Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVThienYNguyenVanThang. Show all posts
Showing posts with label VCNVThienYNguyenVanThang. Show all posts

Thursday, 15 June 2023

CẦN NHẬN DIỆN THIỆN Ý LÀ AI? HẮN TÊN THẬT LÀ NGUYỄN VĂN THẮNG HIỆN Ở HOUSTON- 
*Hắn là sv Luật Khoa, thời 1960 VC nằm vùng núp bóng sinh viên chống chiến tranh, chống VNCH. Hắn tự xưng đại diện cho sinh viên VNCH lẫn sinh viên thanh niên Bắc Việt, đòi Mỹ phải rút quân vô điều kiện. 
Bài viết nầy hắn tự chứng minh CON NGƯỜI THẬT CỦA NGUYỄN VĂN THẮNG TRONG HỘI LUẬT KHOA, CHU VĂN AN HOA KỲ.
Nguyễn văn thắng mấy năm trước hắn viết sách cho rằng "CHIẾN TRANH VN LÀ NỘI CHIẾN" - Hai phe giết nhau không phải chiến tranh Ý THỨC HỆ TỰ DO, CỘNG SẢN gì cả. Lập luận NỘI CHIẾN nhằm gỡ tội cho VIỆT CỘNG, đánh lạc hướng Việt Cộng không phải là TAY SAI CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ.
Bài viết nầy là bằng chứng tự thú của Nguyễn văn thắng không ai chụp mũ hắn cả. 
(*Bà con nghĩ xem hắn KHÔN NGƯỢC mức độ nào? Hắn khoe vợ hắn lãnh lương của Mỹ nhiều hơn lương công chức VNCH mà hắn ăn chia lương của vợ rồi quay ra CHỐNG MỸ- Loại người VÔ LẠI ấy nhiều lắm và cho đến nay vẫn còn dù đang sống nhờ tiền của Mỹ !!!.)./-TC Lãnh.
______________

Những ngày tháng 4 năm xưa chúng tôi đang làm gì, ở đâu?
22/04/2020

Nha Trang, 27 tháng Ba, 1975.

Thiện Ý

Những ngày tháng 4 của 45 năm về trước (1975-2020), chúng tôi đang hành nghề luật sư tại Sài Gòn (nghề tự do, nên không phải đi tù ‘tập trung cải tạo’ sau 30-4-75). Còn hiền thê của tôi thì đang làm tại một cơ quan của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), song ngân sách trực thuộc tòa Đại sứ Hoa Kỳ, nên lương bổng khá cao so với công chức Việt Nam tương đương lúc bấy giờ. Vì thế gia đình các nhân viên cơ quan này, nếu muốn, đều được cho di tản ra đảo Phú Quốc bằng máy bay, trước ngày chế độ VNCH bị cưỡng tử vào ngày 30-4-1975.Sau này được biết, sau đó tất cả gia đình nhân viên di tản, đã được máy bay Hoa Kỳ đưa tới đảo Guam, nhập cảnh thẳng vào Mỹ.

Thế nhưng gia đình chúng tôi bị kẹt lại vì hai lý do (1) tôi nhận định và đánh giá diễn biến tình hình sai (2) và do tôi chống lại ý muốn di tản của vợ tôi do một định kiến với người Mỹ, đúng ra là với chính quyền Mỹ.

Nhớ lại, vào những ngày đầu Tháng 4 năm 1975, tại văn phòng chúng tôi tập sự luật sư ba năm với các luật sư Lý Quốc Sỉnh, Trần Tân Thái và Mai Văn Đại ở số 36 Phạm Hồng Thái, Quận Nhì Sài Gòn. Tại đây đôi khi thày trò đã có những cuộc bàn luận có nên di tản hay không.Thày trò (trừ luật sư Mai Văn Đại, từng là Thứ Trưởng Thông tin Nội các Nguyễn Cao Kỳ, di tản sớm, có lẽ biết rõ tình hình, hiện đang sống tại Hoa Kỳ) đều có nhận định chung như nhiều người lúc đó, rằng Mỹ không thể bỏ Việt Nam vì đã đầu tư quá nhiều tài lực, nhân lực cho cuộc chiến ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản tại Việt Nam. Maitre (thầy) Trần Tân Thái lúc đó cho rằng nếu Mỹ có bỏ thì cũng còn lâu. Vì ở Kamphuchia yếu hơn VNCH mà còn cầm cự được vài ba năm mới sụp đổ. Nhưng nếu lỡ kẹt lại, sống không nổi dưới chế độ cộng sản, thì tìm đến ‘nơi không còn chiến tranh, không hận thù’ (ý nói tự tử chết là cùng. Thực tế,sau gia đình ls Thái vượt biên qua Mỹ, nay đã mất))…

Thành ra, trong khi nhiều người xôn xao, chạy đôn chạy đáo, tìm đường di tản, chúng tôi ngày ngày vẫn khoác áo ra Tòa, chép hồ sơ, biện hộ cho các thân chủ; vẫn nhận giấy tờ hộ tịch, bằng cấp của những người chuẩn bị di tản để đưa các thông dịch viên hữu thệ tại Tòa chuyển dịch ra tiếng Mỹ, tiếng Pháp… Còn vợ tôi lúc đó mới sinh con đầu lòng vào ngày 7-4-1975 ở nhà bảo sanh tư Đức Chính trên đường Cao Thắng, quận 3 Sài Gòn. Một vài ngày sau, từ nhà bảo sanh này, chúng tôi nhìn thấy nhiều người đổ xô ra đường nhìn về hướng có tiếng nổ và cột khói bốc cao bàn tán, thắc mắc không biết chuyện gì. Sau này mới biết đó là cuộc ném bom vào dinh độc lập của phi công Nguyễn Thành Trung, Việt cộng nằm vùng trong không quân VNCH thực hiện.

Sau ba ngày sinh con, tôi đã đưa vợ con mới sinh về sống tại nhà cha mẹ vợ trên đường Tô Hiến Thành, Quận 10, Sài Gòn cho bên ngoại tiện chăm sóc. Khoảng hơn một tuần sau, bất chấp thời kỳ ở cữ, vợ tôi đã phải đến sở làm liên lạc thì được biết nhiều gia đình nhân viên đã được máy bay chở ra Phú Quốc. Vợ tôi về báo và năn nỉ tôi phải di tản, dù con mới sinh chưa đầy tháng. Nhưng lúc đó tôi đã cự tuyệt, do đánh giá sai tình hình cũng có, mà do thâm tâm tôi từ lâu có định kiến ‘chống Mỹ’, không phải để ủng hộ Việt cộng, mà chỉ vì bất bình việc Hoa Kỳ đã ngày càng vi phạm chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, làm mất chính nghĩa chống cộng của chính quyền và nhân dân Miền Nam Việt Nam (Sau này khi hoạt động trong Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam bị bắt cầm tù, tôi cũng nói rõ quan điểm này với công an chấp pháp (hỏi cung), rằng đôi lần tham gia biểu tình chống Mỹ, không phải với ý thức ủng hộ ‘cách mạng’). Vì vậy lúc đó tôi đã nói với vợ tôi câu này ‘qua Mỹ ăn bơ thừa sữa cặn của Mỹ à? Giả như có kẹt lại thì có sao, Việt cộng cũng là người Việt Nam mà?’. Thực tế đã không phải như vậy. Vì thế sau này, sống dưới chế độ Việt cộng khổ quá, vợ tôi vẫn hay nhắc lại câu nói của tôi như một trách cứ ‘thà ăn bơ thừa, sữa cặn của Mỹ mà được sống tự do, còn hơn là phải ăn độn ngô khoai, sắn, lại mất tự do’.

Chính vì nhận thức sai lầm do định kiến, nên tôi đã không quan tâm đến nỗi khổ và công khó của vợ tôi trong những ngày tháng tư năm xưa. Vợ tôi dù mới sinh, vẫn phải chạy đi chạy lại liên lạc với sở làm cho đến hạn chót, để biết tình hình. Khi thấy không thể thuyết phục được chồng, dù cả bằng nước mắt, nàng đã phải đến Tòa Đại sứ Hoa Kỳ lãnh tiền thâm niên được khoảng $1000. Sau đó vợ tôi đưa cho người dì ruột chuẩn bị cùng gia đình vượt biên rất sớm, trong những ngày đầu sau ‘giải phóng’, để được đưa lại 3 cây vàng; nhờ đó bán dần vượt khổ, vượt khó trong những tháng năm đầu sống dưới chế độ mới, được dân gian ca dao hóa ‘Lao động là vinh quang, lang tháng thì chết đói, hay nói thì ở tù, lù khù đi kinh tế mới!’.

Sau khi lãnh tiền thâm niên. Nơi làm việc của vợ tôi thì đã đóng cửa sau hạt chót di tản gia đình nhân viên ra Phú Quốc, qua đảo Guam đến Hoa Kỳ (môt số gặp lại đang sống ở Houston, TX, Hoa Kỳ).Vợ tôi lại năn nỉ tôi theo người anh con bác ruột có ghe từ Phan Thiết chạy về Sài Gòn đang chuẩn bị ra khơi vượt biên (hiện đang sống tại New Orleans, Louisiana). Nhưng tôi vẫn không nghe. Sau này vợ tôi kể lại,ông anh này nói cứ đem con đi theo gia đình anh, rồi tôi sẽ tìm đường đi sau. Nhưng vì sợ chia lìa, gia đình phân tán, nên nàng đã không nghe theo.Cảm ơn Thượng Đế, nếu không thì tình cảnh gia đình tôi nay đã khác; tương tự như nhiều gia đình vợ chồng kẻ ở lại, người di tản…

Trong khi tình hình xã hội, chính trị và quân sự biến chuyển rất nhanh. Thủ đô Sài Gòn tập trung đông đảo những quân dân, cán chính VNCH từ các tỉnh Miền Trung, cao nguyên Trung phần đổ về sau quyết định của Tổng Thống Thiệu ‘di tản chiến thuật’, rút khỏi Quân Đoàn I, rồi Quân Đoàn II; với tốc độ rút quân nhanh hơn tốc độ tiến quân của Việt cộng, đến độ đối phương không có người và cũng không cần người tiếp quản.Rốt cuộc ‘Di tản chiến thuật’ trên thực tế đã trở thành một cuộc tháo chạy tán loại, góp phần làm chế độ sụp đổ nhanh hơn.

Tại Sài Gòn, người ta chạy đôn chạy đáo tìm đường di tản bằng đường biển thì ra bến Bạch Đằng để chen lấn nhau lên các tàu hải quân hay tàu dân sự; bằng hàng không thì kéo vào sân bay Tân Sơn Nhứt, bất chấp pháo kích của Việt cộng để ngăn cản di tản; như họ từng dùng mọi cách, dù tàn nhẫn, để ngăn cản người dân Miền Bắc di cư lánh nạn cộng sản vào Miền Nam sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước. Nghe nói, một máy bay chở những đứa trẻ con lai đã bị nổ tung khi vừa cất cánh, không biết do trúng pháo kích hay do đặc công Việt cộng đặt chất nổ?

Sài gòn những ngày Tháng Tư năm 1975 như cảnh chợ chiều, đầy hỗn loạn, như rắn mất đầu. Người dân hoang mang lo sợ về một tương lai vô định. Các quan chức chính quyền, tướng tá quân đội có điều kiện thì mạnh ai nấy đã tìm đường di tản sớm, muộn bằng mọi cách.

Người lãnh đạo cao nhất chế độ VNCH là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, dưới áp lực của Mỹ, đã từ chức muộn màng vào ngày 5-4-1975, trao quyền cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương với lời hứa trở lại vị trí chiến đấu bên cạnh binh sĩ. Nhưng ngày 21-4-1975, trước khi kịp lưu vong, ông Thiệu đã đọc một bài diễn văn trên truyền thanh truyền hình gay gắt tố cáo muộn màng Hoa Kỳ phản bội đồng minh. Tổng Thống Trần Văn Hương cử Chủ tịch Quốc hội VNCH Nguyễn Bá Cẩn thành lập chính phủ tồn tại ít tuần lễ. Trước áp lực tình thế, ngày 28-4-1975, Tổng Thống Trần Văn Hương, được lưỡng viện quốc hội VNCH cho phép cử Đại tướng Dương Văn Minh làm Tổng Thống, Chủ tịch Thượng viện Luật sư Nguyễn Văn Huyền là Phó Tổng thống, ngoài dự liệu của Hiến Pháp VNCH. Gíáo sư Vũ Văn Mẫu được cử làm Thủ tướng thành lập ‘chính phủ hòa giải dân tộc’. Như để chứng tỏ chính phủ mới hoàn toàn độc lập với Hoa Kỳ, Thủ tướng Mẫu đã ra lệnh cho tất cả người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong 48 giờ. Đồng thời ra lệnh thả hết các tù nhân chính trị, hầu hết là Việt Cộng. Thế nhưng, những động tác giả này cũng chỉ giúp chính phủ Vũ Văn Mẫu tồn tại không quá 3 ngày; thì chiếc xe tăng đầu tiên của cộng sản Bắc Việt đã ủi sập cổng dinh Độc Lập lúc 11:30 ngày 30-4-1975, tiến vào đại sảnh, nơi mà Tổng Thống Dương Văn Minh trịnh trọng giới thiệu:

- ‘Toàn thể chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều có mặt đợi các ngài đến để bàn giao chính quyền’. Nhưng đã được một cán bộ Việt cộng trả lời:- ‘ Các ông còn gì nữa để bàn giao! Các ông phải đầu hàng vô điều kiện!’.

Khi đọc những lời tường thuật trên đây, người bàng quan không khỏi cảm thấy tội nghiệp cho Tướng Dương Văn Minh, khi thấy lịch sử dường như đã luôn chọn ông làm công việc “Khai sơn phá thạch”, nôm na là làm công việc lót đường để cho kẻ khác gặt hái thành quả. Tướng Minh đảo chánh TT. Diệm, khai tử Đệ nhất VNCH, để Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ Tướng, rồi Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống. Nay nhận lãnh làm Tổng Thống 3 ngày để bàn giao chính quyền Đệ Nhị VNCH cho Cộng sản Bắc Việt… có phải chỉ là kẻ lót đường cho kẻ khác gặt hái thành quả trên lưng mình?

Phần chúng tôi, dù bị kẹt lại sau ngày 30-4-1975, nay cuộc chiến Quốc-Cộng kết thúc 45 năm rồi, nhưng không cảm thấy ân hận vì bị kẹt lại, dù có cơ hội di tản rất sớm và an toàn. Vì trong cái rủi cũng có cái may, với cá nhân tôi và gia đình cũng như nhiều gia đình, người Việt Nam khác.

Với cá nhân, là nhờ kẹt lại hơn 17 năm (1975-1992) tôi mới có cơ hội trải nghiệm để biết rõ chế độ độc tài toàn trị cộng sản từ lý luận đến thực tiễn. Để hiểu rõ vì sao người ta coi cộng sản là một hiểm họa và vì sao người ta sợ hãi và tìm mọi cách, bằng mọi gia, kể cả mạng sống, để trốn chạy chế độ cộng sản; không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ nước nào không may có chế độ cộng sản.

Đồng thời cũng từ đó và nhờ đó tôi được nếm đủ mùi đời, có thêm nhiều chất liệu sống trong và ngoài nhà tù của chế độ mệnh danh ‘Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam’ để viết bao lâu nay; như kinh nghiệm sống, hữu ích cho những ai còn mơ hồ hay muốn biết thực chất cũng như thực tế chế độ xã hội chủ nghĩa, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản mà đỉnh cao là ‘Thiên đường cộng sản’ là gì?

Mặt khác, với cá nhân tôi, đến Hoa Kỳ năm 1992 theo diện đoàn tụ gia đình, sau 27 năm được sống trên đất nước này, tôi đã thấy nhận thức sai lầm trước đây về nước Mỹ do định kiến với chính quyền Mỹ thời chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam (1954-1975).Thực tế gia đình chúng tôi cũng như tất cả những người Việt Nam di tản, vượt biên hay đến Mỹ bất cứ cách nào, đã được định cư trên đất nước này, không hề phải ‘ăn bơ thừa sữa cặn của Mỹ” như tôi lầm tưởng trước đây. Tất cả được ăn, được hưởng tất cả những gì mà người bản xứ được ăn, được hưởng một cách tự do, bình đẳng trên mọi lãnh vực đời sống, sinh hoạt xã hội về pháp lý cũng như thực tế.

Sau cùng, trong cái rủi, có cái may lớn nhất cho đại thể là nhờ ‘Việt cộng giải phóng Miền Nam’ mà đã có thực tế kiểm nghiệm nhận định của Tướng độc nhãn Moise Dayan Bộ Trưởng Quốc Phòng Do Thái, phát biểu sau một chuyến thăm chiến trường Miền Nam; cũng như Sir Thompson, cố vấn về du kích chiến cho quân đội Hoa Kỳ đang chiến đấu tại Việt Nam, đại ý rằng ‘muốn chiến thắng Việt cộng, chỉ còn cách cộng sản hóa Việt Nam’. Thực tế, sau khi cộng sản Bắc Việt cộng sản hóa cả nước, quả thật nhiều người Việt Nam mới tỉnh ngộ và các thế hệ con cháu chúng ta mới được đổi đời.

Sự đổi đời xuất phát từ thay đổi môi trường sống. Từ phải sống trong một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, với chế độ độc tài toàn trị cộng sản, ở tầng đáy của nền văn minh nhân loại; con cháu nhiều thế của chúng ta nay đã và đang dược sống trên một đất nước giấu mạnh, với chế độ dân chủ pháp trị bậc nhất, ở thóp đỉnh của nên văn minh nhân loại.Đồng thời, ngoài con cháu giai cấp cán bộ đảng viên CS cầm quyền, ngày nay nhiều con cháu dân thường trong nước, đã có cơ hội du học tại Hoa Kỳ và các nước dân chủ văn minh khác trên thế giới, đã và đang góp phần làm tiêu vong từng bước chế độ độc tài toàn trị ‘Đỏ vỏ, Xanh lòng’ để mau kết thúc tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Vì đó là chiếu hướng phát triển tất yếu của thực tiễn và lịch sử Việt Nam,không thể đảo ngược.Việt Nam sớm muộn nhất định phải có tự do, dân chủ theo đúng ý nguyện của quốc dân Việt Nam.

Thiện Ý

Tháng 4 năm 2020

Monday, 1 May 2023

 THIỆN Ý TÊN THẬT LÀ NGUYỄN VĂN THẮNG- SV LUẬT KHOA THEO VC TRƯỚC 1975 HÔ HÀO ĐÒI MỸ RÚT QUÂN VÔ ĐIỀU KIỆN - HẮN TỰ XƯNG LÀ "ĐẠI DIÊN SV, THANH NIÊN SÀI GÒN VÀ HÀ NỘI" - HẮN NẰM TRONG HỘI LUẬT KHOA VÀ CHU VĂN AN - MẤY NĂM TRƯỚC HẮN VIẾT SÁCH GỌI CUỘC CHIẾN TRƯỚC 1975 GIỮA VNCH và QUÂN THỔ PHỈ BẮC VIÊT LÀ CUỘC "NỘI CHIẾN" - RẤT TIẾC TRONG BUỔI HẮN RA MẮT SÁCH CHÍNH LS LÊ DUY SAN SJ LẠI LÊN BỤC GỖ GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG MỚI KHÓ HIỂU và ĐAU ĐẦU CHỨ !!!!!!

THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG HIỆN NẰM VÙNG TẠI HOUSTON- Mt68 CHỈ MUỐN CHỨNG MINH LẠI "ĐỌC BÁO CHÍ, SÁCH VỞ LUÔN PHẢI BIẾT TÁC GIẢ LÀ AI?" - ĐỌC MÀ KHÔNG BIẾT TÁC GIẢ LÀ DỄ BỊ ĐÁNH LẬN CON ĐEN LẮM QUÝ BÁC ƠI !!!./-Mt68- TC Lãnh

______________________ 

TẠP CHÍ DÂN VĂN

Email: danvanmagazin@gmail.com

         -------------------------------

 

TÊN GỌI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

Kính thưa Qúy Độc Giả, Qúy Chiến Hữu.

Trên mặt báo này, ngay từ ngày xuất bản đầu tiên, tờ Tạp Chí Dân Văn đã khẳng định cuộc chiến VN từ 1954 đến 30.04.1975, là một cuộc chiến xâm lược với lập luận rõ ràng, ai muốn tranh luận, TCDV sẵn sàng đón tiếp với ngôn ngữ của người có văn hoá.

 

Kính qúy Anh Chị,

Thấy các Anh Chị „tranh luận“ về tên cuộc chiến tại VN vừa qua, tôi mới chợt nhớ tới cái quan điểm của tờ TẠP CHÍ DÂN VĂN, tờ báo này do một số anh chị em quân nhân VNCH chủ trương và xuất bản trước thời điểm bức tường Bá Linh sụp đổ, tên cuộc chiến này tờ Tạp Chí Dân Văn đã gọi là cuộc chiến XÂM LƯỢC do bọn miên Bắc theo cộng sản phát động, với LẬP LUẬN thật „logic“ như sau:

Đảng cộng sản Việt Nam với 3 triệu đảng viên, cốt lõi của chủ nghiã cộng sản là TAM VÔ, Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình, Vô Tôn giáo, như vậy từ Hồ Chí Minh đến tất cả đảng viên đảng cộng sản Việt Nam không còn là người Việt Nam nữa vì chúng đã theo cộng sản là không có Tổ Quốc Việt Nam. Chúng là người ngoại quốc đem quân từ miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam.

Người ta định nghiã, một cuộc chiến xâm lược, là người một nước  đem quân chiếm đất, chiếm dân một nước khác, thí du như bọn Tầu đã từng xâm lược Việt Nam trong quá khứ, nay  chúng tinh vi hơn, dùng bọn cộng sản Việt Nam cầm quyền để dâng nước Việt Nam cho chúng, không phải mở những cuộc chiến xâm lược như trước đây.

Qúy Anh Chị „tranh luận“ mà quên đi cái điểm vô cùng quan trọng trên đây. Bọn cộng sản chủ trương thế giới đại đồng, đã gia nhập công sản là không còn cái căn cước người nước này nước khác, nhưng cái chủ trương này là không tưởng, chẳng bao giờ thực hiện được.

Lập luận của tờ Tạp Chí Dân Văn trùng khớp với quan điểm của anh NGUYỄN NHƠN, tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, nguyên Phó Tỉnh Trưởng Biên Hoà trước 30.04.1975. tôi cũng đồng  quan điểm này.

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM dứt khoát là một cuộc chiến XÂM LƯỢC do bọn cộng sản miền Bắc không còn là người Việt Nam, đem quân đánh chiếm miền Nam Việt Nam tức nước Việt Nam Cộng Hoà.

 

--------------------------

Viết thêm để bổ túc cho lập luận của TẠP CHÍ DÂN VĂN:

Từ hôm tôi đưa ra cái quan điểm của tờ Tạp Chí Dân Văn về tên gọi của Cuộc Chiến vừa qua với lập luận rõ ràng là bọn csvn không còn là người Việt Nam, dĩ nhiên chúng cũng không có Tổ Quốc Việt Nam, không thấy một ai phản bác cái lập luận này cả, như vậy quan điểm của tờ Tạp Chí Dân Văn mặc nhiên được công nhận là đúng, chính xác. Tôi là độc giả dài hạn của tờ báo, giống như ông BS Tôn Thất Sơn bên Norway, tờ báo rất đứng đắn, chưa hề loan tin vịt hay chụp mũ bất cứ ai, chỉ không nhân nhượng  với bọn Việt cộng và Việt gian.

Như vậy tên cuốn sách của tác giả Thiện Ý: Cuộc nội chiến Quốc-Cộng, ai thắng ai, đã bị sổ toẹt ngay từ đầu, không cần phải tranh cãi, ngay cái tên cuốn sách cũng đã chứng tỏ tác giả  nhìn cuộc chiến Việt Nam rất phiến diện, không sâu sắc.

Ở đây tôi xin nói thêm, tên Lê Duẩn công khai tuyên bố: Ta đánh chiếm miền Nam là đánh cho Trung Quốc, Liên Xô (Vô Tổ Quốc). Câu này được chúng dựng thành cổng chào để mọi người chiêm ngưỡng.

Tên cáo già Hồ Chí Minh đã không tiếp người chị ruột  khi bà này đến Phủ Chủ Tịch thăm hỏi Hồ Chí Minh (Vô Gia Đình).

Tên Lê Duẩn đã cho người sang Liên Xô để thủ tiêu cô con gái đã lấy chồng người Liên Xô vi phạm điều cấm kỵ của bọn cộng sản Bắc Bộ Phủ (Vô Gia Đình).

Tên Nguyễn Minh Triết lúc làm Chủ Tịch Nước khi qua La Mã đã trả lời là không có tôn giáo  khi được các Phóng Viên hỏi (Vô Tôn Giáo).

Những trường hợp trên đây để xác định bọn cộng sản Việt Nam không có Tổ Quốc Việt Nam, không có gia đình, không có tôn giáo.

Như vậy chúng xua quân mở cuộc chiến xâm lược nước Việt Nam Cộng Hoà, không còn gì để phải „tranh cãi“ về cái tên gọi của cuộc chiến này nữa, ai còn chưa „thông“ hãy dùng đầu óc để suy xét thêm.

Tôi không đồng ý gọi là cuôc nội chiến Quốc-Cộng hoặc nội chiến vì ý thức hệ, bởi chúng đâu còn là người Việt Nam khi đã gia nhập đảng cộng sản, như lập luận của tờ Tạp Chí Dân Văn trên đây.

Trong lịch sử Việt Nam, Trịnh-Nguyễn phân tranh là cuộc nội chiến.

Thời thập nhị sứ quân là nội chiến.

Lịch Sử Mỹ, chiến tranh Nam-Bắc là nội chiến.

Hitler là một tên giết người, sách báo của chính người Đức đã khẳng định như vậy, nhưng tên đồ tể này chưa từng giết hại người dân Đức, 5 triệu người Do Thái bị hắn cho vào lò hơi ngạt, còn bọn cộng sản thì sao? Cộng Sản Liên Xô giết khoảng 40 triệu dân Nga, tầu cộng giết khoảng hơn 70 triệu người Tầu, bọn cộng sản Việt Nam giết khoảng 2 triệu người dân Việt, công khai và hàng loạt giết dân trong đấu tố Cải Cách Ruộng Đất chừng 170.000 người, tết Mậu Thân 1968 chúng giết hơn 6.000 người ở Thành Phố Huế. Thời đại quân chủ ngày trước cũng không có ông Vua nào giết chính dân mình nhiều như vậy! Xem như thế, tất cả các đảng cộng sản trên thế giới  khi các đảng viên vào đảng đã trở thành Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình, Vô Tôn giáo, chúng sẵn sàng giết người dân nước họ.

Thời đại này chúng không còn dấu diếm được tội ác của chúng.

LÊ THỊ HY VỌNG, độc giả dài hạn của TẠP CHÍ DÂN VĂN.

Monday, 28 October 2019

CÀNG LỘ DIỆN CHO THẤY HỘI THẢO NẦY CHỈ TÌM CÁCH BÔI BÁC VNCH VÀ NGẦM NÂNG BI PHE VIỆT CỘNG - NGUYỄN THIỆN Ý LÀ AI - CHÍNH LÀ LUẬT KHOA NGUYỄN VĂN THẮNG ĐÃ ĐƯỢC NHẬN DIỆN VIỆT CỘNG NẰM VÙNG Ở TEXAS TỪ LÂU ....

BÀ CON THỬ ĐỌC XEM LẬP LUẬN CỦA THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG CÓ LỢI CHO VNCH HAY CHO VIỆT CỘNG ? HẮN CHO RẰNG VIỆC CHỐNG CỘNG LÀ DO VNCH VẼ RA VÀ KÉO DÀI CHO ĐẾN NGÀY NAY ? HẮN TẢNG LỜ TẠI SAO DÂN MIỀN NAM CHỐNG CỘNG BẮC VIỆT ? TẠI SAO CHÚNG KHÔNG TỔ CHỨC HỘI THẢO VỀ CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG BẮC VIỆT??? MẤY CHỤC TRIỆU DÂN BẮC VIỆT LẼ NÀO THEO CHÚNG 100% HẾT SAO- NHƯNG KHÔNG HỀ CÓ SỰ TẬP TRUNG CHỐNG CỘNG NÀO CẢ LÀ TẠI SAO ??? CÓ PHẢI VÌ BỘ MÁY KỀM KẸP SẮT MÁU CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT KHÔNG ???? SAO KHÔNG HỘI THẢO ĐỂ DƯ LUẬN THẤY RÕ BỘ MẶT DÃ MAN, MỌI RỢ CỦA CHÚNG CHO ĐẾN NAY ĐÃ PHÁT TRIỂN CÔNG KHAI VÀ LỘ LIỄU HƠN BẤT CỨ CHẾ ĐỘ NÀO TRÊN ĐỊA CẦU NẦY - TẠI SAO KHÔNG TỔ CHỨC HỘI THẢO NÓI LÊN SỰ THẬT VỀ CHÚNG ???./-TCL

===========================
Hội thảo: Chống Cộng là ‘bản sắc’ của người Việt hải ngoại

10/28


Tinh thần chống Cộng của người Việt tại hải ngoại có nguồn gốc sâu xa từ việc giáo dục tuyên truyền có chủ ý từ những ngày đầu của Việt Nam Cộng hòa vốn được duy trì trong suốt thời kỳ tồn tại của quốc gia này và sau này được người tị nạn Việt Nam mang theo ra đến hải ngoại, một nhà nghiên cứu nhận định tại một hội thảo mới đây.




Chương trình giáo dục tuyên truyền đó được gọi là ‘Chương trình Học tập Chính trị’ vốn được khởi xướng dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954 để tạm thời chia đôi Việt Nam, ông Nguyễn Thiện Ý, nghiên cứu sinh Tiến sỹ về xã hội học, cho biết tại hội thảo về nền cộng hòa và các giá trị cộng hòa của miền Nam Việt Nam được tổ chức tại Đại học Oregon ở Eugene hôm 14/10.

‘Quốc gia chống Cộng’

“Chương trình Học tập Chính trị’ (CTHTCT) là cách chính quyền đưa ý chí của mình đến với người dân và biến ý chí chính phủ thành tinh thần của người dân,” ông Ý giải thích và cho biết lý thuyết của chương trình này được xây dựng dưới thời Ngô Đình Diệm và được củng cố qua chiến dịch tố Cộng – diệt Cộng vào giai đoạn 1959-1960.

“Mục đích của chương trình này là làm cách nào để người dân hiểu được bổn phận của mình trong quốc gia, bổn phận của công dân trong một quốc gia chống Cộng là gì,” ông nói thêm và nhận định đây là ‘thành quả chính trị’ của nỗ lực xây dựng quốc gia của miền Nam Việt Nam.

Nội dung của CTHTCT này được dựa trên hoạt động và tư tưởng của Đảng Cần Lao do hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu sáng lập, ông Ý nói. “Nó được dùng để xây dựng lòng trung thành cho chế độ bằng cách đảm bảo rằng những người đi học sẽ thấm nhuần những tư trưởng được truyền dạy.”

Chương trình này được điều phối ở cấp chính quyền trung ương và là một cách thức quan trọng để truyền bá tư tưởng chính trị dưới thời Việt Nam Cộng hòa, cũng theo lời nhà nghiên cứu này.

Ông Ý cũng nói thêm rằng việc tham dự lớp học là chưa đủ mà còn các học viên còn được yêu cầu ‘áp dụng vào hành vi trong cuộc sống hàng ngày’.

Ông cho biết CTHTCT này ‘đã ăn sâu’ vào đời sống ở Việt Nam Cộng hòa và nhà chức trách đã nỗ lực để đảm bảo các lớp học này được tham dự đông đủ và người tham gia hăng hái học. Những biện pháp như điểm danh, thưởng, phạt cũng đã được áp dụng, ông nói.

“Những biện pháp này giúp cho CTHTCT trở thành một hoạt động thường xuyên và giúp nó trụ lại lâu nhất có thể,” ông nói thêm và chỉ ra những nội dung của chương trình từ thời Đệ nhất Cộng hòa tiếp tục được vận dụng trở lại dưới thời Đệ nhị Cộng hòa.

Từ Hiệp định Geneva

Ông Nguyễn Thiện Ý cho biết thông điệp chính của CTHTCT được xây dựng từ việc ký kết Hiệp định Geneva vào năm 1954.

Ông nói rằng thông điệp đó lúc đầu là để biện giải tại sao người dân cần phải ủng hộ Việt Nam Cộng hòa và cũng như cần phải chống Cộng một cách quyết liệt. Đồng thời nó cũng giúp đảm bảo tính chính danh cho chính quyền của ông Ngô Đình Diệm.

Theo đó, luận điệu này cho rằng phe Cộng sản là những ‘kẻ phản quốc bán rẻ miền Nam Việt Nam cho quốc tế cộng sản’, ‘lợi dụng khát khao độc lập của người dân Việt Nam’ và rằng ‘bên ngoài cộng sản kêu gọi hòa bình nhưng trên thực tế lại tiến hành chiến tranh’. Nó cũng khẳng định lập trường của Việt Nam Cộng hòa là ‘bác bỏ đề xuất thống nhất của miền Bắc vì đất nước cần được thống nhất và độc lập dưới sự tự do chứ không phải nô lệ’ và ‘rằng Việt Nam Cộng hòa không phải là một bên ký kết hiệp định nên không bị ràng buộc’.

Lúc đầu các tài liệu học tập tập trung đưa ra bằng chứng về ‘sự tàn ác của cộng sản’ nhưng sau khi tái cấu trúc vào năm 1958, CTHTCT ngày càng trở nên xoay quanh những mối bận tâm ngoại giao của miền Nam Việt Nam trong thế giới tự do, ông Ý cho biết.

“Trọng tâm mới là tiến trình dân chủ đang phát triển của miền Nam Việt Nam như là giải pháp cho những khó khăn kinh tế và chính trị thời kỳ hậu thuộc địa,” ông nói.

“Do đó, luận điệu về Hiệp định Geneva bắt đầu được đưa thêm vào sự tương phản giữa miền Nam tự do và miền Bắc áp bức,” ông giải thích. “Nó khắc họa miền Bắc không chỉ là kẻ phản quốc mà còn là những kẻ xâm lăng quân sự và là bên vi phạm hiệp định được ký kết vào năm 1954.”

“Thông điệp lặp đi lặp lại là miền Bắc là bên ký hiệp định nhưng lại phát động bạo lực ở miền Nam trong khi miền Nam không ký hiệp định nhưng lại mong muốn hòa bình.”

Sau cái chết của Ngô Đình Diệm vào năm 1963 và sự sụp đổ sau đó của Đệ nhất Cộng hòa, thông điệp của CTHTCT không hề mất đi mà trái lại có sự hồi sinh dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, ông Ý nói và cho biết dưới các chính quyền khác nhau thì chương trình này lại có trọng tâm khác nhau.

Mặc dù CTHTCT dưới thời Đệ nhị Cộng hòa có những tên gọi khác nhau nhưng nó ‘cũng cùng bản chất, sử dụng lại ý chí, tài liệu cũ’, ông nói thêm.

“Dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, luận điệu được lái theo một phương hướng mới để định hình các cuộc đàm phán đang diễn ra ở Paris.”

Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi đó mô tả miền Nam Việt Nam là ‘một quốc gia yêu chuộng hòa bình nhưng lại bị chiến tranh tàn phá thảm hại bởi những người cộng sản Bắc Việt’, đưa ra yêu sách cơ bản là ‘miền Bắc phải rút quân hoàn toàn khỏi miền Nam’ thì mới thực thi hòa bình và chỉ ra ‘bản chất lường gạt của Việt Cộng như đã chứng tỏ trong việc vi phạm Hiệp định Geneva’.

Cho đến Washington và Hà Nội tiến gần đến một thỏa thuận ở Paris, các tài liệu học tập của CTHTCT bắt đầu tuyên truyền về ‘tính chất hai mặt của cộng sản và việc cộng sản vi phạm hiệp định đã được ký kết là không thể tránh khỏi’, ông Ý nói thêm và giải thích rằng bằng cách này, Hiệp định Paris đã được mô tả theo tinh thần của luận điệu chống Hiệp định Geneva vốn chi phối ở miền Nam.

Sợi dây kết nối

Nhà nghiên cứu này cho rằng chính tinh thần chống Hiệp định Geneva và Hiệp định Paris từ CTHTCT đã nuôi dưỡng thông điệp chính trị của những người Việt hải ngoại ngày nay, những người đã bất chấp nguy hiểm tìm đường tị nạn sau ngày 30/4 năm 1975.

Chính quan điểm chống Cộng này là sợi dây kết nối những người di cư từ miền bắc vào miền Nam vào năm 1954 cũng như làn sóng di cư ồ ạt ra hải ngoại sau năm 1975, nhà nghiên cứu này cho biết.

“Tôi cho rằng điểm tương đồng giữa hai cột mốc thời gian này ít cho thấy đó là sự tị nạn chạy trốn cộng sản hơn là cho thấy sự duy trì một luận điệu chính trị vốn đã có từ thời nền Đệ nhất Cộng hòa và tiếp tục có ảnh hưởng lên người Việt ở Mỹ ngày nay,” ông nói.

Ông cũng giải thích thêm rằng do những sỹ quan và công chức của Việt Nam Cộng hòa, những người tham gia nhiều vào CTHTCT, sau này trở thành các lãnh đạo của cộng đồng người Việt hải ngoại, nên những tư tưởng của CTHTCT trở thành một gạch nối giữa Việt Nam Cộng hòa và cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay.

Ông Ý đưa ra một ví dụ là các tài liệu và ấn phẩm của Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam (tức Mặt trận Hoàng Cơ Minh) vốn chi phối đời sống chính trị của người Việt ở Mỹ vào những năm 1980 đã so sánh sự di cư từ Bắc vào Nam sau hiệp định Geneva năm 1954 với thảm cảnh của người tị nạn miền Nam sau năm 1975.

“Khi qua tới bên Mỹ, tinh thần chống Cộng này được đưa vào trong báo chí, sách vở và trong cách người Việt nói chuyện với nhau,” ông nói.

Trao đổi với VOA bên lề hội thảo về làm sao những người gốc Việt trẻ sinh ra ở hải ngoại thấu hiểu và chia sẻ tinh thần chống Cộng của cha mẹ của họ trong khi họ không hề có trải nghiệm trực tiếp về cộng sản, ông Nguyễn Thiện Ý giải thích rằng tư tưởng chống Cộng đã trở thành dòng ‘tư tưởng bao trùm’ (hegemony) - ảnh hưởng đến tất cả mọi người, lấn át tất cả mọi quan điểm khác và định hình bộ cách làm văn hóa chính trị của người Việt ở Mỹ.

“Những người không có trải nghiệm nghe riết thành ra tin vào lập luận này và nó trở thành câu chuyện của họ luôn.”

“Tình cảm chống Cộng đối với người Việt ở ngoại còn là lời giải thích là tôi từ đâu đến, tại sao tôi có mặt ở đất nước này,” ông nói và cho biết đó là điều tạo nên ‘bản sắc’ và ‘tính thống nhất’ của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.

“Tinh thần chống Cộng của người Việt ở Mỹ sẽ thay đổi. Sẽ không bao giờ có sự lặp lại y hệt (lập luận),” ông nói thêm. “Trong tương lai nó tùy thuộc vào thế hệ trẻ sẽ vận dụng tinh thần chống Cộng này như thế nào, chẳng hạn như ủng hộ các cuộc biểu tình vì dân chủ ở Hong Kong hay dùng nó để hoạt động chính trị.”

Có phải là thành kiến?

Trả lời câu hỏi của VOA rằng CTHTCT của Việt Nam Cộng hòa về bản chất có phải không khác gì với chính sách tuyên truyền của chính quyền Cộng sản miền Bắc hay không, ông Ý nhìn nhận rằng ‘nhiều phần giống như vậy’.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra một khác biệt là trong CTHTCT, người học được quyền phê bình hay phản bác những gì mà họ không đồng ý với tài liệu giảng dạy.

Về câu hỏi khi áp đặt tư tưởng lên người dân như vậy thì có đi ngược lại nguyên tắc dân chủ mà miền Nam theo đuổi hay không, ông Ý giải thích: “Ở Việt Nam hiểu dân chủ khác với phương Tây. Không phải mọi người được nói hết những gì họ muốn nói. Cho nên miền Nam áp dụng dân chủ nhưng có phần nào độc tài trong đó.”

Khi được hỏi những người trở nên chống Cộng vì họ được dạy về tinh thần chống Cộng chứ không phải do trải nghiệm của cá nhân họ về cộng sản thì tinh thần chống Cộng đó có phải là cảm tính hay không, ông Ý nói: “Tình cảm và sự thật đi đôi với nhau.”

Ông giải thích rằng nhiều người mặc dù không trải nghiệm trực tiếp nhưng qua nghe kể lại câu chuyện của người thân, bạn bè họ hoặc nghe về những ‘tội ác cộng sản’ như Cải cách Ruộng đất hay phong trào Nhân văn Giai phẩm rồi khi tiếp xúc với CTHTCT thì ‘lý thuyết đó giúp giải thích cho những gì họ đã nghe thấy’.

“Sau năm 1975, trong số những người bỏ chạy có những người đã sống với cộng sản nên biết rằng họ không bao giờ sống chung với cộng sản được, cũng có những người vì nghe những câu chuyện về cộng sản nên rất sợ phải bỏ chạy và cũng có những người đi theo gia đình của họ,” ông Ý cho biết.

Ông kết luận rằng tinh thần chống Cộng có một vai trò nổi bật trong việc xây dựng nên cộng đồng người Việt ở Mỹ, nhưng tinh thần đó ‘không phải tự nhiên mà có’ mà là sản phẩm được Việt Nam Cộng hòa xây dựng ‘một cách cẩn thận và có hệ thống’.

“Lịch sử là sản phẩm của những hành động có chủ ý như thế,” ông nói.