ra rằng chính phủ Việt Nam đang giữ lợi thế “nắm đằng chuôi” trong chính sách đối xử với tất cả những người ở nước ngoài cần hay muốn có visa đi VN . Visa là vũ khí đe dọa có hiệu lực nhất để kiểm soát và ngăn ngừa mọi thái độ chỉ trích hay phản đối chính quyền của những người từ bên ngoài muốn du lịch, thăm gia đình hay làm việc ở VN. Trừ một ít trường hợp ngoại lệ, tất cả các NGO nước ngoài đều bị bộ máy an ninh xếp vào thành phần “diễn biến hòa bình” nguy hiểm chỉ vì ảnh hưởng tự nhiên của hoạt động nhân đạo. Đặc biệt đối với các NGO Mỹ gốc Việt thì visa là thanh gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu, vì họ là đối tượng đáng nghi nhất, vì họ có nhiều cơ hội gần gũi và trực tiếp giúp đỡ người nghèo và bệnh tật, do đó được nhân dân có cảm tình và tin cậy. Ngày nay, với “những nỗ lực không mệt mỏi” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố về cải thiện nhân quyền, đã đến lúc Việt Nam nên chủ động “diễn tiến hòa bình” (dịch đúng nghĩa của ‘peaceful evolution’) để có thể tiếp nhận nhiều hơn và điều phối có kết quả tốt hơn các dự án nhân đạo và phát triển của các NGO nước ngoài, nhất là NGO Mỹ gốc Việt.
Ngày 14 tháng Bảy 2015, nhân dịp TBT Nguyễn Phú Trọng có những lời phát biểu chính đáng về cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tôi đã viết bài “Hòa giải với người chết” yêu cầu chính quyền Việt Nam hãy giải quyết dứt điểm một vấn đề đã kéo dài 40 năm qua gồm chương trình tìm mộ và cải táng hài cốt những tù cải tạo đã chết trong thời gian bị giam cầm, và chương trình trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Bài viết đưa ra công khai nhiều chi tiết về cuộc vận động và những nỗi thăng trầm của tổ chức Vietnamese American Foundation (VAF), một NGO Mỹ gốc Việt do một số cựu tù cải tạo và con em gia đình tử sĩ VNCH thành lập chỉ chuyên lo vận động và thực hiện hai chương trình nói trên từ đầu năm 2007. Trường hợp VAF được nêu lên với mục đích thử thách thiện chí của chính quyền trong việc nhìn nhận vai trò quan trọng của cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt trong sự phát triển quan hệ giữa hai nước. Nếu một dự án hoàn toàn phù hợp với đạo lý con người như của VAF, nhất là đối với những người đã khuất, mà lãnh đạo trong nước vẫn không chịu giải quyết dứt khoát thì chắc chắn sự phát triển quan hệ giữa hai nước sẽ gặp nhiều trở ngại khó vượt qua. Đó là lý do khi VAF bị ngăn cấm, các thân hữu của tổ chức đã vận động được Quốc hội Mỹ lên tiếng can thiệp và Bộ Ngoại giao Mỹ cũng quyết định đưa dự án của VAF vào những cuộc thảo luận song phương.
Kết quả tức thời là chính quyền tỉnh Bình Dương đã cho phép VAF tiếp tục chương trình trùng tu các ngôi mộ nhưng vẫn phải qua tên cá nhân (chủ tịch VAF đã phải nhờ ông Lê Thành Ân, cựu TLS Mỹ, tạm thời đứng tên xin phép trùng tu một số mộ) và hợp tác thực hiện việc cắt bỏ những cây đã mọc trên mộ và làm sạch cò tại những lô mộ đã trùng tu. Tuy nhiên, đây vẫn có thể chỉ là những đáp ứng rất hạn chế trong kế hoạch trì hoãn việc trùng tu NTBH, thâu hẹp diện tích nghĩa trang để lấy đất cho thuê, khuyến khích gia đình tử sĩ đưa hài cốt thân nhân về quê hay cải táng ở nơi khác, tạo sự cạnh tranh giữa các hội đoàn thiện nguyện người Việt ở nước ngoài. Tất cả những hoạt động có tính phá hoại này đều nhắm đến mục tiêu tối hậu là không để cho NTBH trở thành một di tích lịch sử của cuộc nội chiến 20 năm. Tới đây cũng cần nói thêm là VAF không có ý định độc quyền trùng tu NTBH nên đã kêu gọi mọi người cùng trùng tu mộ và sẵn sàng lui bước nếu có hội đoàn nào được cộng đồng và hai chính phủ Mỹ, Việt tín nhiệm, có đầy đủ khả năng đạt được mục tiêu tối hậu là NTBH được duy trì và bảo quản như một di tích lịch sử. Quan trọng nhất là phải chứng tỏ được sự minh bạch về tài chánh và lề lối làm việc. Tôi nghĩ phương cách thực tế và có hiệu quả nhất là các hội đoàn đã hay muốn tham gia công việc trùng tu mộ nên phối hợp với chương trình trùng tu theo kế hoạch và mô hình thống nhất của VAF. Như vậy vừa giữ được sự tín nhiệm của cộng đồng, tránh được nạn thâm lạm quỹ trùng tu, vừa vô hiệu hóa được âm mưu chia rẽ của những kẻ có ác ý. Với sự ủng hộ của chính phủ và Quốc hội Mỹ, chương trình trùng tu NTBH sẽ mau chóng đạt được mục tiêu mong muốn.
Vì nguồn gốc là tị nạn cộng sản sau biến cố tháng Tư 1975, cộng đồng công dân Mỹ gốc Việt không thể đương nhiên đóng góp tiền bạc và trí tuệ cho sự phát triển đất nước chỉ vì được các lãnh đạo VN phong cho nhãn hiệu “khúc ruột ngàn dặm” hay “một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Xin đừng quên rằng khi ra đi trong cơn nguy cấp, người tị nạn đã phải bỏ lại hết tài sản và sự nghiệp, mồ mả tổ tiên, bà con và bạn bè thân thiết. Hiện tượng “thuyền nhân” vượt biển gian nan và bi thảm chưa từng thấy trong lịch sử loài người đã diễn ra liên tiếp trong gần hai chục năm. Mấy trăm nghìn đồng bào đã phải làm mồi cho cá biển, hàng nghìn phụ nữ đã bị hải tặc hãm hiếp hay bắt đi mất tích. Ngót một triệu người khác đã phải trải qua cuộc sống khổ cực trong các trại tạm trú ở Hong Kong và Đông Nam Á cho đến khi được chấp thuận đi định cư ở một quốc gia đệ tam hay bắt buộc phải hồi hương, đợt cuối là vào năm 1995. Cũng không thể không nhắc đến gần một triệu quân nhân, công chức bị đầy đọa trong các trại lao động cải tạo khiến hàng chục ngàn người đã chết trong thời gian bị cầm tù, từ dưới 1 năm đến 15 năm hay hơn nữa. Những người sống sót khi được thả về đã bị đối xử kỳ thị trong nhiều năm, không có công ăn việc làm, con cái không được đi học. Rất nhiều gia đình đã bị tan vỡ hay ly tán.
Sau 40 năm định cư và hội nhập thành công ở Hoa Kỳ nay đã đến thế hệ thứ ba, người Việt tị nạn đã trở thành công dân Mỹ và đã hội nhập thành công trên mọi địa hạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Không ai có thể quên được quá khứ đau thương nhưng đa số đều hướng về tương lai, mong muốn và sẵn sàng giúp cho quê hương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một quốc gia phát triển. Theo tạp chí Tài Chính ở trong nước (9/2/2015), “tổng lượng kiều hối năm 2014 cán mốc 12 tỷ USD. Số lượng dự án được các kiều bào đăng ký đầu tư về nước đến thời điểm này là 2.000 dự án, mang về nguồn lợi khoảng 20 tỷ USD mỗi năm.” Thử tưởng tượng Việt Nam thật sự quyết định thoát Trung, hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ ở Biển Đông Nam Á, tham gia Hiệp ước Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và chủ động dân chủ hóa chế độ, thì lượng kiều hối từ người Việt ở nước ngoài chắc chắn sẽ gia tăng tới bao nhiêu, nhất là khi đó sẽ có thêm sự đóng góp trí tuệ của hàng chục nghìn nhân tài gốc Việt ở Hoa Kỳ và các nước khác vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việt Nam sẽ có những “tiền đồn” trợ lực vững mạnh từ những cường quốc văn minh nhất trên thế giới.
Nhưng triển vọng tốt đẹp ấy chỉ có thể thành sự thật nếu chế độ độc tài toàn trị được thay thế bời một chế độ của dân, do dân và vì dân. Sự chuyển đổi thể chế này, như trên đã trình bày, hoàn toàn là vấn đề nội bộ, giữa chính quyền và nhân dân trong nước. Hoa Kỳ không liên quan và, do luật Neutrality Act, cũng đã chính thức xác định “không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của Việt Nam.” Công dân ngoại quốc gốc Việt cũng mong muốn có sự chuyển hóa trong hòa bình và cũng chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ. Chính quyền cần phân biệt những tổ chức muốn có vai trò chính trị ở trong nước với các NGO thuần túy. Các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước có thể đón nhận sự trợ giúp của những nhóm vận động cho nhân quyền ở bên ngoài nhưng cần hiểu rõ động cơ cá nhân của những người cầm đầu để có thể tránh bị lợi dụng bởi những “nhà thầu” đầy thủ đoạn nhưng đã có nhiều thành tích xấu trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Một số trí thức có uy tín ở trong nước như TS Nguyễn Quang A hay GS Nguyễn Huệ Chi, do có nhiều dịp xuất ngoại tiếp xúc với nhiều cá nhân và tổ chức cộng đồng, có thể cung cấp những thông tin chính xác về động cơ và khả năng hỗ trợ của những cá nhân và tổ chức ở bên ngoài. Tất nhiên, nếu Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ thì chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, trong đó có công dân Mỹ gốc Việt, sẽ ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa. Mọi đảm bảo đã có sẵn, vấn đề chỉ còn là chính quyền Việt Nam có muốn thực hiện hay không.
Cách mạng Nhung ở Việt Nam?
Thực tế chính trị ở nhiều nước cho thấy sự thay đổi từ một chế độ độc tài toàn trị sang chế độ dân chủ tam quyền phân lập không thể diễn ra trong một sớm một chiều, ngay cả trong trường hợp cách mạng bạo động. Đã có nhiều chế độ độc tài bị lật đổ bằng bạo động nhưng lại được thay thế bằng một chế độ độc tài khác. Trái lại, có nhiều cuộc chuyển hóa thể chế một cách hòa bình đã thành công như trường hợp Hung-ga-ri, Đông Đức hòa nhập vào Tây Đức, “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và nhiều nước Đông Âu khác, trong đó lãnh đạo cộng sản đã phải trao quyền lại cho một chính quyền dân chủ. Trong trường hợp Việt Nam, Đảng Cộng sản đã phạm quá nhiều sai lầm và tội ác, đã trở thành một đảng độc tài, tham nhũng, phản bội nhân dân và các đảng viên yêu nước, nhưng vẫn có thể tồn tại đến ngày nay là nhờ sự bảo hộ của Trung Quốc do nhóm lãnh đạo Hà Nội sang Thành Đô cầu cứu năm 1990. Từ đó, Bắc Kinh đã có cơ hội sử dụng quyền lực mềm để từng bước lấn chiếm lãnh thổ, cướp đoạt tài nguyên trên đất và trên biển, lèo lái đường lối chính trị, lũng đoạn kinh tế và Hán hóa dân tộc Việt. Hơn thế nữa, Trung Quốc còn dùng Việt Nam làm căn cứ chiến lược để làm chủ toàn thể Biển ĐNÁ, kiểm soát toàn thể các nước ASEAN, do đó xâm phạm lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ và đe dọa các nước trong khu vực.
Thái độ lộng hành của Trung Quốc cùng với lời ngoại trưởng Dương Khiết Trì răn đe các nước ASEAN là “những nước nhỏ” đã khiến cho các nước trong khu vực đều trông cậy vào sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Biển ĐNÁ. Khi xảy ra vụ giàn khoan HD-981, Tập Cận Bình nhiều lần từ chối gặp TBT Nguyễn Phú Trọng làm cho nhóm lãnh đạo thân TQ bị mất mặt và thấy rõ mình bị phản bội và khinh thường trắng trợn. Sau đó, khi Dương Khiết Trì sang Việt Nam kêu gọi “đứa con hoang hãy trở về” thì nhân dân Việt Nam bỗng sục sôi lòng yêu nước và sẵn sàng nổi dậy ủng hộ bất cứ một chính biến nào loại trừ những kẻ còn bám víu vào TQ. Đó là những lý do khiến ông Nguyễn Phú Trọng và phe thân Tàu có thể đã quyết định phải thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc và quay sang hợp tác với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự chuyển hướng ấy vẫn còn dè dặt, chậm chạp, vì lãnh đạo cộng sản vẫn sợ là đi với Hoa Kỳ thì chế độ sẽ bị lật đổ. Chính vì thế mà Tổng thống Hoa Kỳ đã phải hai lần xác nhận, lần đầu với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và lần thứ hai với Tổng Bí Thư Đảng Nguyễn Phú Trọng rằng Hoa Kỳ “tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (của Việt Nam).” Tiếp theo đó, trong buổi họp báo ở Hà Nội cuối tháng Bảy vừa qua, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius còn nói rõ hơn, là “Mỹ không tìm cách thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam.” Điều đó khẳng định chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt về thể chế chính trị của mỗi quốc gia vì đó là chuyện nội bộ của mỗi nước. Đại Sứ Osius nhắc lại điều đó với mục đích làm cho Việt Nam được yên tâm trong các nỗ lực cải thiện nhân quyền như đã ghi rõ trong bản Tuyên bố chung. Nhưng điều đó lại có thể bị Việt Nam mượn cớ để duy trì chế độ độc tài, độc đảng. Nói như TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập ở Việt Nam, “điều đó lên giây cót cho chế độ chính trị ở Việt Nam.”
Đây là một vòng lẩn quẩn, một tình trạng bế tắc chính trị mà Việt Nam cần phải quyết tâm thoát ra khỏi sớm ngày nào hay ngày ấy.
Như tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội ngày 9/8/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo truyền thông báo chí nhà nước cần tỉnh táo trước thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, lợi dụng chống tham nhũng để bôi xấu chế độ và chia rẽ nội bộ. Tuyên bố này đã khiến quan sát viên của đài RFA nêu câu hỏi là Việt Nam sẽ cải cách bằng cách nào khi tiếp tục không chấp nhận đa nguyên chính trị?
Câu hỏi này đã được TS Phạm Chí Dũng, từ giới truyền thông độc lập am hiểu tình hình trong nước, trả lời rằng ông được nghe thông tin là “trong Đại hội 12 sẽ không diễn ra sự thay đổi lớn về triết lý chính trị. . . Tôi hiểu là tất nhiên họ vẫn không chấp nhận đa nguyên đa đảng.”
TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã tự giải thể năm 2008 vì bị mất tính độc lập, hiện là đại diện của Diễn đàn Xã hội Dân sự, cũng trả lời RFA rằng “nhà nước không chấp nhận đa nguyên chính trị, và đó là nguyên nhân của tình trạng bê bết vì tham nhũng, kinh tế ách tắc hiện nay.” RFA còn nhắc lại những nhận định mạnh mẽ trước đó của TS Nguyễn Quang A: “Do chuyện chỉ có độc đảng, không có cạnh tranh chính trị, không có một thế lực độc lập lành mạnh luôn luôn canh chừng để vạch ra những việc làm bậy bạ của những người đương chức và nó luôn kè kè là đến cuộc bầu cử tới mà các ông làm bậy, thì dân bằng lá phiếu của mình sẽ đẩy các ông xuống và chúng tôi sẽ lên. Đây là một cơ chế hùng mạnh vô cùng, để buộc người ta bớt tham nhũng đi. Khi buộc người ta bớt tham nhũng đi thì các chính sách mới thực sự thúc đẩy nền kinh tế thị trường…”
Câu hỏi của RFA về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của Đảng, vừa muốn cải cách chính trị vừa muốn duy trì độc tài độc đảng, cũng là vấn đề tôi đã nêu ra ở trên là cần thoát khỏi vòng lẩn quẩn và khai thông tình trạng bế tắc chính trị hiện thời. Tôi đã đề nghị giải pháp thích hợp là Đảng và Nhà nước mở ngay những cuộc tham khảo với trí thức cấp tiến để sớm thiết lập một lộ trình (road map) chuyển hóa thể chế từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình và ổn định.
Sau lá thư gửi Bộ Chính trị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 1995, trước Đại hội Đảng lần thứ 9 cho đến nay, qua các Đại hội Đảng 10 và 11, nhiều lão thành cách mạng, đảng viên, trí thức, đã lên tiếng về hiểm họa Trung Quốc, đổi mới chính trị và nhiều vấn đề quan tâm khác, dưới những hình thức kiến nghị, tuyên bố và thư ngỏ. Trước tình hình khẩn cấp hiện nay, lãnh đạo đã ý thức được nhu cầu chuyển hướng cần lắng nghe tiếng nói của nhân dân, nhất là trực tiếp tham khảo với trí thức trong và ngoài đảng. Viện Nghiên cứu Phát triển IDS cần được phục hồi, có thể đổi tên, và mở rộng. Trí thức trong và ngoài nước đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, kể cả dự án cải cách toàn diện. Đầu năm 2015, bảy tổ chức XHDS trong nước cùng để ra chương trình hoạt động “Năm 2015 là Năm Công Dân”, mong muốn chuyển hoá một cách ôn hoà chế độ độc tài toàn trị hiện tồn sang chế độ dân chủ với những bước đi thích hợp. Một tài liệu khác cần xem xét trong việc thiết lập lộ trình chuyển hóa thể chế chính trị là bài viết mới đây của TS Nguyễn Quang A, “Dân chủ hóa: Vài bài học quốc tế và kịch bản khả dĩ cho Việt Nam” (Hội thảo Hè, Berlin, 24-25/7/2015). Tác giả đã tìm hiểu quá trình chuyển đổi chính trị tại 14 quốc gia từ 1945 đến nay, rút ra một số bài học thực tế và trình bày một số tiếp cận có thể áp dụng cho Việt Nam. Khi các dự thảo văn kiện Đại hội 12 được công bố, sự đóng góp ý kiến và nhận định của chuyên gia các giới về cương lĩnh, báo cáo chính trị và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chắc chắn sẽ rất phong phú và sôi nổi. Câu hỏi lớn là bản đúc kết các văn kiện vào cuối năm cho Đại hội 12 có đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân hay không?
Quả thật, tình hình chính trị Việt Nam chưa bao giờ bí mật và khó hiểu như đang diễn ra trước Đại hội 12. Chỉ thấy rõ là có sự đấu đá kịch liệt trong nội bộ Đảng, nhất là từ khi trang blog Chân Dung Quyền Lực bỗng nhiên gây chấn động dư luận trong và ngoài nước với một loạt bài tố cáo đich danh một số tham nhũng gộc trong hàng ngũ lãnh đạo trong mấy tháng cuối 2014 và đầu 2015. Chiến dịch triệt hạ uy tín của nhau khi lên đến mức báo động cho số phận của Đảng thì tạm ngưng (chắc để điều đình với nhau) cho đến khi TBT Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh vào tháng Tư và đi Washington vào tháng Bảy. Hai tuần trước khi ông Trọng sang thăm Mỹ thì sự cố về “sức khỏe” của Bộ trưởng Quốc Phòng bùng nổ với những tin tức trái ngược và những hình ảnh đáng ngờ vực ngay cả trên các báo giấy hay báo mạng “lề phải” (của chính quyền). Một số lãnh đạo cao cấp lại có những phát biểu chính thức rất tự mâu thuẫn, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đọc bài diễn văn gây kinh ngạc nhất trong ngày kỷ niệm 30.4.2015 bày tỏ lòng nhớ ơn “sự giúp đỡ quý báu của Trung Quốc” và tố cáo “tội ác dã man của Đế quốc Mỹ”. Những quan sát viên bình tâm theo dõi tình hình sẽ phải kết luận rằng đây là tình trạng “hỏa mù” do chính các phe chống đối nhau trong bộ máy quyền lực đưa ra để dư luận bị hoang mang, khó ủng hộ hay chống đối phe nào cho đến khi các dự thảo văn kiện Đại hội được công bố (nếu có theo thường lệ) cho thấy phe nào đã thắng hay các phe đã đạt được một đồng thuận nào đó.
Dù sao, các giới nhân dân không nên mất thì giờ chạy theo các nguồn tin trái ngược để phỏng đoán sự thật. Dù kết quả thế nào, đi theo Tàu hay đi với Mỹ, hay vẫn nhập nhằng “bình mới rượu cũ” thêm 5 năm nữa, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự vẫn phải tập trung nỗ lực vào việc xây dựng sức mạnh nhân dân để có thể ứng phó với mọi tình huống một cách thích hợp. Kết quả mong đợi là một tiến trình chuyển hóa thể chế ôn hòa từ độc tài sang dân chủ, nhưng nếu phe bảo thủ thân Tàu nắm được ưu thế thì chỉ một ngòi nổ bất thường sẽ gây ra bạo loạn. Trong giai đoạn quyết định này, trí thức, xã hội dân sự và các đảng viên yêu nước không thể chần chừ đòi hỏi chính quyền phải dứt khoát từ bỏ chính sách mập mờ, nói một đàng làm một nẻo. Bằng mọi cách, phải ngăn chặn ý đồ duy trì chế độ độc đảng độc tài mà hậu quả là đất nước sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc trong 5 năm tới.
Lãnh đạo Đảng đã biết rõ sự chán ghét và bất mãn của dân chúng đang gia tăng và lan rộng nên đã cho thấy ý muốn thoát Trung, nhưng đây có thể chỉ là một bước lùi chiến thuật của Đảng để duy trì và củng cố quyền lực. Trí thức và xã hội dân sự cần phải huy động các mầm mống bất mãn của nhân dân thành một hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào đổi mới, hoan nghênh bước lùi của Đảng để đẩy tới tiến trình chuyển hóa chế độ chính trị. Hãy bắt đầu bằng việc kêu gọi chính quyền thực hiện “những nỗ lực không mệt mỏi” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố tại thủ đô nước Mỹ khi đề cập đến vấn đề nhân quyền. Cụ thể là yêu cầu chính quyền chấp nhận đối thoại với trí thức và đảng viên yêu nước, thả những người bị giam giữ vì biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, vì vận động cải thiện nhân quyền hay phát biểu chinh kiến khác biệt, ngưng mọi hành động cướp đất và đàn áp dân oan, hợp tác hơn với các NGO nước ngoài gốc Việt, v.v.
Những yêu cầu nhẹ nhàng này là những bước thử thách thiện chí của nhà cầm quyền về việc chuyển lời nói thành hành động, qua đó sẽ dễ dàng nhận ra đường lối đích thực của Đảng và Nhà nước là vì dân hay phản dân. Nếu chính quyền chấp nhận những yêu cầu hợp lý trên đây và đồng ý cùng thảo luận với trí thức cấp tiến về một lộ trình dân chủ hóa trong hòa bình và ổn định thì đó sẽ là đại phúc cho dân tộc. Cuộc chuyển đổi thể chế trong ôn hòa này sẽ còn tốt đẹp hơn cuộc “Cách mạng Nhung” ở Tiệp Khắc, vì sự ra đi của Tổng Bí Thư Milos Jakes và đám lãnh đạo cộng sản ngoan cố ở Tiệp chỉ xảy ra sau một chuỗi sự kiện khởi đầu bằng một vụ đàn áp sinh viên biểu tình kỷ niệm 50 năm cái chết của sinh viên Jan Opletal bị quân Đức Quốc xã sát hại. Vụ đàn áp biểu tình này được dàn dựng bởi chính cơ quan mật vụ StB, tung tin đồn là có một sinh viên tên Martin Smid bị công an đánh chết. Do phản ứng dữ dội của quần chúng, Diễn đàn Công dân (Civic Forum) của Vaclav Havel ra tuyên cáo yêu cầu tập đoàn lãnh đạo phải từ chức, sau đó là những cuộc biểu tinh bất bạo động của hàng trăm ngàn người trong mười ngày trên toàn quốc. Công an không chịu đàn áp biểu tình và quân đội cũng không chịu can thiệp. Cuối cùng, khi Diễn đàn Công dân kêu gọi một cuộc tổng đình công và hầu hết công nhân Tiệp Khắc tham gia thì bè lũ Milos Jakes đành chịu thất bại và nhục nhã ra đi.
Tóm lại, Đại hội toàn quốc Đảng CS lần thứ 12 sẽ thông qua các văn kiện Đảng và xác định chiều hướng chính sách đối nội và đối ngoại trong 5 năm sắp tới. Kết quả là một cuộc chuyển hóa thể chế êm đẹp sẽ diễn ra hay chế độ độc tài độc đảng sẽ tiếp tục thống trị đất nước một cách khắc nghiệt hơn và tàn bạo hơn. Hi vọng rằng đa số lãnh đạo đủ tỉnh táo nhận ra chiều hướng tất yếu của lịch sử và thời điểm đã tới để lựa chọn một giải pháp vừa an toàn cho mọi người vừa có lợi ích to lớn cho đất nước. Mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đều đang theo dõi và chờ đợi các dự thảo văn kiện Đảng có thể được công bố vào tháng tới và đúc kết trước cuối năm 2015. Chắc chắn một điều là ý Dân và ý Trời sẽ không cho phép một chính quyền mới tiếp tục duy trì chế độ độc tài độc đảng và quan hệ lệ thuộc vào Trung Quốc. Đã đến lúc phương châm nhảm nhí “16 chữ vàng và 4 tốt” do Bắc Kinh áp đặt phải được vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử. Đã đến lúc nhà cầm quyền phải trả lại cho nhân dân những quyền đã được quy định trong điều 3 của Hiến pháp 2013, thực hiện những điều hứa hẹn về một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh.”
Chuyển hóa chế độ trong hòa bình và ổn định, hay châm ngòi cho một cuộc bạo loạn thảm họa cho chế độ? Cứu nước hay bán nước? Đó là câu hỏi cần được lãnh đạo Đảng và Nhà nước trả lời minh bạch trước Đại hội toàn quốc thứ 12.
Lê Xuân Khoa
22 tháng 8, 2015

Tuesday, 12 May 2015

LÊ XUÂN KHOA VÀ 35 TRÍ NGU HẢI NGỌAI - GIỜ NẦY VẪN CÒN MƠ MÀNG CÁI THƯ NGỎ ... VẪN CHƯA BIẾT NÓ NẰM TRONG CẦU XÍ CỦA THỦ DÂM NGUYỄN TẤN DŨNG TỪ KHUYA./- Mt68

Văn Hóa phỏng vấn Gs Lê Xuân Khoa
"BÁO VĂN HÓA - CALIFORNIA" THỨ BẨY 09 MAY 2015


http://nhatbaovanhoa.com
Gs Lê Xuân Khoa: "Hán hóa" có nghĩa là muốn diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc. Đồng thời, TQ sẽ chiếm toàn bộ đất đai cũng như biển Đông, biến Việt Nam thành một bộ phận của Trung Quốc"
 LTS: Có lẽ chúng tôi không cần giới thiệu nhiều về Gs Lê Xuân Khoa; ông là một nhà Giáo dục, nhà hoạt động Cộng đồng, nhà hoạt động Chính trị, nhà Nghiên cứu Chính sách - Chiến lược, và gần đây ông bước vào con đường của một nhà Biên niên Sử với tác phẩm Việt Nam: 1945-1995. Cuộc phỏng vấn thực hiện tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí Quận Cam ngày thứ Ba 05/5/2015. Tòa soạn lược bớt nhiều câu chữ thừa trong đối thoại nhưng vẫn giữ đúng nội dung.
Văn Hóa trân trọng cám ơn Gs Lê Xuân Khoa đã dành nhiều thì giờ cho cuộc phỏng vấn, cung cấp một số tư liệu, hình ảnh nhuận sắc, và hoàn chỉnh một vài lỗi đánh máy chính tả. (VH)
LY KIEN TRUC + LE XUAN KHOA 1.jpg
Nhà báo Lý Kiến trúc phỏng vấn Giáo sư Lê Xuân Khoa tại Câu Lạc bộ Văn Hóa Báo Chí Quận Cam 5/5/2015. Ảnh trích từ video.
Kính chào Giáo sư, hôm nay báo Văn Hóa hân hạnh được tiếp xúc với Giáo sư qua một số vấn đề, xin được vào đề ngay:
Văn Hóa: Là một trong 36 trí thức VN hải ngoại ký tên trong THƯ NGỎ (trong đó có Gs Vũ Quốc Thúc), cho đến đã hơn 4 năm, ông nhận thấy THƯ NGỎ đã có tác động nào hay rơi vào quên lãng đối với chính phủ VN?
Gs Lê Xuân Khoa: Khi chúng tôi chủ trương viết Thư Ngỏ, không phải là tự nhiên, mà do ở trong nước có hai Kiến nghị của 72 trí thức và một cái nữa của các đảng viên. Chủ trương của họ đưa ra có hai điểm chúng tôi rất tán thành: Thứ nhất là trong nước đang đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc, tìm cách làm sao VN thoát ra khỏi sự khống chế của TQ. Thứ hai là tiến đến lộ trình hội nhập với thế giới dân chủ nghĩa là phải bắt đầu cải tổ chế độ chính trị chứ không chỉ cái tổ kinh tế. Hai điểm đó là điểm chúng tôi trong đợi ở ngoài này.
Chúng tôi ở ngoài này không có lập đảng lập phe gì hết , chỉ thỉnh thoảng gặp nhau trao đổi qua email, ví dụ như qua Pháp, qua Canada, qua Úc ... thì chúng tôi vẫn có cái chuyện là làm thế nào mà có cơ hội gì thúc đẩy chuyện trong nước phải đi vào cái chỗ "thoát Trung", và con đường thứ nhì là xây dựng dân chủ. Khi Kiến nghị trong nước lên tiếng, chúng tôi tán thành và bên ngoài tìm cách hỗ trợ trong nước cho có uy tín và mạnh hơn, bởi thế chúng tôi chọn hình thức "Thư Ngỏ" mà không chọn "Kiến nghị", vì chúng tôi hiểu người trong nước, trong đảng "Kiến nghị" với chính phủ của họ, còn chúng ta ở ngoài không có kiến nghị mà chỉ là thư ngỏ, thư ngỏ không chỉ viết riêng cho chính  quyền mà công bố cho tất cả mọi người biết. Cho đến bây giờ đề tài đó vẫn còn thời thượng, còn chính quyền họ nghe theo tới đâu thì chúng ta theo dõi thấy họ dường như muốn đi về hướng đó mà vẫn còn có cái sự "thụt tới thụt lui". 
Văn Hóa: Là một nhà Biên niên Sử, ông có theo dõi cuộc diễn binh, duyệt binh tại Sàigon hôm 30 tháng Tư vừa qua, theo ông nó có gì đặc biệt, nhất là qua bài diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng?
Gs Lê Xuân Khoa: Sự thực tôi không chú ý lắm về cái duyệt binh vì tôi cho đấy là cái "diễn tuồng" của chính quyền trong nước. Tôi hoàn toàn không tán thành, bởi vì đã đến cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư đừng có nên biểu dương cái thái độ để cho ngoài có thể nhìn nhận như là để biểu dương sức mạnh hay khoe khoang quá khứ; đã đến lúc phải quên cái quá khứ đó đi, hướng về tương lại nhiều hơn; chính ông Dũng cũng nói là đóng lại qua khứ hướng về tương lai, đằng này lại ôn lại hình ảnh quá khứ, sống lại quá khứ ... Bài diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng có thể nói tôi hoàn toàn thất vọng, rất ngạc nhiên và thất vọng.
Văn Hóa: Giáo sư đã bỏ ra nhiều năm ở đại học Johns Hopkins nghiên cứu về Biển Đông, tình hình và diễn biến Biển Đông hiện nay ông nhận xét như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi cũng xin nhắc lại là sau khi chúng tôi viết Thư Ngỏ, chúng tôi có lập ra một "Diễn đàn Trí thức", "Việt Nam Issues Forum", ở hải ngoại chúng tôi có một nhóm anh em trao đổi, theo dõi tình hình trong nước, chú ý đến vấn đề nào mà mình có thể thấy rằng mình đưa ý kiến để trong nước những anh em trí thức có thể dùng được, làm áp lực để vận động chính quyền trong nước, cũng như đối với quốc tế chúng tôi thấy có điểm gì cần làm được.
Có hai vấn đề chính mà chúng tôi thường xuyên theo dõi cho đến bây giờ, thứ nhất là Biển Đông thứ hai là Sông Mê Kông. Vấn đề Biển Đông có hai khía cạnh, chúng tôi có hai nhóm làm việc, nhóm thứ nhất chuyên về "Tư liệu Lịch sử", dựa vào tài liệu trong nước có, dựa vào tài liệu ngoài này có và dễ kiếm hơn ví dụ như ở Pháp thì vào thư viện Quốc gia Pháp, bên nay thì đi khai thác ở các thư viện bên này hoặc của tư nhân, chúng tôi có những đối chiếu, bổ túc cho nhau, nhưng cũng nhân dịp đó mà tạo ra mối quan hệ với các nhà nghiên cứu trong nước họ cũng đang đi tìm tài liệu lịch sử để chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của VN.
Cho đến bay giờ chúng tôi vẫn làm việc rất sát với các nhà nghiên cứu trong nước kể cả các tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý, cũng như các tài liệu viết bằng chữ Hán. Đấy là khía cạnh thứ nhất về tài liệu, khía cạnh thứ hai là Luật pháp, chúng tôi thấy ngoài này mình có ưu thế là có nhiều luật gia cũ cũng như mới theo học Luật quốc tế. họ nắm vững được các yếu tố về luật quốc tế, quốc gia, do đó nếu trong trường hợp "kiện" Trung Quốc về Biển Đông thì có thể kiện được không và có hy vọng gì không, chắc chắn trong nước họ cũng đưa lên chính quyền, còn chính quyền họ dùng được tới đâu hay không dùng thì mình chưa biết. 
Văn Hóa: Thưa Gs, các tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thì phía bên Trung Quốc cũng đưa ra cả ngàn trang tài liệu chứng minh  chủ quyền các hòn đảo đó thuộc về họ, ngay cả Philippines cũng đưa ra tài liệu, như vậy thì qua các tài liệu đó (VN,TQ,PHI), có những điểm xung đột nào, điểm khác biệt nào, điểm trùng hợp nào trong lúc ba bên hiện đang tranh chấp?
Gs Lê Xuân Khoa: Cho đến bây giờ, chủ yếu là có sự so sánh tài liệu của TQ và của VN. Tất nhiên chúng tôi có sự phản biện, có sự so sánh chúng tôi mới chứng minh là TQ không có tài liệu đầy đủ hoặc sai sót, chứng minh là phía VN thật sự có tài liệu chính xác. Từ đó, cung cấp cho nhóm Pháp lý, nhóm Pháp lý từ đó có thể đưa luận cứ đứng về mặt Công pháp quốc tế, dựa vào cả Hiến chương Liên hiệp quốc để có thể tranh cãi với TQ trước Tòa án Quốc tế.
Văn Hóa: Tài liệu của VN và tài liệu của Philippines có sự khác biệt như thế nào trong lúc hai nước đang có tranh chấp?
Gs Lê Xuân Khoa: Thú thật là về phía Philippines tôi chắc là có nhưng tôi không theo dõi sát, tôi cũng không nằm trong nhóm nghiên cứu đó, tôi chỉ là người điều phối và sau này tôi cũng đã rút lui. Tất nhiên về phía VN và Phi cũng có tranh chấp, nhưng chủ trương của chúng tôi là tất cả những tranh chấp giữa các nước Đông Nam Á (5 nước), nên nói với nhau là chúng ta nên giải quyết riêng với nhau, bây giờ chúng ta cần đoàn kết lại để nói chuyện với TQ cái đã. Vấn đề với Phi nếu có thì là nghiên cứu thêm, vấn đề chính là chyện của VN với TQ. Chuyện Phi bài bác TQ như thế nào thì chúng tôi xem như lập trường chung đối với TQ, còn chuyện tranh chấp đối với Phi thì giải quyết riêng. Đấy là chủ trương của chúng tôi.  
Văn Hóa: Trong vụ kiện của Philippines lên tòa Trọng tài Quốc tế La Haye, thái độ của Việt Nam có vẻ như không được rõ ràng lắm , theo Gs thấy nó như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Theo chủ trương của chúng tôi thì nhất định mình phải đi với Philippines, mình phải ủng hộ tuyệt đối, nhất là khi mình chưa tiện, khi chính phủ VN thấy là chưa  tiện đứng ra để đối đầu hẳn với TQ thì ít nhất cũng phải hỗ trợ Phi, phải vận động quốc tế để làm áp lực với TQ, còn làm lấy chưa được thì phải dựa người khác, trong khi đó phải tiến tới cái chỗ mình phải chủ động làm tới nơi đi chứ không phải ngồi chờ . 
Văn Hóa: Trong chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng hội đàm với ông Tập Cận Bình, nhận định của Giáo sư về bản Thông cáo chung giữa VN và TQ đối với vấn đề Biển Đông như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Có lẽ tôi nên lui lại một chút về việc ông Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh. Ông Trọng đi Bắc Kinh trước khi đi Washington, tuy chưa biết đi Washington như thế nào nhưng chỉ biết khi Washington mời Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ thì Tập Cận Bình lúc đó mới mời Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh. Chuyện mời đó so với thái độ của Bắc Kinh đối với VN trước đây thì đó là một sự xoay chuyển 180 độ. Khi hiện tượng giàn khoan HD-981 xẩy ra vào tháng Năm năm ngoái, thì Trọng phải vội vàng xin liên lạc ngay với Bắc Kinh để cầu cứu làm sao để giải quyết vấn đề này và xin được gặp Tập Cận Bình. Chúng tôi được biết là mấy lần Trong xin mà bị từ chối, trong nước họ đếm tất cả là đến 30 lần, kể cả chính thức và không chính thức qua các kênh, cán ngả khác nhau mà bị Cận bình từ chối không cho gặp, như thế thái độ TQ dứt khoát với VN, nó cho rằng VN là tay sai rồi, nó cho quốc tế biết đừng có đặt vấn đề VN ra nữa, xong rồi, khi VN đặt vấn đề thảo luận với nó thì nó từ chối, đó là chuyện nó muốn làm mất mặt đảng CSVN, nhất là TBT đảng CSVN.
Tôi thấy khi mà Mỹ có thể đã điều đình với VN, và VN vì chuyện đó mà thấy nguy, thứ nhất là thấy TQ bỏ rơi mình, đối xử tàn nhẫn như vậy, phi ngoại giao, có thể nói rất là vô lễ.Nhưng, cái này tôi mới cho là yêu tố quan trọng, nguy hiểm như thế này mới thấy sự bất mãn của nhân dân trong nước, nhân dân trong nước lại càng khinh bỉ chính quyền này, nhân dân trong nước càng thấy rằng TQ quyết liệt lấy VN và như thế là chết rồi cho nên sự bất mãn của dân chúng bùng lên rất mạnh, và cái sự vùng dậy rất mạnh đó khiến cho Nguyễn Phú Trọng  và cái phe thân Tầu phải suy tính lại. Trong lúc suy tính thì ta thấy có hiện tượng Nguyễn Tấn Dũng làm cái chương trình "Chân dung Quyền lực", tôi không dám nói là của Nguyễn Tấn Dũng nhưng ai cũng biết là cái trang "Chân dung Quyền lực" đó hoàn toàn đứng trên quan điểm Nguyễn Tấn Dũng, hoàn toàn chống lại cái đám thân Tầu, khi tất cả cái tội ác, tội  tham những đàn em của Phú Trọng bị đánh thì ta thấy cái khuynh hướng chống TQ, thân tây phương, thân Mỹ nó lên vào lúc đó nó rất nguy hiểm vì toàn dân nổi lên, toàn dân được tự do  hiểu biết thì đến lúc nào đó phe TQ sẽ bị lật đổ. Bởi sự hoảng hốt đó cho nên cái đám Bộ chính trị phải họp để chận cái chuyện đó, thì chúng ta mới thấy rằng bỗng nhiên trang "Chân dung Quyền lực" phải khựng lại trong vòng khoảng mấy tháng nay. Cái ngừng đó đây phải hiểu rằng có sự can thiệp của nội bộ để ngồi lại với nhau để điều đình rồi. Cái điều đình nó đưa đến cái gì, đưa đến cái dung hòa, nếu phe Nguyễn Tấn Dũng không thắng hoàn toàn thì nó cũng phải được như thế nào thì nó mới chịu ngưng trang CDQL, cho nên khi Bộ chính trị nhìn thấy TQ phản bội lại mình, bắt mình phải lệ thuộc nó quá trắng trợn thì điều đó không thể chấp nhận, dù có vì quyền lợi riêng thì không thể đối với nhân dân có thể nhận chuyện đó được, thế nào nhân dân nó cũng lật mình thôi, cho nên họ phải nhân nhượng điều đình lẫn nhau, tôi nghĩ rằng cái phe TQ bắt đầu chấp nhân chuyện xa TQ đi, bắt đầu xích lại gần Mỹ hơn, khi có dấu hiệu có thể đi lại gần với Mỹ thì Mỹ có lời mời Phú Trọng.
Ta có thể hỏi tại sao Mỹ lại mời Trọng mà không mời Dũng, ta có thể hiểu rằng đối với Mỹ Nguyễn Tấn Dũng coi như thân Mỹ rồi. Dũng chống TQ nó khá rõ rồi, cho nên đối với Hoa Kỳ nếu mình lấy được cái anh mà nó đang theo Tầu bây giờ nó muốn theo mình thì kéo được thêm anh đó thì nó càng mạnh. Đấy là lý do Mỹ mời Nguyễn Phú Trọng.
Văn Hóa: Trở lại vấn đề giàn khoan HD-981, có hai điểm, ý đồ chính khi TQ "âm thầm" kéo giàn khoan vào thềm lục địa VN, thứ hai là trong trận "đối đầu" đó, tạm gọi đó là trận đánh mới ở trên Biển Đông giữa VN và TQ,vấn đề "thắng" hay "bại" thuộc về phe nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Nếu mà nói "thắng" hay "bại" do cái giàn khoan HD-981 đó thì tôi thấy TQ bại. TQ làm một cái sai lầm lớn vô cùng, đối với VN hay đối với quốc tế cả hai phương diện đều sai lầm hết. Bởi vì đối với quốc tế thì tất cả không có quốc gia nào hỗ trợ chuyện đó. Tất cả dư luận từ các nước ASEAN dù có không lên tiếng chống đối chăng nữa thì rõ ràng ASEAN cũng không chấp nhận được, chưa kể các cường quốc Mỹ, Tây họ đều lên tiếng chống lại. Đối với VN thì rõ ràng TQ cho các anh thấy rằng các anh là tay sai của tôi rồi
Một sai lầm rất lớn là TQ đã gây nên sự bất mãn của đám tay sai đàn em, bất mãn kinh khủng đối với nhân dân, bằng chứng là các vụ đập phá, biểu tình, đập phá các cơ quan của TQ dính tới các cơ quan khác nữa. Điều đó là phản ứng của nhân dân chống TQ nó mạnh đến độ TQ bất ngờ.
Văn Hóa: Gs có nghĩ thế nào khi giàn khoan đó "âm thầm" kéo đến VN và rút ra cũng "âm thầm"?
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi nghĩ rằng cái "âm thầm" đó nó có tính cách lặng lẽ thôi, chứ việc nó kéo vào đó là hiển nhiên rồi. Công khai chứ đâu phải bí mật. Kéo cái giàn khoan vào đó là cả một cái biến cố ghê gớm, nhưng khi mà rút đi lặng lẽ thì đó cũng là cái hoạt động công khai rồi, điều đó chứng tỏ cho TQ thấy họ sai lầm,và vì thế cho nên là khi Tập Cận Bình mời Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh chưa bao giờ có một nhân vật nào của VN kể cả Hồ Chí Minh được TQ đón tiếp bằng 21 phát súng thần công, tất cả nghi lễ lớn nhất để mà chuộc lại cái lỗi đối với VN, để mà kéo hết sức VN về phía mình đừng để nó ngả về phía Mỹ. Đây là cái cố gắng nỗ lực của TQ để mà lấy lại cảm tình đối với VN.
Văn Hóa: Theo như GS nói thì như vậy VN chưa hoàn toàn lệ thuộc vào TQ?
Gs Lê Xuân Khoa: Cho đến lúc đó, nhưng mà khi mà đã nhận lời đi thăm TQ sang gặp Cận Bình rồi thì tôi nghĩ chuyện đó nó không còn như vậy nữa. Nó không phải là chuyện bất mãn hoàn toàn với TQ nữa, nó có cái sự thỏa hiệp với TQ mà chúng ta không được biết rõ lắm. Nhưng mà trở lại với câu hỏi là đi với TQ có phải là ngả với TQ hay không thì cái lời mời Phú Trọng sang TQ rất là nhanh, rất gấp, bởi vì sau khi biết cái thái độ bất mãn của VN thì Cận Bình mới bằng lòng mời Trọng đi, đi gấp rút trước khi Phú Trọng đi Mỹ trong vòng mấy tuần nữa. Khi mời như vậy, thường thường nếu có các văn kiện gì ký kết thì phải nói chuyện với nhau ít nhất cả năm trước hay ít nhất cũng phải dăm bẩy tháng trước, đây ngày đầu tiên mới tới đã có 7 văn bản sẵn đó để cho hai bên ký kết rồi, tức là 7 văn bản đó do TQ nó đã soạn sẵn rồi, ngày đầu tiên tới nơi, hai ông chủ tịch ngồi đó chứng kiến ký kết văn bản. Chỉ có bản Thông cáo chung mà chúng ta được biết chứ còn cái nội dung 7 văn bản thì không biết nó làm sao cả, nhưng chúng tôi rất nghi rằng các văn bản đó bất lợi cho VN, bằng chứng là trong Thông cáo chung nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng, bốn tốt, điều dó có thể hiểu cái cam kết của VN không ra khỏi ảnh hưởng của TQ, không dám "thoát Trung".
Văn Hóa: Cái giàn khoan kéo đến VN vào tháng 5 năm ngoái, gần một năm sau, Tập Cận Bình mới mời Nguyễn Phú Trọng, điều đó có gì gấp rút?
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi nghĩ khi Tập Cận Bình cho giàn khoan rút ra thì họ biết là có sai lầm, nhưng cái chuyện họ mời ngay đi thì chắc là chưa có đâu, nhưng khi có cơ hội thì cũng nên tiếp anh này, đàn em của mình để cho nó đỡ bị "bất mãn" quá.
Văn Hóa: Trong quá khứ trước đây ông có dịp nhiều lần tiếp cận với các ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt, nhân cách, quan điểm và khuynh hướng của hai ông đó có ảnh hưởng đến các chóp bu hiện nay đang lãnh đạo đảng CSVN trong mối quan hệ tay ba Việt- Mỹ - Trung?
Giáo sư Lê Xuân Khoa (trái) và cựu Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ Robert Funseth, người đã ký với Hà Nội thỏa hiệp H.O năm 1989.
Giáo sư Lê Xuân Khoa (trái) và cựu Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ Robert Funseth, người đã ký với Hà Nội thỏa hiệp H.O năm 1989.
Gs Lê Xuân Khoa: Lần tiếp xúc với Nguyễn Cơ Thạch thì nói cho rất đúng là vào năm 1990, khi ông Nguyễn Cơ Thạch vào khoảng tháng Chín tháng Mười có buổi họp Đại hội đồng Liên hiêp quốc, các nước thành viên, các thủ lãnh các quốc gia, ít nhất phải là bộ trưởng ngoại giao. Năm 1990 người đi họp hội nghị đó là Nguyễn Cơ Thạch với tư cách Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao; khi ông đến Nữu Ước thì tôi đang tranh đấu đòi thả tù nhân chính trị cho đi sang định cư ở Hoa Kỳ , nói đúng ra thì VN đã ký hiệp ước thả tù nhân rồi nhưng vấn đề cho đi định cư tại Hoa Kỳ thì chưa có, cái thỏa ước đó ký với ông Robert Funseth vào tháng 8, 1989; khi ông Thạch sang đến Nữu Ước thì chúng tôi vận động Quốc hội và Bộ ngoại giao Mỹ nhân dịp này phải làm áp lực vì biết Nguyễn Cơ Thạch sang Mỹ để bàn đến vấn đề bang giao.
Cái triển vọng bang giao đó có lẽ đã nói chuyện từ lâu, nhưng ít nhất tôi biết rất rõ từ năm 1989 hai bên đã nói chuyện với nhau, bởi vì khi tôi đi họp hội nghị Geneve về Quốc tế tỵ nạn, đáng lẽ tôi ngồi trong phái đoàn Mỹ thì tôi chỉ cử người trong tổ chức ngồi trong phái đoàn Mỹ còn tôi đi với tư cách của một NGO riêng để tôi có thể nói tiếng nói riêng của tôi chứ không nói tiếng nói của phái đoàn Mỹ. Khi chúng tôi về Mỹ có đặt vấn đề với chính phủ Mỹ và Quốc hội rằng, một trong những điều kiện bang giao là vấn đề Tù nhân Chính trị phải được giải quyết, đồng thời phải chú ý đến tiếng nói của người Mỹ gốc Việt. Lúc đó bên bộ ngoại giao là ông Funseth, bên quốc hội là ông Thượng nghị sĩ Mark O. Hatfield ông nói với chúng tôi: "Cho đến lúc này chúng tôi vẫn đại diện cho người tỵ nạn để đặt vấn đề với VN, bằng cớ là chúng tôi đã ký hiệp ước bắt họ phải thả tù chính trị, chuyện thứ hai là đến lúc này các ông là công dân Mỹ các ông phải lấy tư cách là công dân Mỹ yêu cầu thẳng với VN thay vì chúng tôi nói, chúng tôi sẽ hỗ trợ, nhưng không làm chủ tình thế"; bởi thế cho nên mới có sự sắp đặt bên Quốc hội và bên Bộ ngoại giao Mỹ để cho chúng tôi có phái đoàn gặp ông Nguyễn Cơ Thạch.
Khi tôi gặp Thạch ngoài sự trao đổi về vấn đề tù nhân chính trị thì ông ta có hứa với tôi rằng: ông ta không có quyền một mình, nhưng ông ta hoàn toàn nhìn nhận chuyện dó là sai lầm. Chính Nguyễn Cơ Thạch nói trong cuộc gặp gỡ này là cái quyết định tập trung tù cải tạo là quyết định hết sức sai lầm, làm chảy máu chất xám, bao nhiêu nhân tài bỏ nước ra đi để đến nỗi đất nước ... ông ta nói một câu nguyên văn là: "Chúng tôi đánh nhau thì giỏi nhưng khi chúng tôi quản lý đất nước thì chúng tôi làm hỏng hết rồi, thành ra đất nước nó tụt hậu... thứ hai là điều đáng để ý là ông Thạch là người tiên liệu, nói ngay rằng "nếu tình hình đất nước mình cứ suy yếu như thế này thì mắc vào âm mưu của TQ và nó sẽ chiếm đoạt đất nước mình." Cho nên (ông Thạch) mới kêu gọi chúng tôi nên "hòa giải" thì chúng tôi nói là chúng tôi chỉ có thể giúp được đất nước khi nào chính phủ  giải quyết các vấn đề đối với đồng bào, nếu bà con anh em chúng tôi còn nằm trong tù thì không thể nói chuyện (hòa giải) này được, thế cho nên mới đặt vấn đề thứ nhất là phải thả tù cải tạo. Ông ta (Thạch) có nói rằng ông ta sẽ giải quyết rất sớm vấn đề này.
Sau đó không bao lâu thì có chương trình H.O. Cái khuynh hướng tôi nhìn thấy ở Nguyễn Cơ Thạch là thứ nhất: Hoàn toàn đi với Mỹ để mà thoát ra khỏi TQ, dùng phía Mỹ để cân bằng với TQ, và đối với TQ ông Thạch có một cái tội rất lớn cho nên TQ không thể nào tha thứ Nguyễn Cơ Thạch. Chúng ta thấy khi ông Thạch trở về nước chỉ mấy tháng sau là mất chức (về hưu). Thế còn ông Kiệt thì mãi đến sau này tôi mới gặp. Từ năm 1990 tôi vẫn có liên hệ với một số anh em trí thức nhà báo nhà văn trong nước đi qua ngoài này ... trong cuộc gặp gỡ chúng tôi trao đổi về đổi mới và chúng tôi vẫn khuyến khích anh em trong cái hướng đó và anh em hoàn toàn tán thành. Trong vấn đề đó thì về sau chúng tôi nhận thấy phải có một nhân vật làm đầu đàn cho cái chuyện này và đó là ông Kiệt. Khi ông Kiệt rút lui về miền Nam , ông Kiệt xây dựng cả một cơ sở của mình ở miền Nam để đi vào con đường đổi mới chính trị, điểm thứ hai là con đường chống TQ. Lập trường của Võ Văn Kiệt sau này rất rõ là phải ra khỏi TQ, đồng thời tiến đến con đường "Dân chủ hóa", con đường đó hoàn toàn phù hợp với con đường của Nguyễn Cơ Thạch. Khi chúng tôi nghe cái chuyện đó thì cũng biết như thế thôi, họ có cái nhóm sinh hoạt với Võ Văn Kiệt, gọi là nhóm thứ sáu, nhóm này đưa ra các chương trình thế nào để cải tổ kinh tế, cải tổ về lộ trình chính trị ... Cho đến năm 2007, do một sự tình cờ có một anh em trong nước ra ngoài này nói rằng hiện ông Kiệt ông ấy rất là trông chờ có sự hợp tác với anh em bên ngoài, bây giờ các anh em trí thức miền Nam đã có nhiều người bằng lòng ở lại để làm cố vấn cho ông ấy rồi (Kiệt), còn các anh em ngoài này thì ông ấy muốn mời một số anh em ngoài này về giúp cho thêm kiến thức mới cập nhật hơn ...
Thế thì tôi có nói là anh em chúng tôi sẽ đưa ra một dự án: Nếu mà làm được như vậy thì tôi có một số anh em ngoài này ... để nói rất nhanh là tôi đề nghị làm một cái "think tank" vì bên ngoài có thói quen là phải có cái tổ, cái nhóm tư vấn, nhóm nghiên cứu chuyên môn để vận động, hay để giúp cho chính phủ về chính sách đối ngoại đối nội như thế nào ..., tôi có đưa đề nghị các anh em ngoài này hợp tác với một số anh em tiến bộ trong nước để làm một cái "think tank", để rồi họ sẽ đưa lên chính quyền để thay đổi hai cái hướng, thứ nhất là độc lập với TQ bảo vệ chủ quyền như thế nào, thứ hai là vấn đề đi vào con đường hội nhập với thế giới bằng lộ trình dân chủ hóa, chúng tôi có nói rằng chúng tôi không kêu gọi một sớm một chiều thay đổi ngay, nhưng nó phải có một cái hướng đã (tức là cái lộ trình phải đi như vậy), thì khi ông Kiệt nghe chúng tôi trình bày cái "concept", cái quan niệm như vậy thì ông Kiệt mời chúng tôi về ngay, ông nói đây chính là con đường chúng tôi mong muốn, và nếu quý vị ở ngoải này mà có được những ý kiến mới, kiến thức mới ... chúng tôi hoàn toàn xin được đóng góp. Do đó mà ông ấy (Kiệt) mời chúng tôi về. Để nói cho nó nhanh, chuyện tiến trình thảo luận với nhau rốt cuộc nó đi tới cái "Viện Nghiên cứu và Phát triển IDS" ở trong nước... nhưng tại sao cái IDS trong nước nó không hoàn toàn là cái do chúng tôi đề nghị : một nửa ở ngoài làm việc với một nửa trong nước.
LE XUAN KHOA VO VAN KIET.JPG
(T) Gs Lê Xuân Khoa trong lần được cựu TT Võ Văn Kiện mời về năm 2007, tham khảo lộ trình Dân chủ hóa và thực hiện nền kinh tế thị trường. Trong cuộc hội đàm nay, GS Lê Xuân Khoa đã đề xuất VN nên thành lập nhóm "Think Tank" phối hợp các chuyên gia trong và ngoài nước. Ảnh do Gs LXK cung cấp.
Cái IDS thực sự là 100% trong nước, cái tiến trình như thế này: khi ông Kiệt nói với chúng tôi thì (theo tôi hiểu) ông Kiệt có đặt vấn đề đối với trung ương tức là Bộ chính trị thì họ chấp thuận chuyện đó về nguyên tắc, nhưng về sau thì họ bác vì họ cho là đây là một cái âm mưu của thế lực thù địch không thể nào hợp tác với người bên ngoài được. Kêu gọi cá nhân về giúp thì được, còn cả một dự án họ đưa về quy mô như vậy thì không được. Chúng tôi lại chủ trương ngược lại không thể đi về lẻ tẻ, và đã làm việc thì phải có cái "đại quy mô", một quốc gia phải có nhiều mặt, nhiều người đóng góp đồng thời với nhau phải theo một lộ trình, một dự án kế hoạch đồng ý chung. Trên căn bản đó, trong nước họ không chấp thuận.
Vì họ không chấp thuận cho nên ông Kiệt nhất định tranh đấu đòi thế nào cũng phải làm chuyện đó mới được, cho nên bộ chính trị họ đồng ý cho làm một nửa thôi tức là để cho người trong nước làm dự án đó, cái "think tank" đó, nói với người ngoài hãy chờ đó, nghĩa là chúng tôi bị loại ra, thì tôi có trả lời ông Kiệt rằng ít nhất cũng được một nửa, cứ làm đi, còn chuyện bao giờ cần chúng tôi thì chúng tôi sẽ giúp sau, bởi thế cho nên nó sanh ra cái IDS. Nhưng chúng ta biết bất đắc dĩ nó (CS) cho ra cái IDS ra thôi, tất cả các anh em trong IDS đều là những người thiện chí và chúng tôi đều muốn làm việc chung, nhưng khi họ bắ tay làm việc thì quả nhiên: chết yểu ngay! Khi ông Kiệt mất đi một cái là bị khó khăn không thể làm tiếp tục được, sau đó mấy tháng sau thì chính IDS ra một tuyên bố, tuyên ngôn kết án chính phủ là có ba cái phản ngược lại: phản dân chủ, phản khoa học, phản ... gì đó ... đến nỗi ông Nguyễn Tấn Dũng đòi trừng trị cái đám trí thức này. Sau này chắc cũng nhờ được cái ô dù nào đó họ can thiệp với nhau để chuyện đó bỏ qua đi. Như vậy có một mâu thuẫn rất lớn rõ ràng là có nhu cầu cải tiến, mà lúc đó ông Dũng chưa phải là người có tư tưởng tiến bộ, mãi sau này khi bắt đầu có cái chuyện vụ án vinashine, chuyện này kia ... vì cái chuyện lo ngại đó mà (Dũng) "giác ngộ", mà cũng chắc là có cái quan hệ gì đó với Mỹ nữa mà ông ta (Dũng) chọn cái con đường là phải "thoát" khỏi TQ. 
Văn Hóa: Thưa Gs, trở lại thời sự, mới đây, trong cuộc phỏng vấn của cô Trà My trên đài VOA với nguyên Đại sứ Pete Peterson tại VN, ông Petrson trả lời rằng:"Mỹ không ngầm muốn thay đổi ý thức hệ trong lòng Việt Nam", có nghĩa là không quan tâm đến chủ nghĩa "Xã hội Chủ nghĩa" mà đảng CSVN đang cai trị đối nội cũng như đối ngoại, điều đó có nói lên những vận động của Gs và các quý vị bên ngoài gần như bị "negative?"
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi không nghĩ như vậy, bởi vì các sự vận động theo tôi nó có cái sự tiến bộ trong mối quan hệ giữa Mỹ và VN; lúc trước VN hoàn toàn đi với TQ mà không có đi với Mỹ và cảng ngày càng có thái độ là muốn đi với Mỹ, và ngay như tôi phân tích là cái nhóm thân TQ là nó bắt đầu nó thấy "nguy" là nếu cứ bám chặt TQ thì nhân dân người ta vùng dậy người ta lật đổ, cho nên nó mới phải dùng cái chuyện chấp nhận cái đồng thuận, một cáicompromise với phe chống TQ bằng cách là "nhích" lại với phía Mỹ, còn nhích ra làm sao thì cái chuyện nội bộ của họ, cho đến bây giờ chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thôi, nhưng trả lời câu hỏi "negative", thì chính chúng tôi luôn luôn hiểu như vậy, có nghĩa là khi mà đi với Mỹ thì tất nhiên Mỹ phải có sự nhân nhượng, không đòi 100% nữa, bởi vì muốn kéo họ về với mình thì có thể "dễ dãi" như thế nào để cho nó đứng có "sợ" quá.
Đấy! ... cho đến khi mà hai cái phe nội bộ nó nhân nhượng với nhau, cái phe thân Tầu nó nhân nhượng để nó đi về phía tây phương, với Mỹ thì Mỹ cũng sẽ bắt đầu nhân nhượng lại mà không có thúc ép nhiều quá, do đó mới nói vấn đề là có thể chấp nhận chính quyền CS, chấp nhận một chính quyền độc tài; Mỹ đã hợp tác với bao nhiêu là nước độc tài CS như TQ, Nga, ... bây giờ thì Mỹ là một đối tác rõ ràng với TQ thì tất nhiên không có nghĩa là một nước CS thì Mỹ không hợp tác, lúc trước thì Mỹ đặt vấn đề không thể chấp nhận một chính quyền như vậy (độc tài - CS) cho nên mới có khuynh hướng có thể là chấp nhận hợp tác với bên đây, vấn đề ý thức hệ không quan trọng, chúng tôi gạt sang một bên, miễn là chơi với nhau trên thực tế, ý của Peterson nói là như thế, đấy có thể là cái hướng nhượng bộ nào đó, nhân nhượng nào đó của Mỹ, nhất là về "nhân quyền" cũng có thể nhân nhượng một phần nào đó, nhưng VN phải tỏ thiện chí thật sự về vấn đề nhân quyền mới được, tức là hai bên cùng đi tới chứ không thể là một chiều; bởi vì bản chất của vấn đề "nhân quyền" nó khó hơn chuyện nhân hượng về "ý thức hệ", Mỹ có thể nhân nhượng về ý thức hệ nhưng Mỹ không thể nhân nhượng về nhân quyền được.
Nhân nhượng ở chỗ có thể chậm lại một chút, nhẹ tay hơn một chút thôi nhưng vẫn phải đòi hỏi VN chứng tỏ thiện chí của mình, rất cụ thể thí dụ như thả một số người đã bắt chỉ vì khác quan điểm không phải là để lật đổ chính quyền, bạo động. Thứ hai là phải ngưng chuyện bắt bớ đàn áp các phong trào ái quốc, vấn đề tôn trọng nhân quyền ... ít nhất là hai điều đó mà tôi cho là gai góc nhất cho đến bây giờ chưa giải quyết xong giữa VN và TQ.  
LXK + PETERSON 1 + CLINTON.jpg
Bức hình nhân chứng lịch sử mở ra mối quan hệ Mỹ- Việt chính thức bình thường hóa ngoại giao: Gs Lê Xuân Khoa gặp gỡ TT Bill Clinton (đây là chuyến công du đầu tiên của một Tổng Thống Mỹ tới Hà Nội từ ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao 11 tháng 7, 1995) trong buổi tiếp tân ở tư dinh tân Đại sứ Mỹ Pete Peterson đầu tiên tại VN. Ảnh do Gs LXK cung cấp.
Gs Lê Xuân Khoa và tân Đại sứ Pete Peterson tại Hà Nội. Ảnh do Gs LXK cung cấp.
Văn Hóa: Gần đây một nhà hoạt động dân chủ trong nước là Gs Tương Lai khi trả lời phỏng vấn của cô Trà My trên đài VOA có nói rằng: " Điểm một: "Hiện nay là chưa có một đảng chính trị nào, chưa có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế đảng CSVN, mặc dù đảng này đã mất uy tín trong dân." Điểm hai: "Việt Nam không liên minh với một nước nào để chống lại một nước thứ ba, nhưng Việt Nam không nên từ bỏ quyền liên minh với ai, ví dụ như liên minh với Nga, với Mỹ, với Ấn Độ, Nhật Bản, Châu âu ..., cụ thể là VN đã mua sắm nhiều chủng loại vũ khí của nhiều nước, ... đứng về lãnh vực quốc phòng và chính trị, điều đó "lợi" hay "hại"?

Giáo sư Tương Lai. Photo courtesy of giadinh.net
Gs Lê Xuân Khoa: Ông Tương Lai là người mà tôi có đối thoại nhiều khi tôi gặp ông Võ Văn Kiệt có ông Tương Lai ở đó, từ đó có sự trao đổi rất thường xuyên ... Tôi hiểu ông Tương Lai là người của đảng, ông nhìn nhận là chuyện phải thay đổi như là con đường mà chúng ta nói là "thoát Trung", thứ hai là thay đổi thể chế từ độc tài sang dân chủ, thì ông ấy "chọn" con đường đó thật, nhưng mà chọn đứng về phương diện chính trị thì ông Tương Lai là người của đảng, vẫn còn là người trong đảng cũng như một số anh em khác của đảng có tư tưởng tiến bộ. Cái chủ trương của ông Tương Lai là lúc này chưa có thể lập ngay một "đảng đối lập" được để có thể đi đến chỗ đa đảng được, là chỗ hãy thay đổi cái chế độ này từ độc tài sang dân chủ cái đã rồi từ đó nó sẽ đi đến những hình thức kia sau, nó là cái bước đường đầu tiên thôi, chứ còn bây giờ mà để cho ra ngay một chế độ dân chủ đa nguyên ngay thì điều đó là cái điều nó chống, thành ra, đứng về mặt ông ấy là người trong đảng, đứng về mặt một người nghiên cứu như tôi ở ngoài thì tôi thấy ... quan điểm đó nó cũng hợp lý thôi, nghĩa là ... lúc này chưa có thể cho rằng lập cái đảng khác để có thể nó đi đến xung đột ngay, bây giờ hãy chấn chỉnh cái đảng đó để dân chủ hóa chế độ, tôi cho đó là cái bước đầu tiên để có cái bước kế tiếp, chúng ta chấp nhận bước đầu trong cái lộ trình từng bước.
Thứ hai là vấn để quốc phòng; nếu VN nhìn thấy nguy cơ TQ nó sẽ chiếm mình tới nơi rồi thì dù là các ông lãnh đạo, các người có phục tòng TQ đi nữa thì cũng phải "sợ" nhân dân, trắng trợn với nhân dân đến nỗi đồng ý rằng quốc phòng mình chẳng nên làm gì cả cứ theo TQ thôi chẳng cần phòng bị gì hết ... Cứ thế thì càng thách thức nhân dân quá, vấn đề như vậy là chứng tỏ cứ nô lệ quá, chọc tức nhân dân để người ta nổi dậy, cho nên điều đó (quốc phòng - trang bị vũ khí) chưa chắc là ý muốn thật sự của các ông lãnh đạo đảng là thành thực cho cái đảng của mình nó mạnh hơn để chống TQ để bảo vệ đất nước. Thật sự đây, cũng là điều (mua vũ khí) là để mặc cả với TQ là để xin ông anh đừng có mạnh tay quá để cho em được sống, đấy là tôi nghĩ đơn giản thế thôi! Thật sự ra tôi không có tin hoàn toàn cái chuyện họ tiến tới cái đó (mua vũ khí) để chống TQ. Lẽ dĩ nhiên mình cũng phải lợi dụng cái chuyện đó để mà mạnh ra, đồng thời cũng mong trong nước cái đám, cái giới chống TQ người ta dựa vào thế mạnh đó (có vũ khí) để mà đẩy được quân đội nhen nhúm lên có sẵn cơ sở mạnh để đối phó với TQ. 
Văn Hóa:  Trong chính sách đối ngoại của CSVN xưa nay người ta hay ví von đến từ ngữ "đu dây"; giả sử nếu VN có "đu dây" với các liệt cường hiện nay thì theo Gs nên "đu" như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Hổi nẫy tôi có nói về cái đám thân Tầu, thân Mỹ như thế nào thì nó là cái chuyên "đu dây" rồi đấy. VN nói rằng không đi với ai để chống ai cả có nghĩa là chơi với tất cả các nước thì đó là chính sách chung như vậy, thì tôi lại hoàn toàn tán thành chính sách đó là VN không nên đi vào hẳn với nước nào cả mà phải "độc lập" với tất cả các nước. Nhưng độc lập đây không có nghĩa rằng là để cho nước nào đó nó khống chế mình mà mình phải chịu, cho nên trong cái thế độc lập này, tôi nói cụ thể là một bên là TQ và một bên là Mỹ, thì Mỹ làm gì với VN? Mỹ chỉ muốn VN ra khỏi TQ, tại sao? Tại vì TQ bây giờ chỉ muốn khống chế cái biển Đông, ngăn chận Mỹ ở biển Đông, ngăn chận địa chính trị, từ cả mấy trăm năm nay Mỹ làm chủ biển Đông, bây giờ (TQ) lại loại Mỹ ra khỏi biển Đông để TQ làm chủ tình hình biển Đông, để có thề chiếm hữu toàn thể Đông Nam Á, và từ đó làm cái bàn đạp để đẩy Mỹ ra khỏi vai trò của thế giới, do đó Mỹ không thể chấp nhận chuyện đó, thế cho nên Mỹ muốn VN phải tìm cách "thoát Trung" để mà dùng cái đó mặc cả với TQ là anh dừng có lấn tới chiếm hoàn toàn biển Đông. Phía Mỹ không có can thiệp vào nội bộ VN, chỉ muốn VN độc lập với TQ (chứ không phải muốn VN độc lập với Mỹ) mà thôi. Cái này phải nói thêm là Mỹ đối với VN có thể vì quyền lợi kinh tế nào đó, nhưng sự thực quyền lợi kinh tế đối với VN cũng chỉ một phần thôi, rất nhỏ, chuyện chính là Mỹ không có tham vọng về đất đai, không bao giờ muốn xâm lược VN để chiếm đất, hay biến VN thành thuộc địa của mình; thứ hai là về Văn hóa, Mỹ cũng không nuôi ý đồ là "đồng hóa" VN, chẳng qua là chuyện giao lưu với nhau chứ không chủ trương như TQ là chính sách "Hán hóa". Mỹ không bao giờ muốn "Hán hóa" hay "Mỹ hóa" cái kiểu chủng tộc của VN, Mỹ là nước đa chủng tôn trọng tất cả các chủng tộc, còn anh "Hán hóa" là anh muốn diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc. Đấy là cái thâm độc của TQ khác hẳn hoàn toàn với Mỹ, bởi thế nếu mà "đu dây" mà "đu" đúng như các ông (CS) chủ trương là độc lập thật sự không theo ai, chơi với tất cả không làm mất lòng ai, nhưng cũng không để ai ... nếu mà làm "lợi" là lợi cho tất cả đôi bên, nói theo cái nghĩa "win - win situation", hai bên cùng có lợi. Tôi nghĩ trong cái việc "đu dây" với Mỹ và TQ rõ ràng nếu mà "đu dây" với Mỹ thì chúng ta giữ được độc lập chứ còn "đu dây" với TQ thì hoàn toàn bị TQ khống chế. 
Văn Hóa: Theo nghĩa ấy thì "Hán hóa" có nghĩa là TQ sẽ chiếm toàn bộ đất đai cũng như biển Đông?
Gs Lê Xuân Khoa: Vâng! Cái đó chắc chắn là như vậy rồi! Ý đồ của TQ là phải lấy toàn bộ biển Đông và Đông Nam Á ... VN nằm ở vị trí chiến lược, một cái bàn đạp quan trọng vô cùng, lấy được VN rồi thì đi tới các nước (ASEAN) dễ dàng thôi. Cái trở ngại ghê gớm nhất là anh VN, nếu mà nó đứng lên đương đầu với TQ, thì cái khối này (chỉ vào bản đồ VN+Biển Đông)  anh TQ khó lòng mà lũng đoạn được. Quan trọng đối với TQ là nhất định phải lấy cho được VN. Đấy là chuyện nguy hiểm nhất cho mình là mình mất nước (đến nơi) hay không là ở chỗ này (chỉ vào bản đồ). Đây là cơ hội (Biển Đông) cho mình bảo vệ đất nước. Mất cái này (Biển Đông) là mình hoàn toàn mất luôn.

-- 
-- 
*Vietnam Issues Forum (VNIF) là diễn đàn của những người Việt Nam ở hải
ngoại quan tâm đến vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển bền vững và
dân chủ hóa đất nước. VNIF không phải là một tổ chức chính trị và cũng
không thuộc một đoàn thể nào. Các email trao đổi giữa các thành viên trên
diễn đàn đều có tính chất nội bộ và mọi sự phổ biến ra ngoài cần phải có sự
đồng ý tác giả trong diễn đàn. Khi được mời và gia nhập, các
thành viên đều đã đọc và đồng ý chấp hành bản Nội Quy của diễn đàn.*
 
You received this message because you are subscribed to the Google
Groups "Vietnam Issues" group.
 
To post to this group, send email to vietnam-issues@googlegroups.com
To unsubscribe from this group, send email to
vietnam-issues+unsubscribe@googlegroups.com
 
For more options, visit this group at
http://groups.google.com/group/vietnam-issues?hl=en?hl=en

--- 
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "Vietnam Issues".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến vietnam-issues+unsubscribe@googlegroups.com.
Để có thêm tùy chọn, hãy truy cập https://groups.google.com/d/optout.