Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHCDinhBaTamCali. Show all posts
Showing posts with label QGHCDinhBaTamCali. Show all posts

Monday, 9 September 2024

QUÊ NGOẠI NĂM XƯA

       


           
                                                     

  sáng hôm nay trời bỗng nhiên trở lạnh, âm u với mưa phùn nhẹ bay. Mùa đông đã đến miền Nam California. Qua khung cửa kính, tôi nhìn làn mưa giăng giăng khắp bầu trời mà nhớ đến quê nhà năm xưa bên kia vòng trái đất. Trong hơn nửa thế kỷ qua, những quãng đời lạnh lẽo gió mưa thỉnh thoảng lại xảy đến, như những mảng tối của bức tranh vân cẩu cuộc đời. Đó là trại tù “cải tạo” ở miền núi xứ Thanh năm 1976. Đó là  lần trốn chạy Việt Minh từ Bình Định đến Huế năm 1954. Và xa hơn nữa, đó là những năm sống trong vùng “kháng chiến” của VM trước 1954 - mà cho đến nay, cái cảm giác lạnh căm của những buổi chiều mưa phùn gió bấc, co ro trong chiếc áo ngắn tay, cổ hở trên đường đi học về vẫn còn trong tâm trí tôi . Đó cũng là thời gian chúng tôi ở quê ngoại, một làng quê có phố xá khá trù phú, cách huyện lỵ Phù Mỹ chín cây số về phía đông.

*  *  *

            Khoảng năm 1950, Ông Bà tôi di chuyển về một căn nhà khác gần vùng núi, nhường hai căn nhà ngoài phố chợ cho mẹ con chúng tôi. Với gia đình một cô giáo với năm con nhỏ, thiếu vắng người cha bận công tác nơi “cơ quan trên chiến khu” xa xôi, chúng tôi sống trong căn nhà thênh thang nhưng đã quá cũ kỹ , thì thật lạnh lẽo quạnh hiu!  

Gia đình chúng tôi đã trải qua cuộc sống như thế  ở một nơi từng có một thời kỳ sung túc huy hoàng. Chủ nhân ngôi nhà, ngoại tôi là “Đốc học” của ngôi trường duy nhất trong làng. Trong quá khứ, vị hiệu trưởng trường làng đã xếp “cái bút cái nghiên” của một nền Nho học đã về chiề, đến Huế học tiếng Pháp ở trường Pellerin. Nhưng Ông tôi tuy đã theo Tây học nhưng không quên nếp sống phong lưu của nền văn hóa cổ truyền: Hát Bội. Ông thuê một gánh hát từ thành phố Quy nhơn về làng, dựng rạp, nuôi đào kép để trình diễn “miễn phí” cho bà con làng xóm xem chơi. Trong khi đó, người vợ đảm đang - bà Ngoại tôi, dành dụm tiền bạc để  sắm xe kéo gọng đồng cho chồng đi dạy học hoặc đi chơi xa. Bà còn buôn bán tảo tần, tậu xe hàng, mua thuốc lá từ làng quê đến các thành phố lớn để bán, trong số đó có cả Sàigòn tận Nam kỳ thuộc địa!

   Trong những bức ảnh còn lưu lại, con cháu còn thấy hình ảnh Ông ngoại ngồi chễm chệ trên ghế danh dự trước sân khấu, cầm dùi đánh trống chầu, cổ võ cho các đào kép diễn tuồng. Về sau, khi gánh hát vãng tuồng, trả lại rạp, về quê, Ông tôi đã âm thầm đi theo. Nhưng không phải vì say mê tài nghệ của đoàn hát,   do “phải lòng” cô đào chính- cô Tư! Bà dẫn gia nhân đi “đánh ghen”, tìm đến gặp cô Tư ở một làng quê gần Quy nhơn.  

Khi thấy Ông đang nằm ngủ “chèo queo” trong căn nhà nhỏ hẹp nghèo nàn, Bà muốn rơi nước mắt. Bà gọi cô Tư ra để “nói phải quấy”, sau đó tìm cách mua chuộc, hăm doạ… Tuy nhiên cô vẫn một mực thú nhận: vì đã nặng lòng yêu thương” nên không thể sống thiếu Ông được! Cuối cùng Bà đành hợp thức hóa mối tình vụng trộm. Và để cứu vãn danh dự của một ông Đốc học đang có uy tín trong làng, Bà đưa cô Tư về sống với Ông Bà trong thân phận thê thiếp.

            Nếu kịch bản cuộc đời ngang trái trên sân khấu đã được cô Tư đóng tuồng dễ dàng bao nhiêu, thì cuộc sống thê thiếp khi về ở với Ông Bà ngoại tôi, thật khó khăn cay đắng với cô bấy nhiêu. Cho đến khi Ông nhận ra cô đào chính của gánh hát bội trước đây, nay không còn má phấn môi son , xiêm y rực rỡ, hấp dẫn gợi tình như khi cô đã đóng tuồng,   ông bỗng thấy chán chường, muốn cho cô trở về quê cũ… Bà hết lời can ngăn cũng không được, đành tặng cô một số tiền để về quê sinh sống.

Còn Ông, từ đó không còn dựng rạp thuê đào kép về trình diễn hát bội nữa. Ông  tự học tuồng, mua áo mão cân đai về cùng bạn bè trình diễn tại tư gia! Sau đó Ông vào Sài gòn mua một máy hát hiệu Pathé, một số dĩa nhựa nhạc cải lương để thỉnh thoảng mở máy cho bà con hàng xóm thưởng thức.

                                                                       *  * *

            Sau năm 1963, chiến tranh lan tràn đến vùng quê ngoại, Ông Bà tôi di tản vào Sài gòn, bỏ lại cơ ngơi của một thời phong lưu nơi phố thị. Trong cảnh xa quê cũ, Ông thường tìm đến bạn bè đồng hương để nhắc lại cảnh cũ người xưa, hoặc để cùng nhau xướng họa thi phú.  Trong một dịp tình cờ ở hải ngoại, tôi được một người bạn đồng hương tặng thi tập “Tuổi Hạc Tình Thơ” của cụ Lê Bính (bút hiệu Khiêm Đức), xuất bản năm 1987 tại California. Thật là một món quà quý báu đáng trân trọng! Trong tập thơ, tác giả kể lại  cuộc gặp gỡ bất ngờ kỳ thú với Ông ngoại tôi- vị lão niên cùng quê hương v ới tác giả. Ông tôi đã tặng cho tác giả Lê Bính một bài thơ thất ngôn bát cú và tác giả đã cảm tác một bài thơ họa lại…

Hai mươi tám năm sau, ở vào tuổi hạc của cuộc đời, tác giả tập thơ vẫn còn nhớ rõ hoàn cảnh hai kẻ “tha hương ngộ cố tri”, cũng như hai bài xướng họa của hai bạn già, như sau:    “… Năm 1959, tôi đau nặng phải vào bệnh viện Chợ Rẫy điều trị, gặp Cụ cũng nằm dưỡng bệnh tại đây. Đến ngày tôi xuất viện trước để về Qui Nhơn, Cụ có tặng cho tôi một bài thơ, xin chép lại dưới đây:

Mừng bác nay mai đã tới nhà,
Phần tôi còn phải ở nơi xa,
Nhờ thăm bể Nại thay cho với,
Cậy viếng non Yên chút kẻo mà.
Bầu bạn ai ai dầu hỏi đến,
Sự tình ấy ấy cứ phân qua.
Còn tôi với bác không cần phải,
Một chén dương-quan cũng đủ là……”

            Đọc bài thơ trong thi tập của tác giả Lê Bính, tôi thật  xúc động và cảm phục ! Trong tim Ông ngọi tôi-một nhà mô phạm trường làng, luôn bừng lên ngọn lửa đam mê: mê Hát Bội, và mê thi phú…

*  *  *

            Kể từ ngày rời làng quê vì mất an ninh, vào định cư ở Sài gòn năm 1963, Ông tôi không bao giờ trở lại ngôi nhà ở nơi phố thị ngày xưa nữa. Cái cơ ngơi đánh dấu một thời huy hoàng sung túc, theo năm tháng và  qua bao tang thương biến đổi bởi chiến tranh  dần dần trở nên hoang phế, lụi tàn! Mãi đến hơn 40 năm sau, Mẹ và các em tôi mới trở về thăm chốn quê xưa. Giữa quang cảnh nghèo nàn xơ xác của một phố thị đã xuống cấp, nhà cửa xây cất hỗn loạn, bít nghẽn đường sá, một bà cụ đầu tóc bạc phơ, ăn mặc sang trọng, ngồi trên chiếc xe lăn do con cháu đẩy, cố tìm đường đến căn nhà cũ. Chiếc xe thuê phải đậu nơi đường lớn, vì không thể vào khu phố chợ, nơi đã có một thời đường sá rộng rãi, nhà cửa ngăn nắp...

            Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, do tình trạng “vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”,  những người hàng xóm đến lấn chiếm khu nhà, phá sập hai căn, triệt hạ vườn cây chung quanh … Những người đến lấn chiếm đã chia nhau xây cất  những  quán hàng san sát nhau. Nghe tin bà cụ từ đất Sà gòn xa xôi cùng con cháu đi “xe con” đến tìm ngôi nhà của ông Đốc học ngày xưa, những người hàng xóm kéo nhau đến xem sự tình.

Có lẽ, một phần vì tò mò, phần khác do “bản năng tự vệ”, nghi ngờ con cháu người chủ cũ đem bằng khoán đến đòi nhà chăng?...Hôm ấy là một ngày sắp Tết, nhưng hàng quán vắng vẻ đìu hiu. Người em trai tôi mời Mẹ già dừng lại một quán nước đơn sơ cạnh con đường chính vào chợ. Mẹ tôi đoán chừng nơi đây là vị trí của chiếc cổng ngôi nhà  của Ông ngoại tôi năm xưa. Cô giáo của 50 năm trước nhìn người chủ  quán, nhận ra một cô học trò cũ mà nay đã quá tuổi xuân thì, bèn lên tiếng hỏi:             

            - Có phải cô đây là con bà Đang không?

             Có lẽ cô cựu học sinh đã không nhận ra cô giáo ngày xưa nên dò hỏi:

            - Dạ phải!... Bà cụ là ai mà biết mẹ tôi?

            - Hồi xưa gia đình bà Đang là láng giềng của gia đình tôi. Tôi là cô giáo D. con ông Đốc, đã từng dạy các cô ở lớp 4 trường An Lương, cô còn nhớ không? À mà ngôi nhà của “ông già tôi nằm ở hướng nào, chỉ cho tôi đến thăm…

            Cô học trò cũ đã bớt lo ngại trước thái độ niềm nở của cô giáo năm xưa, bèn chỉ một khoảnh đất trống phía sau quán:                       

            - Dạ, ở đằng sau kìa…

            Trước khi rời quán, Mẹ tôi trao cho cô chủ quán  một phong bì đỏ và ân cần nói:

            - Năm hết Tết đến, tôi gởi cô một món quà để “lì xì” các cháu. Cầu mong cô làm ăn khấm khá, năm mới phát đạt hơn năm cũ…    

            Chiếc xe lăn đưa Mẹ tôi dừng lại trước nền nhà  mọc đầy cỏ dại. Em tôi dìu Mẹ    chậm rãi bước lên thềm căn nhà xưa. Bà cúi mặt dấu cảm xúc, cố ngăn giọt nước mắt xót xa đau buồn…Người con trai rút trong túi xách bốn thẻ nhang, bao diêm, châm lửa đốt và trao cho M. Cạnh đó, đám con cháu của người “láng giềng tốt” năm xưa giương mắt nhìn một hoạt cảnh lạ lùng lần đầu xảy ra nơi đây! Với cảm xúc bất thần , Bà cụ run giọng khấn khứa thật lớn trong khi đưa bốn thẻ nhang nghi ngút khói lên cao:           

 Hôm nay ngày lành tháng tốt, tôi về khu nhà xưa, thắp nén hương để cảm tạ Thần hoàng Thổ địa đã còn giữ được nền nhà cũ. Nơi đây cha mẹ chúng tôi đã dày công xây dựng nên sự nghiệp…  Do chiến tranh lan tràn chúng tôi hấp tấp bỏ nhà bỏ cửa chạy giặc, không kịp xin phép khi ra đi. Xin quý Thổ thần  tha thứ sự việc sơ xuất  của kẻ vốn biết ăn ở thủy chung,  kính trọng thần linh, không vong ơn bội nghĩa. Mong quý Thần hoàng Thổ địa chứng giám cho…”

            Giữa không khí im lìm ở một làng quê vắng vẻ, cạnh một đám khán giả tò mò đang im lặng theo dõi, giọng bà cụ đã quá bát tuần sang sảng vang lên, chẳng khác giọng cô giáo trẻ 50 năm về trước…Khấn vái xong, Bà đi bộ quanh nền nhà, cắm bốn cây nhang ở bốn góc nền, rồi chào từ biệt đám người đang lo lắng nhìn hoạt cảnh. Đoạn cùng các con lên xe ra về..

                                                                        *  *  *

            Cuốn Video “Về Thăm Quê Cũ” của người em trai từ Việt Nam gởi sang sau Tết năm ấy khiến tôi xúc động. Những hình ảnh  sinh động của Mẹ tôi trên chiếc xe lăn do các em  đẩy trên nẻo đường quê cũ, lồng vào tiếng hát “Quê Hương Tuổi Thơ” thật nồng nàn, tha thiết…tất cả đã làm tôi bâng khuâng mãi.

Tôi yêu quê tôi, xanh xanh lũy tre.
Quê hương tuổi thơ đi qua đời tôi.
Đường làng quanh co, con sông êm đềm.
Thả diều đá bóng nắng cháy giữa đồng.
Biển trời mênh mông tôi bơi ngày ấy.
Tiếng tu hú gọi thấy nhớ biết bao
……………………………………..     
Ngày ấy đâu rồi, ngày ấy đâu rồi?
Cho tôi tìm lại một ngày ấu thơ.
 Cho tôi tìm lại, cho tôi một ngày…..

            Tôi như sống lại những đêm thắp đèn dầu đến trường học của thập niên 50 thế kỷ trước… khi mà  máy bay Pháp thường đến oanh tạc khu phố chợ ban ngày… Ban đêm, các học sinh nam nữ  ríu rít đi bên cô giáo đến lớp học, vui như  đám rước đèn trung thu. Trong số “đàn gà con ríu rít bên gà mẹ” có cô nữ sinh lớp 4 mà sau này đã cùng anh chị em trong gia đình đến chiếm khu nhà Ông Ngoại tôi để lập quán cà phê!

Tôi muốn trở về khu phố chợ ngày xưa để tìm lại quê hương tuổi thơ của tôi, để gặp lại những gương mặt thơ ngây dễ mến thuở học trò, để nhìn lại ngôi nhà xưa với khu vườn cây trái sum sê… Nhưng tất cả kỷ niệm thuở ấu thơ ấy nay còn đâu? Tôi chợt nhớ đến câu ca dao:

                           Trăm năm dù lỗi hẹn hò
                           Cây đa bến cũ con đò năm xưa
                           Con đò đã khác năm xưa
                           Cây đa bến cũ còn lưa sờ sờ…

Chắc hẳn Mẹ tôi đã có tâm trạng  đau buồn và ngao ngán khi nhìn thấy khu nhà thân yêu đã không còn nữa. Nơi ấy chỉ còn lưa lại chiếc nền nhà trần trụi với cỏ dại rậm rạp hoang vu, nằm ẩn mình trong khu phố chợ nghèo nàn tàn tạ…
                                                                                                                                                               Tam Bách Đinh Bá Tâm

Saturday, 6 January 2024

 LY RƯỢU NGÀY XUÂN MIỀN BIÊN ẢI

Đinh Bá Tâm, QGHC


Vào năm 1969, sau khi thụ huấn khoá 1/68 Sỹ quan Trừ bị Thủ Đức, một số

sinh viên đồng khoá trường Quốc Gia Hành Chánh chúng tôi được biệt phái về Bộ

Nội vụ. Ngày lên đường phục vụ miền biên ải Lộc Ninh, tôi cùng vài bạn đồng

môn thân thiết ra quán uống ly rượu chia tay. Hôm ấy anh T. ngẫu hứng gõ nhịp

xuống bàn, hát bài Biệt Kinh Kỳ của Minh Kỳ và Hoài Linh:

Bạn ơi ! quan hà xin cạn chén ly bôi

Ngày mai tôi đã đã đi xa rồi

Thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi

trước giờ chia phôi mấy ai không bùi ngùi

kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong lòng tôi…

Sau buổi nâng chén ly bôi giã biệt kinh kỳ, tôi ít có dịp về Sài gòn. Thỉnh

thoảng về phép, chỉ khoảng dăm ba ngày. Ấy thế mà ông Quận trưởng còn nhắn

nhủ tôi, nửa đùa nửa thật: “Ông đừng ham vui ở Sài gòn lâu quá. Coi chừng lúc

trở về, VC đánh mất quận mà không biết đấy nhé!”

Hơn hai mươi năm sau, tại vùng Little Sài gòn, tôi gặp lại anh T. - bạn đồng

môn ca bài Biệt Kinh Kỳ năm xưa . Anh sang Mỹ từ ngày mất nước, đổi tên thành

Tony.

Một hôm, Tony hỏi tôi:

-Ông có muốn ăn bún bò Huế không? Tôi mới quen một cô nàng Huế nấu

món bún bò ngon tuyệt. Cô này nói trước năm 75’ có biết ông. Mời ông tới, sẽ rất

ngạc nhiên khi gặp lại “cố nhân”!

Tôi ghi địa chỉ nhà của “cố nhân” xa lạ nào đó, rồi quên bẵng đi. Cho đến

một hômTony gọi điện thoại nhắc lại ngày giờ đến nhà người đẹp.

Lần theo địa chỉ đã ghi, tôi đến trước một căn nhà có trồng cây trước sân

thật đẹp . Những cây dừa với tàu lá lớn. Những cây phượng tím đang trổ hoa ;

nhiều cây cảnh trông lạ mắt khác. Tôi bấm chuông, người ra mở cửa không phải

một “giai nhân” như tôi nghĩ , mà là Tony, bạn tôi. Anh ta mỉm cười, mời tôi vào

nhà, giới thiệu với gia chủ :

-Đây là cô Lan. Cô nhờ tôi mời anh đến để nhắc lại chuyện xưa. Và đây là

anh Tâm, bạn thân của tôi.

Nữ gia chủ mỉm cười cúi chào:


-Dạ, chào anh Tâm! Em vội nấu món bún bò Huế để mời hai vị, nên nhờ anh

Tony đón tiếp anh. Xin đừng bắt lỗi em hỉ!

Đúng là giọng Huế ngọt ngào của một tiểu thư đất thần kinh năm xưa. Tôi

nghĩ thầm: mình chưa gặp “O ni” bao giờ , mà sao “O”nói chuyện thân mật ngọt

ngào đến thế?

Tôi đáp xã giao :

-Cám ơn đã cô mời tôi đến đây. Nhưng tôi xin được phép hỏi: trong trường

hợp nào cô biết tên tôi?

Cô gái mỉm cười nhìn tôi, mắt mơ màng:

-Anh còn nhớ hồi ở Việt Nam, có ông Phó trẻ đến uống rượu với Ba em

một chiều ba mươi Tết tại Lộc Ninh không? Lúc ra về ông ta còn khen em đẹp và

dễ thương. Hồi đó em còn nhỏ, nhưng đến giờ vẫn còn nhớ tên ông ấy. Hôm

trước nghe anh Tony nhắc đến tên, em có ý định mời anh đến chơi, để xem có

phải là ông Tâm ngày xưa không?

Tôi nhìn người cô gái trung niên, gương mặt không còn thanh tân nhưng

giọng nói vẫn còn trẻ trung, nồng nhiệt như thiếu nữ thuở xuân thì.

Tôi đáp lời cô gái:

-Vâng, chuyện cũ gợi lại thì tôi nhớ. Nhưng chức vụ cũ, xin đừng nhắc lại . Vì

tôi đã xa Lộc Ninh năm mươi năm rồi cô ạ. Cô là bạn của Tony, thì cứ xem như

bạn tôi vậy.

Cô Lan nhìn lên bàn thờ:

-Ba em năm xưa là thầy ký Kiên của đồn điền cao su Lộc Ninh đó anh. Thuở

sinh thời Ba em thường nhắc đến anh. Không ngờ sang đây gặp lại anh. Quả đất

tròn thật, phải không thưa anh?

Tôi bước đến bàn thờ, nhìn lên tấm ảnh của người cựu thư ký đồn điền

CEXO năm xưa. Gương mặt ông chẳng khác lúc tôi mới đến phục vụ ở quận đầu

đời Lộc Ninh. Cả một trời kỷ niệm hiện ra, mới tinh như vừa xảy ra hôm qua!

****

Lộc Ninh là thị trấn cuối cùng của quốc lộ 13, cách Sài gòn 140 cây số về

hướng tây bắc. Đây là một trong ba quận của tỉnh Bình Long khi tỉnh này được

thành lập năm 1957. Tại thị trấn này, năm 1958 người Pháp thành lập đồn điền

cao su CEXO. Họ kiến tạo những


cơ ngơi khang trang và hữu ích cho công nhân cạo mủ cao su cư trú, sinh hoạt.

Trước năm 1960, Lộc ninh có đường xe lửa từ Sài gòn, phần lớn để chuyên chở

mủ cao su đã sơ chế. Về sau, du kích VC thường hay phá hoại đường rầy, nên

tuyến đường này bị hủy bỏ. Quận Lộc Ninh nằm sát biên giới Cam bốt, là địa điểm

cuối cùng của “đường mòn Hồ Chí Minh”. Du kích VC thường lẻn sang đặt súng cối

pháo kích vào thị trấn. Thỉnh thoảng chúng xuất hiện trên Quốc lộ 13, rồi đắp mô,

giật mìn, chận bắt các viên chức xã ấp đi xe đò trên tuyến đường Lộc ninh về Sài

gòn… Bởi lý do đó, trong thời gian phục vụ tại quận Lộc Ninh, các viên chức của

Quận được Giám đốc đồn điền CEXO dành sẵn một chỗ ngồi trên chiếc Cessna

nhỏ bay trên tuyến đường Sài gòn-Lộc Ninh.

Ngày đi nhận nhiệm sở, tôi đến văn phòng Công ty CEXO trên đường

Pasteur Sài gòn, ghi danh chuyến bay. Sau hơn nửa giờ bay, chiếc Cessna đảo một

vòng trên thị trấn Lộc Ninh, trước khi đáp xuống phi trường. Sân bay nằm phơi

mình trên đồi cao và phẳng. Đầu phi đạo là căn cứ Biệt kích; cuối phi đạo có Chi

khu Lộc Ninh. Một con đường nhỏ từ phi trường chạy dài xuống thung lũng, nơi

đó có chợ Lộc Ninh với nhà cửa san sát, mái tôn lấp lánh dưới ánh chiều. Xa xa,

một biệt thự màu trắng kiểu Tây phương, nổi bật giữa thảm cỏ xanh trên triền

đồi. Đó là nhà của viên Giám đốc đồn điền CEXO.

Phi cơ hạ cánh ở đầu sân bay, chạy một đoạn ngắn rồi dừng lại, tắt máy. Phi

trường vắng vẻ đìu hiu, không khách bộ hành, không xe cộ, ngoại trừ một chiếc xe

Citroen 2CV (Còn gọi là xe Đơ Sơ Vô) nhỏ màu trắng từ ngoài chạy vào phi trường.

Tôi bước xuống máy bay, cám ơn viên phi công người Pháp. Ông ta lịch sự bắt tay

tôi rồi đứng chờ bên phi cơ. Người tài xế chiếc Citroen xuống xe, nói nhỏ với viên

phi công, rồi bước đến niềm nở chào tôi:

- Xin chào Ông. Tôi là Kiên, Thư ký đồn điền, hân hạnh đón tiếp Ông. Tôi xin

đưa Ông vào Chi khu để gặp Quận trưởng….

****

Hôm đầu tiên đến quận là ngày tất niên âm lịch, tôi “ngủ nướng” thêm

trong hầm bunker ở Chi khu. Buồn quá, tôi khe khẽ hát bài Chiều Chủ Nhật Buồn

của TCS mà tưởng như đang ở Sài gòn thời còn đi học: “ Chiều chủ nhật

buồn/Nằm trong căn gác dìu hiu/Nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều/Bạn

bè rời xa chăn chiếu/Bơ vơ còn đến bao giờ…”. Khi Trung úy Hoàng, làm việc ở văn

phòng quận bước vào thăm tôi, đề nghị đưa tôi xuống thị tứ Lộc Ninh để “thăm

dân cho biết sự tình”.


Khu chợ Lộc Ninh nằm dưới thung lũng, thấp hơn mặt quốc lộ 13, với nhà

cửa hàng quán đông đúc. Tuy nhiên sau trận đánh Mậu Thân, nhà cửa chưa tái

thiết xong, quang cảnh trông tiêu điều. Sau đó, anh Hoàng đưa tôi vào thăm ông

Kiên. Hai người là bạn vong niên cùng quê quán, nên ông chủ nhà rất vui mừng

khi đón tiếp chúng tôi.

Sống và làm việc ở miền đất đỏ keo cư xa thành thị, khi gặp gỡ nhau, mời

nhau một bữa tiệc đơn sơ cũng đủ ấm lòng kẻ tha hương. Nhất là trong bữa tiệc

tất niên hôm ấy, chai rượu Tây của gia chủ đã khiến bữa tiệc thêm vui vẻ hào

hứng. Bà Kiên thỉnh thoảng xuống bếp làm thêm món ăn. Cô con gái lo phụ mẹ,

mang thức ăn bày lên bàn tiệc. Cô gái khoảng mười bốn, mười lăm tuổi, xinh đẹp,

dễ thương. Khi cô bé cúi chào, tôi nhìn cô mỉm cười khen ngợi, khiến ông Kiên

thích chí cười vang. Rồi ông hãnh diện nói:“Con gái rượu của tôi đó Ông à!”

Một buổi chiều cuối năm, ngồi uống rượu ở một nơi xa nhà, với gia chủ mới

quen nhưng tử tế đáng mến, tôi cảm thấy thoải mái và ấm áp tình thân. Khi chúng

tôi uống hết chai rượu Pháp, ông Kiên mở thêm chai rượu Bồ Đào Nha- hiệu Porto

(Vinho do Porto ). Ông nâng ly rượu xứ Bồ, uống một ngụm rồi cất giọng ngâm

bốn câu thơ Tàu của Vương Hàn:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

(Bùi Khánh Đản dịch ra Việt ngữ:

Bồ đào, rượu rót chén lưu ly

Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi

Bãi cát nằm say, chê cũng mặc

Xưa nay chinh chiến mấy ai về)

Giọng ngâm đầy cảm khái, nhưng thật buồn. Phải chăng đó là tâm sự của

ông Kiên, người đã chứng kiến trận chiến Tết Mậu thân vừa qua, Đó là một trận

đánh dữ dội, với phố chợ tan nát, với chết chóc đau thương của đồng bào trong

khu thị tứ này?

Bên ngoài bóng chiều đã xuống thấp. Vạt nắng cuối ngày vừa tắt trên khu

rừng cao su phía sau nhà. Gia chủ thấy tôi đỏ bừng mặt vì men say, nên mời tôi và

Trung úy Hoàng ở lại nghỉ đêm. Tuy nhiên, anh Hoàng lắc đầu từ chối:


-Xin phép chú Kiên cho chúng tôi về Chi khu. Đêm naycuối tuần, VC thường

hay pháo kích, chú Kiên không nhớ sao?

Trời bắt đầu tối. Hoàng cũng đã ngấm rượu như tôi, không thể lái chiếc xe

hai bánh Honda vào Chi khu trên phi trường, nên đưa tôi vào nghỉ đêm tại nhà

anh. Quả như Trung úy Hoàng dự đoán, khuya hôm ấy VC pháo kích ầm ĩ. Chúng

tôi vào hầm có bao cát bao quanh trú ẩn .

Sáng Thứ Hai, người tài xế lái xe Land Rover đưa tôi đến Văn phòng Hành

chánh, bắt đầu một ngày làm việc tại quận nơi biên giới này. Xế chiều, ông Kiên

đến trình văn thư của viên giám đốc đồn điền. Thư mời tôi ngày hôm sau đến tư

gia của ông Giám đốc để dự tiệc mừng tân Phó quận. Khi tôi đến nhà viên Giám

đốc đồn điền đã thấy chiếc xe Jeep nhà binh của Đại úy Quận trưởng. Ông Quận

trưởng giới thiệu tôi với ông Giám đốc Gaudeul. Viên Giám đốc người Pháp có

dáng người thấp, mập mạp, nước da trắng trẻo, tóc muối tiêu cắt ngắn. Ông ta

lịch sự bắt tay tôi và hướng dẫn chúng tôi vào phòng khách uống rượu khai vị. Sau

đó, theo lời mời của gia chủ, chúng tôi vào phòng ăn. Món ăn được nam tiếp viên

bưng dọn lên bàn ăn. Nữ tiếp viên rót rượu mời khách. Các nam nữ tiếp viên còn

rất trẻ, trang phục trắng, thật lịch sự, lễ phép. Theo lời gia chủ, các món ăn như

cá, thịt bò… được mua từ Sài Gòn và tích trữ trong tủ lạnh tại đây. Rượu nho

trắng, đỏ (dùng riêng theo từng món cá hoặc thịt) đều sản xuất tại Pháp. Bữa tiệc

tuy chỉ có ba người, nhưng có nhiều món ăn, thay đổi rượu liên tiếp, nên kéo dài

khá lâu.

Bữa tiệc kết thúc, gia chủ mời chúng tôi ra hàng hiên uống cà phê, hút

thuốc. Tôi ngồi nhấm nháp từng ngụm cà phê thơm ngát, nhìn khung cảnh chung

quanh. Trời đã về chiều. Xa xa, rừng cao su bạt ngàn quanh thị trấn trở nên thâm

u, với những vạt nắng và bóng chiều xen lẫn. Ngôi biệt thự bề thế, sơn trắng của

ông Giám đốc đồn điền, nổi bật giữa bãi cỏ xanh trên triền đồi, xa khu phố chợ.

Nó khác hẳn với những dãy nhà cư dân xơ xác tiêu điều trong khu chợ, sau trận

Mậu thân 1968. Tôi được biết, thỉnh thoảng VC pháo kích vào thị trấn những buổi

tối cuối tuần. Ngôi biệt thự trắng của viên Giám đốc đồn điền CEXO chưa bao giờ

bị trúng đạn- ngay cả trong trận đánh năm 1967 và trận Mậu thân1968 .


****

Gần hai năm sau, tôi xin thuyên chuyển khỏi Bình Long, về phục vụ tại tỉnh

Long Khánh. Trước ngày ra đi, tôi ghé thăm các thân hào nhân sĩ trong quận Lộc

Ninh, rồi đến chào từ biệt Giám đốc đồn điền CEXO. Cuối cùng, tôi và Trung úy


Hoàng ghé thăm ông Kiên. Cũng như ngày mới đến, ông mời chúng tôi uống vài ly

“bồ đào mỹ tửu” của Pháp trước khi chia tay.

Khoảng tháng Tư năm 1972, khi đang làm việc tại quận Định Quán, tôi nghe

tin Lộc Ninh thất thủ, quận lỵ bị VC đánh chiếm để làm thủ phủ “Chính phủ Cách

mạng Lâm thời” của chúng. Từ đó tôi không gặp lại ông Kiên bao giờ nữa.

Riêng ông Gaudeul - cựu Giám đốc đồn điền CEXO, trong một lần về phép

tôi có gặp ông ta ở tiệm cà phê Givral, Sài gòn. Tiệm cà phê này toạ lạc nơi giao

điểm của đường Tự do và Lê Lợi. Tiệm được thành lập vào khoảng thập niên 50’,

do một người Pháp sống lâu ở Việt Nam xây cất, với tiền hùn vốn của những

người Pháp tại Sài gòn. Cuối năm 1950 nơi đây trở thành một tiệm bánh-cà phê,

mang hương vị Pháp-Việt. Givral cũng là một “trung tâm văn hoá” tại thủ đô Sài

gòn- điểm hẹn của các văn nhân, nghệ sĩ, du khách; các nhà báo trong và ngoài

nước; các phóng viên chiến trường làm việc cho các hãng thông tấn UPI, AP của

Mỹ; phóng viên báo Paris Match của Pháp. Tiểu thuyết gia người Anh - Graham

Green - từng nhiều lần lui tới nơi đây và đã đưa hình ảnh Givral vào cuốn tiểu

thuyết lừng danh “Người Mỹ Trầm Lặng" của ông.

Buổi sáng hôm ấy, khi vào Givral cùng người bạn, tôi thấy ông Gaudeul ngồi

uống cà phê. Chúng tôi nhận ra nhau, cùng ngồi nói chuyện với nhau. Xa nhau

chưa đến hai năm mà trông viên Giám đốc đồn điền thay đổi nhiều. Ông có vẻ

gầy ốm hơn, da mặt tái nhợt, đôi mắt mệt mỏi. Nó khác hẳn vẻ linh hoạt, tự tin

của một viên Giám đốc đồn điền cao su rộng lớn tại Lộc Ninh trước đây. Ông cho

biết vừa mới về Pháp để điều trị bệnh hoại huyết và hiện vẫn chưa được khoẻ.

Nhưng có một điều ông tiết lộ cũng quan trọng chẳng kém bệnh tình của ông. Đó

là tình hình bất an tại đồn điền cao su CEXO, sau khi bị VC chiếm đóng.

Sau ngày 7/4/1972- ngày VC chiếm Lộc Ninh - chúng vẫn để viên Giám Đốc

người Pháp cai quản đồn điền. Tuy nhiên, với sự xách động của những tên VC

nằm vùng, công nhân cạo mủ liên tiếp đưa ra những yêu sách đòi tăng lương,

hăm đoạ đình công… khiến việc sản xuất mủ cao su bị đình trệ. Trước tình trạng

bất an đó, viên Giám đốc thỉnh thoảng đi máy bay lên đồn điền làm việc rồi quay

về Sài gòn nội nhật trong ngày. Một năm sau, VC “tiếp quản” đồn điền CEXO,rồi

sau đó thành lập “Nông trường quốc doanh Cao su Lộc Ninh” năm 1978.

Kể từ ngày Công ty Cao su CEXO tại Lộc Ninh ra đời năm 1958, cho đến

ngày Công Ty này bị VC quốc hữu hoá năm 1972 , thị trấn Lộc Ninh thường hay bị

VC pháo kích, tấn công, nhất là vào những năm chiến tranh bước vào cao điểm.…

Tuy nhiên những cơ ngơi, tài sản của đồn điền vẫn bình an vô sự. Vì có ảo tưởng


về sự “nhân đạo của Cộng Sản” đối với họ như thế, nên chủ đồn điền cao su

người Pháp vẫn kiên nhẫn chờ đợi chiến tranh chấm dứt.

Để từ đó họ có thể tiếp tục làm chủ khu đồn điền rộng lớn, trù phú nhất Lộc

Ninh. Nhưng cuối cùng , sau khi quận Lộc Ninh bị VC chiếm đóng , đồn điền bị

quốc hữu hoá, chủ đồn điền người Pháp đành “bỏ của chạy lấy người”. Có lẽ lúc

ấy họ mới thấy sự biểu hiện công khai lòng căm thù của Cộng sản đối với “Đế

quốc Thực dân”. Lòng căm thù ấy vốn manh nha từ thời Pháp thuộc, đến nay vẫn

không đổi thay, dù đã trải qua hơn một thế kỷ.


****


Hôm nay, gần năm mươi năm sau ngày uống ly rượu tất niên với thầy ký

Kiên của đồn điền Lộc Ninh năm xưa, tôi bất ngờ gặp lại người “con gái rượu” của

ông. Tôi đứng lặng nhìn di ảnh của người thư ký đáng mến ấy tại xứ sở tỵ nạn xa

xôi này. Tôi xin gia chủ một nén hương, thắp lên để tưởng nhớ đến ông- người mà

tôi xem như bạn vong niên trong những năm phục vụ tại miền biên ải Lộc Ninh.

Qua làn khói hương chập chờn, tôi như thấy lại cái quá khứ biến động, với

biết bao cay đắng ngọt bùi năm xưa. Nó như một cuốn phim quay chậm, chiếu lại

hình ảnh những đêm tối trời với tiếng pháo kích của VC vang ầm trong khu phố

chợ. Với những ngày đi công tác ở những xã ấp kém an ninh; với những buổi tiệc

rượu sơ giao với viên Giám đốc đồn điền; với những lần ghé thăm ông Kiên, nâng

ly rượu xứ Bồ và nghe ông ngâm bài cổ thi “Bồ đào Mỹ Tửu” của một nhà thơ Tàu

năm xưa.

Nhưng rồi hương khói nhạt dần. Trong phút chốc những hình ảnh ấy vụt

bay về quá khứ của gần nửa thế kỷ. Trước mặt tôi, chỉ còn lại cô gái rượu của thầy

ký Kiên - cô Lan đang đứng nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ. Tôi tự hỏi, cô đang nuối

tiếc kỷ niệm của những ngày tháng êm đềm ở Lộc Ninh năm xưa chăng? Hay cô

đau buồn khi nhớ đến người cha kính yêu, mà nay không còn trên cõi đời này

nữa?

Tam Bách Đinh Bá Tâm