Ngoại
*Trần Bạch Thu-ĐS17
Sanh ra ở miền sông nước nên ông thường hay kể về những chuyến đi từ vàm Ngũ
Hiệp, Cai Lậy, dọc theo sông cái nối liền tới miệt đất “vũng” như Vĩnh Long hay Chợ
Lách, Trà Vinh ..., thỉnh thoảng hai bên bờ sông có những miếu thờ do dân thương hồ
lập lên để mỗi chuyến đi qua, thường hay ghé vào đốt nhang, đôi khi còn đốt pháo nổ
để cầu thần linh hộ trì cho đi qua êm thắm, thoát khỏi những cơn sóng dữ hay mưa
to gió lớn trên các khúc sông nầy.
Ông mồ côi cha lúc lên 10 tuổi trong một một chuyến qua sông trên xuồng “ba lá”,
khi xuồng lật vì sóng lớn trong chớp nhoáng, ông chỉ còn kịp nghe lời dặn:
- Con ráng nắm chặt mạn xuồng, đừng buông ra.
Thế là xuồng trôi lênh đênh, nhấp nhô từ từ qua khỏi vùng nước xoáy, dân đi ghe
qua lại thấy một cậu bé ôm chặt mạn xuồng bị lật úp gần như kiệt sức nên họ cặp vào
cứu vớt đưa vào bờ. Mấy ngày sau, cả gia đình chiều nào cũng ra bờ sông khúc xuồng
bị chìm mong tìm thấy xác người thân, nhưng mõi mòn trong vô vọng nên cuối cùng
đã lập đàn trên sông và thả “bè việt vớt” để độ vong linh người đã qua đời trên sông
mà không tìm thấy xác. Từ đó gia đình ông bỏ vàm di dời vào phía trong xã Thanh
Hòa lập vườn sinh sống.
Ông thường kể trên khúc sông lớn qua ngã ba vàm “Dinh Cậu” có một cặp ngỗng
thần, hể thấy khi nào cặp ngỗng nổi lên là điềm báo trước sắp có sóng lớn, khi cặp
ngỗng lặn xuống là sóng to đùng đùng dấy lên, không ghe, xuồng nào có thể đi qua
mà không bị nhấn chìm. Tương truyền rằng sau nầy, khi Tây đi qua khúc sông nầy
bằng tàu sắt, lính trên tàu thấy cặp ngỗng thật to nổi lên nên đã dùng súng bắn chết.
Không biết rõ là họ có vớt xác ngỗng lên tàu hay không, nhưng lời đồn đại rằng khi
tàu quay về bến, người lính bắn chết cặp ngỗng thần đã bị tai nạn súng cướp cò và
qua đời.
Cho đến khi Tây trở qua đem tàu sắt phối hợp với lính “lê dương” trên bộ ruồng bố
Việt Minh ra tới tận ngoài vàm sông cái. Đi tới đâu họ bắn phá, đốt nhà tới đó nên
dân lành tản cư ra chợ gần như hết cả làng. Gia đình ông cũng theo đoàn người tản
cư ra chợ Cai Lậy.
Sau khi chiến cuộc tạm dừng, mọi người hồi cư trở về làng quê cũ
dọn dẹp lại vườn tượt, sinh sống như xưa. Riêng gia đình ông vì mất một đứa con gái
thứ Sáu trên đường tản cư nên để tránh đau buồn nầy có thể xảy ra nữa nếu chiến
cuộc vẫn tiếp diễn nên ông quyết định trụ lại ở chợ, che rạp sinh sống ở bên bờ
“Kinh” Cai Lậy gần ngay trong chợ.
Ông sanh năm 1904 nên cũng có nghe kể rằng lụt năm ấy rất lớn, nước ngập lên tận
mái nhà kèm theo mưa kéo dài nên thiệt hại về người và của cũng “bộn”. Rồi đến
năm 1964 cũng lại lụt lớn, nước lũ tràn về ngập hết đường cái, lộ “Đông dương” cầu
sập, nước ngập gần cả tháng trời, khách bộ hành đi lại phải di chuyển qua từng đoạn
bằng xuồng. Nói chung, cứ một con “Giáp” tròn 60 năm “Thìn” là có lụt lớn. Nói là lớn
nhưng cũng không có thiệt hại nhiều lắm nên chưa bao giờ đến mức cần phải xin cứu
trợ khẩn cấp từ khắp nơi. Và cũng có thể do tính cách của dân chúng trong vùng dù
có đau thương mất mát cũng cắn răng chịu đựng không hề than vãn. Ngoài ra còn có
nhiều vùng “miệt dưới” hay An Giang, Đồng Tháp, bao đời nay “mùa nước lũ” tràn về
ngập trắng đồng gần cả mấy tháng trời, người dân cũng chịu vậy và an nhiên “sống
với lũ.” Dù lũ lụt có làm thiệt hại to lớn đến đâu rồi cũng qua đi, ai nấy cũng bám lấy
đất quê mà sinh sống.
Từ khi dời gia đình từ quê ra chợ, với hai bàn tay trắng ông quyết định học nghề thợ
mộc để sinh sống, còn bà thì theo sự đỡ đầu của người quen giới thiệu vào nhà
thương xin học làm mụ đỡ đẻ. Theo thời gian, ông cũng mở được một trại mộc “Hai
Sang” chuyên sản xuất tủ, giường, bàn, ghế ... bán cho người địa phương.
Ban đầu theo học nghề thợ mộc cũng rất cam go, ngoài cưa, đục, bào, búa ... đồ nghề
chính còn là hai cây thước: đo chiều dài và đo góc vuông. Rồi còn phải có vốn một ít
chữ nho để biết xem sách “đồ hình” bán ở các tiệm tạp hóa lớn tại chợ Mỹ Tho,
thường do người Hoa làm chủ. Cuối cùng cũng phải biết viết chút ít chữ như bùa
phép do “thợ cả” truyền dạy.
Ông có người cậu ruột, dân làng thường gọi là “Cố Sáu” chuyên bắt mạch viết toa
bằng chữ nho cho bệnh nhân ra chợ “bổ thuốc” đem về nấu uống (3 chén nước còn
lưng một chén), cho nên khi nhỏ ông cũng có học chút đỉnh, đủ để xem sách đồ hình
và viết ít chữ trên lá bùa cho chủ nhân căn nhà mới cất.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu xây cất như kèo, cột, vách, đá kê táng ... thường thì
chủ nhà xem ngày lành, tháng tốt để làm lễ “thượng lương” (gác đòn dông) có lập
bàn thờ giữa nhà chưng hoa quả, nhang đèn để cúng vái. Xong xuôi, ông thợ cả ngồi
ở bàn lật sách đồ hình ra xem, lựa chọn nên xé bỏ tờ nào và giữ lại tờ nào trong
quyển sách cho thích hợp với gia chủ, như nhà muốn có con trai (phát đinh) hay
phát tài, phát lộc ... Theo ông kể thì được cái nầy mất cái kia, chứ không thể nào được
hết như “đặng hào của thì mất hào con ...” đại khái là như thế. Còn nhà giàu có và
muốn thì có thể lên chùa hoặc tìm thầy hốt thuốc Nam hay thầy pháp để thỉnh một lá
phướn có in hình “bát quái” đem về trong bữa thượng lương để ông thợ cả chấm vài
điểm trên đó, cũng giống như xé sách, vượng chỗ nầy, triệt chỗ kia.
Đúng giờ “hoàng đạo” giữa trưa, ông thợ cả leo lên nóc, thợ phụ giúp đưa cây đòn
dông lên giữa nhà, gác ngang trên hai đầu cột cái, thường thì cây đòn dông có bịt vải
đỏ ở hai đầu, bên trong miếng vải đỏ có hai lá bùa, chữ đọc không ra, như dạng chữ
vẽ chỉ có thợ cả là đọc được.
Hai lá bùa trên yên vị không cần để ý đến, chỉ khi nào gia đình gặp nạn hay do ăn ở
như thế nào mà xảy ra tai họa thì thỉnh thầy khác, không phải ông thợ cả, vì nghề
nghiệp, không bao giờ ông thợ cả tự gỡ lá bùa do chính mình viết ra. Thầy coi lại nhà
cửa, xem lại cho biết hư thực, rồi sẽ cho người leo lên tháo hai lá bùa ra, thường thì
gia chủ chỉ muốn gở bỏ thôi chứ không có thay lá bùa mới.
Sau khi cột chặt sách đồ hình hay lá phướn sát trên cây đòn dông thòng xuống ở giữa
nhà, thợ cả đứng thẳng người xem qua lại, nhắm hướng hai đầu cây đòn dông để
xem có đâm thẳng vào cửa nhà của người khác không. Khi mọi việc tốt đẹp, thợ cả
ngồi xuống trên cây đòn dông, lấy cây búa có hai đầu, một để đóng đinh và đầu kia để
nhổ đinh giắt bên hông. Khấn nguyện “hoàng thiên hậu thổ” gia hộ cho căn nhà nầy,
đoạn ông cầm cán búa thả xuống từ trên cây đòn dông như viết thành chữ “đinh”
theo Hán tự (丁) nghĩa là mọi sự đã hoàn thành.
Mọi người đều tin rằng chỉ có ông thợ cả và thầy pháp mới biết “bùa lổ ban” để “ếm”
hay “gở” mà thôi. Thật ra thì đây là mảnh giấy điều (đỏ đậm) trên viết những chữ
Hán như thành, phát, tấn, bình, an .... để nói lên kỳ vọng của mọi người, nhưng vì
truyền qua nhiều người, nhiều đời thợ, có người hiểu có người không nên tùy theo
người mà chữ viết biến thể thành những nét vẽ không ai đọc được. Nhưng lòng
thành và tin tưởng làm cho gia chủ yên tâm.
Phàm những người kính sợ “thiên địa quỷ thần” là những người chân thật, ít làm
điều ác và tin nơi luật nhân quả nên có đời sống lương thiện. Còn giàu như bá hộ hay
quan quyền vinh hiển đều có số, bùa phép không làm nên được.
Sau nầy khi đã mở được trại mộc bán đồ gỗ rồi mà dân tình nghe lời đồn đại rằng
ông “Hai Sang” có bùa lổ ban rất cao tay ấn nên họ cũng thường hay đến xin bùa.
Thậm chí khi mua giường cũng xin được bùa để ngủ trên giường cho êm và khỏe
mạnh. Nói chung, sau khi bắt ấn vẽ chữ bằng tay trên đồ vật, ông luôn nhắn người
xin bùa là nên ăn ở sao cho hiền lành nhân đức thì bùa mới linh nghiệm.
Đương thời cũng có nhiều người đến xin làm thợ ở trại mộc để vừo học nghề vừa
muốn học bùa chú, nhưng ông luôn từ chối việc dạy bùa. Vì sợ có người lạm dụng
làm điều bậy bạ gây nên những việc làm thất đức. Ở đâu và thời nào cũng có Bàng
Quyên; Tôn Tẩn nên thôi, chỉ biết làm thợ lành nghề có cuộc sống no đủ là quí lắm
rồi. Cũng có khi học chưa hết, biết chưa tới mà nói hay làm bậy ảnh hưởng đến việc
đời của người khác là một việc làm hao tổn âm đức, do đó không cần phải biết thêm
bùa chú để làm gì.
Xã hội ngày càng mở rộng, văn minh nên những điều mê tín cũng giảm dần đi, có khi
tự nhiên biến mất. Ngày xưa cả một vùng dân cư rộng lớn như quận, huyện mà chỉ có
một vài ông thầy thuốc biết bắt mạch cho toa, thế cũng còn may, cho nên bất cứ bệnh
gì cũng ra tiệm tạp hóa mua vài gói thuốc tán hiệu “lão hòa thượng” thì sao biết chữa
bệnh gì. Nói chi đến bệnh nan y thì tuyệt lộ chỉ còn nhờ cúng vái và bùa phép mà
thôi.
Ông kể những năm đại dịch, người chết như rạ, trời thương cũng có xuất hiện những
ông Thầy Nước Lạnh, Đạo Khoai, Đạo Chuối cứu nhân độ thế, có khi mấy ông nầy còn
mang theo “tay nãi” đựng đầy lá thuốc đem phát không cho mọi người. Cũng có
người hết, kẻ không. Có còn hơn không, mong chờ gì ở “thuốc thánh đền bia” Nói
chung, thiên cơ bất khả lậu có hung có kiết không ai lường trước được nên thường
khi ông hay khuyên mọi người nên lập một bàn thiên trước nhà và chính ông viết
cho một chữ “thiên” đem về đóng khánh lộng thờ giữa trời.
Bà làm mụ đỡ đẻ nên ông thường ra toa cho người nhà nếu muốn, ra tiệm thuốc Bắc
mua bột “châu sa, thần sa” về bôi trên mỏ ác của đứa trẻ sơ sinh trong vòng ba ngày
sau khi sinh để đứa nhỏ sau nầy lớn lên thông minh, sáng dạ. Khi đứa bé lên 5, biết
ăn uống thành thạo thì ra tiệm thuốc Bắc bổ một hộp thuốc tể “lục vị” cho đứa bé,
ngày nhai một viên như kẹo giúp cho trẻ khỏe mạnh và mau lớn.
Cả đời, ông không uống một viên thuốc Tây nào cả chỉ tự mình bổ thuốc theo toa gia
truyền mà ông có được. Đến năm 60 tuổi ông sang trại mộc cho người quen, cất nhà
cạnh Chùa Ông, Cai Lậy, tuy không còn hoạt động ngoài xã hội nữa nhưng người dân
trong vùng vẫn gọi là Thầy Hai Sang với lòng quý mến.
Ông có thói quen kể từ ngày theo thầy nhập môn là trước khi ăn đều nâng chén lên
ngang mày lẩm bẩm niệm chú gì mọi người không ai biết nên đoán là ông tạ ơn trời
đất và bác nông phu đã làm nên lúa gạo, theo như người xưa đã từng bảo. Nhưng
không phải vậy. Tôi hỏi, ông bảo:
“Nguyện lòng ngay, ngon cũng ba chén dở cũng ba chén”
Ông thanh thản qua đời năm 85 tuổi, mộ phần nằm cạnh bà trên đất nhà gần bên cầu
Bổn Tỵ, Cai Lậy. Nhớ lắm thay.
Trần Bạch Thu
Tiết Bạch Lộ, Giáp Thìn 2024
No comments:
Post a Comment