Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVDuongThuHuong. Show all posts
Showing posts with label VCNVDuongThuHuong. Show all posts

Saturday, 29 April 2023

Mt68 XIN THƯA TRƯỚC:

ANH EM CỘNG TÁC Mt68 CHÚNG TÔI COI DƯƠNG THU HƯƠNG NHƯ BAO NHIÊU ĐỨA VIỆT CỘNG HÀ NỘI KHÁC- CHÚNG CHỈ GIẬN DỖI BỰC TỨC PHÁT NGÔN LINH TINH NHƯNG ĐẦU ỐC (Not ÓC) VẪN LÀ VC NÒI- CHÚNG KHÔNG BAO GIỜ THỰC SỰ VỀ PHE VỚI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN- TRONG TẬN CÙNG NHỮNG ĐỨA NHƯ DƯƠNG THU HƯƠNG - BUỒI TÍN- VŨ THƯ HIÊN ... MẶC ÁO CHỐNG ĐỐI NHƯNG BÊN TRONG VẪN LÀ CỘNG SẢN -(Chính DT Hương đã từng phát biểu chỉ có cán bộ VC sai, chứ HC Minh không sai, nếu còn HCM thì đất nước sẽ không như sau 1975)- Cho nên DT Hương hay ĐQ Anh Thái CŨNG cùng là đồng bọn lập lờ- ĐQA Thái cộng tác gắn bó với Báo Người Vẹm bất chấp mọi chống đối của Người Việt Tỵ Nạn- Hãy nhìn kỹ vụ án Sài Gòn Nhỏ của Bà Hoàng Dược Thảo sẽ nhận diện được ĐQA Thái rõ, thật hơn. 

*Cũng xin thưa "Tại sao chúng tôi vẫn đăng nguyên văn những bài đối nghịch với quan điểm của chúng tôi?" - Bởi vì chúng tôi tôn trọng những sự kiện có thật, nguyên văn, không suy đoán hay bịa đặt- và đăng tải để lưu trữ tài liệu làm bằng khi cần đối chứng về sau./-TC Lãnh
________________
Giọt Nước Mắt Người Phụ Nữ Bên Thắng Cuộc
Đinh Quang Anh Thái

Dương Thu Hương tự nhận mình là “người rừng”, “mụ nhà quê răng đen, mắt toét”.

Báo chí Pháp thì gọi Dương Thu Hương là “Con Sói Đơn Độc”.

Còn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: Bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới mạng Internet, bỗ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì.”
**

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng Sản Hà Nội tung toàn lực nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy” (sic).

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.

Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Man’s Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…  
**

Tôi đọc Dương Thu Hương, những bài viết và các tác phẩm, ngay sau thời kỳ do tình thế o ép, giới lãnh đạo Hà Nội năm 1986 buộc phải chấp nhận “đổi mới” kinh tế và “cởi trói” văn nghệ sĩ.
Thời kỳ ấy, Dương Thu Hương là một trong những người cầm bút can đảm “bước qua lời nguyền”, giành lại quyền suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình với những bài phát biểu, bài viết; và nhất là với tác phẩm “Những Thiên Đường Mù.”

Riêng tôi, với cuốn “Khải Hoàn Môn,” Dương Thu Hương mới thực sự chỉ thẳng vào mặt cuộc chiến dã man đã hủy hoại toàn thể dân tộc ra sao.

Chỉ biết Dương Thu Hương qua tác phẩm, mãi tới khoảng giữa tháng Tư 1997, lần đầu tiên tôi mới có dịp – qua điện thoại - nói chuyện với “Con Sói Đơn Độc.”

Lúc bấy giờ, Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do vừa chính thức phát thanh về Việt Nam được hai tháng.

Muốn phỏng vấn Dương Thu Hương nhưng mang tâm trạng cầu may thôi, chứ không nghĩ bà sẽ trả lời phóng viên của một đài phát thanh do Quốc Hội Mỹ tài trợ; và nhất là báo Công An ở trong nước vừa có bài chửi thậm tệ Giám Đốc Ban Việt Ngữ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, là “cái loa tuyên truyền của Mỹ trong âm mưu diễn biến hòa bình.” Bài báo còn mô tả kẻ viết bài này là “ngựa non háu đá, hung hăng, ăn phải bả ông Bích.”

Vậy mà thật may! Chuông điện thoại reng tiếng thứ hai, đầu giây bên kia, giọng phụ nữ “ai đấy?”

Nghe cách nói trống không, giọng lạnh tanh, tôi hơi thủ. Bằng ngôn ngữ lễ phép, chừng mực và cũng sẵn sàng cúp máy ngay nếu cuộc đối thoại không đi đến đâu, tôi tự giới thiệu tên tuổi, nghề nghiệp; tức là “khai báo lý lịch trích ngang.”  

Lại may nữa! Tác giả “Khải Hoàn Môn”, giọng xem ra bớt lạnh, hỏi, “thế ông cần gì?” Tôi nói mong được phỏng vấn bà về ngày 30 Tháng Tư 1975.  Bà bảo, nói chuyện thế này là hơi lâu rồi đấy nhé; cứ từ từ đã, lúc nào có dịp lại trao đổi xem ông là người thế nào đã nhé.

Liên tiếp vài ngày sau đó, hôm nào tôi cũng gọi về Hà Nội, chỉ loanh quanh chuyện thời tiết cỏ cây và tò mò về vùng đất của 36 phố phường. Dương Thu Hương có vẻ bớt xa lạ hơn, bõ công nói về Hà Nội, nhất là sau khi nghe tôi nói rằng tôi nằm trong lòng mẹ di cư vào Nam năm 54 nên không biết tí gì về đất Bắc.    

Và cuối cùng là cuộc phỏng vấn.
**

Dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời Dương Thu Hương là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trả lời phỏng vấn bằng điện thoại, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cả mọi người trong toán quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bày trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ...nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

Trong suốt cuộc phỏng vấn dài hơn nửa tiếng, Dương Thu Hương nhiều lần dùng cách nói bỗ bã, “chém đinh chặt sắt,” thậm chí đôi khi thô tục để đả kích chế độ cầm quyền.

Hỏi, lối nói như thế liệu có gặp phản ứng không thuận tai đối với người nghe, Dương Thu Hương lại càng “đanh” hơn, nói “chẳng việc gì tôi phải kiêng dùng những danh từ mà nhiều người cho là thô bỉ, như là ‘ỉa vào mặt kẻ cầm quyền’, vì đó là cách nói thuần của người Việt răng đen mắt toét; là ngôn ngữ đích xác của người nông dân khi họ muốn biểu lộ thái độ khinh bỉ và bất chấp. Tôi hành động như thế là có dự tính chứ không phải ngẫu hứng. Tôi rất ghét những thứ ngôn ngữ nhờ nhờ nhạt nhạt.”

Dương Thu Hương trở thành “Con Sói Đơn Độc” ngay giữa bầy đàn của mình cũng “chẳng oan ức gì.” Cá tính ngang ngạnh như thế, bất chấp và không ngần ngại phang thẳng vào mặt những người mà bà cho là “giả dối, hèn hạ”, thì phải là người hiểu bà lắm mới dám tới gần, kết thân. Điển hình cách nói vỗ vào mặt người ta của Dương Thu Hương là những lời bà mạt sát lãnh đạo Hà Nội.

Cũng năm 1997, Lê Khả Phiêu lên làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam và bị đồng bào trong nước gọi là “tổng bí thư đậu vớt,” từ Washington DC, tôi gọi điện thoại về Hà Nội hỏi Dương Thu Hương, rằng cảm nghĩ của bà ra sao về ông Phiêu, bà “phang” ngay: “Ông Thái đã có bao giờ thấy âm hộ của con ngựa già chưa? Đấy, mặt thằng Lê Khả Phiêu thế đấy, nó nhăn nheo y như âm hộ con ngựa già”.

Chưa hết! Năm 2000, khi Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đến thăm Hà Nội, bà trả lời phỏng vấn của kẻ viết bài qua điện thoại: “Clinton là biểu tượng của một nền dân chủ, là một chân trời khác, một cuộc sống khác mà người ta ao ước.” Và bà cười sảng khoái, thuật lại câu của hàng xóm láng giềng nhà bà: “Sao mà xấu hổ thế! tổng thống của chúng nó, của dân Mỹ đứng cạnh mấy ông lãnh đạo của mình, mặt nó thì sáng ngời ngời, còn mặt mấy ông lãnh đạo của mình sao mà tối tăm thế. Mặt Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tuy đã sửa nhan sắc nhưng trông cũng không đẹp cho lắm. Cho nên dân chúng bảo xấu hổ quá. Còn cánh đàn ông thì họ rú lên, ối giời ơi! Cái thằng Clinton nó đẹp giai quá! Mình cũng còn mê nó nữa là đàn bà. Cho nên một trăm con mê nó thì cũng phải thôi.” (cười to tiếng).

Rồi “người rừng” nói tiếp, “mấy người hàng xóm nhà tôi xem thằng Lê Khả Phiêu là lãnh đạo của họ thì các ông bà ấy xấu hổ nhục nhã; chứ còn tôi thì tôi thấy bình thường; vì từ lâu tôi đã coi mấy thằng lãnh đạo chúng nó chẳng ra cái gì, cho nên tôi chả việc gì phải nhục hộ chúng nó.”

“Mụ nhà quê răng đen mắt toét” còn kể, “một nhà báo Mỹ phỏng vấn tôi và hỏi tôi nghĩ như thế nào về quan hệ của tôi với chế độ, tôi nói thẳng rằng, chế độ Hà Nội là đám người ngửi rắm bọn Bắc Triều Trung Quốc”.
**

Trung tuần Tháng Hai năm 2005, do lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Éditeur, Dương Thu Hương đến Paris ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn “No Man’s Land”, được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”.  

Trước khi đi vào ngày cuối cùng của năm Ất Dậu, trong lúc mọi người chuẩn bị đón giao thừa Bính Tuất, Dương Thu Hương kín đáo xách va ly đi ra phi trường; và trước khi rời nhà, bà nhắn tin cho tôi, rằng khi bà đã lên được máy bay ở Hà Nội, sẽ có người báo cho tôi biết để tôi yên tâm là bà đã đi thoát và cũng để tôi thu xếp qua Pháp gặp bà.

Một tuần lễ sau, tôi có mặt tại Paris và người đón tôi tại sân bay Charles de Gaulle là anh Nguyễn Gia Kiểng.

Suốt một tuần sang thăm Dương Thu Hương, tôi ở nhà anh Kiểng, nơi hội họp thường xuyên của các thành viên Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, tổ chức chính trị mà anh Kiểng là một trong những người sáng lập và lãnh đạo.

Mỗi sáng, từ nhà anh Kiểng ở thành phố Lognes, ngoại ô Paris, tôi đi xe điện vào Michèle Manceaux thuộc Quận Ba gặp và phỏng vấn Dương Thu Hương. Anh Kiểng rất tế nhị, thấy tôi không cho biết mục đích lần sang Paris này, nên anh cũng không hỏi. Tôi không nói với anh Kiểng chỉ vì đã cam kết với Dương Thu Hương là giữ kín sự có mặt của bà tại Kinh Thành Ánh Sáng.

Buổi sáng đầu tiên đi tìm ngôi nhà thờ Michèle Manceaux, 1 Impasse Saint-Claude, theo như lời Dương Thu Hương chỉ dẫn, vừa nhìn thấy cây thánh giá trên nóc nhà thờ, thì ngay bên cạnh là một hẻm nhỏ có một quán cà phê bày ghế ra ngoài hiên đúng cách “Paris.” Một phụ nữ Á Châu, duy nhất, ngồi trước ly cà phê đang bốc khói: Con Sói Đơn Độc Dương Thu Hương.
**

Câu chuyện xoay quanh chuyến đi đầy bất trắc chực chờ khi Dương Thu Hương rời Hà Nội. Bà nói, bọn nó mà biết lịch bay thì bằng mọi cách chúng sẽ chặn. “Nhưng bây giờ thì ngồi đây rồi.”

Một chi tiết vẫn còn gây ấn tượng trong tôi về cung cách cư xử của Con Sói Đơn Độc. Tách cà phê Pháp bốc khói do cô hầu bàn vừa đặt xuống trước mặt tôi, Dương Thu Hương nói ngay, chú đã cất công qua thăm, mọi chi phí ăn uống, tôi trả, nếu không đồng ý thì “chú cuốn gói về ngay, không phỏng vấn phỏng viếc gì hết.”

Lúc bước lên cầu thang căn phòng bà ở trọ, tôi không để ý cửa ra vào vừa được sơn lại, nên quẹt cánh tay chiếc áo da đen vào khung cửa. Một vệt sơn trắng dính vào, chạy dài theo tay chiếc áo do Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến mua ở London làm quà tặng tôi cách đó 6 năm. Thấy thế, bà Hương bảo, để tôi mua đền chú chiếc áo khác, chứ ai đời để chú bị hư chiếc áo đẹp. Dĩ nhiên tôi từ chối.
**

Lý do nào lãnh đạo Hà Nội chửi bà là “con đĩ chống đảng?”

Ngồi cạnh cửa sổ căn hộ lầu hai của bà ở Quận 5 Paris, tôi nêu câu hỏi trên. Dương Thu Hương cười, kể lại: “Trong bài diễn văn tôi đọc ở Đại Hội Nhà Văn năm 1989, tôi nói rằng đảng cộng sản phải biết ơn nhân dân. Bởi vì xưa nay họ chỉ nói nhân dân phải biết ơn đảng thôi. Trong bài diễn văn đó, tôi phân tích rằng, cả một dân tộc đã đổ xương máu để kháng chiến chống Pháp và những gì dân tộc đạt được là do truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc nhưng đảng cộng sản đã cướp tất cả công đó và nhận vơ là công của đảng. Họ còn dạy dỗ quần chúng là phải biết ơn đảng. Tôi nói thẳng rằng hành động như thế vừa đểu cáng vừa vô ơn bạc nghĩa và tự cao tự đại. Những kẻ như thế không xứng đáng để lãnh đạo dân tộc.”

Phát biểu tại Đại Hội Nhà Văn thì bà nói thế, nhưng có bao giờ bà bốp chát kiểu như thế với giới lãnh đạo chóp bu của chế độ, Dương Thu Hương cười nửa miệng, nói, “tôi sợ gì chúng nó, tôi từng chửi ‘ỉa vào mặt đảng’”.

Quay lại câu tôi hỏi tại sao bà bị chửi là “con đĩ chống đảng,” Dương Thu Hương (hể hả cười) kể, “năm 1998, trong một hội nghị của trí thức Hà Nội, tôi có đọc bài diễn văn với tựa đề là Nhân Cách Trí Thức. Tại hội nghị đó, ông Nguyễn Văn Linh (Tổng bí thư đảng cộng sản lúc bấy giờ) tỏ ra vô cùng đắc ý với nội dung bài diễn văn của tôi. Ông ta đã ôm tôi thắm thiết và xin bài diễn văn của tôi. Sau đó, vào giờ giải lao, người thư ký của ông ta tìm tôi và chuyển đề nghị của ông Linh muốn tặng tôi một căn nhà tiêu chuẩn dành cho cấp bộ trưởng. Người thư ký này còn đề nghị tôi tạm im lặng để cho đảng tự cải sửa. Tôi trả lời rằng, tất cả những việc tôi làm là vì dân tộc chứ không phải vì bản thân tôi; và tôi không giàu có nhưng cũng có một căn nhà đủ để ở. Tôi còn nói với ông thư ký của ông Linh rằng, hiện giờ đang có hai vạn giáo viên tiểu học ở Hà Nội không có nhà để ở, cho nên nếu nhà nước có ý định thì nên phân phối nhà cho hai vạn người đó.”

Có bao giờ bà mặt đối mặt với ông Nguyễn Văn Linh, tôi hỏi? “Có một lần ông Linh muốn gặp tôi, nhưng tôi từ chối. Tôi còn nhớ, Nhà thơ Giang Nam lúc đó còn sống, chuyển lời của ông Nguyễn Văn Linh mời tôi ăn cơm với vợ chồng ông Linh và cô con gái của ông Linh. Giang Nam còn bảo là ông Linh nói rằng, dù sao chăng nữa thì tôi cũng là người mà nhà nước này yêu mến vì tôi đã tình nguyện chống Mỹ và chống Tàu, và đó là điều chứng minh tôi là người hết sức hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Tôi trả lời thẳng thừng rằng, tôi đã đấu tranh cho tự do dân chủ, tôi chỉ ngồi trên cỏ thôi, nên tôi không chơi với vua quan.

“Tôi nghĩ rằng những lời phát biểu đó của tôi khiến ông Linh phật lòng. Về phương diện cá nhân thì hẳn là ông ấy phải phật lòng, và sau đó thì ông ấy bị sức ép của cánh bảo thủ, nên ông ấy quay ngoắt lại và ông ta đánh vào các nhà văn mà ông ấy từng khuyến khích họ đừng uốn cong ngòi bút. Với cá nhân tôi thì ông ta mắng tôi là ‘con đĩ chống đảng’. Lúc đó tôi nói với một ông trong ban tổ chức đảng rằng, nếu tôi là đĩ thì may cho cái đảng này; nhưng vì tôi không đánh đĩ được cho nên tất cả mọi năng lực của tôi đều dồn vào việc ỉa vào mặt đảng. Họ đã chửi tôi như vậy thì từ giờ trở đi mọi sự đều rõ ràng, không còn con đường thứ ba nữa. Nghĩa là tôi dấn thân đến cùng trong mục tiêu đấu tranh cho dân chủ.

Nhân Dương Thu Hương kể việc Nguyễn Văn Linh muốn tặng bà căn nhà, kẻ viết bài này lại nhớ câu nói để đời của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “Màu Tím Hoa Sim”.

Theo lời Thi sĩ Hà Thượng Nhân kể với kẻ viết bài này, ông Hữu Loan vào Sài Gòn sau 1975 thăm người bạn cũ Hà Thượng Nhân và kể cho người bạn xưng hô “mày tao chi tớ” từ thuở thiếu thời với mình, rằng đảng Cộng Sản muốn tặng ông căn nhà để ông đừng chống đảng nữa, ông trả lời, “tôi không có thì giờ làm nhà vì đang bận làm người”. Hữu Loan còn khẳng định thái độ sống của ông, “cả đời là thanh gỗ vuông chành chạnh, cương quyết không để người ta đẽo tròn lăn đi đâu thì lăn.”

Tác giả “Màu Tím Hoa Sim” đã phải trả giá cho cách sống như “cây tùng trước bão” của mình: Bị chế độ bỏ tù, sau đó bị giam lỏng tại nhà ở Nga Sơn, Thanh Hóa và kiếm sống bằng những chuyến xe kĩu kịt đá và những mớ bánh chui nhủi của vợ.

Dương Thu Hương, những lời đanh thép đánh thẳng vào đảng như thế khiến bà bị bắt vào Tháng Tư năm 1991 và được thả khỏi nhà tù nhỏ ngày 20 tháng 11 cùng năm.
**

Phải chăng Dương Thu Hương cắt máu tình nguyện vào Nam “đánh Mỹ” vì muốn phục vụ đảng Cộng Sản, tôi hỏi câu đó và bị tác giả “Khải Hoàn Môn” đáp trả bằng giọng khinh bạc, rằng “ông Thái lầm rồi,” bà nói, “năm 1968 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không phải vì đảng cộng sản. Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo, và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Lúc 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, tôi chiến đấu hoàn toàn không vì cái đảng gây ra cuộc cải cách ruộng đất thấm đẫm máu người dân như thế”.

Chuyến thăm Dương Thu Hương năm 2005, tôi có nhiều thì giờ mặt đối mặt trò chuyện với bà, nhất là nói về những vấn đề liên quan đến con người và đất nước Việt Nam.

Về những năm tháng bị cuốn vào cuộc tàn sát, Dương Thu Hương cho biết, “đến tận bây giờ, cuộc chiến vẫn ám ảnh tôi. Lúc tôi tình nguyện vào Nam, số học sinh của cả bốn lớp 10 của trường chúng tôi vào chiến trường khoảng 120 người, vậy mà chỉ 2 người may mắn sống sót, là tôi và một người nữa. Tôi thì bị bom làm điếc tai bên phải; người còn lại là cậu Lương thì bị cụt một tay và trở nên ngớ ngẩn. Tất cả những bạn khác của tôi không ai sống sót. Khi tôi đi tìm mộ của những bạn đã chết, tôi mới biết, trong những trận đánh mà bộ đội miền Bắc thua, thì người ta xóa sạch dấu vết và tên tuổi liệt sĩ không được ghi lại. Họ giải thích rằng dân tộc ta là dân tộc anh hùng phải chiến thắng quân thù, nhưng trận này chưa thắng vì vậy không thể kiểm kê các liệt sĩ được. Cho nên hàng trăm người chết dưới đáy hồ, dưới đáy vực mà hoàn toàn không ai tìm được tung tích.”

Đang nói chuyện, nhiều lúc, Dương Thu Hương trôi vào im lặng, tôi có cảm tưởng những bóng ma của cuộc chiến đang quay về ám ảnh bà.

Dương Thu Hương nhắc đi nhắc lại nhiều lần ước mong về một bàn thờ chung cho những người của cả hai miền đã nằm xuống. Bà nói, bất cứ lúc nào bà thắp hương trên bàn thờ Phật, bà cũng khấn nguyện cho vong linh của Bộ Đội miền Bắc và Quân Nhân miền Nam, vì “đó là những người con chung của Tổ Quốc.”

Tôi nói với bà về suy nghĩ của tôi đối với những nỗi oan nghiệt của cuộc chiến. Theo tôi, chỉ một thiểu số của dân tộc là đã tự nguyện đứng dưới lá cờ của Đảng Cộng Sản, còn đa số đồng bào hai miền không ai muốn lao vào cuộc chiến khốc liệt đó. Đồng bào miền Nam thì buộc phải chống lại và chặn đứng tham vọng của giới lãnh đạo Hà Nội muốn biến miền Nam thành một xã hội trại lính kiểu miền Bắc. Còn ruột thịt bên kia vĩ tuyến 17 thì vì bị bưng bứt thông tin, bị tuyên truyền nhồi sọ nên (như Dương Thu Hương) cắt máu ăn thề, quyết “giải phóng miền Nam.”

Nghịch lý và oan khiên là, tôi nói với bà, nếu Dương Thu Hương sinh trong Nam và di cư như tôi, thì Dương Thu Hương đã đứng trong hàng ngũ quân dân miền Nam bảo vệ vùng đất tự do non trẻ này. Và ngược lại, nếu gia đình tôi không chạy thoát năm 1954 và may mắn sống sót ngày tàn cuộc chiến thì tôi cũng là một bộ đội trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn Tháng Tư 1975.
**

Vì bị điếc nặng nên Dương Thu Hương phải nói rất to thì mới nghe được giọng mình. Đi cạnh bà trên đường phố Paris, bà nói như quát khiến nhiều người chung quanh nhìn bà khó chịu. 
 
Ngồi tại một quán cà phê gần Tháp Eiffel, bà nói, mắt long lên sòng sọc: “Chế độ hiện nay chỉ sống bằng xác chết thôi. Nó không có giá trị gì trong thời đại này cả. Những người lãnh đạo chế độ hoàn toàn vô năng và tham nhũng.”

Miên man câu chuyện, tôi hỏi Dương Thu Hương, bà tự nhận là “kẻ làm giặc” ngay trong lòng chế độ, vậy các con bà thiệt thòi ra sao?

“Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường ‘làm giặc’ là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đã xảy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng….và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.”

Tôi gặp cô con gái lớn của Dương Thu Hương khi cháu thăm mẹ ở Paris; hỏi, các cháu có ủng hộ lý tưởng của mẹ không, cô con nói, giọng cũng mang hơi hướng “người rừng” giống mẹ: “Thôi chú đừng nhắc chuyện điên khùng ấy làm gì.”

Còn Dương Thu Hương nói, “đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.”

“Thế còn tình cảm đôi lứa, gia đình của bà?”

Cười, thoáng chút buồn: “Tôi là người hoàn toàn thất bại và bất hạnh trong cuộc sống đôi lứa. Nhưng tôi cũng tự cảm thấy hạnh phúc vì tôi đã tự tiêu diệt tuổi thanh xuân để nuôi con tôi trưởng thành. Con cái tôi không phải bương chải ngoài đường. Trong khi bố nó có thể đi kiếm vài ba người vợ khác. Tôi không cần một xu của ông ta để nuôi con, dù tôi ‘làm giặc’ và chịu nhiều hậu quả. Đấy là điều hạnh phúc. Nếu không tôi sẽ bị lương tâm cắn rứt. Tôi còn một hạnh phúc nữa là tôi đã trả được tất cả những món nợ cho những người bạn tôi đã chết trong chiến tranh. Ít nhất là bằng tác phẩm và những bài viết để vạch trần tội ác của một cuộc chiến phi lý. Tôi cảm thấy hạnh phúc trong sự bất hạnh của mình. Tôi nghĩ rằng số phận đã chọn tôi để trở thành một con người như vậy.”

“Tiêu phí tuổi trẻ trong chiến tranh để rồi sau đó bị chế độ đầy đọa vì ‘làm giặc’, bản thân thì không ai dám giao tiếp vì sợ liên lụy; có bao giờ bà chùn bước và muốn buông xuôi?”

Cười mũi: “Nếu mà tôi chùn bước, buông xuôi thì tôi đã chùn bước, buông xuôi từ lâu rồi.”

“Bà tin vào nhân quả?” “Tôi hoàn toàn tin vào thuyết nhân quả. Tôi hoàn toàn tin vào kiếp sau. Tôi vẫn dạy con tôi phải sống cho có trước có sau. Nhiều người muốn tôi phải thế này phải thế khác. Tôi trả lời rằng tôi không phải gì cả. Tôi chỉ phải sống đúng với những nguyên tắc đạo đức mà gia đình tôi đã dạy tôi và những nguyên tắc mà tôi học được ở đạo Phật. Các con tôi cũng phải theo những nguyên tắc đạo đức đó. Bất luận chúng nó là thường dân hay người lỗi lạc, tôi đối xử như nhau. Tôi không yêu cầu con cái tôi phải trở thành bác sĩ, tiến sĩ…Tôi không yêu cầu như thế. Tôi chỉ duy nhất yêu cầu các con tôi sống tử tế; và đối với tôi đạo đức là cốt lõi.”

Căn hộ Dương Thu Hương có bàn thờ Phật Thích Ca. Có lần bà nói, đạo Phật giúp bà định được tâm mình; rồi bà đùa, “anh Phật quả là đẹp giai thật.” Trò chuyện nhiều với bà thì biết, vẫn không bỏ được cái lối tếu táo “người rừng” chứ thực tâm hết mực thờ kính Đức Thế Tôn.

Dương Thu Hương có nguyên tắc sống đạo đức rạch ròi, không khoan nhượng. Thăm bà ở Paris, xin phép biếu bà chút quà, bà quát lên bảo, không nhận bất cứ vật chất nào của bất cứ ai.

Những bữa cơm tiệm ở Paris, bà giành trả tiền và nói như ra lệnh, “tôi cấm chú trả tiền.”

Đành bó tay chịu thua “mụ nhà quê mắt toét,” cách tôi vẫn gọi chị Hương mỗi khi điện thoại thăm hỏi.

Bốp chát, bỗ bã, không khoan nhượng là Dương Thu Hương.

Đạo đức cốt lõi cũng là Dương Thu Hương.

Bây giờ “Con Sói Đơn Độc” đã bước vào tuổi 70, vậy mà ngọn lửa đấu tranh cho một tương lai Việt Nam tươi sáng vẫn ngùn ngụt cháy trong tim.

Hôm 10 tháng Sáu, 2018, đồng bào trong nước biểu tình khắp nơi chống Dự Luật Đặc Khu Kinh Tế mà Quốc Hội Hà Nội sắp đưa ra biểu quyết cho phép “quốc gia cùng biên giới với tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam” thuê mướn thời hạn 99 năm, Dương Thu Hương viết lá thư ngắn gửi tôi, nguyên văn:

“Từ năm 1986, khi lập nhóm đấu tranh ‘Vì Nước Việt’, tôi chủ động cắt đứt mọi sợi dây liên lạc với mọi người, kể cả những người chung huyết mạch. Vì nhiều lý do. Nhưng không hiểu vì sao tôi lại chấp nhận giao du với chú, tự tôi cũng không hiểu.

Năm 2005, chú sang đây, nhất quyết đòi đến nhà phỏng vấn, tôi đành chấp nhận dẫu rằng trên nguyên tắc, các cuộc phỏng vấn tôi đều phải thực hiện ở các quán cà phê. Công việc xong, chú ngẩng đầu nhìn bàn thờ nhà tôi.

Thấy mắt chú chăm chăm vào pho tượng Phật, tôi bảo tôi đã thờ bức tượng hơn 6 năm và nay Phật đã nhập tâm tôi rồi.  Âu cũng là duyên, nếu chú thích thì tôi tặng chú.

Thế là chú chắp tay vái rồi ôm pho tượng xuống.

Chú đi rồi, tôi chợt nghĩ: Phải chăng ta chấp nhận giao du với con người này vì ở một kiếp xa xôi nào đó cậu ta đã từng là đồng tu dưới cùng một mái chùa.

Bây giờ, tôi là người viết văn và tôi đứng bên ngoài mọi tôn giáo, tôi coi Như Lai như một hiền triết, anh minh và từ huệ, không có tính cách như các vị sáng lập tôn giáo khác.

Ngày 10 tháng Sáu vừa rồi, khi có người nhắn tin cho tôi, tôi gửi lại một lời nhắn:

“Tôi đã chờ ngày này từ hơn 30 năm qua.”

Đinh Quang Anh Thái
(Nguồn: Bau-xít Việt Nam, tháng Hai, 2018)

* “Bên Thắng Cuộc” là tựa một cuốn sách của nhà báo Huy Đức.

Tuesday, 25 April 2023

DƯƠNG THU HƯƠNG NHẬN GIẢI THƯỞNG 200 NGÀN EURO -VC NGẬM BỒ HÒN./-Mt68
_____________
Nhà văn chống Việt+ ẵm giải thưởng Cino Del Duca 200.000 euro, đài báo trong nước hoàn toàn giấu kín, sợ bị người dân biết.

Vào ngày 21 tháng 4 năm 2023, dưới sự đề xuất, với đa số tuyệt đối, của Hội đồng Giải Cino Del Duca Thế giới, do bà Hélène Carrère d’Encausse, Thư ký Thường trực của Viện Hàn lâm Pháp làm chủ tịch, Ủy ban Quỹ Del Duca, do Xavier Darcos, Đổng lý văn phòng của Institut de France, thuộc Viện Hàn lâm nước Pháp, đã trao Giải thưởng Thế giới 2023, trị giá 200.000€, cho bà Dương Thu Hương, nhà văn Việt Nam đang sống tại Pháp.
Việc nhà văn Dương Thu Hương được trao giải Cino Del Duca là một sự kiện lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Đó cũng là một cú đấm vào bộ mặt chế độ Việt Nam vì những tác phẩm của bà thể hiện sự bất mãn của bản thân bà đối với chế độ cộng sản độc tài toàn trị. Bà đã từng phải vào tù vì dám lên tiếng phát biểu phê phán việc áp dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam và phản đối độc quyền của đảng cộng sản.
Hiện nay, các tác phẩm văn chương của bà vẫn bị cấm tại Việt Nam vì lý do chính trị.
Giải thưởng Thế giới Cino Del Duca sẽ được trao cho Dương Thu Hương dưới Mái vòm của Institut de France, Viện Hàn lâm Pháp, trong buổi lễ long trọng trao các Giải thưởng Lớn của Viện, vào ngày 21 tháng 6 năm 2023.


Nhắc đến Dương Thu Hương, người viết chợt nhớ đến lời nhận xét của một dịch giả nổi tiếng trong nước, khi gặp ông tại Lausanne, Thuỵ Sĩ: “Văn chương của Dương Thu Hương không có gì đặc biệt và khó đọc”. Khi ấy người viết có nói rằng “khó đọc” có lẽ vì nó trần trụi và khốc liệt khi phơi bày những sự thật, những nỗi thống khổ của người dân Việt Nam trong cái nhà tù khổng lồ lộ thiên! Văn chương của bà là thứ văn chương phản kháng mà không phải ai cũng có cái dũng và sự can đảm để viết…
Mong rằng Dương Thu Hương, một ngày không xa, sẽ được trao giải Nobel Văn học, để làm “thoả lòng” ông Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Chủ tịch nước, khi ông này phát biểu: “Tôi luôn mong ước một ngày không xa Việt Nam sẽ có nhà văn đạt giải thưởng Nobel Văn chương, mang đến niềm tự hào cho đất nước. Tôi có niềm tin mạnh mẽ vào tất cả các nhà văn, tác giả trẻ hôm nay”.
Biết đâu, “niềm tự hào” ấy lại đến từ một ngòi bút sắt thép của một nữ nhà văn bất đồng chính kiến, đang phải sống tha hương, không hề run sợ, chùn bước trước bạo tàn và khủng bố của bộ máy độc tài toàn trị.
Lâm Bình Duy Nhiên

NĂM 1989, DƯƠNG THU HƯƠNG BỊ KHAI TRỪ KHỎI ĐẢNG CSVN. NĂM 1991 BÀ BỊ TỐNG GIAM... TRONG KHI NHIỀU TÁC PHẨM CỦA DƯƠNG THU HƯƠNG ĐƯỢC DỊCH SANG CÁC NGÔN NGỮ KHÁC VÀ PHÁT HÀNH RỘNG RÃI BÊN NGOÀI VIỆT NAM THÌ CHÚNG BỊ CẤM XUẤT BẢN TẠI VIỆT NAM.
Không có bất kỳ cơ quan truyền thông chính thức nào tại Việt Nam đề cập đến sự kiện - ngày 21/4/2023, Ban Giám khảo “Cino-Del-Duca” công bố quyết định trao tặng giải năm nay cho bà Dương Thu Hương nhằm “tôn vinh một nhà văn lớn vì nhân cách và sự nghiệp xuất sắc, truyền đi thông điệp về chủ nghĩa nhân văn hiện đại” dẫu “Cino-Del-Duca” là một loại giải thưởng quan trọng, chỉ sau giải Nobel về Văn học.

Tương tự, phần lớn cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam lờ đi sự kiện ông Đặng Tiến – một trong rất ít người dành gần như trọn cuộc đời để nghiên cứu về văn học Việt Nam – đã qua đời tại Pháp hôm 17/4/2023. Một số cơ quan truyền thông như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ,... trót loan tin này thì vội vàng đục bỏ. Theo vài nguồn thạo tin, lờ đi hay vội vàng đục bỏ là vì có “lệnh” từ Bộ Thông tin – Truyền thông.

Khi còn trẻ, bà Dương Thu Hương tình nguyện tham gia lực lượng Thanh niên xung phong để “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Bà gia nhập đảng CSVN và là một trong những người đầu tiên được cử đi học Trường Viết văn Nguyễn Du... Tuy nhiên chính quyền Việt Nam sớm thất vọng về bà vì nhiều tác phẩm của bà (Bên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù,...) chỉ trích thể chế chính trị tại Việt Nam.
Năm 1989, Dương Thu Hương bị khai trừ khỏi đảng CSVN. Năm 1991 bà bị tống giam... Trong khi nhiều tác phẩm của Dương Thu Hương được dịch sang các ngôn ngữ khác và phát hành rộng rãi bên ngoài Việt Nam thì chúng bị cấm xuất bản tại Việt Nam. Bên ngoài Việt Nam, Dương Thu Hương được chọn - trao một số giải thưởng đáng giá (Huân Chương Văn hóa Nghệ thuật của Pháp – 1994, Giải do độc giả Tạp chí Elle bầu chọn – 2007) nhưng tại Việt Nam thì bị cô lập, bị truy bức nên năm 2006, bà rời Việt Nam...
Khác với Dương Thu Hương, Đặng Tiến sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam. Ông tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn và bắt đầu nghiên cứu – viết phê bình văn học từ đầu thập niên 1960, sau đó sang Pháp, trở thành Giảng viên về Việt học của Đại học Paris VII cho đến khi về hưu (2005). Trong cuộc nội chiến ở Việt Nam, Đặng Tiến là người không giấu diếm thiện cảm với miền Bắc Việt Nam. Đến cuối đời ông tham gia Văn đoàn Độc lập – tổ chức bị cáo buộc chống chính quyền chỉ vì khước từ sự lãnh đạo của đảng.
Chỉ lược thuật ngắn gọn như thế về tiểu sử bà Dương Thu Hương và ông Đặng Tiến có lẽ cũng đủ để thấy họ có đóng góp gì cho văn hóa Việt Nam hay không. Thế thì tại sao hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam không dám – chính xác hơn là không giới thiệu, ghi nhận, thậm chí có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy là chính quyền không cho phép cả tưởng niệm khi họ qua đời?

Cuối năm 2021, Bộ Chính trị và Ban Bí thư BCH TƯ đảng CSVN tổ chức “Hội nghị Văn hóa Toàn quốc”. Hội nghị này được xem là một bước ngoặt về nhận thức của giới lãnh đạo chính quyền Việt Nam sau khi Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 13 ra một nghị quyết, nhấn mạnh và đề cao tầm quan trọng của văn hóa. Vào thời điểm đó, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, từ 1946 tới nay, đây là lần thứ hai đảng CSVN tổ chức “Hội nghị Văn hóa Toàn quốc”.
Theo ông Trọng: Đảng CSVN luôn luôn coi trọng vai trò của văn hoá và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội (3).
Từ “Hội nghị Văn hóa Toàn quốc” lần thứ hai đến nay đã hai năm, liệu “công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” có khác gì so với “công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc” mà ông Hồ Chí Minh khởi xướng hồi 1946 khi tổ chức “Hội nghị Văn hóa Toàn quốc” lần thứ nhất?
Có! Tuy cách hành xử với những người không tán thành chủ trương, đường lối của đảng CSVN vẫn khắc nghiệt, tàn bạo như trước và hai sự kiện vừa đề cập, một liên quan đến bà Dương Thu Hương, một liên quan đến ông Đặng Tiến là hai ví dụ mới nhất, do thời thế rõ ràng đã khác nên ngoại trừ nỗ lực triệt tiêu đối kháng và những cá nhân muốn độc lập về nhận thức, đảng khuyến khích hệ thống truyền thông chính thức hướng công chúng đến những mục tiêu mới hơn.
Ví dụ như báo chí cách mạng có thể thoải mái xưng tụng những Maria Ozawa, Eimi Fukada,... – các diễn viên phim khiêu dâm của Nhật – là... “Thánh nữ”. Sau khi báo chí cách mạng mở đường (4), các trang tin điện tử có tên miền “.vn” – những website được chính quyền cấp giấy phép và giám sát nội dung, còn bộ phận điều hành các trang tin này luôn dựa vào “chủ trương, đường lối” để bảo đảm nội dung... “đúng định hướng” - bắt đầu bám sát hoạt động của các... “Thánh nữ”.
Trên các kênh truyền thông tại Viẹt Nam, chuyện ông Đặng Tiến mới qua đời hay bà Dương Thu Hương vừa được chọn trao giải “Cino-Del-Duca” 2023 không đáng bận tâm bằng: Thánh nữ Mari Ozawa vừa thông báo trên trang cá nhân của cô là cô mới check-in tại phố đi bộ Hà Nội và tạo dáng tại một di tích lịch sử vào trưa 19/4/2023 (5). Hay... Eimi Fukada vừa đến TP.HCM để tham dự Hobby Horizon (diễn ra trong hai ngày 23 và 24/4/2024 tại Công viên Phần mềm Quang Trung), dù giá vé rất chát (năm triệu đồng/vé) nhưng được dự đoán sẽ sớm hết vì rất nhiều người hâm mộ muốn gặp gỡ, trò chuyện riêng tư với thần tượng (6)...
Cách nay hai năm, ở “Hội nghị Văn hóa Toàn quốc” lần thứ hai, ông Trọng tuyên bố, đại loại: Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì đã nói đến văn hoá là nói đến những thứ là tinh hoa, tinh tuý nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ. Còn những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bỉ ổi... là vô văn hoá, phi văn hoá, phản văn hoá. Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng.

Saturday, 31 October 2015

THỤY KHUÊ: DƯƠNG THU HƯƠNG LÀ VIÊN PHÂN PHẢN GIÁN CỦA HÀ NỘI ./- Mt68

KHI NHỮNG NHÀ VĂN VIỆT NAM LƯU VONG ĐÁNH ĐU VỚI TINH
NGUYỄN THIẾU NHẪN

Cuối thập niên 90, VC chuẩn bị đưa các nhà văn ở trong nước ra hải ngoại để thực hiện kế hoạch giao lưu văn hoá một chiều. Một số nhà văn Việt Nam lưu vong đã (vô tình hoặc cố ý) “đánh đu với tinh” là đã công khai ca tụng các nhà văn ở trong nước lên tới tận mây xanh.
“Nhà phê bình nổi tiếng Thụy Khuê, từ kinh đô ánh sáng Ba Lê thường phê bình rằng văn nghệ sĩ hải ngoại, vốn xuất thân từ miền Nam cũ, viết văn không có giá trị bằng những nhà văn cộng sản.
Vào tháng 9 năm 1991, trong bài “Đập Vỡ Cái Ghetto” đăng trên tập san Thế Kỷ 21, số 29 xuất bản tại miền Nam California, bà Thụy Khuê (TK) đưa ra con số 2 triệu người đi trốn Cộng sản ở khắp nơi trên thế giới, so với con số 60 triệu dân trong nước, bà kết luận rằng: “Về mặt nhân tài, nếu theo tỷ lệ 2/60 hay 1/30 mà định   thì so với người trong nước, con số nhân tài chúng ta hạn hẹp lắm”.
Có lẽ để chứng minh nhân tài nở rộ trên đất nước “Bác” Hồ, bà TK đã đứng ra lo xuất bản quyển “Tiểu Thuyết Vô Đề” của nhà văn nữ cộng sản  DTH, với lời giới thiệu: “Tiểu Thuyết Vô Đề” nhắm vào cái phần cốt tủy của huyền thọai “chống Mỹ cứu nước”, vạch trần mặt trái của những lý tưởng cao đẹp, mặt sau của những khải hoàn môn, mặt nạ đã trở nên những khẩu hiệu trống rổng: Tổ Quốc – Nhân Dân – Chính Nghĩa - Tự Do - Quốc Gia – Dân Tộc… vì người ta lạm dụng và dày xéo quá nhiều lần”.
… DTH là một hiện tượng hiếm có, một viên ngọc trong đám sình lầy đang ô nhiễm quê hương”.
Tưởng rằng hoàng hậu sẽ biết ơn kẻ có công phong vương cho mình, không dè Dương Hoàng Hậu ngồi trên ngai vàng vói tay xuống tặng cho TK một cái tát đau điếng bằng bản “Tự Bạch” dài 16 trang viết tay đề ngày 12 tháng 8 năm 1991, ghi là viết trong tù. Dương Hoàng Hậu ung dang trả lại vương miện cho TK, rằng: “Với một lời khen hết cỡ như vậy, ai đó – khác tôi, sẽ vô cùng mãn nguyện, bởi, phàm là người nói chung ai chẳng thích vuốt ve. Nhưng đáng tiếc, tôi thì không”.
Rồi DTH: “Yêu cầu cuốn Tiểu Thuyết Vô Đề không được tái bản hay dịch ra bất cứ thứ tiếng nào khác” vì quyển sách ấy “đã bị những người chống Cộng cực đoan lợi dụng một cách triệt để nhằm chống lại kẻ thù của họ tức Chính Quyền Hà Nội”. Vì “đó là một cơ may để những người chống Cộng cực đoan bộc lộ những hiềm thù chưa phỉ, cũng như mối căm uất của những kẻ thua trận chưa có cơ hội giải toả” và chiến dịch này đã gây ra những thất thiệt cho nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
Cái tát tai này đã được chính bà TK và những nhà văn, nhà báo, bình luận gia phản ứng. Nhà văn Nhật Tiến nhảy vào can hai bà; vì ông quý trọng cả hai ngòi bút, nên kết luận rằng: “DTH và TK đều là hai kẻ đồng hành, đi giữa hai lằn đạn”.  (Trích “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ”, tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ).
Ông Trần Bình Nam, cố vấn của Tổ Chức Phục Hưng, lúc đó đã có nhận định về cái gọi là “Tự Bạch” của DTH như sau:
“Bà DTH đã lẫn lộn giữa khẩu hiệu tuyên truyền và bản chất thật của vấn đề. Người Mỹ không đến Việt Nam để xâm lăng cho nên “chống Mỹ cứu nước” thuần túy chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền của đảng CSVN dùng để lường gạt , đẩy những thanh niên đầy nhiệt huyết như bà Hương ra chiến trường chết để họ thiết lập nền chuyên chính vô sản lên cả nước. Bà DTH có quyền tự hào vì trong quá khứ bà đã hành động như một người yêu nước, mặc dù là “người yêu nước bị lừa gạt,” nhưng cũng không có gì để bà DTH biến sự lừa gạt thành huyền thoại của đời mình, và qua đó biến khẩu hiệu tuyên truyền thành một mục tiêu để tôn vinh. Bà DTH sẽ nghĩ như thế nào nếu năm 1945 khi quân đội Mỹ để bộ lên bờ biển Normandie, dân Pháp theo lời kêu gọi của chính phủ Vichy lên đường “chống Mỹ cứu nước”?
Nhưng điều khó hiểu nơi bà DTH là trí óc minh mẫn và thông minh tuyệt vời của bà không phù hợp với những gì quá tầm thường mà bà đã viết trong bản Tự Bạch về Tiểu Thuyết Vô Đề.
Nhưng dù cho bản Tự Bạch về Tiểu Thuyết Vô Đề có mục đích chạy tội, một hành động rất bình thường với một người nào khác, trong trường hợp bà DTH thì phải nói là thật đáng tiếc. Bà DTH đã tự tay hạ một dấu chấm hết vào ngôi sao đang lên của bà.”  
Là người edit, viết “Lời Bạt” và đặt tên quyển tiểu luận “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” của nhà văn Nguyễn Việt Nữ được xuất bản và phát hành vào năm 1993, theo tôi, “Ý kiến Thẩm Định cuốn “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” của bình luận gia Thế Huy ở Paris vào năm 1994 là chính xác nhất về những việc làm của DTH từ trước đến nay.
“… Viết tác phẩm này đều năm 1993, khi hầu hết những người Việt hải ngoại chưa ai gặp DTH, Nguyễn Việt Nữ (NVN) đã nhìn thấy được bản chất của DTH và những gì người nữ văn cộng CS này viết trong “Tự Bạch về Tiểu Thuyết Vô Đề” là tiếng nói gián tiếp của nhà cầm quyền (do tác giả bài này in đậm). Chỉ riêng nhận xét đó khiến mọi người phải nhìn nhận rằng NVN là người tinh tế. Bởi qua những bài tham luận chỉ trích giới lãnh đạo và nhất là khi DTH bị bắt, rất nhiều người đấu tranh  và giới cầm bút VN cũng như hầu hết trí thức VN tại hải ngoại đã nhìn DTH với tất cả mọi hào quang rực rỡ khiến nhiều cuộc tranh luận gay gắt và đáng tiếc đã xảy ra trong hàng ngũ người Quốc Gia về người nữ văn công CS ấy. Những lời ca ngợi quá lố và có tính cách kết thân hoặc như một móm quà ra mắt đó, đã làm cho DTH nhìn người Việt Quốc Gia như đám người dựa hơi, tâng bốc qua đoạn nói với “ông Thụy Khuê” trong phần đầu của Tự Bạch…. NVN nhắm vào “Tự Bạch”, bởi nó là tiếng nói thật, là sự phân bua “đầy dụng ý” của DTH về những đòn phép, mánh mung rất phức tạp xung quanh quyển tiểu thuyết trên. Người ta cũng có thể hiểu nó là một thứ Sứ Điệp của người Cộng Sản gửi những nạn nhân nhu nhược trong hàng ngũ người Quốc Gia để chiêu dụ họ quy hàng, thống hối! NVN đã nhìn ra được dụng tâm của người Cộng Sản trong từng chữ viết của DTH, để qua đấy, chỉ cho “chúng ta thấy được những dự tính của CSVN trong những ngày sắp tới.” (Trích Bđd).
*
DTH sau đó lại còn nổi nang hơn với “chuyện tình trên sông Đà” với anh bác sĩ già không nên nết Bùi Duy Tâm (BDT). Lão bác sĩ già ó đâm “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản” này đã tỉ tê với người đẹp DTH vốn là “thanh niên xung phong” là “đôi ta là đôi giao long, ngày anh về làm Thủ Tướng, em sẽ là Đệ Nhất Phu Nhân”. Bà “Đệ Nhất Phu Nhân To-Be” DTH bị Tướng Công An VC Dương Thông họp báo phổ biến chuyện bà này “làm tình trên cạn, làm tình dưới nước” với Việt kiều BDT. Bà này sau đó còn viết một bức thư dài và nói “lời sốc, ý ngốc” là chuyện “bác sĩ BDT ra hải ngoại rêu rao là đã chiếm đoạt thân xác của tôi chỉ là chuyện tôi chỉ cần nhổ một bãi nước bọt là xong (sic!)”.
Năm 2006, DTH được VC cho qua Pháp để cùng với các ông Bùi Tín, Vũ Thư Hiên… tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho VN; nhưng y thị đã lòi mặt “phản kháng vờ” khi viết quyển “Đỉnh Cao Chói Lọi để ca tụng Hồ Chí Minh! Mấy năm trước, bị tên “Vẹm con” Huy Đức vạch mặt “nổ sảng, nổ sằng” khi viết Mỵ Châu là con gái của Triệu Đà. Y thị đã tuyên bố nghỉ viết vì đã “bị lão hoá”. Nay, lại được đài RFA lôi lên để “nhìn lại ngôn từ” về “Ngày Quốc hận” và“Ngày Giải phóng của dân tộc” lại tiếp tục nói những “lời sốc, ý ngốc” chả ra làm sao cả. Ngay cả chuyện khi y thị cho rằng Nguyễn Văn Trấn, nói rằng “nhà của người ta lấy, vợ của người ta ngủ…” càng chứng tỏ y thị đã bị… tửng tửng cái đầu. Người nói câu nói này là tên hung thần Nguyễn Hộ, tác giả “Quan Điểm và Cuộc Sống”: “Nhà của ngụy ta ở, vợ của ngụy ta xài, con của ngụy ta sai, còn ngụy thì ta đày bọn chúng lên rừng thiêng nước độc” là nguyên văn câu nói của thằng VC ác ôn này.
“Bà DTH lớn lên trong chế độ CS, nhưng chế độ không có dạy văn hóa cho nên bà không được hiểu về lịch sử VN cũng như lịch sử thế giới cho nên bà mới lầm lẫn. Nhưng RFA là 1 cơ quan văn hóa quốc tế thì tại sao họ lại tung nó ra cho người Việt? Cơ quan văn hóa quốc tế mà mù văn hoá đến như vậy sao?”
Tác giả Bùi Anh Trinh trong bài “Người Việt chống Cộng trả lời RFA và Dương Thu Hương” đúng là đặt câu hỏi khó cho đài RFA mà dư luận còn gọi là “đài Tiếng nói VC ở DC”. Chuyện dễ hiểu, cũng như DTH, đài RFA chỉ là những kẻ ăn cơm chúa phải múa theo lời dạy bảo của ai đó mà thôi!
Sở dĩ tôi viết bà nhà phê bình Thụy Khuê đã (vô tình hay cố ý) đánh đu với tinh là từ Paris đã nhờ ông Từ Mẫn (Võ Thắng Tiết) nhà xuất bản Văn Nghệ (nay đã ngưng hoạt động) in và phát hành quyển “Tiểu Thuyết Vô Đề” trong đó DTH vô cùng cường điệu “khi kể lại chuyện lính thám báo của miền Nam đã hiếp dâm các thanh niên xung phong, hiếp xong lại cắt vú, xẻo cửa mình của họ vất vung vải khắp nơi”.
Những người lính của QLVNCH đều biết quy luật của những người lính thám báo là bảo mật không để lộ tung tích. Chuyện lính thám báo miền Nam hãm hiếp thanh niên xung phong, hãm hiếp xong lại cắt vú, xẻo cửa mình vứt vung vải khắp nơi – như DTH viết - quả là chuyện ngoài sức tưởng tượng chỉ có nhà phê bình Thụy Khuê, một người du học và ở lại Pháp mới tin chuyện này là có thật. (Xin xem phần phụ đính).
Ở California, một số nhà văn đếm trên đầu ngón tay hớn hở “đánh đu với tinh” là các nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, những người thay phiên nhau điều hành tạp chí Văn Học xuất bản tại Nam California.
Những năm đầu thập niên 90, các nhà văn này đã tham dự cuộc hội thảo “Bể Dâu” do tên Việt Cộng nằm vùng Vũ Đức Vượng tổ chức. (Tên này hiện nay đã về VN giữ chức Giám đốc Chương Trình Năm Học Nước Ngoài). Cũng như các nhà văn này đã tham dự cuộc hội thảo do “nhóm văn học với danh hiệu là Ink and Blood (Mực và Máu)” trình bày hai chủ đề . Phần thứ nhất có tựa là A Soldier Named Tony D. thực hiện bởi Nguyễn Quý Đức dựa vào câu chuyện ngắn của nhà văn VN còn ở trong nước là Lê Minh Khuê. Nhà văn này cũng có mặt trong cuộc hội thảo này. Phần thứ hai là bình văn lấy từ cuốn tuyển tập truyện ngắn “The Other Side of Heaven” (Phía Bên Kia Thiên Đường) phần này trình bày bởi các nhà văn Hoa Kỳ Wayne Karlin, George Evans và các nhà văn VN Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái (xin xem phần phụ đính).
Cuốn “The Other Side of Heaven” là một tuyển tập gồm 18 truyện ngắn nguyên bản Anh ngữ và có một số dịch ra từ Việt ngữ. Nhà văn Hoa Kỳ Wayne Karlin đã củng Trương Vũ (tức Trương Hồng Sơn) tại Hoa Kỳ cùng tuyển chọn các truyện ngắn của các nhà văn Mỹ và nhà văn VN, cả trong lẫn ngoài nước để phát hành. Nhà xuất bản Curbstone Press bình luận rằng đây là một tuyển truyện về hậu chiến VN “đau thương nhưng cũng kỳ diệu.”
12 truyện ngắn của tác giả VN thì có 4 truyện ở trong nước (Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái) và 8 truyện của nhà văn VN hải ngoại (Võ Phiến, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Mộng Giác, Trần Vũ, Nguyễn Xuân Hoàng, Andrew Lâm, Phan Huy Đường và Lai Thanh Hà).
Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng đã qua đời. Hoàng Khởi Phong, theo nhàvăn Văn Quang thì đã về VN để sinh sống. Nguyễn Quý Đức là con của cụ Nguyễn Văn Đãi, từng bị VC giam giữ vì giữ chức Đại biểu Chính phủ Miền Trung/VNCH. Anh nhà báo này đã về Hà Nội mở quán cà phê để sinh sống.
 *
Xin mời độc giả đọc phần phụ đính là bài viết “Có những nhà văn như thế đó” của nhà văn Huy Phương viết về các nhà văn Hồ Anh Thái, hiện là Phó Đại sứ VC tại Iran, Tạ Duy Anh, Dương Thu Hương với những dòng chữ đọc lên nghe lạnh gáy như:
“Giết người lúc ấy sao mà sướng thế!”.
Và đọc để thấy rõ ràng là nhà phê bình Thụy Khuê đã đánh đu với mụ chằn tình gấu ngựa Dương Thu Hương với “khoái cảm (giết người) không che đậy.”
NGUYỄN THIẾU NHẪN 
San José 10-30-2015

*
*   *

PHỤ ĐÍNH
Có những nhà văn như thế đó   - *Huy Phương

Hồ Anh Thái, sinh năm 1960 tại Hà Nội, là một nhà văn đương thời của Việt Nam, từng là chủ tịch Hội Nhà Văn Hà Nội trong vòng 10 năm, tác giả của gần 30 tác phẩm và đoạt bốn giải thưởng “nội địa.” Ông được xem thuộc thế hệ nhà văn thời hậu chiến và là một nhà ngoại giao, tiến sĩ Văn Hóa Đông Phương, hiện giữ chức vụ phó đại sứ Việt Nam tại Iran.

Nói về Hồ Anh Thái, Anh Chi, trong tạp chí Nghiên Cứu Văn Học Hà Nội đã ca tụng: “Bây giờ nhìn nhận hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái, chúng tôi nghĩ, anh đã và đang tiếp tục sáng tác những tác phẩm chứa đựng nhiều phẩm chất văn hóa,” hay “...Với lao động sáng tạo liên tục và mang tính chuyên nghiệp, anh đã thể hiện bản lĩnh của một nhà văn hàng đầu ở Việt Nam trong thời đại văn chương nước ta hội nhập với văn chương thế giới!” Nói chung Hồ Anh Thái được ca tụng như một nhà văn lớn, có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam.


Như vậy, khi Bắc Việt chiếm miền Nam, Hồ Anh Thái mới 15 tuổi, chưa đến tuổi ra trận, trước 1975 chỉ mới là loại thiếu nhi khăn quàng đỏ, đánh trống ếch và thuộc lòng “ai yêu bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng,” bị nhiễm độc bằng lối tuyên truyền xảo trá Mỹ đang xâm lược miền Nam và lính ngụy là bọn ăn thịt người. Thời nhỏ, có thể Hồ Anh Thái mục kích cảnh máy bay Mỹ dội bom xuống Hà Nội, thấy lửa cháy và những cái chết, muốn trở thành nhà văn, nhưng nếu muốn viết về chiến tranh, phải cần có kinh nghiệm sống, hay học hỏi, nghiên cứu, chứ không phải qua những câu chuyện kể của những người đi xâm lược miền Nam trở về sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Khi đã trở thành người thắng cuộc, ai cũng là anh hùng, người lính có bao nhiêu điều phấn khởi, hả hê, khoác lác để kể chuyện cho bọn trẻ đang ngóng tai nghe. Một trong những đứa trẻ ấy lớn lên trở thành một nhà văn viết về chiến tranh, mà kinh nghiệm sống là chỉ cần nghe những kẻ bốc phét, hoang tưởng, kể lại những chuyện không có được một phần nghìn sự thật.

Câu chuyện lính ngụy ăn gan người, uống máu có lẽ đã được mô tả trong nhiều tác phẩm của các nhà văn miền Bắc trong và sau chiến tranh, chỉ với mục đích gây lòng căm thù cho quần chúng, nhưng nhà văn mới lớn sau 1975, Hồ Anh Thái đã đi quá đà, thêm câu chuyện moi gan, ăn tim bằng cách mô tả lính ngụy “quay” tử thi Việt Cộng, rồi “róc thịt uống rượu!” như sau:
“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị bằm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội.”

Trong một cảnh khác, lính ngụy không quay Việt Cộng như quay heo, mà chỉ nổi lửa để nướng tim, gan ăn tại chỗ, đặc biệt trí tưởng tượng của nhà văn bắt đầu đi đến chỗ điên khùng khi viết: “Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”
“...Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”

Hồ Anh Thái có thể chỉ nghe kể lại qua một nhân vật ngôi thứ ba, với chuyện lính ngụy quay người, moi tim gan uống rượu, nhưng với Dương Thu Hương, như lời người kể chuyện thật với nhân vật “chúng tôi” nói về lính thám báo miền Nam, hiếp dâm, xẻo vú và cửa mình thanh nữ xung phong miền Bắc:
“...Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.

Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! Những cái xác bầm đập méo mó! Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phung lỡ hay một con cóc chết!” (Tiểu thuyết Vô Đề)

Phải chăng vì bọn ngụy ác độc, man rợ như vậy nên miền Bắc có quyền vẽ lên hình ảnh “người lính cụ Hồ” đáp lễ với những cách người hả hê, khát máu, để làm gương cho cả một thế hệ sôi sục vì căm thù:
“Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe ‘thụt’ một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giãy chết như con tôm sống bị ném vào chảo m...ỡ.” (Tạ Duy Anh, “Đi Tìm Nhân Vật,” tiểu thuyết, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002.)

Tôi ở miền Nam, không biết ngoài mặt trận “con ngụy cái” này là ai, vì chúng tôi không có nữ quân nhân tham chiến, không lẽ đây là một người đàn bà trong ngôi làng, một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn để lính Bắc Việt trút hết nỗi căm hờn và thỏa mãn thú tính lên cao độ như thế, một con chó cắn người hay một con cọp vồ mồi cũng không “thú” hơn” là chất “thú” của một người lính Việt Cộng?

- “Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!”

Ở ngoài mặt trận, không giết người thì người giết. Nhưng giết người mà thấy khoái cảm thì nhân loại chỉ thấy có người lính Bắc Việt. Ngay cả ISIS cắt cổ người cũng không có cái hả hê như thế! Tạ Duy Anh còn không che đậy, nói rằng “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình!” Thì ra thế là đấu tranh, không phải tạo hạnh phúc cho người khác, mà là nếu họ hạnh phúc hơn mình, hãy giết hết họ, chẳng qua vì lòng ganh ghét.

Đó là nguyên nhân rõ ràng của “cải cách ruộng đất,” vì họ giàu hơn mình, của “thảm sát Mậu Thân,” vì họ sướng hơn mình.

Với Tạ Duy Anh “giết người thấy sướng,” đối với Dương Thu Hương “với khoái cảm không che đậy”:

“...Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã xọc lê từ họng xuống tim, kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái, kẻ gã lại đâm từ hạ bộ ngược lên ở bụng. Kỳ thú nhất là một lần đánh ấp, gã bò vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy, chờ tên này dính chặt với cô vợ trắng phôm phốp của y như một cặp cá thờn bơn, gã mới phóng lê từ trên xuống. 'Một xọc xuyên hai, bảo đảm là sướng mắt...'” (TTVĐ- chương 11)

Một sự thèm khát đầy dục vọng, ở đây Dương Thu Hương rất giống Tạ Dụy Anh hay Tạ Duy Anh rất giống Dương Thu Hương, ở chỗ “niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực.”

Đó là chưa nói đến chuyện bừa bãi, vô lý trong tình tiết một tên bộ đội bò “vào phòng riêng một tên sĩ quan ngụy,” “bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào, vừa bóp cò,” thám báo hoạt động trong lòng địch mà nổi lửa quay người hay hiếp dâm, xẻo vú!
Chuyện căm thù, dã man của người lính miền Bắc đã để lại trong một câu chuyện có thật, đó là cái chết của nhà văn Y Uyên, người sĩ quan của TK Bình Thuận năm 1966.

“Trên thân xác của Uy, khi chở về quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.”
Tôi xin nhường sự phê phán ấy cho một nhà văn miền Nam:
“Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ròng rã hơn 20 năm này, những người lãnh đạo Cộng Sản đã dạy cho binh lính của họ như thể nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lý - Ừ, thì cứ cho là hợp lý. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng Sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín.” (“Núi Tà Dôn và Dấu Chân Uy” của Lê Văn Chính -Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 Tháng Năm, 1969)

Bốn mươi năm đã trôi qua, bây giờ người ta đang nói chuyện “hòa hợp hòa giải,” “khép lại quá khứ,” nhưng sau 40 năm cũng là lúc đã nhìn rõ mặt nhau. Có những nhà văn như thế đấy! Nếu có một cuộc xét lại, những nhà văn miền Bắc sẽ nghĩ gì về những tác phẩm “hoang tưởng” như thế? Và dù sao thì nó cũng đã để lại những vết dơ của nền văn hóa XHCN, còn ảnh hương lâu dài đến những nhận thức của những lớp người mới lớn lên sau khi Sài Gòn đổi tên.

Để kết luận bài này tôi xin ghi lại những câu thơ đầy lương tri của miền Nam viết trong chiến tranh:
“...Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”
(Nguyễn Bắc Sơn)

“...Trời ơi, những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?”
(Tô Thùy Yên)

Saturday, 25 April 2015

CON ĐIẾM HỘ LÝ DƯƠNG THU HƯƠNG LẠI NGỨA CỬA HẬU BẮC VẸM./- Mt68

From: Tuyen Le <lethanhtuyen47@gmail.com>
Date: 25 April 2015 2:38:17 pm AEST
   Chúng ta chớ thấy bà DTH căm hận CS bắc Việt mà lầm bà ta đứng về phía
mình.Bà ta giận đảng CS cũng giống như giận ông cha của bà mà thôi,dù giận
tới đâu thâm tâm bà ta cũng cứ coi đảng là cha,không thể từ bỏ.Tức là bà ta
vẫn coi sự việc ăn cướp miền nam của đảng đúng là "giải phóng",mặc dù bà ta
không biết "giải phóng"cái gì,trong khi người nam luôn nói với họ "giải phóng 
cái mả mẹ mày ! Ăn cướp chớ giải phóng gì?"Nói chung,chúng ta nếu hiểu bà
ta vẫn luôn coi đảng là cha,mới hiểu vì sao bà không chấp nhận hai từ Quốc 
Hận.Thử hỏi,người nam oán hận nỗi gì khi đảng của bà "giải phóng"cho họ?
Theo ý của bà,lẽ ra người nam nên coi ngày ấy là ngày vui mừng mới phải.
Chỉ vì bà là người bắc,chẳng biết cóc gì tình cảnh người nam sau mấy ngày
ấy.Hơn nữa,lúc đó bà ta đang hưởng nhiều "chiến lợi phẩm", thì sao hiểu nỗi
tình cảnh đau thương khốn nạn của người miền nam?Bà muốn người nam vui
mừng sao được, khi mà tài sản nhà cửa của họ "được" đảng của bà "giải 
phóng" sạch trơn?Bà ta là "phe thắng cuộc",đang được ăn no măc ấm bồi
dưỡng đầy đủ,làm sao biết được tình cảnh bi đát của người miền nam,khi họ
nhờ đảng của bà mà thành giai cấp vô sản trắng tay?Bà có biết người nam bấy
giờ nhiều người trở thành "ngoại già ôm cháu dại,gánh hàng rong ngày tháng
mắt đăm chiêu" hay không?Nếu biết những điều ấy,ắt bà sẽ thấy không còn từ
nào chính xác hơn từ Quốc Hận.Không phải chỉ một vài người căm hận,mà có
tới mấy chục triệu đấy bà ạ.Bà là người trí thức,ắt biết chỉ cần phân nửa dân
Việt căm hận cũng đủ để gọi Quốc Hận rồi chớ?Bà luôn coi đảng là cha,nếu 
bà không hận là quyền của bà,nhưng bà chớ cấm dân Việt căm hận.Tóm lại,
tuy bà ra vẻ ly khai CS,rốt cuộc những điều mà đảng nhồi sọ vẫn còn giữ trong
não bà.Thật ra bà chưa bao giờ thoát khỏi được đảng,nghĩ cũng đáng thương.

Vào 09:40 Ngày 24 tháng 04 năm 2015, Bkk Kk<baokimky@yahoo.com> đã viết:

On Friday, April 24, 2015 9:35 AM, Bkk Kk <baokimky@yahoo.com> wrote:


On Friday, April 24, 2015 12:49 AM, "doando0952@gmail.com" <doando0952@gmail.com> wrote:

Chuyễn đễ xem !
ĐoànĐỗ./
 

Thưa quý vị và các bạn,Đây là một bài viết của tôi, một người làm văn hóa miền Nam, đối thoại với một nhà văn miền Bắc về cái nhìn thiên lệch của bà về hai chữ QUỐC HẬN nhân ngày 30.4 sắp tới.
Nếu quý vị và các bạn đồng ý với những luận cứ của tôi trong cuộc đối thoại này, xin vui lòng chuyển bài này đến những người trong danh sách người nhận điện thư của quý vị và các bạn để rộng dường dư luận.
Xin thành thật cám ơn.
Luân Tế

DƯƠNG THU HƯƠNG
Và Hai Chữ
QUỐC HẬN

Luân Tế

Nhà văn Dương Thu Hương (DTH) sinh quán tại Bắc Việt, sống ở miền Bắc, gia nhập quân đội, viết văn từ năm 1985.

Bà là một trong số những người lớn lên và sống trong chế độ Cộng Sản, sau này thất vọng về tình trạng trong nước sau khi chiến tranh chấm dứt. Bà tạo được một tiếng tăm lớn ở cả trong nước lẫn ngoài nước về văn chương. Bà viết rất nhiều sách, nhiều thể loại. Sách của bà được dịch sang nhiều thứ tiếng và đoạt nhiều giải thưởng văn bút quốc tế.

Sau ngày “Giải Phóng” miền Nam, cũng giống một số trí thức trong nước, bà nhận ra bộ mặt thật của Cộng Sản và cay đắng vì đã bị lừa. Bà trở thành một người chống đối chế độ, bị ngược đãi, giam cầm, cấm đoán và sau cùng được cho phép sang Pháp sống từ năm 2006.

Bà là một trong những người có tiếng tăm được (hay bị) chính quyền Cộng Sản cho đi sống ở nước ngoài có những bài viết, những phát biểu về Việt Nam.

Tôi bỏ quê hương, chạy Cộng Sản, sống lưu vong ở Mỹ từ năm 1975. Tôi có đọc một hai cuốn sách và một số bài viết ngắn phổ biến trên mạng của bà DTH trong mấy năm gần đây. Rất phục văn tài và văn phong cũng như tri thức, lập luận sắc bén của bà, nhất là những gì bà nói và viết về đảng Cộng Sản Việt Nam.

Trong một bài tôi viết về ngày 30.4.1975 năm ngoái tên là
39 Năm Nhìn Lại Cuộc Đời”

có một đoạn như sau:

“Nhà văn Dương Thu Hương đã đề cập tới hiện tượng “hối tiếc” phát nguồn từ dân miền Bắc vì đã nghe lời đường mật của Cộng Sản trong bài nhận định tuyệt vời “Giải Ảo”:

(Trích) Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi thuộc số những người vỡ mộng sớm nhất. Nhưng chỉ vài năm sau, con số những kẻ vỡ mộng tăng lên một cách không ngừng. Đầu những năm 80 sự đói khổ về vật chất là con quỷ hiện hình cả ngày lẫn đêm trên toàn cõi. Đói khổ là món quà chia đều cho toàn dân, trừ một số người nắm quyền. Sự giàu có và xa hoa của một thiểu số cộng sản giống như vòi nước lạnh hắt vào mặt dân chúng. Hiển nhiên là trong dân chúng, có vô số kẻ từ chiến trường cởi áo lính trở về.(Ngưng trích)

Phải nói là khi đọc những giòng này tôi rất xúc động và thầm cảm ơn/phục bà đã nói ra được những gì cần phải được nói ra và sự chân thành của bà bộc lộ trong những lời nói đó.

Năm nay, 2015, tôi đang dự tính viết lại bài này, cập nhật hóa, và đổi tên là “40 Năm Nhìn Lại Cuộc Đời” thì tình cờ được đọc trên mạng cuộc nói chuyện của bà với một ký giả trên đài phát thanh Á Châu Tự Do. Trả lời câu hỏi về biến cố 30-4 sau 40 năm, bà DTH nói về chữ “Quốc Hận" mà chúng ta dùng để chỉ ngày này.

(Trích):Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ?  Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.(Ngưng trích)

Đọc đến đây thì tôi thấy có bổn phận phải có đôi điều nói chuyện với bà DTH.

Thưa bà,

Có lẽ trong cả cuộc đời bà, bà chưa bao giờ phải xót xa cho quê hương. Từ lúc bà sinh ra ở miền Bắc, quê hương của bà lần lượt thắng Tây, thắng Mỹ, chiếm được miền Nam thì có gì mà bà phải xót xa cho quê hương.

Và có lẽ bà không biết là chữ “Quốc Hận” đã được dùng một lần rồi. Đó là chữ miền Nam Việt Nam dùng cho ngày 20 tháng 7 năm 1954. Tôi không biết những người sống ở miền Bắc gọi cái ngày đó là ngày gì (có thể là “Ngày Chiếm Được Miền Bắc”), nhưng những người sống ở miền Nam như tôi gọi nó là “Ngày Quốc Hận” vì chúng tôi đau lòng, xót xa khi thấy đất nước bị các cường quốc họp lại, chia đôi. Vì đau lòng thấy đất nước chia đôi nên chúng tôi đặt tên cái đại lộ rộng nhất miền Nam là Đại Lộ Thống Nhất. Nhưng chính quyền miền nam chúng tôi cố gắng củng cố cho dân tình miền Nam được ổn định từ thành thị đến thôn quê, lo nơi ăn chốn ở cho gần 1 triệu người di cư từ Bắc vào Nam lánh nạn CS, lo cho học sinh - sinh viên có một nền giáo dục học đường miễn phí (tôi là một trong những người được hưởng ân huệ này). Miền Nam đặt tên con đường lớn nhất Sài Gòn là Thống Nhất nhưng những người cùng tuổi với bà ở lại miền Bắc và các thế hệ sau này chắc chắn chưa hề thấy miền Nam chúng tôi thực hiện kế hoạch nào để “Thống Nhất” quê hương về tất cả mọi lãnh vực, chính trị, kinh tế, văn hóa, và nhất là về quân sự. Sau này có những toán biệt kích nhẩy dù ra bắc hay những hải vụ hay phi vụ là nhằm phục đích “phá hoại” khi miền Bắc đem quân tấn công xâm chiếm miền Nam.

Chúng tôi gọi cái tình cảm đó là Quốc hận vì quê hương bị cưỡng chiếm. Quốc Hận là vì phải bỏ quê hương xứ sở mà đi. Quốc Hận là vì xót xa cho dân tình trong nước khốn nạn quá, đồng bào mình khốn khổ quá. Quốc Hận là vì thấy quốc gia điêu linh quá. Quốc Hận là vì bị đồng minh toa rập với Trung Hoa, Liên Sô lừa cả một dân tộc yêu hòa bình, chống ngoại xâm. Bà chỉ biết chửi Cộng Sản và cái chế độ đã lừa bà chứ bà không biết đến cái tình quê hương để có thể đưa đến sự hiểu biết của bà về hai chữ Quốc Hận.

Chưa hết. Bà còn thắc mắc: “Trích” Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ?... Cái đó phải xét lại (Ngưng trích - chữ đậm do người viết).

Bà đòi chúng tôi phải xét lại. Tại sao phải xét lại? Nhất là lời yêu cầu này thốt ra từ miệng một người (trước đây – và không còn dám nhận như thế nữa) trong đám gọi là “Bên Thắng Cuộc” tuy bà DTH đã “phản tỉnh” và bây giờ - có lẽ vì “đau” quá - nên có thái độ chống Cộng Sản VN có lẽ còn hơn chúng tôi, những người đã phải bỏ nước ra đi vì không thể chung sống với CS. Những khám phá mới của bà về sự tồi tệ của Cộng sản chúng ta nghe từ miệng bà thốt ra nghe cũng khoái, nhưng thật sự những chuyện đó quân dân miền Nam biết lâu rồi, từ năm 1954. Bà nghĩ là bà có công với dân tộc vì cái "Eureka" muộn màng lột trần mặt nạ của CS của bà nên bà mới hay lên tiếng nói những câu dậy đời như thế này.

Nhưng dậy bảo chúng tôi là phải xét lại việc dùng chữ “Quốc Hận” này thì tôi e là bà DTH với tay quá trán. Nhất là những viện dẫn của bà trong câu nói trên cho thấy bà, một là thiên lệch (chẳng thương xót gì cái gọi là VNCH, tuy thầm mơ rằng giá mà mình được di cư vào Nam hồi 54), mà còn ngây thơ (tôi không muốn dùng chữ dốt) và mù tịt về lịch sử cận đại.

Thứ nhất là Bắc Hàn chỉ “đe dọa” đòi thống nhất hai niềm Nam-Bắc. Các sự kiện xẩy giữa hai miền ra được coi là những cuộc “xung đột nhỏ” nhằm mục đích khiêu khích chứ không phải một cuộc chiến. Rất có thể là Nam Hàn, cũng như Nam Việt Nam cũng đã có những toán đặc công gửi ra Bắc với nhiệm vụ phá rối chứ không phải muốn gây chiến tranh để chiếm lại miền Bắc. Đằng này, không những Bắc Việt để một số quân nằm vùng, du kích ở lại miền Nam mà còn chính thức tấn công bằng vũ lực với cái chiêu bài giả tạo “Chống Mỹ, Cứu Nước” nhưng lại “lừa” được cả bà DTH và đám gọi là trí thức miền Bắc. Chuyện thứ hai là Mỹ không hề “đi đêm” với Tầu, với Liên Bang Sô Viết để bán đứng Nam Hàn như Nixon, Kissinger và tập đoàn tài phiệt thiên Do Thái đối xử với miền Nam Việt Nam.

Bà DTH còn nói: (Trích)Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không?(Hết Trích)
Xem đến câu này thì tôi chỉ còn biết cười nhạt và nghĩ rằng ở cái tuổi 68, chắc trí óc của bà không còn minh mẫn như những lời nói, bài viết của bà cách đây vài năm. Xin thưa với bà, lý do miền Nam chúng tôi không làm được như Nam Hàn là vì trong suốt hai mươi năm (54-75) chúng tôi ở miền Nam phải đối phó với một đồng minh tráo trở, và vì phải chiến đấu trường kỳ chống ngoại xâm là những người Đảng và Nhà Nước của bà đưa vào miền Nam. Một chuyện nữa là nếu đọc lại sách sử, bà sẽ thấy là, trước những năm 80, Đại Hàn thực ra chưa có gì đáng phải cho chúng khâm phục. Chỉ trong hơn ba thập niên sau này Đại Hàn mới thực sự tiến bộ để trở thành một “xứ sở văn minh phồn thịnh.

Và “...còn miền Nam thì không.” Thưa bà, “Bên Thắng Cuộc” của bà đã “giải phóng” cho miền Nam Việt Nam bốn thập niên, từ ngày 30-4-75. Một phía là “Bên Bại Trận” có 20 năm để dựng nước trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc; và một phía là “Bên Thắng Cuộc” với 40 năm cầm quyền trong cái gọi là Thống Nhất. Thử đặt chuyện đó lên bàn cân thì ai thắng ai thua, ai giỏi hơn ai? Cách đây trên 40 năm, miền Nam Việt Nam đã vừa phải chiến đấu chống xâm lăng, vừa phát triển đất nước, mà vẫn thành công ngang với một Nam Hàn không chiến tranh!

Có lẽ bà thù ghét cái chế độ đã lừa bà đến nỗi không thèm đọc báo Tuổi Trẻ ở trong nước. Nếu bà đọc thì chắc bà không dám mạnh miệng chê miền Nam chúng tôi vì trên tờ này, gần đây, tác giả Nguyễn Hoa Lư trong bài “Ngậm ngùi rơi lệ” chỉ đạo rất kỹ cho bà về sự “khác biệt” giữa Nam Hàn và Việt Nam hiện nay: “Một quan chức cao cấp của Ban Tuyên giáo T.Ư, ông Vũ Ngọc Hoàng, đã có một phát biểu gây ấn tượng mạnh: “Cách đây bốn, năm mươi năm, VN và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, tôi rà lại tư liệu thì thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại VN và VN cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại VN làm ông chủ, làm quản lý, còn người VN ở Hàn Quốc thì chủ yếu làm ôsin. Nghe mà xót lòng”.

Thưa bà DTH, nếu bà “nghe mà xót lòng” thì cái tình cảm dấy lên trong bà gọi là Quốc Hận.

Luân Tế
4.2015