QUÊ NGOẠI NĂM XƯA
sáng hôm nay trời bỗng nhiên trở lạnh, âm u với
mưa phùn nhẹ bay. Mùa đông đã đến miền Nam California. Qua khung cửa kính, tôi
nhìn làn mưa giăng giăng khắp bầu trời mà nhớ đến quê nhà năm xưa bên kia vòng
trái đất. Trong hơn nửa thế kỷ qua, những quãng đời lạnh lẽo gió mưa thỉnh thoảng
lại xảy đến, như những mảng tối của bức tranh vân cẩu cuộc đời. Đó là trại tù
“cải tạo” ở miền núi xứ Thanh năm 1976. Đó là lần trốn chạy Việt Minh từ Bình Định đến Huế
năm 1954. Và xa hơn nữa, đó là những năm sống trong vùng “kháng chiến” của VM
trước 1954 - mà cho đến nay, cái cảm giác lạnh căm của những buổi chiều mưa
phùn gió bấc, co ro trong chiếc áo ngắn tay, cổ hở trên đường đi học về vẫn còn
trong tâm trí tôi . Đó cũng là thời gian chúng tôi ở quê ngoại, một làng quê có
phố xá khá trù phú, cách huyện lỵ Phù Mỹ chín cây số về phía đông.
*
* *
Khoảng năm 1950, Ông Bà tôi di chuyển về một căn nhà khác gần vùng núi, nhường hai căn nhà ngoài
phố chợ cho mẹ con chúng tôi. Với gia đình một cô giáo với năm con nhỏ, thiếu vắng người
cha bận công tác nơi “cơ quan trên chiến khu” xa xôi, chúng tôi sống trong căn
nhà thênh thang nhưng đã quá
cũ kỹ , thì thật lạnh lẽo quạnh hiu!
Gia đình chúng tôi đã trải qua cuộc sống như
thế ở một nơi từng có một thời kỳ sung túc huy hoàng. Chủ nhân ngôi nhà,
ngoại tôi là “Đốc học” của ngôi trường duy nhất trong làng. Trong quá khứ, vị
hiệu trưởng trường làng đã xếp “cái bút cái nghiên” của một nền Nho học đã về chiề, đến Huế học tiếng Pháp ở trường Pellerin. Nhưng Ông tôi tuy đã theo Tây học nhưng không quên nếp sống phong lưu
của nền văn hóa cổ truyền: Hát Bội. Ông thuê một gánh hát từ thành phố Quy nhơn
về làng, dựng rạp, nuôi đào kép để trình diễn “miễn phí” cho bà con làng xóm
xem chơi. Trong khi đó, người vợ đảm đang - bà Ngoại tôi, dành dụm tiền bạc để sắm
xe kéo gọng đồng cho
chồng đi dạy học hoặc đi chơi xa. Bà còn buôn bán tảo tần, tậu xe hàng, mua thuốc lá từ làng
quê đến các thành phố lớn để bán, trong số đó có cả Sàigòn tận Nam kỳ thuộc
địa!
Trong
những bức ảnh còn lưu lại, con cháu còn thấy hình ảnh Ông ngoại ngồi chễm chệ trên ghế
danh dự trước sân khấu, cầm dùi đánh trống chầu, cổ võ cho các đào kép diễn
tuồng. Về sau, khi gánh hát vãng tuồng, trả lại rạp, về quê, Ông tôi đã âm thầm đi theo. Nhưng không phải vì say
mê tài nghệ của đoàn hát, mà
do “phải lòng” cô đào chính-
cô Tư! Bà dẫn gia nhân đi “đánh ghen”, tìm đến gặp cô Tư ở một làng quê gần Quy
nhơn.
Khi thấy Ông đang nằm ngủ “chèo queo” trong căn nhà
nhỏ hẹp nghèo nàn, Bà muốn rơi nước mắt. Bà gọi cô Tư ra để “nói phải quấy”,
sau đó tìm cách mua chuộc, hăm doạ… Tuy nhiên cô vẫn một mực thú nhận: vì đã “nặng lòng yêu
thương” nên
không thể sống thiếu Ông được! Cuối cùng Bà đành hợp thức hóa mối tình vụng
trộm. Và
để cứu vãn danh dự của
một ông Đốc học đang có uy tín trong
làng, Bà đưa cô Tư về sống với
Ông Bà trong
thân phận thê thiếp.
Nếu kịch bản cuộc
đời ngang trái trên sân khấu đã được cô Tư đóng tuồng dễ dàng bao nhiêu, thì
cuộc sống thê thiếp khi về ở với Ông Bà ngoại tôi, thật khó khăn cay đắng với
cô bấy nhiêu. Cho
đến khi Ông nhận ra cô đào chính của gánh hát bội trước đây, nay không còn má phấn môi son , xiêm y rực rỡ, hấp dẫn gợi
tình như khi cô đã đóng
tuồng, ông bỗng thấy chán chường, muốn cho cô trở
về quê cũ… Bà hết lời can ngăn cũng không được, đành tặng cô một số tiền để về quê
sinh sống.
Còn Ông, từ đó
không còn dựng rạp thuê đào kép
về trình diễn hát bội nữa. Ông tự học
tuồng, mua áo mão cân đai về
cùng bạn bè trình diễn tại tư gia! Sau đó Ông vào Sài gòn mua một máy hát hiệu
Pathé, một số dĩa nhựa nhạc cải lương để thỉnh thoảng mở máy cho bà con hàng xóm thưởng thức.
* * *
Sau năm 1963, chiến tranh lan tràn đến vùng quê ngoại, Ông Bà tôi di tản vào
Sài gòn, bỏ lại cơ ngơi của một thời phong lưu nơi phố thị. Trong cảnh xa quê
cũ, Ông thường tìm đến bạn bè đồng hương để nhắc lại cảnh cũ người xưa, hoặc để
cùng nhau xướng họa thi phú. Trong một dịp tình cờ ở hải ngoại, tôi được
một người bạn đồng hương tặng thi tập “Tuổi Hạc Tình Thơ” của cụ Lê Bính
(bút hiệu Khiêm Đức), xuất bản năm 1987 tại California. Thật là một món quà quý
báu đáng trân trọng! Trong tập thơ, tác giả kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ kỳ
thú với Ông ngoại tôi- vị lão niên cùng quê hương v ới tác giả. Ông tôi đã tặng cho tác giả
Lê Bính một bài thơ thất ngôn bát cú và tác giả đã cảm tác một bài thơ họa lại…
Hai mươi tám năm
sau, ở
vào tuổi hạc của cuộc đời, tác giả tập thơ vẫn còn nhớ rõ hoàn cảnh hai kẻ “tha
hương ngộ cố tri”, cũng như hai bài xướng họa của hai bạn già, như sau:
“… Năm 1959, tôi đau nặng phải vào bệnh
viện Chợ Rẫy điều trị, gặp Cụ cũng nằm dưỡng bệnh tại đây. Đến ngày tôi xuất
viện trước để về Qui Nhơn, Cụ có tặng cho tôi một bài thơ, xin chép lại dưới
đây:
Đọc bài thơ trong thi tập của tác giả Lê Bính, tôi thật xúc động và cảm
phục ! Trong tim
Ông ngọi tôi-một nhà mô phạm
trường làng, luôn bừng lên ngọn lửa đam mê: mê Hát Bội, và mê thi phú…
*
* *
Kể từ ngày rời làng quê vì mất an ninh, vào định cư ở Sài gòn năm 1963, Ông tôi không bao giờ
trở lại ngôi nhà ở nơi
phố thị ngày xưa nữa. Cái cơ ngơi đánh dấu một thời huy hoàng sung túc, theo
năm tháng và qua bao tang thương biến đổi bởi chiến tranh dần dần trở nên hoang phế, lụi tàn! Mãi đến
hơn 40 năm sau, Mẹ và các em tôi mới trở về thăm chốn quê xưa. Giữa quang cảnh
nghèo nàn xơ xác của một phố thị đã xuống cấp, nhà cửa xây cất hỗn loạn, bít
nghẽn đường sá, một bà cụ đầu tóc bạc phơ, ăn mặc sang trọng, ngồi
trên chiếc xe lăn do con cháu đẩy, cố tìm đường đến căn nhà cũ. Chiếc xe thuê phải đậu nơi đường lớn, vì không thể vào khu phố
chợ, nơi đã có một thời đường sá rộng rãi, nhà cửa ngăn nắp...
Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, do tình trạng “vắng chủ nhà, gà mọc đuôi
tôm”, những người hàng xóm đến lấn chiếm khu nhà, phá sập hai căn, triệt
hạ vườn cây chung quanh … Những người đến lấn chiếm đã chia nhau xây cất
những quán hàng san sát nhau. Nghe tin bà cụ từ đất Sà gòn xa xôi cùng con
cháu đi “xe con” đến tìm ngôi nhà của ông Đốc học ngày xưa, những người hàng xóm kéo
nhau đến xem sự tình.
Có lẽ, một phần
vì tò mò, phần khác do “bản năng tự vệ”, nghi ngờ con cháu người chủ cũ đem
bằng khoán đến đòi nhà chăng?...Hôm ấy là một ngày sắp Tết, nhưng hàng quán
vắng vẻ đìu hiu. Người em trai tôi mời Mẹ già dừng lại một quán nước đơn sơ
cạnh con đường chính vào chợ. Mẹ tôi đoán chừng nơi đây là vị trí của chiếc
cổng ngôi nhà của Ông ngoại tôi năm xưa.
Cô giáo của 50 năm trước nhìn người chủ quán, nhận ra một cô học trò cũ
mà nay đã quá tuổi xuân thì, bèn lên tiếng
hỏi:
- Có phải cô đây là con bà Đang không?
Có lẽ cô cựu học sinh đã không nhận ra cô giáo ngày xưa nên dò hỏi:
- Dạ phải!... Bà cụ là ai mà biết mẹ tôi?
- Hồi xưa gia đình bà Đang là láng giềng của gia đình tôi. Tôi là cô giáo D.
con ông Đốc, đã từng dạy các cô ở lớp 4 trường An Lương, cô còn nhớ không? À mà
ngôi nhà của “ông già tôi”
nằm ở hướng nào, chỉ cho tôi đến thăm…
Cô học trò cũ đã bớt lo ngại trước thái độ niềm nở của cô giáo năm xưa, bèn chỉ một khoảnh đất
trống phía sau
quán:
- Dạ, ở đằng sau kìa…
Trước khi rời quán, Mẹ
tôi trao cho cô chủ quán một phong
bì đỏ và ân cần nói:
- Năm hết Tết đến, tôi gởi cô một món quà để “lì xì” các cháu. Cầu mong cô làm
ăn khấm khá, năm mới phát đạt hơn năm cũ…
Chiếc xe lăn đưa
Mẹ tôi dừng
lại trước nền nhà mọc đầy cỏ dại. Em tôi dìu Mẹ chậm rãi bước lên thềm căn nhà xưa. Bà cúi mặt
dấu cảm xúc, cố ngăn giọt nước mắt xót xa đau buồn…Người con trai rút trong túi
xách bốn thẻ nhang, bao diêm, châm lửa đốt và trao cho Mẹ. Cạnh đó, đám con cháu
của người “láng giềng tốt” năm
xưa giương mắt nhìn một hoạt cảnh lạ lùng lần đầu
xảy ra nơi đây! Với cảm xúc bất thần , Bà cụ run giọng khấn khứa thật lớn
trong khi đưa bốn thẻ nhang nghi ngút khói lên cao:
“Hôm nay ngày lành tháng tốt, tôi về khu
nhà xưa, thắp nén hương để cảm tạ Thần hoàng Thổ địa đã còn giữ được nền nhà
cũ. Nơi đây cha mẹ chúng tôi đã dày công xây dựng nên sự nghiệp… Do chiến
tranh lan tràn chúng tôi hấp tấp bỏ nhà bỏ cửa chạy giặc, không kịp xin phép
khi ra đi. Xin quý Thổ thần tha thứ sự việc sơ xuất của kẻ vốn biết
ăn ở thủy chung, kính trọng thần linh, không vong ơn bội nghĩa. Mong quý
Thần hoàng Thổ địa chứng giám cho…”
Giữa không khí im lìm ở một làng quê vắng vẻ, cạnh một đám khán giả tò mò đang
im lặng theo dõi, giọng bà cụ đã quá bát tuần sang sảng vang lên, chẳng khác giọng cô giáo
trẻ 50 năm về trước…Khấn vái xong, Bà đi bộ quanh nền nhà, cắm bốn cây
nhang ở bốn góc nền, rồi chào từ biệt đám người đang lo lắng nhìn hoạt cảnh. Đoạn cùng các con lên xe ra về..
* * *
Cuốn Video “Về Thăm Quê Cũ” của người em trai từ Việt Nam gởi sang sau Tết năm
ấy khiến tôi xúc động. Những hình ảnh sinh động của Mẹ tôi trên chiếc xe
lăn do các em đẩy trên nẻo đường quê cũ, lồng vào tiếng hát “Quê Hương
Tuổi Thơ” thật nồng nàn, tha thiết…tất cả đã làm tôi bâng khuâng mãi.
Tôi như sống lại những đêm thắp đèn dầu đến trường học của thập niên 50 thế kỷ
trước… khi mà máy bay Pháp thường đến oanh tạc khu phố chợ ban ngày… Ban
đêm, các học sinh nam nữ ríu rít đi bên cô giáo đến lớp học, vui
như đám rước đèn trung thu. Trong số “đàn gà con ríu rít bên gà mẹ” có cô
nữ sinh lớp 4 mà sau này đã cùng anh chị em trong gia đình đến chiếm khu nhà
Ông Ngoại tôi để lập quán cà phê!
Tôi muốn trở về
khu phố chợ ngày xưa để tìm lại quê hương tuổi thơ của tôi, để gặp lại những
gương mặt thơ ngây dễ mến thuở học trò, để nhìn lại ngôi nhà xưa với khu vườn
cây trái sum sê… Nhưng tất cả kỷ niệm thuở ấu thơ ấy nay còn đâu? Tôi chợt nhớ đến
câu ca dao: