Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 31 December 2025

 

nền văn minh phân bò

tơi lá Chợ Xép, Huế, thập niên 1950

 MONG CHỜ NỀN VĂN MINH PHÂN BÒ

Tôn Thất Tuệ
(thư cuối năm 2021 gởi nhóm cựu học sinh QHĐK)
Bữa ni, là ngày cuối năm tây (31.12.2021), xem như chiều tuế mộ nhưng nó không có âm hưởng ngày Tết của mình. Dễ hiểu thôi. Chúng tôi tìm mãi một câu chuyện để kể vì mang tiếng nhiều chuyện tầm khào.
Bỗng dưng anh Hiền bên California điện thoại thăm và cho biết Golden State có tuyết mà tuyết nhiều nữa cơ. Bên Georgia, xứ tôi thì mấy năm nay xem như không có tuyết vì lớp tuyết mỏng biến mất trong một hay hai giờ.
Sự thay đổi thời tiết nầy nếu không đột biến thì chưa đến mức đe dọa nền văn minh nhân loại. Khảo cổ cho biết nền văn minh thượng thừa thung lũng Ấn Hà đã bị tiêu diệt vì thời tiết. Nhưng nền văn minh của chúng ta không được định danh, tuy có tính chất toàn cầu, global, một thuật ngữ. Cần đinh danh hư tử thi có mang thẻ tên.
Văn minh Indus Valley tượng trưng bởi thế ngồi thiền định, văn minh Hy Lạp được hiểu theo tính chất duy lý và cũng đã sụp đổ.
Văn minh của chúng ta hiện nay là nền văn minh chất độc hóa học như VN đã mua hàng trăm tấn thuốc làm pin đen nguy hiểm để pha màu cà phê và tiêm thuốc vào trái cây và rau quả. Văn minh của chúng ta là trước thế giới có đứa bé hát nhép tiếng hát của một em bé khác; ấy là mở đầu thế vận hội Bắc Kinh và cả thế giới phủ phục Bắc Kinh như chư hầu.
Văn minh của chúng ta là đệ nhất phu nhân mặc chiếc áo trị giá 69…ngàn dollars trong lúc một tuần "take home" một ngàn đã chợt ruột.
Nhưng nền văn minh ấy sẽ tự nó hủy diệt không cần nhờ khí hậu đổi thay, nhường chỗ cho nền văn minh cứt trâu trong chuyện rất ngắn nầy.
Thằng bé Chu Văn Bình cùng mẹ đi bộ qua làng bên ăn cổ cúng, tức là ăn kỵ. Thời xưa làm gì có cổ mà ăn. Hai mẹ con đi được nửa đường thì gặp bãi phân trâu, bà mẹ bèn hốt đem trở lui nhà rồi đi qua chỗ hẹn như đã bắt đầu. Thằng bé về sau chính là Chu Tử. Chu Tử kể chuyện nầy trước khi viết lên giấy, hình như lúc ấy có cả anh Lữ Hồ.
Khi nền văn minh hiện nay sụp đổ sẽ có những người như mẹ của Chu Tử mở một sinh lộ mới. Đó là lương tâm nhân loại. Và hy vọng những người nầy sẽ không ở trong hoàn cảnh thách thức quá nhiều không thể làm gì mà cải thiện, hay quá ít không cần thiết phải làm gì như Toynbee, sử gia Anh Quốc đã minh chứng.
Trong lịch sử các nước gồm cả VN, những bà mẹ như mẹ Chu Tử đã tạo dựng nền móng cho lịch sử, họ không cần chiếc áo cả 70 ngàn đô, họ chỉ có những chiếc tơi lá.

Sunday, December 28, 2025


HOÀI NIỆM DÂNG TRÀO

Tôn Thất Tuệ • 25.12.2025

Tôi vô cùng ngạc nhiên không nhớ lúc nào thấy nhà thờ Phủ Cam quen thân đã mất tích, thay vào đó là một kiến trúc mới nhiều nét thẳng, góc cạnh, gần như lập thể, cubiste. Không biết lúc nào và vì sao nhà thờ cũ đổi sắc diện. Nhưng tôi không bị bật người kinh hãi như khi thấy các chùa cũ đập ra xây cái mới; độ lớn của nhà thờ cũ mới như nhau, không thay đổi diêm đúa như Chùa Tra Am, Tây Thiên, hàng loạt cổ tự thành thiếu nhi vạm vỡ quần loe áo oét, như anh khổng lồ. Vĩnh Tràng Mỹ Tho ấm cúng đã thành một Đế Thiên Đế Thích rút nhỏ, rấ Căm bu chia.

Bức hình cũ bên trên cho thấy một kiến trúc xưa, nhiều nét tròn, ấm cúng, mời gọi không lạnh lùng như nhà thờ mới. Chẳng khác gì nét bán lập thể của Dinh Độc Lập mới và dinh Norodom bị bom mà nó thay thế. Dễ hiểu vì hai nơi nầy do một kiến trúc sư phát họa.

nhà thờ Phủ Cam mới

Trước nhà thờ là một ngã ba. Hình như Nguyễn Trường Tộ từ ngoài Lê Lợi chạy vô đây quẹo phải chút xíu rồi quẹo trái bên hông nhà thờ đi tiếp ra Nỗng. Khúc nầy có tên và đường trải nhựa. Nhưng từ ngã ba hướng trái cho đến Hàm Nghi không tên hay đúng ra là kiệt số ... Hàm Nghi. Nay khúc nầy tên Hàm Nghi. Hàm Nghi xưa là Trần Phú.

Tôi chỉ biết khúc đường kiệt nầy. Trên đoạn đó có nhà chị Phúc rất dễ mến, là nữ quân nhân. Thân sinh chị Phúc là nhạc trưởng Ban Quân Nhạc kèn đồng của Đại Đội Danh Dự, Phủ Thủ Hiến Trung Việt; ông dạy nhạc các lớp trung học, song song với ông Nguyễn Hữu Ba.

• Tại ngã ba nầy có chuyện rất lạ. Vào mùa nắng thì nước rịn ra làm ướt và trơn trợt đường dầu, rịn ra qua các đường nức. Đứng dưới thấp gần cầu cũng thấy nước óng ánh. Cậu tôi nói nước từ miệng con rồng; nhà thở ở trên đầu rổng, con rồng nầy chạy qua khu mộ gia đình ông Diệm, chạy qua Nỗng. Bây giờ có lẽ đường đúc xi măng nước không chảy ra nữa.

Ngay sau lùm cây bên trái của hình là nhà của Lượng. ban học. Lúc ấy thập niên 1950, nhà chen nhau phần nhiều nhà tranh. Lượng biết âm nhạc có một cây đờn rất lạ với tôi, mà hình như chưa bao giờ Lượng đờn. Nó gồm một miếng kim loại dẻo uốn cong cọ với cung vĩ cầm (archet de violon) tạo ra các âm thanh rùng rợn. Giống như cái cưa nên tiềng tây là đờn cưa, scie lame.

đàn cưa, scie lame

Việc đời chẳng có gì hơn việc nhắc đến tên người. Thân sinh của Lượng là nhạc công chính của nhà thở Phủ Cam, đờn harmonium. Có vài lần tôi theo ông lên lầu cao nhà thờ khi ông đàn. Ông nói rằng bàn nhạc danh tiếng Avec Maria không được đàn trong nhà thờ vì nó được khơi lên bởi những thất vọng tình duyên.

Sáu bảy chục năm sau, tôi nghĩ lại lý do không đúng. Tôi biết ông nói đến tác phẩm của Schubert. Schubert chỉ phổ bản Đức ngữ từ một bài thơ tiếng Anh, không vì nguồn rung cảm tôn giáo. Lý do chính có lẽ bản nầy không theo lối Grégoire. Ave Maria là một thể nhạc chung, nhiều Ave Maria khác nghe như nhạc đạo, của Bach, Caccini, Gounod .... Chàng Schubert của tôi thì rô măng ti cô quá (romantico), lãng man có thừa.

Cẩm, em gái của Lượng không bao giờ vắng mặt trong Đạo Binh Đức Mẹ rước kiệu hằng tuần quanh nhà thờ. Một ông bạn của tôi cũng không bao giờ vắng mặt ở thềm cao nhìn kiệu (sic!) đi qua.

Anh cả của Lượng là đại úy Tiên trong Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống trú đóng Thành Cộng Hòa. Ông quan ba trẻ độc thân vui tính hẵn là người hùng của Thung. À mà lúc tôi quen, chưa có bản nhạc "em chỉ yêu anh binh nhì" cho nên ai cấm Thung hát: em chỉ yêu hoa vàng ba mai".

Thung ở Bến Ngự, trong gia đinh nầy có Thiện. Thiện, Thu Vân (tương lai là Nhã Ca) đã cùng chơi trốn tìm, ù mọi. 1988 Thu Vân ở Mỹ cho biết cái con ù mọi dài hơi nhất đã chết ở tuổi 40, không lâu sau 1975. Trong những thời kinh hằng ngày, tôi vẫn cầu siêu qua Kinh Di Đà và niệm kinh ... Kính mừng Maria Đức Mẹ Chúa Trời Cầu cho chúng tôi là kẻ có tội khi vào trong giờ lâm tử Amen. (Sancta Maria, Mater Dei, ora pro nobis peccatoribus, nunc, et in hora mortis nostrae). Noel 2025 ◙

Ghi chú thêm

Việc đọc kinh Kính Mừng trong thời kinh PG sẽ làm nhiều người dị ứng. Chuyện nầy tôi đã viết trong một bài đăng trên FB cá nhân, blogspot và email đến hơn trăm thân hữu, share lui share tới vẫn không gặp thắc mắc nào. • Tôi làm theo kinh nghiệm sau đây. Tôi quen một vị sư có chung bổn sư với thầy Chơn Thành ở Quận Cam, California cả hai vị tu thiệt nầy đều là những ngọn lá mùa thu trong thế giới y bát hổn mang tạp loại. Thầy được mời làm trụ trì (?) ở Atlanta rồi hơn năm sau bị ban trị sư đuổi, xách theo cái tay nãy ra dường mới biết tài sản 200 dollars đã bị đám cô hồn móc sạch. Chuyện rằng: một thanh niên đã theo TCG để lấy vợ; vì gia đình lạnh nhạt anh chỉ ở bên nhà vợ như ly khai. Nhưng không mấy chốc, canh cơm không lành, anh một mình trở về nhà cha mẹ nương tựa và sống bình thường không có dấu hiệu gì cho thấy anh là một giáo dân. Sống với mẹ hơn mười năm người ấy chết và gia đình lo hậu sự nhờ thầy làm lễ. Sau khi biết rằng lúc sống, anh ấy thường lẻn tránh các ngày kỵ để không lạy hay ăn của cúng, thầy đề nghị nên theo nghi thức TCG, không phải vì chống với PG mà vì lẽ nghi thức TCG quen với hương hồn người nầy, hương hồn ra đi theo đường xưa lối cũ êm thấm hơn; khỏi lấn cấn trong chiếc áo mới, hay đôi giày quá mới. Xin cảm ơn.

• Xin tham khảo Ave Maria của Schubert ở chỗ nầy

 Bốn Đại tá trốn trại tù “cải tạo”ở Yên Bái 1977./-Mt68

– Võ Hữu Hạnh

Những năm dài tháng tận rồi cũng trôi qua trong nhọc nhằn khổ sở cả thể xác lẩn tinh thần. Thắm thoát đã hai năm qua ở mảnh đất tận cùng biên giới phía Bắc Việt Nam này. Hàng ngày chúng tôi phải dậy thật sớm trước khi tiếng kẻng rùng rợn vang lên giữa đêm giá rét O độ của miền Bắc rẻo cao này, để xếp hàng làm vệ sinh cá nhân, vì hể một khi tiếng kèn đã nổi lên rồi thì mình sẽ không còn là mình nữa,mà là một con trục quay cuồng trong guồng máy luyện thép khổng lồ.

Thời gian đó các cai tù phân công chúng tôi ra từng cặp một trẻ một già, một khoẻ một yếu để vác một cây bồ đề dài khoảng 6 thước, chu vi chừng vài tấc trở lên qua đoạn đường rừng gần 10 cây số, mỗi ngày cặp tù nhân đó phải vác đủ ba chuyến như thế cho đủ chỉ tiêu. Lúc dó khoảng 4 giờ chiều, tôi và một anh bạn trẻ đang khiêng một cây Bồ Đề to lớn, đã cố sức vưọt qua bao nhiêu ngọn đèo,chỉ còn một đèo chót là đến nơi đang xây dựng bệnh xá được xây thêm cho càng ngày càng có thêm bệnh nhân tù.

Trời mưa tầm tã, dưới chân chúng tôi nước chảy thành dòng như muốn cuốn trôi mọi thứ, chúng tôi phải hết sức kềm chân cho chặt vừa phải oằn vai chịu sức nặng đẫm nước của cây tươi vừa đốn hạ. Bỗng nhiên anh bạn gánh vai sau trợt chân té ngửa, buông rơi cả thân cây to, khiến đầu cây còn lại đập mạnh vào hông phải tôi. Đau đón tôi ngất lịm, chân bị trật cả gân lẫn xương. Tôi vào bệnh xá dể được một ông y sĩ Trường Sơn, mỗi lần chữa bệnh, vừa xem cuốn sách châm cứu do Miền Nam ấn hành, vừa châm vào tôi cây kim dài đã hơ qua ngọn lửa vừa nói:

– Tổ chức châm cứu săn sóc anh đây. Chừng nào anh cảm thấy đau buốt thì cứ la lên, tôi sẽ tìm huyệt khác đúng hơn!.

Nhờ mỗi ngày chịu trận cho ông y sĩ dỏm này thực tập vài ba tiếng, tôi mới được ông ký giấy cho “Miễn lao động “ trong ngày ấy.

Ngày hôm trước ngày tôi bị cây to đè ngang hông, khi tôi khiêng cây dến đoạn đường Nghĩa Lộ, vừa đói vừa khát, kiệt sức tôi ngã vật xuống bên lềđường. Hai cán bộ bảo vệ trẻ thương hại mới đỡ tôi dậy, nhưng ngay lúc đó cán bộ phó trại, ngưòi mập lùn đi ngang qua, không cho đỡ tôi lại còn đay nghiến: “-Các đồng chí không việc gì mà phải đỡ hộ họ!” Rồi anh cán bộ phó trại quay sang chúng tôi sang sảng: “ Tôi biết rõ ở trong Nam, mỗi tuần các anh hầm thuốc Bắc một đứa trẻ từ một tuổi để bồi dưỡng, đúng là quân man di mọi rợ không có tính người! Vì thế anh nào cũng béo tốt như ri, lao động một chút không bằng ai mà cũng giả vờ té xỉu..nhất là mấy anh tỉnh trưởng!!!”

Nhìn vẻ mặt anh ta đỏ gay, gân cổ lên mà nói to ra vẻ rất hiểu biết, để gây thêm căm thù, chúng tôi bổng thấy thương hại sự ấu trĩ của họ hơn là oán ghét. Còn lạ gì một anh chăn trâu suốt đời không được học hành giáo dục, chỉ biết lặp lại nhai lại y khuôn những gì Đảng nói và nhồi sọ cho họ, gây căm thù giai cấp càng nhiều càng tốt. Họ có biết đâu lúc đó tại các thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn, hàng ngày các bác sĩ cán bộ được lệnh “Kế Hoạch Hóa Gia Đình”, để hợp pháp giết non hàng ngàn thai nhi vô tội.

Chúng tôi vẫn tiếp tục lê gót sống những ngày tù khoắc khoải, thì một hôm nọ, trời vừa hửng sáng là trại bị bọn cán bộ, lính bảo vệ trang bị súng ống chĩa vào các lán trạì tù. Ngày hôm đó họ kiểm soát rất gắt gao, nhân dịp tịch thu tất cả những gì chúng tôi có thể để dành ăn chống đói như đường,sữa, bánh ngọt khô.

Cán bộ phó oang oang cái miệng hò hét om sòm:

– Dzõ dzàng nà các anh ngoan cố phản động không chịu học tập cải tạo tốt để sớm lên ngườì công dân xã hội chủ nghĩa tốt, nhất là mấy bọn đại tá các anh đã phụ nòng tin tưởng khoan hồng của Bác, Đảng và Chính phủ, các anh có biết chuyện gì xảy ra sáng nay không?

Ai nấy đều rõ nhưng vẫn im lặng như không. Các lán trại đã tung tin rất nhanh về việc 4 ông đại tá đã trốn trại làm nức lòng nhũng trại viên còn lại. Họ vừa mừng vừa lo và van vái thầm cầu xin cho các vị đó được mau thoát đến đất Lào và biết đâu đến bờ Tự Do đất Thái.

Họ đi theo đội hình như sau:

– Đại Tá Thành, trung đoàn trưởng, trưởng toán trốn trại, mở đường.

– Kế đó là Đại tá Nguyễn Văn Thi, binh chủng Pháo Binh, người giữ địa bàn định hướng.

– Người đi giữa mang thực phẩm cho toán là Đại tá Đỗ Trọng Huề, cựu giám đốc QuốcGia Nghĩa Tử, cố vấn văn hóa cho tổng thống Thiệu.

– Và người giữ mặt hậu là Đại tá Quế, chỉ huy trưởng căn cứ không quân Pleiku.

Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày củng cố lòng tin cho mọi người. Các cán bộ điên cuồng như ác thú lùng sục tất cả núi đồi. các đội tù đi lấy cát, đá, vôi ở Bến Phà Ô Lâu cũng như các đội lao động nặng lên rừng đốn gỗ đều được lệnh tạm đình chỉ. Chỉ riêng 4 đội tăng gia và hái chè là còn hoạt động cầm chừng dưới sự giám sát gấp đôi của những chú bộ đội phúng phính trong bộ đồ “ Cứt Ngựa “.Các giờ giài lao 10 phút thưòng lệ đều bị cắt bỏ, chỉ tiêu tăng gấp đôi để mọi người mệt nhoài không còn thời giờ nghỉ ngơi dù là một phút giây nào. Vài anh tù “ nông cạn” vội chưởi rủa bốn anh trốn trại, vì họ mà cả bọn chịu cực khổ thêm. Còn lại đa số đều “ phấn khởi hồ hởi “ vì họ thêm một ngày hi vọng cho những ai chuẩn bị trốn trại sau đó.

Trại cho thay đổi ngay những người “ anh nuôi “. Những người nầy bị an ninh điều tra thô bạo. Anh đại tá Võ Ân bị gọi lên xuống mấy chục bận mỗi ngày để điều tra manh mối xem ai là người xếp đặt hậu cần cho các anh trốn một cách bí mật chu đáo mà không ai hay biết.

Bốn anh Đại tá trong đội “Cơ Động” hàng ngày đưọc phân công dùng xe cải tiến đến Bến Phà Ô Lâu chở vật liệu nặng về xây cất cho trại. Các anh lợi dụng những chuyến đưọc xuất trại xa như thế đã ngấm ngầm cấu kết với nhau âm mưu trốn trại qua Lào, với sự giúp đỡ của anh Võ Ân, phụ trách nhà bếp trại.

Sau cả tháng mỗi ngày giấu một ít thực phẩm khô, ngày N,giờ G, thừa lúc mấy anh bảo vệ lơ là, các anh ĐT nhà ta lần lượt biến mất sau mỗi quả đồi, hẹn nhau tại một điểm tập trung và … chạy trốn!

Các anh đã đi suông sẻ suốt ngày đầu tiên mà không ai hay biết cho đến chiều tối lúc điểm danh. Đội cơ động bị phát hiện thiếu mất bốn người khiến cán bộ quản giáo, bộ đội canh gác bấn lọan, bắn súng loạn xạ. Lúc đó cả trại mới hay có bốn ông “Bò Lục” trốn thoát, ít nữa là ngày đầu tiên, ai nấy vừa lo vừa mừng cho các anh.

Chúng tôi lo lắng vì noi miền rẻo cao này, mỗi người dân đều là Cộng Sản, là cán bộ tình báo của chúng để quan sát theo dõi chúng tôi sít sao, vì thế mà họ không ngại “thả” chúng tôi ra ngoài để lao động khổ sai vì vùng này họ cho là an toàn nhất,một con ruồi còn khó qua mắt họ.

Nhóm anh Huề, anh Thành, Anh Thi và anh Quế vớí sự trợ giúp hậu cần của anh Võ Ân, tưởng đã trốn trại được đến gần biên giới Lào vẫn bị chúng nó phát hiện sau năm ngày sát biên giới, mà theo lời kể của các anh là “chỉ cần qua bên kia con sông đang chảy xiết là đến đất Lào rồi”, kể thì các anh quá giỏi đã vạch kế hoạch, đi đúng hướng chính xác mục tiêu, thất bại chẳng qua là.. số mệnh dun rủi mà thôi!

Chúng họ theo đuổi lùng sục các anh tận biên giới, nơi chắc chắn các anh sẽ đến, quả thật bọn chúng đánh giá không thấp trình độ của các sĩ quan ta. Khi giải các anh về bọn chúng như bầy quỷ dữ khát máu hung hăng, tha hồ đánh đập hành hạ các anh chết đi sống lại cho hả cơn giận của chúng. Riêng anh Thành, trưởng nhóm vượt ngục, bị nhốt riêng rồi thay nhau đánh đập tra khảo anh từ suốt đêm đến sáng. Càng bị hành hạ, anh càng lớn tiếng chưởi bới, cho đến khi gà gáy sáng thì anh không còn có thể la mằng gì được nữa vì chúng nó đã treo cổ anh rồi.

Sau này khi tôi bị biệt giam với các anh Huề, Thi, Võ Ân, Tâm, Huy, Bình, Đức ở khu F, phòng 7, trại Hà Tây, Tỉnh Hà Sơn Bình, mỗi khi nhắc đến anh Thành là mọi người yên lặng rơi lệ, thành kính tưởng niệm một anh hùng bất khuất, nhất là anh Huề, Thi,Võ Ân.

Theo lời anh Huề, sau khi chuẩn bị kỷ lưỡng cà mấy tháng trời những địa điểm tiếp tế các anh đã lần lượt chôn dấu thực phẩm cho những ngày đầu còn ở gần trại thì các anh bắt đầu đi suốt ngày đêm, tránh gặp dânchúng. Đến ngày thứ ba và thứ tư qua, bốn anh em mừng rỡ tưởng gần như thoát nạn rồi. Đường càng xa Yên Bái thì núi non càng cao dần lên, nhiều nơi dốc như thẳng đứng khiến anh em khốn khổ vô cùng. Đến sớm ngày thứ tư thì anh Thành thoáng thấy từ xa một buôn làng có những cuộn khói bốc lên từ các mái tranh. Tuy mừng rỡ nhưng anh em bảo nhau đề cao cảnh giác đi bọc vòng xa ngôi làng.

Bổng đâu có tiếng rào rào như giông to sắp đến nơi, anh Thi, người định hướng đi trong rừng giỏi nhất vì anh là cấp chỉ huy pháo binh, kể chuyện tiếp:

“Lúc đó mọi người đều rã rời vì cơn khát nung nấu dày vò,nhưng tiếng động lạ càng lúc càng to dần,mọi người dều thủ dao sẳn bên mình, sẳn sàng chiến đấu một mất một còn với bất cứ ai khám phá ra bọn người đang quyết tâm đi tìm tự do với bất cứ giá nào.

Tiếng rì rào càng phút càng to dần trên đầu, bọn ngươì núp vào kẻ đá trong lùm cây chờ đợi. Thật bất ngờ! Mọi người há hốc mồm nhìn lên … đó là một con kỳ đà khổng lồ rất dài đang le chiếc lưõi đôi nhìn bọn người trốn trại nhỏ bé đang ép mình vào kẹt đá.

Ngươì ta thuờng nói “Ra đường gặp kỳ đà cản mũi, ắt việc không thành tựu được!”. Nhưng lúc đó đối với các anh tù vượt ngục đói khát suy nhược thì con kỳ đà này là món quà trời thương ban, giúp các anh có thêm sức lực.

Họ đã thấy xa xa con sông to dài tung lên những bọt trắng xóa chứng tỏ nước chảy rất mạnh. theo bản đồ và la bàn thì con sông đó có thể là sông Mekong chảy xuyên qua Trung Cộng, Lào, Kampuchia và Việt Nam, vì từ trên đỉnh núi cây lá dày đặc nhìn xuống thì nó rất rộng và dài vô tận uốn khúc như con rắn khổng lồ.

Gần bờ sông các làng mạc mọc nhiều, dân cư hay lên rừng đốn củi, săn thú nên anh em quyết định ngày ngủ dêm đi, di chuyễn dần lên phía Bắc nơi con sông hẹp hơn để vượt qua. Ai cũng mừng vì sắp thành công cuộc vượt ngục hi hữu này, cố làm sao đủ sức vượt sông đến khu rừng tre dày đặc bên kia xứ Lào.

Khi con người cố gắng hết sức để đạt mục tiêu, cơ thể có khả năng siêu việt vượt qua tất cả, để một khi đạt hay gần khi gần tới mục tiêu, cơ thể rũ liệt kiệt sức,các anh em vượt trại mấy ngày đêm nay thấy gần thành công thì bỗng dưng bao mệt mõi đổ ụp xuống, tuy nhiên anh em cũng cố gắng thay phiên nhau trực canh, tìm mọi phuơng cách để vượt sông an toàn.

Bổng nhiên có tiếng chó sủa càng lúc càng gần càng rộ lên. Thì ra, dân bản xứ đi rừng khám phá dâu chân lạ trên con đường mòn, gần bờ suối cây lá bị đạp ngã, họ thả chó đánh hơi và báo đồn công an, nghi ngờ có bọn thổ phỉ buôn lậu thuốc phiện xuyên biên giới.

Tiếng chó sủa dữ dội cùng tiếng súng bao vây các anh, nhữngtiếng quát tháo rợn người vang lên:

– Ai muốn sống giơ tay khỏi đầu ngay!

Rồi những gương mặt dữ dằn của bầy lang sói độc ác xuất hiện kèm theo những trận mưa đòn tàn bạo, gậy gộc báng súng đánh tới tấp trên đầu, cổ, mặt mũi, mình mẩy những nạn nhân tù đày ốm đói run rẩy không chút tự vệ.

Giữa trận mưa máu, có tiếng một cụ già:

– Thôi cho tôi xin các ông! Tưởng là bọn thổ phỉ buôn lậu biên giới, hóa ra là tù “cải tạo” Miền Nam. Họ không thể chống cự, hà tất phải đánh đập họ đến chết như thế!

Bốn anh em ngất lịm đi trong cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trên đời. Mặt mũi mình mẩy họ không còn là con ngườii nữa mà là những con vật hình thù méo mó tả toi dươí những trận đòn từ những ác quỷ đầy hận thù đội lốt người thắng trận!

Chiều hôm đó tại lán trại, sau khi nhận điện báo khẩn, trại trưởng huy động hai đội lao công khẩn trương đục hang vào sưòn núi sâu, không ai biết để làm gì, tưởng là nơi để họ cất giấu vũ khí hay chứa thực phẩm lưong khô, đến khi có những tấm vĩ sắt dựng thành cửa ngục lên thì ai nấy đều hiểu ra đó là nơi để giam giữ tù vượt trại. Chúng tôi hoài nghi có lẽ bốn “Bò Lục” đã bị bắt và đang trên đường trở về.

Thật đúng như vậy! Một buổi chiều u ám, từ chân trời có tiếng vó ngựa tung bụi mờ, giữa bầy quỷ dữ đang hò hét trên lưng ngựa cho chiến thắng vĩ đại là bốn người tù bị lôi xểnh theo sau lưng ngựa, hứng chịu những trận đòn, họ té khụy xuống rồi lại bị lôi dậy lúp xúp chạy theo vó ngựa, rồi loạng choạng té xuống mặc cho những sợi dây trói chặt quấn lấy thân thể rách bươm lôi kéo họ như những thanh gổ vô tri giác!

Chúng tôi chết điếng lặng ngưòi nép bên đường nhìn họ đi qua sau giờ chúng tôi lao động cải tạo vể, vô tình hay cố ý họ cho chúng tôi thấy hình phạt khủng khiếp của những ai có ý định trốn trại. Chúng tôi để mặc cho giòng lệ tuôn trào từ những đôi mắt trũng sâu, lăn dài trên đôi gò má hốc hác khắc khổ. Anh em chúng tôi đó! Những NGƯỜI HÙNG sau cuộc chiến! Không thành công đã thành NHÂN! Dù không còn ai có thể nhận ra các anh, vì các gương mặt đã bị bầm dập tan nát sau trận mưa đòn thù.

Sáng hôm sau, anh Thành đã chết cách anh dũng bất khuất! Xin dâng anh một nén hương lòng!

Vài hôm sau đó, có lẽ để xoa dịu lòng căm phẫn nhem nhúm trong tù trại Yên Bái trại 2, hoặc gây chia rẽ nghi ngờ giữa các anh em tù, hoặc muốn tỏra rằng Đảng ta luôn khoan hồng nhân đạo,nên trong một buổi học tập chính trị toàn trại, người ta đem anh Quế trình diện mọi người, đề cao anh là “thành phần tiến bộ “, biết “ tội lỗi mình làm “, xin tập thể trại viên nhận anh lại vào hàng ngũ những người cải tạo tốt. Còn hai anh Huề và Thi hãy còn ngoan cố,chưa xứng đáng được nhân dân tha thứ, còn phải chờ lâu dài. Mọi người khẽ thở dài, không ai có ý kiến gì, bởi vì không ai đoán bọn CS thâm độc mưu mô này sẽ còn dùng chiêu thức gì nữa.

Ít lâu sau đó, ngày 19/07/1977, hàng ngũ tù Đại tá chúng tôi được lệnh chuyển sang trại Tám ở thâm sơn cùng cốc đầy ao tù nước vàng đặc, nếu lỡ đạp chân xuống đó sẽ bị nhiễm sốt rét hoặc sốt rét rừng kinh niên. Ngay ngày đầu tiên khai hoang vùng hoang địa này dể trồng trọt, tôi là bệnh nhân sốt rét rừng đầu tiên. Cứ khoàng 4, 5 giờ chiều cơn rét kéo tới hành hạ tôi run lập cập, đắp bao nhiêu mền vẫn không đủ ấm, cái lạnh từ trong xương lạnh ra, rồi đến 12 giò đêm thì nóng sốt như lủa đốt như có muôn ngàn ngọn lửa châm vào đầu ngón chân mình mẩy. Thế mà sáng ra không được nghỉ ngơi, họ cho là tôi bệnh vờ nên tôi vẫn phải lao động như thường. Như chưa đủ khốn khổ, người phát thuốc ở trạm xá, vốn là người “ của ta “, nhưng nhờ “quen biết “ cán bộ, nên bắt chẹt anh em, mỗi lần anh ta bố thí cho vài viên Quinine, đã bị anh ta liếm hết chất ngọt bọc đường bao quanh, là đổi lại chúng tôi phải biếu hắn thuốc lào ba số hoặc đồ thăm nuôi. Thuốc men gia đình chúng tôi gửi nuôi đều bị trại cất giữ hộ, họ phát “Xuyên Tâm Liên “ để trị bá bệnh!...../-

Tuesday, 30 December 2025

 

Liên Đoàn Trưởng Thiếu Sinh Quân của ngày 30-4-1975 – Quang Caumuoi, cựu TSQ VNCH

Quang Caumuoi, cựu TSQ VNCH 

(Xin phép “Thằng Em trời đánh” Post lại bài này nhe -Anka Pham)

Người thiếu niên này là một trong những TSQ xuất sắc nhất của ngôi trường TSQ VNCH tại Vũng Tàu trước năm 1975.

Anh ấy là Thiếu Sinh Quân Liên Đoàn Trưởng của những ngày tháng cuối cùng khi quân Bắc Việt cưỡng chiếm toàn bộ Miền Nam.

Phải nói rằng Anh ấy rất đẹp trai, con trai mà môi hồng như con gái, tướng tá thì không cao lớn nhưng vẫn toát ra được cái oai dũng của một người có năng khiếu chỉ huy.

Để được đề bạt làm TSQ LĐT không phải dễ, trong tổng số của gần 400 CTSQ của liên lớp 12, với cấp bậc Thượng Sĩ Danh Dự.

Trong kế hoạch đào tạo TSQ của QLVNCH thì hệ thống tự chỉ huy được áp dụng cho các đơn vị nhỏ nhất từ cấp Trung Đội lên đến Liên Đoàn TSQ gồm 1400 TSQ.

Người LĐT có một ban tham mưu cũng gồm các TSQ cấp trưởng phụ tá.

LĐT lúc nào cũng phải quân phục chỉnh tề, đi đứng, nói năng phải tỏ ra là gương mẫu cho các TSQ khác noi theo, cũng cần nói thêm là để được đề bạt làm TSQ LĐT anh ta cũng cần phải đạt được điểm cao nhất của mỗi Lục cá nguyệt bao gồm điểm học vấn, quân sự , võ thuật, âm nhạc, hạnh kiểm v..v..v

Đối với những người Đàn Anh thuộc liên lớp 12 năm đó thì chúng tôi chỉ “Kính Nhi Viễn Chi” nghĩa là né được lúc nào thì né, lân la lại gần mất công các “bố” buồn vui ai biết được.. thế mà cuộc đời có những cái mình không ngờ tới.

Tôi đã được người Đàn Anh này cùng với một người Đàn Anh khác bao bọc trong thời gian hơn một tháng sau ngày đá nát vàng phai 30-4-1975.

Người thiếu niên trong tấm hình này, đã chứng tỏ được năng khiếu chỉ huy trong những giờ phút hấp hối của Miền Nam nói chung và ngôi trường Mẹ thân yêu của tập thể CTSQ VNCH nói riêng.

Là TSQ LĐT dù lúc đó đã được lịnh tan hàng, nhưng với hơn 700 TSQ còn kẹt lại ở trường, bao gồm các TSQ thuộc vùng 1 vùng 2 và những TSQ thuộc vùng 3 vùng 4 Biệt Khu Thủ Đô ở lại học thi tú tài hay không có nơi chốn để về thì cái trách nhiệm của người Liên Đoàn Trưởng TSQ rất nặng … cái trách niệm này tự lương tâm, danh dự của một người chỉ huy chứ không ai ép buộc anh ấy cả, và như đã nói..

Anh ấy cùng với một toán TSQ cấp trưởng đã điều động chỉ huy, phòng thủ và chống trả sự tấn công của quân Bắc Việt gốm những cán binh đã quen với chiến trận so với ‘Bầy Sư Tử Lãng Mạn” chỉ toàn là thiếu niên chưa đến 18 tuổi, chưa bao giờ nếm mùi chiến trận..đang bị dồn vào đường cùng. Trận chiến này đã để lại trong lòng người dân Vũng Tàu một ấn tượng.

Những Người năm xưa ấy ơi đâu rồi??

Trịnh Minh Thắng,

Nguyễn Văn An,

Minh” xe be”

Lãng”xi cà tưa”

Nguyễn Văn Thành..

Nghĩa “đại hàn”..

Lâm A Sáng..v.v..”

Trận chiến kéo dài từ rạng sáng ngày 30-4-75 cho đến 1 giờ trưa cùng ngày..khi tấm “ra “giường thay cho cờ trắng được kéo lên thế chỗ cho Lá Quốc Kỳ trong một nghi lễ đơn giản nhưng vô cùng hùng tráng.

“Bắt súng chào…bắt.”

Lá Quốc Kỳ được từ từ kéo xuống, xếp lại trang trọng và sau đó từng đoàn cán binh Bắc Việt hùng hổ xông vào Trường quát nạt, dí súng bắt tất cả tập họp lại trước sân Vũ Đình Trường tôi vẫn còn thấy Anh với chiếc áo mưa màu xanh đi tới đi lui dặn dò bàn bạc, an ủi các TSQ lớp nhỏ.

Bộ Đội quát hỏi ai là người chỉ huy thì chỉ nhận được sự im lặng của toàn thể TSQ lúc đó.

Họ lùa chúng tôi qua trại gia binh Cô Giang kế cận… và từ đó chúng tôi tan hàng… mỗi nhóm, túa ra khắp mọi nẻo đường của Thị Xã Vũng Tàu và đường 15 hướng về Sài Gòn…

Tôi tìm đường về Trung… 3 anh em còn lại 2 … một đã may mắn gặp lại gia đình ở bến xe An Đông… tôi với thằng Lợi đi nhờ từng đoạn về tới Miền Trung…

Tình hình lúc đó ở miền Trung rất là “sắt máu” tôi lại lặn lội vào Nam.

Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi cũng không hiểu tại sao lúc đó mình lại liều như vậy…

Trên đường tôi lại may mắn quen được một người tù binh thuộc binh chủng Nhảy Dù cùng với người hôn thê là du kích Việt Cộng thuộc Huyện đội Quế Sơn người đã giam giữ anh ấy, khi anh bị bắt làm tù binh từ năm 1972… cũng từ những đồng tiền của chị mà ba anh em vào tới được Sài Gòn… sau khi trú ngụ tại nhà anh ấy được hai tuần thì tôi lại muốn đi, thật ra vì gia đình anh ấy là người Hoa Chợ Lớn nên phong tục rất khó khăn hơn nữa thời buổi nhiễu nhương..lòng người cũng giao động… anh chị cũng bắt đầu có trục trặc trong vấn đề tình cảm nên dù chị ấy rủ tôi về lại miền Trung với lời hứa sẽ bao bọc cho.. nhưng không hiểu sao tôi lại lắc đầu…chắc tại cái số mệnh…anh chị cho một ít tiền … tôi về lại Vũng Tàu và tôi gặp lại Người Đàn Anh này.. Nhà Thờ Xứ Tân Châu, Cha Xứ đã ra đi, chỉ còn lại Vị Cha phó trẻ trung, dễ mến…tôi không nhớ từ đâu tôi lại gặp hai Anh, chắc những ngày tháng đẩy xe ba gác kiếm bánh mì ở chợ Bến Đình…

Hai anh đưa tôi về trú ngụ ở nhà thờ…ngày ra chợ kiếm cơm, tối về mấy anh em chia nhau những gì kiếm được..sống qua ngày.

Các bạn biết không? trong hoàn cảnh như thế mà Hai Anh vẫn cố ôn bài…cho kỳ thi Tú Tài sắp được nhà cầm quyền mới mở ra… thế mới nói…tôi còn nhớ anh ấy nói…phải cố học…vì không học thì mình không giúp được gì cho đất nước cả…cho dù chế độ nào cũng cần người có học… bây giờ ngồi nhớ lại tôi thương thật thương cái tâm hồn trong trắng của các anh vô cùng… thật tình mà nói Trường TSQ VNCH không bao giờ dạy cho chúng ta lòng hận thù với Miền Bắc… chúng ta hoàn toàn ngây thơ với người cộng sản…cho đến một ngày …Cha Phó với khuôn mặt buồn hiu hắt…thông báo với ba anh em rằng..

‘Cha không bảo bọc các con được nữa, du kích họ làm khó dễ… Cha xin lỗi”

Đứng trước tình cảnh này, Anh ấy vẫn bình tĩnh..tạ ơn Cha, xin cho chúng con thời gian ngắn…chúng con sẽ tự tìm nơi chốn… không biết hai anh làm gì bàn bạc ra sao nhưng một chiều anh ấy kêu tôi lại và nói rằng:

“em cũng biết tình cảnh anh em chúng ta, tụi anh không bao giờ muốn bỏ em cả, nhưng… anh đã tìm ra được một gia đình họ sắp lên vùng kinh tế mới.. gia đình này không có con trai nên họ cần một người con trai để phụ giúp họ…thời thế…

em hiểu không? tạm thời như thế cho qua, anh sẽ giữ liên lạc với em…qua họ…nếu khi nào nhận được lời nhắn của anh, bất cứ giá nào em cũng phải tìm về lại Vũng Tàu nghe chưa?”

Ba anh em chúng tôi chia tay nhau từ đó… giòng đời trôi… bến bờ nào trên sông dài ai biết..

Bốn mươi năm qua rồi…

Anh giờ vẫn bặt tin…có những tin không chắc lắm về anh.

Ngày hôm nay, qua phương tiện truyền thông hiện đại, qua những anh em chúng ta ở trên toàn thế giới thế mà không ai biết chắc chắc anh còn sống hay đã chết…

Tôi không tin một người như Anh lại chán đời chán anh em để mà tìm nơi ẩn thân vì không có lý do nào để anh làm như thế… cả bạn anh là anh Nguyễn Văn An tôi cũng không nghe tin tức gì cả dù tôi vẫn để tâm kiếm tìm…

Anh Thắng… em viết những giòng này cho Anh…nếu anh còn sống em chúc anh luôn mạnh khỏe… và làm những gì anh thích… như ẩn thân từ bấy lâu nay..

Chẳng may Anh đã mệnh chung… em cầu xin linh hồn anh được yên nghỉ đời đời… cuộc đời anh em chúng ta thăng trầm cùng vận nước, nghĩ cũng buồn anh nhỉ?

Anh là một trong những người Đàn Anh TSQ mà em mang ơn và kính phục.

Cái tình, cái nghĩa anh em, mà anh biểu hiện em nguyện noi theo… cho đến ngày nhắm mắt…

Anh em ta mất hết chỉ còn nhau.

Quang Caumuoi

cựu TSQ VNCH

Nguồn: http://hon-viet.co.uk/QuangTSQVNCH_LienDoanTruongThieuSinhQuanCuaNgay30ThangTu1975.htm

 NHÂN THỜI GIAN LƠ LÀ GIÁNG SINH- NHÓM TRỘM ĐÃ KHOAN TƯỜNG MỘT NGÂN HÀNH LẤY TRỘM 52 TRIỆU ĐỨC MARK CỦA NGÂN HÀNG TIẾT KIỆM ĐỨC (GERMAN SAVING BANK)./-Mt68

///////////////////////

Robbers steal $52 million from vault of German savings bank

A large hole drilled into a brick wall with items all over the ground.

Authorities say the robbers drilled into the vault from a neighbouring car park. (AFP/Police Gelsenkirchen)

In short:

Robbers have made off with $52 million worth of cash, gold and jewellery from the vault of a German savings bank.

According to police in the western city of Gelsenkirchen, the robbers drilled their way into the underground vault room of the savings bank from a parking garage. 

Investigators suspect the gang spent much of the weekend inside, breaking open the deposit boxes.