Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Friday, 20 September 2024

 Ngoại

*Trần Bạch Thu-ĐS17


Sanh ra ở miền sông nước nên ông thường hay kể về những chuyến đi từ vàm Ngũ

Hiệp, Cai Lậy, dọc theo sông cái nối liền tới miệt đất “vũng” như Vĩnh Long hay Chợ

Lách, Trà Vinh ..., thỉnh thoảng hai bên bờ sông có những miếu thờ do dân thương hồ

lập lên để mỗi chuyến đi qua, thường hay ghé vào đốt nhang, đôi khi còn đốt pháo nổ

để cầu thần linh hộ trì cho đi qua êm thắm, thoát khỏi những cơn sóng dữ hay mưa

to gió lớn trên các khúc sông nầy.

Ông mồ côi cha lúc lên 10 tuổi trong một một chuyến qua sông trên xuồng “ba lá”,

khi xuồng lật vì sóng lớn trong chớp nhoáng, ông chỉ còn kịp nghe lời dặn:

- Con ráng nắm chặt mạn xuồng, đừng buông ra.

Thế là xuồng trôi lênh đênh, nhấp nhô từ từ qua khỏi vùng nước xoáy, dân đi ghe

qua lại thấy một cậu bé ôm chặt mạn xuồng bị lật úp gần như kiệt sức nên họ cặp vào

cứu vớt đưa vào bờ. Mấy ngày sau, cả gia đình chiều nào cũng ra bờ sông khúc xuồng

bị chìm mong tìm thấy xác người thân, nhưng mõi mòn trong vô vọng nên cuối cùng

đã lập đàn trên sông và thả “bè việt vớt” để độ vong linh người đã qua đời trên sông

mà không tìm thấy xác. Từ đó gia đình ông bỏ vàm di dời vào phía trong xã Thanh

Hòa lập vườn sinh sống.

Ông thường kể trên khúc sông lớn qua ngã ba vàm “Dinh Cậu” có một cặp ngỗng

thần, hể thấy khi nào cặp ngỗng nổi lên là điềm báo trước sắp có sóng lớn, khi cặp

ngỗng lặn xuống là sóng to đùng đùng dấy lên, không ghe, xuồng nào có thể đi qua

mà không bị nhấn chìm. Tương truyền rằng sau nầy, khi Tây đi qua khúc sông nầy

bằng tàu sắt, lính trên tàu thấy cặp ngỗng thật to nổi lên nên đã dùng súng bắn chết.

Không biết rõ là họ có vớt xác ngỗng lên tàu hay không, nhưng lời đồn đại rằng khi

tàu quay về bến, người lính bắn chết cặp ngỗng thần đã bị tai nạn súng cướp cò và

qua đời.

Cho đến khi Tây trở qua đem tàu sắt phối hợp với lính “lê dương” trên bộ ruồng bố

Việt Minh ra tới tận ngoài vàm sông cái. Đi tới đâu họ bắn phá, đốt nhà tới đó nên

dân lành tản cư ra chợ gần như hết cả làng. Gia đình ông cũng theo đoàn người tản

cư ra chợ Cai Lậy. 



Sau khi chiến cuộc tạm dừng, mọi người hồi cư trở về làng quê cũ

dọn dẹp lại vườn tượt, sinh sống như xưa. Riêng gia đình ông vì mất một đứa con gái

thứ Sáu trên đường tản cư nên để tránh đau buồn nầy có thể xảy ra nữa nếu chiến

cuộc vẫn tiếp diễn nên ông quyết định trụ lại ở chợ, che rạp sinh sống ở bên bờ

“Kinh” Cai Lậy gần ngay trong chợ.

Ông sanh năm 1904 nên cũng có nghe kể rằng lụt năm ấy rất lớn, nước ngập lên tận

mái nhà kèm theo mưa kéo dài nên thiệt hại về người và của cũng “bộn”. Rồi đến

năm 1964 cũng lại lụt lớn, nước lũ tràn về ngập hết đường cái, lộ “Đông dương” cầu


sập, nước ngập gần cả tháng trời, khách bộ hành đi lại phải di chuyển qua từng đoạn

bằng xuồng. Nói chung, cứ một con “Giáp” tròn 60 năm “Thìn” là có lụt lớn. Nói là lớn

nhưng cũng không có thiệt hại nhiều lắm nên chưa bao giờ đến mức cần phải xin cứu

trợ khẩn cấp từ khắp nơi. Và cũng có thể do tính cách của dân chúng trong vùng dù

có đau thương mất mát cũng cắn răng chịu đựng không hề than vãn. Ngoài ra còn có

nhiều vùng “miệt dưới” hay An Giang, Đồng Tháp, bao đời nay “mùa nước lũ” tràn về

ngập trắng đồng gần cả mấy tháng trời, người dân cũng chịu vậy và an nhiên “sống

với lũ.” Dù lũ lụt có làm thiệt hại to lớn đến đâu rồi cũng qua đi, ai nấy cũng bám lấy

đất quê mà sinh sống.

Từ khi dời gia đình từ quê ra chợ, với hai bàn tay trắng ông quyết định học nghề thợ

mộc để sinh sống, còn bà thì theo sự đỡ đầu của người quen giới thiệu vào nhà

thương xin học làm mụ đỡ đẻ. Theo thời gian, ông cũng mở được một trại mộc “Hai

Sang” chuyên sản xuất tủ, giường, bàn, ghế ... bán cho người địa phương.

Ban đầu theo học nghề thợ mộc cũng rất cam go, ngoài cưa, đục, bào, búa ... đồ nghề

chính còn là hai cây thước: đo chiều dài và đo góc vuông. Rồi còn phải có vốn một ít

chữ nho để biết xem sách “đồ hình” bán ở các tiệm tạp hóa lớn tại chợ Mỹ Tho,

thường do người Hoa làm chủ. Cuối cùng cũng phải biết viết chút ít chữ như bùa

phép do “thợ cả” truyền dạy.

Ông có người cậu ruột, dân làng thường gọi là “Cố Sáu” chuyên bắt mạch viết toa

bằng chữ nho cho bệnh nhân ra chợ “bổ thuốc” đem về nấu uống (3 chén nước còn

lưng một chén), cho nên khi nhỏ ông cũng có học chút đỉnh, đủ để xem sách đồ hình

và viết ít chữ trên lá bùa cho chủ nhân căn nhà mới cất.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ vật liệu xây cất như kèo, cột, vách, đá kê táng ... thường thì

chủ nhà xem ngày lành, tháng tốt để làm lễ “thượng lương” (gác đòn dông) có lập

bàn thờ giữa nhà chưng hoa quả, nhang đèn để cúng vái. Xong xuôi, ông thợ cả ngồi

ở bàn lật sách đồ hình ra xem, lựa chọn nên xé bỏ tờ nào và giữ lại tờ nào trong

quyển sách cho thích hợp với gia chủ, như nhà muốn có con trai (phát đinh) hay

phát tài, phát lộc ... Theo ông kể thì được cái nầy mất cái kia, chứ không thể nào được

hết như “đặng hào của thì mất hào con ...” đại khái là như thế. Còn nhà giàu có và

muốn thì có thể lên chùa hoặc tìm thầy hốt thuốc Nam hay thầy pháp để thỉnh một lá

phướn có in hình “bát quái” đem về trong bữa thượng lương để ông thợ cả chấm vài

điểm trên đó, cũng giống như xé sách, vượng chỗ nầy, triệt chỗ kia.

Đúng giờ “hoàng đạo” giữa trưa, ông thợ cả leo lên nóc, thợ phụ giúp đưa cây đòn

dông lên giữa nhà, gác ngang trên hai đầu cột cái, thường thì cây đòn dông có bịt vải

đỏ ở hai đầu, bên trong miếng vải đỏ có hai lá bùa, chữ đọc không ra, như dạng chữ

vẽ chỉ có thợ cả là đọc được.


Hai lá bùa trên yên vị không cần để ý đến, chỉ khi nào gia đình gặp nạn hay do ăn ở

như thế nào mà xảy ra tai họa thì thỉnh thầy khác, không phải ông thợ cả, vì nghề

nghiệp, không bao giờ ông thợ cả tự gỡ lá bùa do chính mình viết ra. Thầy coi lại nhà

cửa, xem lại cho biết hư thực, rồi sẽ cho người leo lên tháo hai lá bùa ra, thường thì

gia chủ chỉ muốn gở bỏ thôi chứ không có thay lá bùa mới.

Sau khi cột chặt sách đồ hình hay lá phướn sát trên cây đòn dông thòng xuống ở giữa

nhà, thợ cả đứng thẳng người xem qua lại, nhắm hướng hai đầu cây đòn dông để

xem có đâm thẳng vào cửa nhà của người khác không. Khi mọi việc tốt đẹp, thợ cả

ngồi xuống trên cây đòn dông, lấy cây búa có hai đầu, một để đóng đinh và đầu kia để

nhổ đinh giắt bên hông. Khấn nguyện “hoàng thiên hậu thổ” gia hộ cho căn nhà nầy,

đoạn ông cầm cán búa thả xuống từ trên cây đòn dông như viết thành chữ “đinh”

theo Hán tự (丁) nghĩa là mọi sự đã hoàn thành.

Mọi người đều tin rằng chỉ có ông thợ cả và thầy pháp mới biết “bùa lổ ban” để “ếm”

hay “gở” mà thôi. Thật ra thì đây là mảnh giấy điều (đỏ đậm) trên viết những chữ

Hán như thành, phát, tấn, bình, an .... để nói lên kỳ vọng của mọi người, nhưng vì

truyền qua nhiều người, nhiều đời thợ, có người hiểu có người không nên tùy theo

người mà chữ viết biến thể thành những nét vẽ không ai đọc được. Nhưng lòng

thành và tin tưởng làm cho gia chủ yên tâm.

Phàm những người kính sợ “thiên địa quỷ thần” là những người chân thật, ít làm

điều ác và tin nơi luật nhân quả nên có đời sống lương thiện. Còn giàu như bá hộ hay

quan quyền vinh hiển đều có số, bùa phép không làm nên được.

Sau nầy khi đã mở được trại mộc bán đồ gỗ rồi mà dân tình nghe lời đồn đại rằng

ông “Hai Sang” có bùa lổ ban rất cao tay ấn nên họ cũng thường hay đến xin bùa.

Thậm chí khi mua giường cũng xin được bùa để ngủ trên giường cho êm và khỏe

mạnh. Nói chung, sau khi bắt ấn vẽ chữ bằng tay trên đồ vật, ông luôn nhắn người

xin bùa là nên ăn ở sao cho hiền lành nhân đức thì bùa mới linh nghiệm.

Đương thời cũng có nhiều người đến xin làm thợ ở trại mộc để vừo học nghề vừa

muốn học bùa chú, nhưng ông luôn từ chối việc dạy bùa. Vì sợ có người lạm dụng

làm điều bậy bạ gây nên những việc làm thất đức. Ở đâu và thời nào cũng có Bàng

Quyên; Tôn Tẩn nên thôi, chỉ biết làm thợ lành nghề có cuộc sống no đủ là quí lắm

rồi. Cũng có khi học chưa hết, biết chưa tới mà nói hay làm bậy ảnh hưởng đến việc

đời của người khác là một việc làm hao tổn âm đức, do đó không cần phải biết thêm

bùa chú để làm gì.

Xã hội ngày càng mở rộng, văn minh nên những điều mê tín cũng giảm dần đi, có khi

tự nhiên biến mất. Ngày xưa cả một vùng dân cư rộng lớn như quận, huyện mà chỉ có

một vài ông thầy thuốc biết bắt mạch cho toa, thế cũng còn may, cho nên bất cứ bệnh


gì cũng ra tiệm tạp hóa mua vài gói thuốc tán hiệu “lão hòa thượng” thì sao biết chữa

bệnh gì. Nói chi đến bệnh nan y thì tuyệt lộ chỉ còn nhờ cúng vái và bùa phép mà

thôi.

Ông kể những năm đại dịch, người chết như rạ, trời thương cũng có xuất hiện những

ông Thầy Nước Lạnh, Đạo Khoai, Đạo Chuối cứu nhân độ thế, có khi mấy ông nầy còn

mang theo “tay nãi” đựng đầy lá thuốc đem phát không cho mọi người. Cũng có

người hết, kẻ không. Có còn hơn không, mong chờ gì ở “thuốc thánh đền bia” Nói

chung, thiên cơ bất khả lậu có hung có kiết không ai lường trước được nên thường

khi ông hay khuyên mọi người nên lập một bàn thiên trước nhà và chính ông viết

cho một chữ “thiên” đem về đóng khánh lộng thờ giữa trời.

Bà làm mụ đỡ đẻ nên ông thường ra toa cho người nhà nếu muốn, ra tiệm thuốc Bắc

mua bột “châu sa, thần sa” về bôi trên mỏ ác của đứa trẻ sơ sinh trong vòng ba ngày

sau khi sinh để đứa nhỏ sau nầy lớn lên thông minh, sáng dạ. Khi đứa bé lên 5, biết

ăn uống thành thạo thì ra tiệm thuốc Bắc bổ một hộp thuốc tể “lục vị” cho đứa bé,

ngày nhai một viên như kẹo giúp cho trẻ khỏe mạnh và mau lớn.

Cả đời, ông không uống một viên thuốc Tây nào cả chỉ tự mình bổ thuốc theo toa gia

truyền mà ông có được. Đến năm 60 tuổi ông sang trại mộc cho người quen, cất nhà

cạnh Chùa Ông, Cai Lậy, tuy không còn hoạt động ngoài xã hội nữa nhưng người dân

trong vùng vẫn gọi là Thầy Hai Sang với lòng quý mến.

Ông có thói quen kể từ ngày theo thầy nhập môn là trước khi ăn đều nâng chén lên

ngang mày lẩm bẩm niệm chú gì mọi người không ai biết nên đoán là ông tạ ơn trời

đất và bác nông phu đã làm nên lúa gạo, theo như người xưa đã từng bảo. Nhưng

không phải vậy. Tôi hỏi, ông bảo:

“Nguyện lòng ngay, ngon cũng ba chén dở cũng ba chén”

Ông thanh thản qua đời năm 85 tuổi, mộ phần nằm cạnh bà trên đất nhà gần bên cầu

Bổn Tỵ, Cai Lậy. Nhớ lắm thay.

Trần Bạch Thu

Tiết Bạch Lộ, Giáp Thìn 2024

No comments:

Post a Comment