Khi bước vào tuổi 70 và hồi tưởng lại quá khứ, tôi cảm thấy con đường của
mình vừa đi qua dường như đã được vạch sẳn. Thật vậy, khi bước chân vào
Trường Phan thanh Giản tôi đã có ý định sau nầy sẽ theo đuổi nghề gỏ đầu
trẻ , nên sau khi đổ Tú tài toàn phần ban Toán tôi đã nộp đơn thi vào
Trường Ðại học sư phạm Ban Toán (Ðệ nhị cấp). Kết quả không đậu, nên tôi
mới xoay qua nộp đơn thi và đậu vào Trường Quốc gia Hành chánh định an
phận vởi nghề làm công chức theo kiểu sáng vác ô đi chiểu vác ô về. Tuy
đậu ra trường hạng cao và đáng lẽ có thể có quyền chọn nhiệm sở, nhưng vì
nhu cẩu công vụ lúc bấy giờ, một danh sách trích ngang từ trên xuống dưới
gồm hai mươi người được bổ nhiệm về một cơ quan an ninh trực thuộc Phủ
Tổng thống, và sau đó cơ duyên lại đưa đẩy tôi lần lượt thuyên chuyển đến
phục vụ cũng trong các cơ quan đầu não khác của chính phủ.
Bước khởi đầu có tính cách tiền định nẩy đã gắn chặt tôi vào với hàng ngũ
những người quốc gia chống Cộng sàn và từ đó đã trực tiếp gắn bó với tiến
trình sinh hoạt thăng trầm của nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hỏa.
Khi nền đệ nhị Cộng hòa sụp đổ,tôi bị đi tù cộng sản, được thả ra, sau đó
được đi định cư ở Mỹ, và tại đây, ngoài lo sinh kế vẫn còn có chút đóng góp
hạn chế nào đó cùng với những người Việt quốc gia đang mưu cầu một đất
nước Việt Nam không Cộng sản.
Những môn sinh với tôi ở trường Trung học Phan thanh Giản, các chiến hữu
đã từng phục vụ dưới thời đệ nhất va` đệ nhị Cộng hòa, mỗi người thử suy
nghiệm lại xem phải chăng phần lớn đều nhận thấy nghề nghiệp sau cùng
của mình không phải là mục tiêu chọn lựa lúc ban đầu. Phải chăng mỗi
người chúng ta đã được an bài một nhiệm vụ nào đó, dù có tầm thường đến
mức nào đi nữa, nhưng cũng được xem như là một mắc xích câú thành
guồng máy của quốc gia, đã bị gắn bó với sự sinh tồn của nó và đã dự phần
làm nên một trang sử đã qua của đất nước.
Khái niệm về nhiệm vụ an bài nầy dường như đã được củng cố thêm qua sự
xuất hiện của cụ Phan đình Phùng, dưới hình thức giáng cơ, tại trại tù Nam
Hà vào các năm 1980 trở đi. Vào thời gian tinh thần người tù bị xuống thấp
nhất, cụ Phan đình Phùng đã giáng cơ để cho họ đọc các bài thơ Ðường luật
loại thất ngôn tứ cú hay bát cú do cụ sang tác lấy bút hiệu là Tùng La. Các
bài thơ nầy thật tuyệt tác về niêm luật, có nội dung trấn an, khích lệ các tù
nhân rằng rồi ra họ sẽ được thả, có cơ duyên sẽ được đi ra nước ngoài, có cơ
duyên sẽ trở về nước. Về tình hình chung của đất nước, cụ có bài thơ tứ cú
sau:
Trì trì bộ bộ bộ trì trì,
Cử bộ thời lai hữu hỉ kỳ
Thiên phụ cao bồi tư hóa dục,
Thanh phân thiên tải tụng hòa vi.
Theo sự diễn giảng của anh em tù nhân ở trại Nam Hà lúc bấy giờ thì đại ý
cụ cho rằng:
Sự việc tiến triển một cách từ từ và chậm chạp,
Nhưng đến khi có chuyển động sẽ đem lại kết quả vui vẻ,
Cứ coi như đây là giai đoạn để nhận chịu sư bồi dưỡng và huấn nhục,
Sử xanh rồi đây vẫn được lưu truyền tưoi sáng.
Sư hiện hữu của cụ Phan đình Phùng, một vị anh hùng kháng Pháp đã hiển
thánh,bên cạnh những người tù ở trại Nam Hà, phải chăng là sự khẳng định
cái nhiệm vụ an bài vẫn chưa hết đối với cụ Phan đình Phùng, và vì thế hằng
đêm cụ đã đến với các người tù bằng các bài thơ để truyền niềm tin và hy
vọng về một ngày mai hãy còn sáng sủa của họ và một tương lai vẫn đầy hứa
hẹn của đất nước.
Nếu như đã sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, hoặc vào thời
gian đất nước bị chia cắt, thì việc tham gia phục vụ đất nước chống Cộng
sản, đến khi mất nước bị đi tù Cộng sản, rồi sống sót được thả ra và sau đó
được ra định cư ở nước ngoài v.v.. trong thời gian qua, đối với đa số, có vẻ
như là một vận số đã được an bài. Vậy còn đối với đất nước thì sao? Theo
thiển ý của riêng tôi, dường như đất nước cũng có cái vận mệnh của nó, đó
là vận nước.
Thật vậy, sự nghiệt ngã đã làm cho đất nước Việt Nam không bao giờ hưởng
được sự thái bình lâu dài đã bắt nguồn từ cái vị trí địa chính trị của nó trên
bản đồ chính trị của thế giới.
Chỉ ngay với việc nằm tiếp giáp biên giới về phía nam của nước láng giềng
khổng lồ Trung quốc luôn ôm mộng bành trướng đã làm cho đất nước trải
qua biết bao cuộc chiến tranh chống lại áp lực thống trị của người Tàu dưới
thời phong kiến.
Rồi tới thời cận đại, cũng vì địa thế thuận lợi, tiếp giáp với biển và nằm trên
trục giao thông thương mãi của các nước trong vùng Ðông nam châu Á, đất
nước lại trở thành mục tiêu dòm ngó của các cường quốc thực dân phương
Tây, và cuối cùng đành chịu sự cai trị của người Pháp.
Khi nước Nhật vùng dậy với mộng Ðại đông Á của họ, người Nhật đuổi
người Pháp đi nhưng lại thay Pháp chiếm đóng đất nước cũng vì vị trí có
tính cách chiến lược của Việt Nam, dưới con mắt của người Nhật, để họ
bành trướng xuống các nước khác trong khu vực.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt với sự thất trận của phe Trục phát
xít Nhật Ðức Ý, trong khi thực dân Anh chịu trả độc lập cho các thuộc đia cũ
của họ thì thực dân Pháp vẫn quay lại và muốn tiếp tục duy trì ảnh hưởng
của họ ở Việt Nam. Thế là cuộc chiến tranh ở Ðông dương lần thứ nhất đã
diễn ra (1946-1954), và vận hạn không may khác lại khởi diễn cho đất nước
cũng bắt đầu từ đây.
Hồ chí Minh, một đảng viên Cộng sản đệ tam quốc tế, liên hiệp với các đảng
phái người quốc gia phát động cuộc kháng chiến chống Pháp. Sư kiện đảng
Cộng sản Trung quốc kiểm soát được toàn thể lục địa Trung hơa vào năm
1949 đã gây một tai hoạ cho đất nước, bởi lẽ Cộng sản Trung quốc không
muốn người Pháp có mặt ở Ðông dương cản trở sự bành trướng của họ
xuống phiá nam nên họ đã chi viện tối đa cho Hồ chí Minh, thậm chí trực
tiếp chỉ đạo và trực tiếp tham chiến nữa.
Cụ Trần trung Dung, cựu Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng thời đệ nhất Cộng
hòa, lúc còn ở trại tù Nam Hà, đã cho biết tài liệu trong văn khố Pháp xác
nhận các chiến thắng lớn của Việt Minh ở Việt bắc, kể cả chiến thắng ở Ðiện
biên Phủ đều là chiến thắng của người Trung quốc. Lời xác quyết của cụ
Trần Trung Dung nói trên mới đây đã được minh chứng qua quyển sách:
Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung quốc viện trợ Việt
Nam (do nhà xuất bản Lịch sử Ðảng Trung quốc ấn hành ở Bắc kinh năm
2002, được GS sử học Phạm cao Dương điểm sách gửi cho đài BBC hồi
2/2009 ) Dưới đề mục “Tầm quan trọng của Trung quốc” có một đoạn nói
thẳng thừng rằng sau tháng 8/1950, với sự có mặt của hai phái đoàn Cố vấn
quân sự Trung quốc bên cạnh bộ chỉ huy tiền phương của Võ nguyên Giáp ở
Cao Bằng (một do Vi quốc Thanh và Ðặng vật Phàm cầm đầu từ Quảng Tây
và một do Trần Canh hướng dẫn từ Vân Nam ), thì “ Nó mở đầu cho một
giai đoạn mới trong lịch sử chiến tranh Ðông dương lần thứ nhất, trong đó
viện trợ của Trung quốc đóng vai trò quyết định. Sau thời điểm nầy quân đội
của tướng Giáp không còn chiến đấu trong vòng vây,không còn đánh du
kích nữa mà đã chuyển sang vận động chiến rồi sau đó là công kiên chiến để
đánh bại địch quân của họ,theo sách lược Mao trạch Ðông và kinh nghiêm
của quân đội nhân dân Trung quốc.”
Nếu như Việt Nam vốn đã được Cộng sản Trung quốc coi như cửa ngỏ để họ
bành trướng xuống phiá Nam, thì vào thời gian sau cuộc chiến tranh ở Triều
Tiên ngươi Mỹ đã có dụng ý sử dụng Việt Nam như là một tiền đồn để
chống lại sự bành trướng của khối Cộng sản xuống vùng Ðông Nam châu Á.
Thực tế cho thấy vào lúc Ðiện biên Phủ sắp thất thủ, người Pháp đã có yêu
cầu người Mỹ chi viện các máy bay đánh bom B29, tương tự như B52 về
sau nầy, để cứu nguy căn cứ na`y, nhưng người Mỹ không đáp ứng. Hậu quả
là Ðiện biên Phủ thất thủ đưa đến việc ký kết Hiệp định Genève 1954 chia
hai đất nước.
Như đã nói ở đoạn trên, việc Cộng sản Trung hoa thống trị toàn Hoa lục đã
là một tai họa cho đất nước, bỡi lẽ sự chi viện và sư tham gia trực tiếp của
họ sau đó vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã giúp cho đảng Cộng sản Việt
Nam giành được quyền lãnh đạo và dựng lên một chánh quyền cộng sản ở
miền Bắc. Hậu quả là kế tiếp những năm sau đó đất nước lại lâm vào một
cuộc chiến tranh ở Ðông dương lần thứ hai giữa người quốc gia và người
cộng sản kéo dài đến 30/4/1975, bỡi lẽ Cộng sản Bắc Việt lại phát động một
cuộc chiến tranh lấn chiếm miền Nam và người quốc gia ở miền Nam phải
mở cuộc chiến đấu để tự vệ.
Lúc bấy giờ, cộng sản Nga Tàu kết thành một khối, chưa bị rạn nứt lớn, chi
viện rất ồ ạt cho cộng sản Bắc Việt để lấn chiếm miền Nam. Trong khi
đó,nhất là sau cuộc chiến tranh ờ Triều Tiên, học thuyết đô mi nô của người
Mỹ ở đông nam Á đã chọn Nam Việt Nam như là một tiền đồn ngăn chận
làn so’ng đỏ cộng sản tràn xuống các nước khác trong vùng, nên họ cũng đã
trở thành đồng minh cột trụ của nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hòa.
Một bên là Khối cộng sản phát động chiến tranh bành trướng núp dưới
chiêu bài “giải phóng dân tộc”, còn phiá thế giới tư do do nưóc Mỹ cầm đầu
thì chủ trương chống lại dựa vào “quyền dân tộc tự quyết”. Cuộc chiến tranh
VN lúc nầy có người cho là cuộc chiến tranh về ý thức hệ (giửa chủ nghiã
cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dân tộc), có người cho là cuộc Chiến tranh
Ủy nhiệm như tựa cuốn sách của Giáo sư Lê xuân Khoa.( một bên nhân
danh các nước trong khối thế giới tự do còn bên kia nhân danh các nước
trong khối cộng sản.)
Dù mang danh nghiã gì đi nữa thì đây vẫn là cuộc chiến tranh cốt nhục
tương tàn đã gây bao tang thương và chết chóc cho người Việt ở hai miền đầt
nước, mà theo thiển ý, cũng vì do vị trí điạ chính trị của đất nước Việt Nam
có giá trị chiến lược đối với ngưòi Mỹ và khối cộng sản Nga-Tàu vào lúc đó,
hay nói nôm na như tựa quyển sách của cựu đại sứ Bùi Diễm là tại vì đất
nước bị kẹt “Trong gọng kềm của lịch sử.”.
Giá trị của vị trí của Việt Nam trong vùng đối với người Mỹ thay đổi theo
thời gian. Vào đầu thập niên 70, ngưởi Mỹ đã nhận thức sức mạnh của phe
Cộng sản nằm trong thế nhất thống thành một khối của họ. (sách vở và báo
chí đã dùng cụm từ sino-soviet bloc để chỉ khối cộng sản Nga Tàu). Sách
lược chống cộng mới của người Mỹ đã chuyển hướng vào việc làm phân hoá
và phá vở thế nhất thống nầy.
Thế là ngưởi Mỹbèn đi đêm với Tàu cộng va` đã đạt được Thông cáo chung
ở Thượng Hải vào năm 1972. Liền sau đó người Mỹ lại tiếp tục đi đêm với
Cộng sản Bắc Việt để rồi sau đó Hiệp định Paris được ký kết (27-1-73). Với
Thông cáo chung ở Thượng Hải, người Mỹ đã gây sự phân hóa giữa Nga và
Tàu. Với Hiệp đình Paris, người Mỹ đã đào sâu thêm sư phân hóa nầy khiến
họ trở thành thù địch.Bằng chứng là sau khi “người đồng minh Mỹ tháo
chạy” khỏi miền Nam, Cộng sản Bắc Việt liền xua quân đánh chiếm miền
Nam và sau khi thống nhất được Việt Nam thì họ quay lưng lại với người
Taù và ngã hẳn theo Cộng sản Nga. (Thực tế cho thấy từ sau đại hội lần thứ
ba của đảng ở Hà nội năm 1960,Cộng sàn Bắc Việt bắt đầu đã ngã theo và
nhận sự chi viện lớn của Cộng sản Nga rồi, vì lúc đó điều lệ đảng chủ trương
đi theo tư tưởng Mác Lê thay vì tư tưởng Mác Lê và tư tưởng của Mao trạch
Ðông như trong kỳ đại hội lần thứ hai của họ hổi năm 1950.Nhưng phải đợi
tới sau chiến thắng 30-4-75 thì họ mới ra mặt theo hẳn Cộng sản Nga)
Do đó,kể từ sau 1975 trở đi, Việt Nam trở thành mũi nhọn xung kích cho
cộng sản Nga trong khu vực, điển hình là sau khi ký được Hiệp ước hỗ
tương với Nga năm 1978, Cộng sản Việt Nam liền xua quân lật đổ chế độ
của Pol Pốt đi theo Tàu cộng ở Campuchia và chiếm đớng đất nước nầy, mở
đầu cho môt cuộc chiến tranh lần thứ ba ở Ðông dương kéo dài đến năm
1990. Lập tức, năm 1979, Tàu cộng mở cuộc tấn công đánh vào sáu tỉnh ở
miền Bắc mà họ nói là để dạy cho Việt nam một bài học.
Rõ ràng có phải vì vị trí của đất nước nằm trong vùng tranh chấp ảnh hưởng
của các nước lớn, khi thì làm tiền đồn, lúc làm lính xung kích, Việt Nam
luôn ở trong tình trạng chiến tranh triền miên suốt ba cuộc chiến tranh Ðông
dương nói trên khiến dất nước bị tàn phá, người Việt Nam bị hy sinh quá
nhiều, trong khi Thái Lan,vì có vị trí nước trái độn, chẳng những không có
chiến tranh mà còn được hưởng lợi của chiến tranh ở Việt nam để phát triển
đất nước của họ ?
Ðến khi nước Nga đổi mới và từ bỏ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng
sàn ở trong nước của họ, kéo theo sư sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ờ trong
khối các quốc gia cộng sản ở Ðông âu vào đầu thập niên 90, cấp lãnh đạo
cộng sản Việt nam lúc đó đã đặt quyền lợi đảng Cộng sản trên quyền lợi của
đất nước và dân tộc nên họ, thà mất nước chớ không đề mất đảng, vẫn bám
vào binh phong chủ nghĩa cộng sản để tiếp tục giữ độc quyền lãnh đạo và cai
trị đất nước. Và cũng từ đó họ quay lại bắt tay với Tàu cộng và chịu sự chi
phối của Tàu cộng một cách lộ liểu.( sau nầy,mỗi lần VN hop đại hội
Ðảng,Tàu cộng luôn gửi một phái đoàn hùng hậu sang VN,ngoài mặt nói là
để quan sát nhưng thực chất là để dàn dựng và sắp xếp nhân sự)
Khi ành hưởng của Nga trong vùng biển Nam Hải không còn và khi Việt
Nam nam trong quỹ đạo của Tàu cộng thì toàn vùng Ðông nam châu Á bên
dưới Việt Nam lại có nguy cơ bị cộng sản Tàu khống chế hay chi phối. Ðây
cũng là lúc Việt nam có một giá trị địa chính trị trở lại dưới con mắt của
người Mỹ,bởi lẽ Việt Nam là nước duy nhất trong vùng có khả năng và đã
từng có truyền thống đối đầu được với người Tàu. Sự quan tâm nầy của Mỹ
đã mở một cánh cửa để cho Việt Nam có cơ hội xích lại gần với Mỹvà thoát
ra khỏi ành hưởng của Tàu cộng.
Thực tế đã cho thấy từ sau năm 1990, từng bước người Mỹmở lại các quan
hệ và hợp tác tốt với cộng sản Việt Nam (như gần đây vẫn rút tên ViệtNam
khỏi danh sách các nước bị quan tâm về nhân quyền và tôn giáo mặc dủ họ
vẫn đàn áp tôn giáo và đối lập chính trị, như việc Mỹ sê huấn luyện cho
quân đội Việt nam v v.).
Chính đại sứ cộng sản VN tại Mỹ, Lê công Phụng, khi trả lởi cuộc phỏng
vấn của đài BBC, ngày 19-1-2009, về quan hệ của VN với Mỹ và Trung
quốc cũng đã công khai thừa nhận “VN nằm ở vị trí địa chính trị nhạy cảm,
sát cạnh Trung quốc, lại nằm trong vùng Ðông nam Á, cho nên cả hai đều
có nhu cầu tranh thủ VN.”(nguyên văn câu hỏi số 4 của đài BBC là “Hai
cưởng quốc kia, theo Ðại sứ,có lôi kéo VN hay không?”)
Kinh nghiệm của tie^`n nhân xưa nay vẫn nhắc nhở là nên chọn lấy nước ở xa
làm đồng minh hơn là kết thân với nước láng giềng gần, nhất là khi nước
láng giềng gần vốn đã có lịch sử lâu đời xâm lược và thống trị đất nước.
Ðiều nầy chưa hẳn có thế áp dụng vào Việt Nam lúc nầy, bởi lẽ tập đoàn lãnh
đạo ở VN trong quá khứ đã từng cho thấy họ đặt quyền lợi giai cấp thống trị
đảng của họ trên quyền lợi của đất nước ( lúc các nước Ðông âu thoát ly
khỏi Nga và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản), chưa kể là áp lực và sự chi phối của
Tàu cộng vào VN chưa lúc nào mạnh mẽ và thô bạo như lúc na`y.
Tiến trình để Việt nam có thể lột xác vả xích lại gần với Mỹ tới mức có thể
thoát ly được ảnh hưởng của Tàu cộng vẫn sẽ tuỳ thuộc vào sự chuyển động
xoay chiều mạnh mẽ củaVN vànỗ lực của Mỹ.
Riêng về phiá VN, khả năng
nầy chỉ có thể xảy ra khi nào có sự thay đổi nhân sự trong giới lãnh đạo ở
đây.
Bình thường thì phải mất một thời gian tương đối dài đủ để cho tầng lớp trẻ,
hấp thụ nền giáo dục Âu Mỹ, lên thay thế lớp cũ ở vai trò lãnh đạo. Cho tới
lúc đó, khi không bị vướng mắc bởi ân nghĩa cũ trong các cuộc chiến tranh
vừa qua, không bị ra`ng buộc bởi quyển lợi phe nhóm và dây liên hệ chằn
chịt về gia đình ( giữa những người trong hàng ngũ lãnh đạo đương thời họ
còn có sự liên hệ qua lại chặt chẽ về gia đình với nhau nữa), lớp lãnh đạo
mới nầy có thể mới có đủ đãm lược làm cho đất nước xoay chiều và nương
vào thế của Mỹ để từ từ thoát ra khỏi sự khống chế của nước Tàu.
Khi đã tin rằng dường như mỗi cá nhân đều có vận số, và đất nước cũng có
vận nước của nó thì không thể không nghĩ tới những biến cố đột biến có thể
xuất hiện bất ngờ, làm đão lộn hay rút ngắn các diễn tiến bình thường của sự
việc, hoặc phá vở các thế thăng bằng đã có sẵn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng và rộng lớn đang diễn ra ở Mỹ và các
nước Tây âu hiện nay phải chăng cũng có thể coi là một biến cố đột biến ?
Nó đã phát ra những chấn động dây chuyển tạo nên những cơn sống ngẩm
cực mạnh ở bên Á châu, đặc biệt là ở Tàu cộng.
Các nước tây âu vốn đã quen đối phó với các cuộc khủng hoảng loại nầy,
còn Ta`u cộng chỉ quen thuộc với việc sử dụng công cụ chuyên chính. Một
sự xáo trộn kinh tế và xã hội qui mô đang diển ra ở trong nước Tàu, qua hình
ảnh nổi bật của hơn 20 triệu lao động di dân thất nghiệp từ thánh thị kéo về
nông thôn, sẽ dẫn tới những hậu quả khó có thể lường trước. Một sự thay đổi
lớn, nếu có, ở trong nước Tàu cộng chắc chắn sẽ tác động ngay lên nước
VN.Trên mạng internet, đã có tác giả, sau khi đánh giá tình hình, đưa ra sự
ước đoán lạc quan về chu kỳ hết “cùng” tất phải “thông” cho đất nước
VN nhân sự đột biến nầy.
Dù sao, chủ nghĩa cộng sản đã bị khai tử từ lâu rồi, trào lưu tự do dân chủ đã
là một xu thế tất yếu của thời đại không thể đão ngược.Sinh lộ cho đất nước
VN trước sau gì cũng phải đi theo xu thế nầy. Thời gian xảy ra lâu hay mau
vẫn còn là một ẩn số, và nếu như tin vào vận số thì nó có thể xảy đến ở bất
cứ lúc nào vậy.
Triệu huỳnh Võ.
ÐS 6
Ngày 15 tháng 3 năm 2009