Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVThaiKimLan. Show all posts
Showing posts with label VCNVThaiKimLan. Show all posts

Wednesday, 15 July 2026

 NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN GỐC HUẾ ÍT AI KHÔNG BIẾT THÁI KIM LAN VIỆT KIỀU VC Ở ĐỨC ĐÃ VỀ VỚI VC VÀ MỤ NẦY MÓC NỐI NHIỀU NGƯỜI KHÁC VỀ LIẾM/VÁI VC- TRƯỚC ĐÂY NGÔ VŨ BÍCH DIỄM (Diễm Xưa) QGHC CŨNG LÀ NẠN NHÂN CỦA MỤ TA VÀ TRẦN KIÊM ĐOÀN CÔNG KHAI CHO BIẾT HẮN CŨNG LÀ ĐỒ ĐỆ NẰM VÙNG CỦA THÁI KIM LAN./-Mt68

____________

Không gian sách Huế

VỀ HUẾ - Trần Kiêm Đoàn



"Sách thật mộc, với những trang giấy ngả vàng, như hương thời gian vương vít trên thành quách hoàng kim kinh đô một thưở; như màu xanh cuối thu của Huế đã nhuốm chút “quan san” trong một buổi chiều mà mấy trăm năm trước, cụ Nguyễn Du đã cảm.
Cũng mộc như thế là tấm ảnh bìa, về một góc chợ xưa nào đó của Huế với nón lá, áo dài, rổ rá…Cũng mộc là lời tựa từ TS.Thái Kim Lan-một tiểu thơ Huế- đã nếm nước sông Hương mà xinh đẹp, đã đi và về. Có lẽ bởi cái tương đồng nguồn cội ấy với nhà văn Trần Kiêm Đoàn mà lời tựa sách của TS.Thái Kim Lan như một khúc tâm giao, như sự đồng điệu của Bá Nha và Tử Kỳ ngàn năm trước. Một lời tựa đã nói thay cảm nhận của bạn đọc, rằng: “Tìm lại Huế trong tập sách chính là nói lên trọn vẹn từ kẽ tóc chân tơ nếp sống của Huế trong hiện sinh thường nhật đơn sơ. Nói bằng cả chân tình của một người thương Huế…”.
Thương Huế trong “Về Huế” là thương cái má lúm đồng tiền của người con gái Huế ngoan hiền đã hóa vào tà áo dài các O nữ sinh Đồng Khánh. Là thương một Huế không chỉ đẹp và thơ mà còn vì một vùng đất của “nhiều tai trời ách nước, oan khiên và đổ vỡ tan tác từ thưở công chúa Huyền trân áo xiêm phiêu bạt…”.
Thương món mắm Huế ngon đến “sút quần, nhức răng; ngon đến tản thần, đáo để”. Món mắm với đủ biến tấu, được ví như “cây đờn muôn điệu của Thạch Sanh”, ngỡ như chỉ dành cho giới bình dân “chặt to kho mặn”, có khi lại vô thực đơn thết đãi quốc khách, làm cho cái ẩm thực của Huế, vốn trẫm mình trong vương đế lại thêm phần quý tộc.
Rồi mưa Huế. Với chiêm cảm của một người đã đi qua cơn mưa vội vàng đến hồn nhiên của Sài Gòn; đi qua những giọt tê lạnh có tiếng nhạn kêu, tiếng trống chèo vọng lại của Hà Nội; đi qua những hạt vô tình trôi trên trần xe ở Mỹ…, mưa Huế trong “Về Huế” có nỗi buồn “tím rịm”, có âm thầm, lặng lẽ; có ngả màu rêu phong; có rất hồng buổi sớm và nghe ra cả điệu buồn của Huế trong làn Nam Ai…
Rồi bún bò Huế. Cũng bún, cũng ruốc, cũng sả, cũng ớt, hành…nhưng qua cảm thức của Trần Kiêm Đoàn, bún Huế còn nghe trong hương vị “mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương” và cả lịch sử ngàn năm của làng bún Vân Cù nổi tiếng bên sông Bồ, từ “hạt ngọc của trời đã phơi mao, ngậm sữa”. Một tô bún từng được đem đấu xảo tại phiên chợ Tết Gia Lạc (có từ thời Minh Mạng), có chân quê của o thôn nữ ở quán bún Mụ Rớt mà hết thảy người Huế, không ai không đa mang, đèo bòng; có đài các của Công Tằng Tôn Nữ trong một nón ăn thật “hiền”, như cọng giá, cọng ngò mà lại cay nồng, đáo để đến “giọt ngắn, giọt dài”.
Với hành văn bóng bẩy, súc tích cùng nhiều dẫn chứng văn chương, hết thảy những mưa Huế, chè Huế, mắm Huế, đò Huế, cơm hến Huế…trong “Về Huế” vừa thi vị lại gần gũi, chân tình. Người đọc được trải nghiệm, được nghe, thấy, đi, nếm, vui, buồn…Thân thuộc như có mình trong đó. Được trở về như trẻ thơ để thâu lượm thêm nhiều kiến thức về nết ăn, nết ở, nết nghĩ, nết cảm của Huế.
Cũng như bí quyết nấu ăn của một o Huế trong tô bún bò hay đọi cơm Hến, với “Về Huế”, nhà văn Trần Kiêm Đoàn qủa là một đầu bếp thượng thặng, để văn phong, chữ nghĩa thật vừa vặn, đủ để cay, đủ để thơm, đủ để ngọt, đủ để chát và ấm…Có khi lặng lẽ, rủ rỉ, thâm trầm; có khi bất chợt, đỏng đảnh; có khi giận dỗi vu vơ như mưa Huế đã được thổ lộ bằng hết thảy sự “chí tình với Huế’’.
Nói như TS. Thái Kim Lan, “chí tình với Huế là đặc trưng trong những bài viết Về Huế. (Hình như) tác giả đã viết về Huế bằng nước mắt của mình, mải mê với Huế bằng một tấm lòng trân trọng. Nghiêm túc, cẩn mật, tôn kính gần như là sùng bái-nhưng rồi chợt pha một nụ cười “trần thế’’ vì quá…thương”.
Bằng tấm lòng thương Huế, “Về Huế” đã nói lên tính cách Huế trong từng điều nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày ở Huế: Một tô cơm hến bình dị, một vòng con bún uốn lượn trên tấm lá chuối xanh, một chén nước chấm, một chén chè hột sen, một tiếng rao hàng trong đêm khuya…Đi đến tận cùng sự đơn sơ để thấy Huế đẹp kỳ lạ, đẹp đến đơn sơ.
Riêng mình, tôi đã đọc “Về Huế” một lần, hai lần và có lẽ nhiều lần nữa. Đọc để thấy Huế thêm thương và rất lạ. “Thấy hơn một lần trở về với Huế bằng tâm trạng kỳ lạ, khó hiểu là phải trở về với Huế để đi tìm lại Huế” (TS.Thái Kim Lan).
Một Huế mà như tác giả-TS.Trần Kiêm Đoàn chiêm nghiệm: “Huế nhỏ lắm mà có khi loanh quanh một đời chưa thấu”."
(Kim Oanh-báo Huế ngày nay)

________________________________________________________

 03/05/2025

 

Đối với Thái Kim Lan, triết học không đơn thuần là tri thức lý luận, mà còn là con đường để hiểu mình, hiểu đời, và hiểu văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, dù sống hơn nửa thế kỷ xa xứ, bà vẫn không thôi day dứt với câu hỏi: “Mình là ai giữa thế giới này?” – và câu trả lời luôn dẫn bà về lại nơi chôn nhau cắt rốn.Từ cuối thập niên 1980, khi điều kiện chính trị và xã hội cho phép, bà bắt đầu hành trình trở về quê nhà. Trở về, không chỉ là sự dịch chuyển địa lý, mà với bà là một cuộc hành hương tâm linh, trở lại với cội nguồn tinh thần sau nhiều năm tha hương. Bà từng chia sẻ: “Tôi trở về để tìm lại chính mình.”

 

Điều đặc biệt là bà không chọn cuộc sống an nhàn khi hồi hương. Ngược lại, bà dấn thân vào một hành trình bảo tồn và làm sống lại những giá trị văn hóa Huế đang bị lãng quên. Một trong những thành tựu nổi bật nhất là việc cùng người anh trai, cố họa sĩ Thái Nguyên Bá, dày công trong suốt gần 40 năm để sưu tầm, phân loại và phục dựng hàng nghìn mảnh gốm cổ vớt lên từ đáy sông Hương.Từ nỗ lực miệt mài ấy, Lan Viên Cố Tích đã ra đời – một khu vườn gợi nhắc dáng dấp nhà vườn xứ Huế, nằm bình yên ở số 120 Nguyễn Phúc Nguyên (phường Hương Long, quận Phú Xuân, thành phố Huế). Đây không chỉ là một không gian sinh thái thuần Việt, mà còn là nơi lưu giữ ký ức văn hóa, lịch sử thông qua gần 5.000 hiện vật gốm cổ vớt lên từ đáy dòng sông Hương. Những mảnh gốm vỡ, tưởng chừng vô tri, qua bàn tay sắp đặt của bà, đã thành những câu chuyện sống động về lịch sử, giao thương, thẩm mỹ và tinh thần dân tộc.

 

Gốm cổ ở Lan Viên Cố Tích trải dài từ thời tiền Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt đến thời Nguyễn, bao gồm cả gốm sản xuất trong nước và gốm ngoại nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan... Không gian bảo tàng không lớn, nhưng đậm đặc ký ức. Những đường vân gốm gợi về một thời hoàng kim của thương cảng Châu Ô – nơi từng tấp nập tàu buôn qua lại trên dòng Hương Giang.

 

Với bà Thái Kim Lan, mỗi mảnh gốm đều có linh hồn, và mỗi hiện vật là một “chứng nhân” lịch sử. Bà không sưu tầm gốm để làm đẹp cho căn nhà, mà để lắng nghe ký ức của đất, nước và con người Huế qua từng lớp men thời gian.

 

 Cả cuộc đời tìm một lối đi,

Để về Huế - về quê nhà yêu quý.

Lan Viên Cố Tích – không gian diệu kỳ,

Nối Điểm Hẹn, Đông Tây hòa một ý.

Cầu nối Đông – Tây, cổ – kim

 

Ngoài việc sáng lập và đưa vào hoạt động Bảo tàng gốm cổ Sông Hương-Lan Viên Cố Tích, bà còn tích cực tham gia giảng dạy Triết học Phật giáo tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tổ chức các buổi đối thoại học thuật giữa các học giả trong và ngoài nước, dịch thuật và viết báo, xuất bản nhiều công trình nghiên cứu. Các tác phẩm của bà đều mang tinh thần đối thoại giữa tri thức cổ điển phương Đông và hiện đại phương Tây, luôn lấy văn hóa Huế làm tâm điểm.

 

Không chỉ trong học thuật, bà còn là nhà tổ chức, kết nối nghệ thuật và văn hóa. Những chương trình nghệ thuật tại Lan Viên Cố Tích, với sự góp mặt của các nghệ sĩ quốc tế, luôn mang đến trải nghiệm văn hóa vừa gần gũi vừa độc đáo. Bà đã đưa Huế vào bản đồ văn hóa quốc tế không bằng những tuyên ngôn ồn ào, mà bằng những hành động thầm lặng, bền bỉ và sâu sắc.

 

Trân trọng từ cộng đồng và chính quyền Huế

 

Người Huế gọi bà bằng một danh xưng trìu mến: “Bà giáo sư Gốm cổ.” Với họ, bà không chỉ là một học giả uyên bác, mà còn là một người giữ hồn Huế bằng tất cả tấm lòng. Giới làm văn hóa Huế luôn đánh giá cao và trân trọng những đóng góp của bà. Chính quyền địa phương nhiều lần hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để Lan Viên Cố Tích (120 Nguyễn Phúc Nguyên, phương Hương Long) và Điểm Hẹn Liên Văn hóa (94-98 Bạch Đằng, phường Gia Hội, quận Phú Xuân) hoạt động hiệu quả và lan tỏa giá trị văn hóa.

 

Ở tuổi ngoài 80, và tròn 60 năm kể từ ngày bà “ra đi” để “trở về” (1965-2025), bà Thái Kim Lan vẫn hằng ngày lặng lẽ chăm sóc khu vườn, giới thiệu từng hiện vật cho du khách và sinh viên, thuyết trình, dịch sách và viết báo. Bà chia sẻ, tình yêu với Huế khiến bà không cảm thấy mỏi mệt. “Sống ở đâu không quan trọng bằng việc sống vì điều gì,” bà nói, “và tôi chọn sống vì Huế.”

*

Giữa thời đại của phát triển ồ ạt và thương mại hóa văn hóa, Thái Kim Lan là biểu tượng của sự thủy chung với giá trị truyền thống. Bà không cố biến mình thành “di sản sống”, mà chính cách bà sống, làm việc và yêu Huế đã khiến bà trở thành một phần không thể thiếu của di sản ấy.

Giáo sư, Tiến sĩ Thái Kim Lan – người đã “ra đi để trở về”, không chỉ là niềm tự hào của Huế, mà còn là tấm gương sáng cho những ai mang trong tim tình yêu với văn hóa dân tộc. Câu chuyện cuộc đời bà là minh chứng rằng: có những người dù xa quê cả đời, nhưng quê hương chưa từng rời xa họ. Và rồi khi họ trở về, họ làm cho quê hương đẹp hơn, sâu sắc hơn, và sống động hơn bao giờ hết./.