Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label Ngay 30/4/75. Show all posts
Showing posts with label Ngay 30/4/75. Show all posts

Tuesday, 5 May 2026

CÁC BÁC HÀNH TRÁNH 7,8, 9 BÓ CẢ RỒI! TỔ CHỨC QUAN TRỌNG HƠN HẾT "CÒN THẤY NHAU LÀ VUI RỒI"- PHÊ PHÁN RÚT TỈA KINH NGHIỆM HƠN 50 NĂM CHƯA ĐỦ SAO? - NAY TRONG TỦ HỒ SƠ TRỐNG TRƠN KHÔNG CÒN 1 CÁI NÀO CẢ - 

KHÔNG CẦN LƯU GIỮ NỮA THÌ "BÌNH LOẠN" LÀM CHI CHỨ? BỎ QUA ĐI CÁC BÁC "THỦ TỤC" ƠI!!!./-Mt68

_____________________

 Tường Thuật 

Buổi Tưởng Niệm 51 Năm Quốc Hận 30 Tháng Tư Năm 2026.


 Hội QGHC Nam Cali đã tổ chức buổi tưởng niệm 51 ngày Quốc Hận 30-4-1975 lúc 11 giờ sáng ngày thứ Sáu 1-5-2026 tại Thư Viện Việt Nam thuộc thành phố Garden Grove, Nam Cali. Đông đảo các đồng môn, gia đình, thân hữu và đồng bào đến tham dự, ngồi kín hội trường Thư Viện Việt Nam. 1 Bài tường thuật buổi tưởng niệm này gồm 4 phần: - - - - 

 Phần khai mạc Phần thuyết trình Phần văn nghệ phụ diễn Phần Nhận Định của Những Người Tham Dự Phần 

I - Phần khai mạc * Phần khai mạc bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ Việt-Mỹ và phút mặc niệm. Sau đó MC Vũ Ngọc Lộc giới thiệu anh Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch Hội QGHC Nam Cali, ngỏ lời chào mừng quan khách và nói về ý nghĩa của buổi tưởng niệm 51 năm ngày Quốc Hận 30-4-1975. Phần II - Phần thuyết trình Phần thuyết trình gồm 3 đề tài do 3 cựu sinh viên QGHC chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày 30 tháng Tư năm 1975. Phần thuyết trình do MC Vũ Ngọc Lộc giới thiệu tiểu sử của từng thuyết trình viên và đề tài chia sẻ. MC Vũ Ngọc Lộc (ĐS16) 2  Thuyết trình viên # 1: Nguyễn Công Lượng Anh Nguyễn Công Lượng tốt nghiệp khóa Đốc Sứ 16 QGHC, sau khi ra trường anh được bổ nhiệm làm Phó Quận Trưởng quận Hòai Nhơn (1972 -1974) và quận An Nhơn (1974-1975) thuộc tỉnh Bình Định, bị tù cải tạo 6 năm và qua Mỹ định cư theo chương trình HO năm 1991. Anh Lượng thuyết trình đề tài: “CHUYỆN TRƯỚC và SAU 1975 CHÚNG TA CẦN SUY NGẪM”. Trong bài thuyết trình, anh tập trung vào vấn đề đối lập trong chính thể dân chủ. Mở đầu, anh nhắc lại ý niệm đối lập trong chính thể dân chủ theo quan niệm của GS Nguyễn Văn Bông: “phải có đối lập mới có dân chủ” và “đối lập thực sự phải bao gồm các yếu tố như đối lập phải có tính cách tập thể, hoạt động trong vòng luật pháp và khi nào có một chính đảng đối lập. Và từ đó đối lập có vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền và đồng thời phải cộng tác với chính quyền”. 

 Dựa vào quan niệm này của GS Nguyễn Văn Bông, anh điểm qua các sư kiện chống đối TT Ngô Đình Diệm xảy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, và các cuộc đảo chánh, chỉnh lý và biểu tình dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam, để rồi kết luận rằng: “Có đối lập chính trị dưới thời VNCH nhưng phải nói là những hoạt động nầy gặp rất nhiều hạn chế và đối mặt với sự 3 kiểm soát chặt chẽ từ chính quyền vì chúng ta đang đối diện với lực lượng Cộng Sản Quốc tế đang muốn ‘Vô Sản Toàn Thế Giới, Tất Cả Đoàn Kết Lại’”. Sau khi bàn về đối lập chính trị thời VNCH, anh chuyển sang vấn đề đối lập chính trị trong chính trường Mỹ hiện nay với ngôn từ đanh thép, quyết đóan và kích động hơn. Theo anh, các hành động chống đối của Đảng Dân Chủ đối với chính quyền của TT Trump trong nhiệm kỳ đầu và nhiệm kỳ hai là những hành động phá họai do thù ghét TT Trump, chứ không phải là những hành vi đối lập mang tính cách xây dựng. Tưởng cũng cần nói rõ là trong phần phê phán gay gắt các chính khách của Đảng Dân Chủ chống đối các chính sách của chính quyền đương nhiệm, diễn gỉa không nêu đích danh TT Trung nhưng ai cũng hiểu là diễn gỉa muốn ám chỉ TT Trump. Cuối bài thuyết trình, anh mới đề cập đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 bằng cách nhắc lại sự hy sinh vất vả của các bà vợ tù cải tạo, vừa tần tảo nuôi con vừa nuôi chồng trong các trại tù cải tạo, rồi đề nghị “Ngày nầy cũng là ngày vinh danh các bà vợ tù cải tạo”. Sau phần thuyết trình, anh còn diễn đọc bài thơ do anh sáng tác “Những Bước Tha Hương”. Bài thuyết trình của anh dài 25 phút.  

Thuyết trình viên # 2: Nguyễn Văn Hòa Anh Nguyễn Văn Hòa tốt nghiệp ban Đốc sự 15 QGHC năm 1970, sau khi ra trường anh được bổ nhiệm về làm việc tại Bộ Dân Vận Chiêu Hồi cho đến tháng 04/1975; rồi bị tù 6 năm, vượt biên đến USA năm 1982. Hiện anh là đương kim chủ tịch Hội QGHC Nam Cali. 4 Anh Hòa thuyết trình về đề tài: “Chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày 30 tháng tư 1975”. Trong bài thuyết trình dài 10 phút, với tư cách là một cựu cán bộ quốc gia chân chính, anh cảm thấy có trách nhiệm phải kể cho con cháu biết về 3 điều quan trọng sau đây: - Bản chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975) và lý do tại sao VNCH thua trận. Cuộc chiến Việt Nam (Vietnam War) là cuộc chiến tự vệ của quân dân VNCH ở Miền Nam Tự Do chống lại sự xâm lăng của CSBV theo lệnh của quan thầy Liên Xô và Trung Cộng. Còn VNCH thua trận vì đồng minh Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa và bỏ rơi VNCH. - Chính sách tàn ác của CSVN đối với dân chúng Miền Nam sau ngày 30-4-1975. Sau khi chiếm cả Miền Nam, CSVN đã trả thù nhân dân Miền Nam qua các chính sách dã man và độc ác như chính sách “Học Tập Cải Tạo”, đánh tư sản, đuổi dân chúng thành thị đi các vùng “Kinh Tế Mới”, và chính sách đổi tiền với mục đích bần cùng hóa dân chúng Miền Nam, đến nỗi cả triệu người phải bỏ nước ra đi bằng đường biển và đường bộ. - 

 Tính ưu việt của chế độ VNCH so với chế độ CSVN. So sánh với chế độ CSVN độc tài và tàn ác, chế độ VNCH có những điểm ưu việt về mọi phương diện: từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến giáo dục.  Thuyết trình viên # 3: Bùi Đắc Danh Anh Bùi Đắc Danh tốt nghiệp QGHC khóa Đốc Sự 14. Nhiệm sở cuối cùng là Trưởng Ty Tài Chánh tỉnh Hậu Nghĩa. Anh thuyết trình về đề tài: “Việt Nam 30 Tháng Tư năm 1975 – Cảm Nghĩ Rời”. 5 Trong bài thuyết trình, anh chia sẻ cảm nghĩ rời rạc của anh về ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Anh vừa buồn sầu vừa nuối tiếc. Anh buồn vì mất tương lai tươi sáng của một cán bộ hành chánh VNCH và phải bỏ quê cha đất tổ, tủi nhục lưu lạc chốn quê người. Anh nuối tiếc một thời huy hòang vàng son sống dưới chế độ VNCH nhân bản, tự do và thịnh vượng (1955 – 1975). Anh cũng chia sẻ những hệ lụy sau khi đồng minh Mỹ bỏ rơi và chế độ VNCH sụp đổ: sự đổi đời tòan diện dưới chế độ CSVN về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa. Cuối cùng, anh cám ơn chính quyền và dân chúng Mỹ cũng như các tổ chức thiện nguyện quốc tế và các quốc gia khác đã cứu vớt dân tỵ nạn Việt Nam, trong đó có anh và gia đình anh. Trong 15 phút, anh chia sẻ những cảm nghĩ rời rạc của mình về ngày Quốc Hận 30 tháng Tư năm 1975. 

Tuy rời rạc nhưng các cảm nghiệm của anh kết thành một xâu chuỗi phản ánh tâm trạng chung của tất cả các người Việt tỵ nạn! Phần III - Phần văn nghệ phụ diễn Xen kẽ giữa các bài thuyết trình là các tiết mục văn nghệ. Phần văn nghệ phụ diễn phong phú và đa dạng với các tiết mục: ngâm thơ, đơn ca và hợp ca, nói lên tinh thần đấu tranh và tình tự quê hương dân tộc. Chương trình văn nghệ do nhạc sĩ Nguyễn Phú Hùng biên sọan và giới thiệu từng ca sĩ và ý nghĩa của từng tiết mục sau đây: MC Nguyễn Phú Hùng (ĐS11) 6 1. Ngâm Thơ : Tôi sẽ về …nếu (Thơ : Trần Văn Lương do tác giả trình bày) 2. Đơn ca : Gởi Về Em của Đặng Minh Ty ( Phương Thảo trình bầy) 7 3. Đơn ca : Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc (Bích Thủy trình bầy) 4. Đơn ca : Cơn Mê Chiều của Nguyễn Minh Khôi (Ngọc Hoa trình bầy) 8 5. Đơn ca : Phút Suy Tư của Chính Mung do tác giả vừa đệm đàn vừa hát 9 6. Đơn ca : Mùa Đông Binh Sĩ của Phan Huỳnh Điểu (Trần Văn Lương trình bầy) 10 7. Đơn ca : Hải ngoại Thương Ca của Nguyễn Văn Đông (Trương Minh Cường trình bầy) 8. Đồng môn Đinh Viết Cư (ĐS15) chia sẻ về Ngày Quốc Hận 30-4-1975 thay cho tiết mục ca vọng cổ của đồng môn Trương An Ninh (ĐS14)). 11 9. Hợp Ca : Trả Lại Cho Dân (toàn ban văn nghệ) kết thúc phần văn nghệ phụ diễn. Sau 3 tiếng đồng hồ, buổi tưởng niệm kết thúc lúc 2 giờ trưa, và một số đồng môn ở lại giúp Ban Tổ Chức (BTC) dọn dẹp bàn ghế, tháo gỡ các đồ trang trí trên sân khấu, khiêng hệ thống âm thanh ra xe cho anh Nguyễn Phú Hùng, và lau chùi phòng họp sạch sẽ. 

 Phần IV - Phần Nhận Định của Những Người Tham Dự Trong phần nhận định này, người tường thuật sẽ đề cập đến các ưu và khuyết điểm của buổi tưởng niệm căn cứ trên những điều tai nghe mắt thấy tại hiện trường.  Các Ưu Điểm: - Ưu điểm đầu tiên là số người tham dự đông đảo. Buổi tưởng niệm năm nay có đông đảo các đồng môn, gia đình, thân hữu và đồng bào vùng lân cận Little Saigon đến tham dự. Đó là nhờ BTC đã nhiều lần nhắc mời các đồng môn trên Diễn Đàn Email QGHC Tòan Cầu cũng như thông báo trên đài Little Saigon Radio. Mặt khác BTC nhờ các đồng môn khóa nào kêu gọi các đồng môn cùng khóa tham dự. Có một chị đến tham dự tên là Lan Hương, em họ của đồng môn Tôn Thất Hùng (ĐS12) ở Michigan, cho biết chị đến dự vì được ông anh họ ở xa gọi điện thọai yêu cầu chị đến dự buổi tưởng niệm này. Ngòai ra, còn có 12 các nhà báo đến làm phóng sự như nhà báo Văn Lan của báo Người Việt, nhà báo Phạm Khanh của đài Little Saigon TV, và nhà báo Thanh Huy của báo Việt Báo. - Nỗ lực đáng khen của BTC về mặt tổ chức Trong phần khai mạc, thay mặt BTC, MC Vũ Ngọc Lộc đã ngỏ lời cám ơn sự đóng góp tích cực của các đồng môn thuộc các ban ngành sau đây: Ban Ẩm Thực: anh Nguyễn Văn Sáu và anh NĐT Ban Khánh Tiết: anh Nguyễn Tấn Hữu và anh Đinh Viết Cư Ban Truyền Thông: anh Trần Đức Tạo (chụp hình), anh Đèo Chính Mung (quay phim), anh Ngô Ngọc Trác (liên lạc với đài Little Saigon Radio), và anh Nguyễn Phú Hùng (mời các nhà báo). 

 Ban Thuyết Trình: anh Nguyễn Công Lượng, anh Nguyễn Văn Hòa, và anh Bùi Đắc Danh. Ban Tiếp Tân: chị Nguyễn Văn Hòa, chị Đinh Viết Cư, và chị Vũ Ngọc Lộc. Ban Văn Nghệ: anh Nguyễn Phú Hùng, chị Phương Thảo, anh Trần Văn Lương, và anh Đèo Chính Mung v.v. Sự đóng góp tích cực của các đồng môn QGHC đã được một người tham dự ghi nhận và ca ngợi. Ông Đặng Văn Âu, cựu Trung Tá Không Quân VNCH, đã nói với người tường thuật rằng ông rất khâm phục BTC đã huy động được một số đông cựu sinh viên QGHC đến dự; dù nhiều người đã trên 80 vẫn tham gia vào các ban chuyên môn nói trên, đến sớm để treo biểu ngữ (Banner), thiết kế âm thanh, trang trí phòng họp, xếp bàn ghế, và ở lại sau buổi lễ để thu dọn bàn ghế và lau chùi phòng họp. Ông cũng đề nghị nên có phần thảo luận hay góp ý sau mỗi bài thuyết trình. - Chương trình văn nghệ phụ diễn phong phú và đặc sắc Cuối buổi lễ, người tường thuật gặp một cặp vợ chồng ông Long quen biết từ cộng đòan Tam Biên (Nhà Thờ Chính Tòa Chúa Kitô) cũng đến tham dự. Anh chị này rất rành về nhạc lý và đã từng hát và đánh đàn cho ca đòan nhà thờ. Anh chị khen ngợi chương trình văn nghệ rất đặc sắc và có ý nghiã: đặc sắc vì BTC đã chọn lựa các bài hát phù hợp với buổi tưởng niệm, nói lên tình yêu quê hương và tinh thần đấu tranh cho đất nước; và các ca sĩ diễn tả các bài bát với hết cả tâm hồn; hơn nữa ông MC văn nghệ có ưu điểm là giới thiệu ý nghĩa từng bài hát trước khi giới thiệu ca sĩ hát.  Các Khuyết Điểm: Mặc dù có các ưu điểm kể trên, BTC cũng vấp phải các khuyết điểm nho nhỏ sau đây: 

- Trở ngại kỹ thuật về âm thanh 13 BTC đã xử dụng 2 hệ thống âm thanh: một hệ thống của Thư Viện Việt Nam với micro phone gắn sẵn trên bục thuyết trình dành cho MC tổng quát và các thuyết trình viên, nhưng micro phone này lại nhỏ, âm thanh không rõ; còn hệ thống do Ban Văn Nghệ mang tới dành cho MC văn nghệ và các ca sĩ thì tốt nhưng chỉ có một micro phone. Nên muốn cho cử tọa nghe rõ, hai MC tổng quát và MC văn nghệ phải luân phiên xử dụng cái micro phone tốt. Vì thế sự hóan chuyển micro phone giữa 2 MC đã gây ra sự đứt quãng trong chương trình. Ngòai ra, có nhiều khi ca sĩ phải chờ đợi lâu trên sân khấu trước khi hát vì trở ngại kỹ thuật về âm thanh. - Thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa MC điều hợp tổng quát và MC phụ trách văn nghệ Ngòai trở ngại kỹ thuật về âm thanh, cử tọa còn nhận ra sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa MC điều hợp tổng quát và MC phụ trách văn nghệ. Chẳng hạn, có đôi lúc MC phụ trách văn nghệ lại bước xuống sân khấu căn dặn MC điều hợp tổng quát đang ngồi dưới sân khấu. Điều này làm gián đọan sự liên tục của chương trình. 

- Các đề tài thuyết trình không lôi cuốn cử tọa Một khuyết điểm quan trọng mà đa số nhận thấy là các đề tài thuyết trình không lôi cuốn cử tọa và nội dung các bài thuyết trình cũng không có gì mới mẻ và đặc sắc cả. Đây là điều dễ hiểu vì chủ đề chung mà BTC đề ra là “Chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày quốc hận 30-4-1975”. Vì thế, mỗi thuyết trình viên có cảm nghiệm riêng, có hòan cảnh riêng, có lối hành văn và cách trình bầy riêng của họ, miễn sao đừng có lạc đề là được. Còn phê bình là quyền của người nghe, có người chê thì cũng có người khen!  Ý kiến của các đồng môn khác về buổi tưởng niệm - Anh Nguyễn Phú Hùng, Trưởng Ban Văn Nghệ Trong email gửi cho các đồng môn ngày 2 May 2026 với tựa đề: “Cám ơn các ca nghệ sĩ và bạn đồng môn QGHC”, anh Nguyễn Phú Hùng, Trưởng Ban Văn Nghệ, đã khen ngợi các ca sĩ nói chung và cách riêng anh thi sĩ Trần Văn Lương qua bài thơ “Tôi sẽ về nếu …”, cũng như cám ơn các đồng môn khác trong BTC. Cuối email, anh kết luận như sau: “Buổi Họp Mặt Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 vừa qua của chúng ta còn được sự hỗ trợ tích cực bởi các bài thuyết trình nhắm vào đề tài nghiên cứu lịch sử có giá trị của quý anh Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Công Lượng, Bùi Đắc Danh ... khiến kết quả việc tổ chức đã đạt được mức thành công khả quan.” 

- Anh Đèo Chính Mung Trong email gửi cho BTC ngày 2 May 2026, anh Đèo Chính Mung viết như sau: 14 “Buổi họp mặt Tướng Niệm Tháng 4 Đen rất thành công về đủ mọi phương diện. Và chúng tôi rất hãnh diện góp 1 phần nhỏ để nhắc nhở rằng chúng ta đã một thời sống dưới thể chế VNCH thắm đượm tình nhân ái.” - Anh Trần Văn Lương Cũng trong email gửi cho BTC và một số đồng môn ngày 2 May 2026, anh Trần Văn Lương viết: “Tất cả anh em QGHC mình đều đáng được hoan nghênh và cám ơn.” Nói chung, buổi tưởng niệm tương đối thành công về mặt tổ chức mặc dù BTC mắc phải vài khuyết điểm ngòai ý muốn. Thiết tưởng BTC cũng nên cân nhắc thận trọng các đề tài thuyết trình cũng như chọn lựa các thuyết trình viên cho buổi tưởng niệm Quốc Hận năm tới nếu muốn có đông người đến tham dự.  3 tài liệu tham khảo thêm BTC cũng in ra sẵn và để trên bàn tiếp tân 3 tài liệu tham khảo sau đây, hợp với chủ đề Tưởng Niệm Quốc Hận để phát cho báo chí và các người tham dự : 1/THỬ THÁCH CHO ĐỔI MỚI KINH TẾ LẦN HAI VÀ ẢO VỌNG THÀNH HỔ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM (Nguyễn Bá Lộc - ĐS9) 

 2/ Để Trả Lời 2 Câu Hỏi (Nguyễn Phú Hùng - ĐS 11) 3/ Nhớ Lại Ngày 30 Tháng 4 -1975 (Trần Đức Tạo - ĐS 16/CH8)  Lời Cuối: Các hình ảnh đính kèm trong bài tường thuật này là do các đồng môn sau đây chụp: Trần Đức Tạo (ĐS16), 

Nguyễn Văn Sáu (TS4) và Nguyễn Đức Khóat (ĐS15). Bài tường thuật này dành cho các đồng môn ở xa hoặc không thể đến tham dự được, để biết về buổi tưởng niệm 51 năm ngày Quốc Hận 30-4-1975 của Hội QGHC Nam Cali. Tường thuật tại Little Saigon –

 Nam Cali, ngày 4-5-2026 

 Vũ Ngọc Lộc (ĐS16) 15

Wednesday, 29 April 2026

 NGÀY NẦY 51 NĂM TRƯỚC-30.4.1975 VẪN TỒN TẠI TRONG TÂM TƯ ĐẦY NƯỚC MẮT CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN LANG BẠT CHÂN TRỜI, GÓC BỂ - VẪN ƯỚC MƠ SẼ CÓ MỘT NGÀY..../-Mt68

______________

NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẪM MÁU TẠI THỦ ĐÔ SÀI GÒN NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG THÁNG 4. 1975


Tại vòng đai Sài Gòn, tuyến phòng thủ của Quân lực VNCH đã phải co cụm lại: vùng Tây Bắc còn lại tỉnh Biên Hòa, phía Đông còn Long Thành, phía Bắc còn Lai Khê, phía Đông Nam còn Hóc Môn.
Trong đêm 26 tháng 4/1975, Cộng quân đồng loạt tấn công khu Tân Cảng, cầu Biên Hòa và đài phát tuyến Phú LâmTIỂU ĐOÀN 12 / LỮ ĐOÀN 4 NHẢY DÙ : đang bảo vệ dinh Độc Lập đã được điều động đến Tân Cảng và nhanh chóng quét sạch địch quân khỏi khu vực này…
Khoảng giữa trưa ngày 28/04/1975 một lực lượng Đặc công CS cấp đại đội một lần nữa tấn công và chiếm đóng phía đông đầu cầu xa lộ (Tân Cảng) và khu vực phía đông của cầu.
Địch sử dụng hỏa lực Thượng liên đặt trên lầu của hồ tắm Thiên Nga (nằm cách đầu cầu khoảng 100m) khống chế phần giữa cầu khiến đơn vị Địa Phương Quân (ĐPQ) từ phần đầu cầu phía Tây không thể tiến qua phản công được. Cộng quân đang tìm cách chiếm nốt cây cầu. Giao thông trên xa lộ giữa Sài Gòn và Biên Hòa bị gián đoạn.

Tiểu Đoàn 12 ND (TĐ12ND) trực thuộc Lữ đoàn 4 Nhảy Dù (LĐ4ND) được đặt trong tình trạng ứng chiến cho bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô (BTL/BKTĐ), TĐ (-) bố trí trong khuôn viên của Thảo cầm viên Sài Gòn còn 1 Đại đội nằm tại khu vực BỘ Canh Nông ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phan Thanh Giản với nhiệm vụ trấn giữ cầu Phan Thanh Giản.
Hai Đ/ĐPQ dưới quyền chỉ huy của Trung tá Tiểu khu phó Tiểu khu Gia Định (TKGĐ) đang phản công để tái chiếm đầu cầu nằm về hướng Biên Hòa. Hải quân Tân Cảng cung cấp tàu bè làm phương tiện vượt sông cho Tiểu Đoàn ND.
Tiểu Đoàn ND phối hợp với TKTĐ và Hải quân Tân Cảng để phản công tái chiếm phần cầu bị địch chiếm giữ và khai thông xa lộ trong thời gian ngắn nhất.
Ý định hành quân: Tiểu Đoàn 12 ND sẽ sử dụng của Hải quân Tân Cảng để vượt sông từ hai mặt nam và bắc của cây cầu và hai cánh quân sẽ tấn công các vị trí của địch từ hai gọng kìm này. Cánh quân A gồm BCH/TĐ và các ĐĐ 120, 123, 124 sẽ vượt sông từ khu vực cư xá Thanh Đa, cánh quân B do Thiếu tá TĐP Nguyễn Trọng Nhi sẽ vượt sông từ khu vực Tân Cảng với 2 Đ 121 và 122.>Khoảng 1500g toàn bộ Tiểu Đoàn ND dùng GMC từ Thảo cầm viên qua cầu Thị Nghè theo đường Hùng Vương rồi theo Hàng Xanh tới cầu Kinh. Tại đây cánh quân A được mấy chiếc giang đỉnh chở qua bờ sông Sài Gòn. Cánh quân B di chuyển bộ dọc theo các khu vực nhà ven sông để di chuyển về cầu Tân Cảng. ĐĐ 121 của Trung úy Nguyễn Văn Nam được Thiếu tá Nhi chỉ định nằm lại tại chân cầu làm lực lượng trừ bị và hỗ trợ cho cánh quân B vượt sông, phần còn lại gồm BCH nhẹ cùng Đ 122 của Đại úy Đỗ Việt Hùng được xà lan Hải quân đưa qua sông. Có lẽ do những tiếng súng nổ rền vang trên cầu nên ĐĐ 122 đổ bộ lên bờ đông sông Sải Gòn không bị địch phát hiện. Khoảng 1630g, ĐĐ 122 lặng lẽ vượt mấy con rạch nhỏ nằm song song với xa lộ và tấn công lên các lều của mấy quán giải khát dựng dọc theo bờ nam của xa lộ. Súng bắt đầu nổ và các binh sĩ nhảy dù nhanh chóng chiếm được một số lều do CS chiếm tại đó.
Mục tiêu cuối cùng là quán Cây Dừa cũng bị chiếm sau hơn 30 phút giao tranh. Một số địch nhảy xuống mấy con rạch để chạy trốn cũng bị rượt bắt, một số ít đầu hàng, còn phần đông bị thương do đạn bắn theo hoặc do lựu đạn ném xuống rạch.
Trong khi đó, cánh quân A sau khi vượt sông bắt đầu tiến nhanh qua khu làng Báo Chí rồi trực chỉ hồ tắm Thiên Nga. ĐĐ 124 của Trung úy Nguyễn Văn Tùng tiến chiếm chùa Kỳ Quang. Chùa này nằm cùng phía với hồ tắm Thiên Nga ở phía bắc ven xa lộ và cách hồ tắm khoảng hơn 400m. Từ chùa ĐĐ124 tấn công từ hướng đông thẳng xuống hồ tắm. ĐĐ 123 của Trung úy Sơn Bum dưới sự yểm trợ của súng cối 81 mm của ĐĐ 120 của Trung úy Thượng cũng bắt đầu tiến sát và tấn công hồ tắm từ hướng bắc. Khoảng 1800g làm chủ hồ tắm. Địch bỏ lại khoảng trên 10 xác chết. Trên lan can lầu xác hai xạ thủ thượng liên chân đều bị xích vào thành lan can. Cánh quân A bắt đầu lục soát về phía chân cầu.
Đến 1900g TĐ hoàn tất nhiệm vụ chiếm lại phần dầu cầu nằm ở hướng đông cùng dọn dẹp sạch sẽ khu vực này. Tổng kết hành quân, Tiểu Đoàn 12 ND tổn thất không đáng kể, địch để lại khoảng hơn 40 xác chết. TĐ bắt được hơn 20 tù binh, phần đông đều thuộc TĐ4 đặc công CS của quận Thủ Đức.
TĐ được lệnh bố trí phòng thủ khu vực phía đông của cầu. Khoảng 2000g Trung tá Lê Minh Ngọc cho lệnh TĐ gởi 1 ĐĐ lên trấn giữ khu vực ngã tư xa lộ – Thủ Đức.
Ngày 29/4/75 – Tình hình trong ngày vô sự. Khoảng 2200g một số quân xa chở binh sĩ và gia đình cùng thiết giáp từ hướng Biên Hòa đổ về Sải Gòn đều bị TĐ chận lại bên này cầu. Một vị Đại tá thuộc Quân đoàn III và một vị Trung tá mang bảng tên Quý yêu cầu TĐ cho nhóm gia đình quân nhân qua cầu vào Sài Gòn đồng thời cũng cho Thiếu tá Nhi biết là trên Biên Hòa đã được lệnh rút về Sải Gòn. Thiếu tá Nghiêm quyết định cho nhóm gia đình quân nhân này qua ngoại trừ mấy xe thiết giáp nằm lại phòng thủ chung với Tiểu Đoàn 12 ND . Thiếu tá Nghiêm cũng cho lệnh rút ĐĐ 123 của Đại úy Hùng đang trấn giữ tại ngã tư xa lộ – Thủ Đức rút về. Tình hình trong đêm tương đối yên lặng.
Ngày 30/4/75 – Khoảng 0730g Ngày 30/4/75 – Khoảng 0730g Tiểu Đoàn 12 ND nhận lệnh cho đoàn thiết giáp của Quân đoàn III vào Sài Gòn để họ bố trí dọc khu vực đường Hàng Xanh.
Khoảng 1000g Dương Văn Minh cho lệnh buông súng.Tiểu Đoàn 12 ND họp các ĐĐT để cho họ biết tin này và sau đó để họ tùy nghi. Thiếu tá Nhi đã ngậm ngùi vứt hộp bấm ngòi nổ của khối thuốc nổ cỡ 2000kg TNT gài tại cần Tân Cảng xuống sông Sài Gòn .
LỮ ĐOÀN 3 KỴ BINH – CHUẨN TƯỚNG TRẦN QUANG KHÔI : Ngày 29-4-75 có lệnh mới của Quân Đoàn. Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III ngoài Liên Đoàn 33 BĐQ, được tăng phái thêm: Lữ Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù(- Tiểu Đoàn) và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, yểm trợ hỏa lực trực tiếp có: Tiểu Đoàn 46 PB 155 và Tiểu Đoàn 61 PB 106 Quân Đoàn.
12 giờ trưa ngày 29-4-75, Trung Tướng Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại Bộ Tư Lệnh SĐ18BB ở Long Bình. Chỉ có Toàn, Đảo và tôi. Anh chỉ tay lên bản đồ ra lệnh cho SĐ19BB của Đảo phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên Hòa, kế đó ra lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III của tôi phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa và đặt lực lượng ĐPQ và NQ của Tiểu Khu Biên Hòa dưới quyền kiểm soát của tôi. Sau này đi tù tôi mới biết ngay lúc này phía bên khu vực SĐ25BB ở Củ Chi đã bị địch chiếm, SĐ25BB đã bị đánh tan và Tướng Lý Tòng Bá đã bị địch bắt.
Nguyễn Văn Toàn giấu tôi và Lê Minh Đảo tin xấu này. Anh chuẩn bị sắp xếp để bỏ trốn. Vừa nhận nhiệm vụ xong, tôi chợt thấy xuất hiện Đại Tá Hiếu, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43/SĐ18BB với giọng rung rung xúc động, Hiếu báo cáo: quân địch đang tấn công Trảng Bôm và Trung Đoàn 43 BB đang rút quân về hướng Long Bình, mặt Đảo cau lại, Toàn nổi giận la hét Hiếu bắt Hiếu phải đem quân trở lại vị trí cũ, Hiếu làm như tuân lệnh, chào và lui ra.
Trong thâm tâm tôi, tôi biết là mặt trận phía Đông Biên Hòa ở Trảng Bôm của SĐ18BB khó có thể cầm cự nổi vì SĐ18BB đã bị kiệt sức sau trận đánh lớn ở Xuân Lộc không được bổ sung. Sự sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian. Giao nhiệm vụ cho tôi và Đảo xong, Toàn đứng dậy bắt tay hai chúng tôi và nói: “Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ Tổng Tham Mưu xin yểm trợ cho hai anh.”
Về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III, tôi liền họp các Lữ Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Trưởng và các Đơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Hòa đã bỏ trốn từ mấy ngày trước. Trước hết, tôi ban hành lệnh thiết quân luật ở Biên Hòa kể từ 15 giờ 00 ngày 29-4-75, chỉ thị cho các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân chung quanh thị xã Biên Hòa bố trí tại chỗ, ở đâu ở đó, không được rời vị trí, không được di chuyển. Cảnh sát Biên Hòa chịu trách nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt để thi hành nguyên tắc nội bất xuất, ngoại bất nhập. Để phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa, tôi phối trí Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III như sau: Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù: Bố trí trong khu phi trường Biên Hòa, giữ mặt Bắc BTL/Quân Đoàn III.
– Lữ Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến: 1 Tiểu Đoàn bảo vệ BTL/Quân Đoàn III, Lữ Đoàn(-1 Tiểu Đoàn) bố trí phòng thủ mặt Nam BTL/Quân Đoàn III.
– Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Đoàn): Tổ chức phân tán thành nhiều Tiểu Đội chiến đấu nhỏ, giữ Cầu Mới Biên Hòa, giữ Cầu Sắt Biên Hòa và đặt các nút chận trên đường xâm nhập vào thành phố Biên Hòa.
– Chiến Đoàn 315: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than đến ngã Tư Lò Than (gần trại Ngô Văn Sáng).
– Chiến Đoàn 322: Bố trí án ngữ từ Ngã Tư Lò Than đến cổng phi trường Biên Hòa (trừ bị 1).
– Chiến Đoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Hòa đến Cầu Mới Biên Hòa (trừ bị 2).
– Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.
– BTLLĐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III: Đặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Đoàn III.
Lúc 17 giờ 00 ngày 29-4-75, tôi dùng xe Jeep có hộ tống đi một vòng quan sát tình hình trong và chung quanh thành phố Biên Hòa. Tình hình chung có vẻ yên tĩnh, dân chúng không ra đường, phố xá đóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng sản bắt đầu xâm nhập vào mặt Bắc và Đông Bắc thành phố từ hướng phi trường đụng với quân Biệt Cách Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Giao tranh bắt đầu, 1 cánh quân Biệt Động Quân của Chiến Đoàn 315 cũng đụng địch ở gần trại Ngô Văn Sang. Địch bám sát vào tuyến phòng thủ mặt Bắc và Đông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận địa nằm cách nhau 10-15 mét. Cho đến giờ phút này, quân ta chiến đấu vững vàng tự tin. Không có tình trạng bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta đẩy địch ra xa tuyến phòng thủ.
Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, địch bắt đầu pháo dữ dội vào thị xã Biên Hòa, chúng tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung Đoàn từ Ngã Ba Hố Nai – Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III. Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Đỗ Đức Thảo xông ra chận địch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp đảo địch. Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa địch bị bắn cháy. Địch rút lui.
Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, Tướng Lê Minh Đảo gọi tôi ở đầu máy PC-25: “Báo anh hay tôi bị quân địch tràn ngập, Long Bình đã bị chúng chiếm.” Tôi liền hỏi: “Anh hiện giờ ở đâu? Có cần gì tôi không?” Đảo đáp: “Tôi hiện ở gần nghĩa trang Quân Đội, đang rút đi về hướng Thủ Đức.” Tôi cảm thấy đau buồn và tội nghiệp Đảo vô hạn. Những năm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Đảo rất vất vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, vì Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III của tôi là lực lượng cơ động số 1, và SĐ18BB của Đảo là lực lượng cơ động số 2 của Quân Đoàn.
Bọn cán bộ cộng sản rất căm hận hai chúng tôi vì đã gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai tên chống cộng “điên cuồng” nhất.
Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, địch lại pháo vào Biên Hòa, lần này chúng pháo rất mạnh và chính xác. Tôi đoán chúng định tấn công dứt điểm Biên Hoà sau khi đã chiếm được Long Bình. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp vào trận đánh quyết định, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 đoàn chiến xa dẫn đầu, bộ binh theo sau, liền bị Chiến Đoàn 315 đánh chận đầu và bọc sườn, chúng bèn rút chạy ngược ra xa lộ. Kể từ đó, thị xã Biên Hòa trở nên yên tĩnh.
Đúng 08 giờ 00 sáng ngày 30-4-75, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu để liên lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không được. Tôi liền họp các Lữ Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng, Chiến Đoàn Trưởng và các Đơn Vị Trưởng Yểm Trợ. Chúng tôi trao đổi tin tức và thảo luận tình hình ở mặt trận, tình hình trong thành phố Biên Hòa. Áp lực địch bên ngoài không còn nữa. Chung quanh bên ngoài thị xã, chỉ có hoạt động lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Đặc biệt đêm qua, tôi có cho tăng cường canh giữ nhà giam Biên Hòa. Không có tình trạng dân chúng xuống đường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có tình trạng đào ngũ. Tuyệt nhiên cũng không có tình trạng hãm hiếp cướp bóc trong thành phố, các sĩ quan thi hành quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong đêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SĐ18BB rã ngũ định chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại , cương quyết không cho vào thành phố đang giới nghiêm vì sợ có tình trạng gây mất tinh thần rã ngũ giây truyền như đã xảy ra ở miền Trung trước đây.
Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Đô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.” Tất cả các Đơn Vị Trưởng ủng hộ quyết định này của tôi.
Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và điều động Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III tiến về Sài Gòn theo kế hoạch sau đây: Lấy đường xe lửa Biên Hòa-Sài Gòn và xa lộ Đại Hàn làm hai trục tiến quân chính.
a) Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù (-1 Tiểu Đoàn) do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải đường sắt hướng Sài Gòn. Đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên phải đường sắt, chờ lệnh. b) Lữ Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái đường sắt hướng Sài Gòn. Đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên trái đường sắt, chờ lệnh.
c) Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh + Liên Đoàn 33 Biệt Động Quân: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND và TQLC rời vị trí phòng thủ, rút an toàn qua Câu Mới Biên Hòa trước. Sau đó, lấy xa lộ Đại Hàn làm trục chính, tiến về Sài Gòn theo thứ tự như sau:
– Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Đỗ Đức Thảo chỉ huy: Đi trước, đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí bên này cầu Bình Triệu, chờ lệnh.
– Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên (TG) chỉ huy: Đi sau CĐ 315, đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí sau CĐ 315, chờ lệnh.
– Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Đức Dương chỉ huy: Đi sau cùng, đến Sài Gòn, bố trí sau BTL và Đơn Vị Yểm Trợ, chờ lệnh.
Trước khi lên trực thăng Chỉ Huy, tôi duyệt đoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời thành phố Biên Hòa trong vòng trật tự, trang phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước đây khi còn Đại Tướng Đỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00 ngày 30-4-75.
Tôi gọi nhiều lần, gọi một cách tuyệt vọng, không có ai ở đầu máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc được. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt đạn pháo binh địch nổ ở hướng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của tôi cũng vừa đến Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima.
Trong khi tôi đang lúng túng trong việc liên lạc với BKTĐ và Bộ Tổng Tham Mưu, thì thình lình tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Dương Văn Minh phát ra từ một máy thu thanh đâu đấy. Tôi nhìn đồng hồ tay: 10 giờ 25 phút.
Thế là hết. Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của mình và xem nhiệm vụ của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III đến đây là kết thúc.
Tôi không có gì để nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu đã cùng tôi chiến đấu đến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tròn khí tiết của người chiến sĩ đối với Quân Đội VNCH và Tổ Quốc VN.
AI CÔNG HẦU . AI KHANH TƯỚNG – TRÊN TRẦN AI . AI DỄ BIẾT AI ! THẾ CHIẾN QUỐC . THẾ XUÂN THU – THẾ THỜI THẾ . THẾ THỜI PHẢI THẾ !

Sunday, 23 November 2025

Trên Phòng Tuyến Ngã Ba Dầu Giây –

 Phạm Huấn
 on 

Phạm Huấn


               *Người xưa đâu?! Dầu Giây 50 năm sau 1975.

Ảnh minh hoạ

“6 giờ chiều ngày 13-4-1975, sau 15 phút Cộng quân bắc loa kêu gọi đầu hàng tại Ngã Ba Dầu Giây, Long Khánh, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh còn khoảng 50 tay súng, cùng bố trí sau những gốc cây cao su chờ giặc đến. Tôi liếc nhìn Trung đội 3 của mình còn đúng 12 người. Những đạn đại pháo, súng cối đủ loại của Bắc quân rót vào. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa, tiếng la thét hãi hùng, tiếng rên siết đau noun và rồi “tiếng hô sóng vỗ” của biển người. Tôi gục xuống trên xác một bạn đồng đội, người đầy máu…” Đó là một trận chiến tồi tệ. Một trận đánh bi thảm mà những người lính cuối cùng của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh phải chấp nhận, gánh chịu.Chiến đấu không yểm trợ, không tản thương, không hy vọng, và trong trạng thái hoang mang, hỗn loạn đến thảm não. Đứng lên một lần cuối cùng trực diện với quân thù, để rồi ngã xuống như những người khác, hay nếu có một may mắn nào đó, sẽ thoát được bàn tay tử thần ở trong họng súng của những kẻ xâm lăng, khát máu.

Đời lính, chết là chuyện thường tình. Vấn đề chỉ là bao giờ đến lượt mình? Trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến được coi là thảm khốc, dã man nhất của nhân loại từ 30 năm nay, đã có biết bao nhiêu những người lính của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nếu được chết cách đây 2 năm, trước khi Hiệp định Ba Lê đầu hàng Cộng sản được ký kết, đó là một niềm hãnh diện, chết cho Đất Nước, chết cho sự tự do của những người khác.

Trong trận chiến cuối cùng năm 1975, với tôi, nếu bị chết, chỉ là một cái chết tức tưởi, oan khiên. Tôi tiếp tục cầm súng chiến đấu vì cấp chỉ huy của tôi chưa bỏ chạy, và vì không muốn thấy 12 người lính còn lại dưới quyền khinh thường. Do đó, bỗng nhiên tôi trở thành “người lính cuối cùng” của Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư doàn 18 Bộ binh! Đó cũng là điều thành thật nhất tôi muốn được nói ra, để giải thích một cách lương thiện rằng tôi không phải là một Trung đội Trưởng anh hùng. Xin hãy dành từ ngữ anh hùng để vinh danh những chiến sĩ can đảm, xứng đáng khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.


Đầu tháng 4, 1975, sau khi các mặt trận Quân đoàn I và Quân đoàn II lần lượt tan vỡ, chiến tuyến Long Khánh được thiết lập ngày 8-4-1975 để chận sức tiến của các Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt trên đà đánh chiếm Sài Gòn. Chiến đoàn 52 Bộ binh được lệnh rời bỏ tuyến đầu của Quân đoàn III, vùng Núi Đốt, phía Nam Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, đường đi Đà Lạt, di chuyển về Ngã Ba Dầu Giây. Phòng tuyến mới của Sư đoàn 18 Bộ binh bây giờ bắt đầu từ Dầu Giây, dọc theo Quốc lộ 1, khoảng 18 cây số chiều dài, và 7 cây số chiều rộng (trên Quốc lộ 20, đoạn Ngã Ba Dầu Giây). Trước khi có lệnh co rút về phòng thủ tuyến Ngã Ba Dầu Giây, Chiến đoàn 52 với những Chi đội Thiết giáp tăng cường trong tuần lễ cuối cùng của tháng 3, 1975 lên thay thế vùng trách nhiệm của Trung đoàn 43 Bộ binh, trấn đóng phía Nam quận Định Quán, dọc theo Quốc lộ 20, “Tuyến đầu Tổ Quốc” trên đường lên Đà Lạt thơ mộng, thành phố của hoa anh đào và những chiếc “Alpha” mầu đỏ, trong những ngày cuối tháng 3, 1975, thật buồn thảm. Từng đoàn người lếch thếch, lũ lượt gồng gánh đi xuống. Ngược lên, kể cả những chiếc quân xa chạy vội vã, không có xe cộ nào vượt khỏi địa điểm đóng quân của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Ban đêm từ Núi Đốt, đỉnh cao nhất, phía Tây Nam Định Quán khoảng 15 cây số, có thể quan sát thấy những xe tăng và những đoàn Molotova chở quân của Bắc Việt chạy khơi khơi trên Quốc lộ 20.

Bộ Chỉ huy Hành quân Chiến đoàn 52 xin phản lực lên đánh, nhưng chỉ thấy máy bay quan sát gởi tới bay lượn một hồi rồi bay luôn. Lần không yểm cuối cùng cho tuyến Núi Đốt, Định Quán, 2 trái bom 500 cân Anh rớt trúng xuống Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 43, khiến gần 200 thương vong. Các Tiểu đoàn 2/43 và 1/52 là những Tiểu đoàn ưu tú, vũ bão nhất của Sư đoàn 18 Bộ binh. Những đơn vị đã nổi danh với những chiến thắng lẫy lừng tại Chiến khu D, và vùng Bến Cát trong năm 1974. Hai chiếc thiết giáp T-54 và PT-76 do Tiểu đoàn 1/52 “bắt sống” cách đây mấy tháng đã được lính Sư đoàn 18 chạy thẳng về Dinh Độc Lập, Sài Gòn để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiều chiều … thưởng lãm. Chính các đơn vị này làm cho những người lính của Sư đoàn 18 ngẩng mặt cao lên, quên đi cái mặc cảm là lính của “Sư đoàn 10 số bù” trước đây, đa số là “lính ma, lính kiểng” và được chỉ huy bởi một ông Tướng tham nhũng nhất quân đội thời đó. Và “rửa mặt” cho Tướng Lê Minh Đảo, vị Tư lệnh cuối cùng và anh hùng của Sư đoàn 18 Bộ binh, dập tắt những lời tố cáo dựng đứng của những con buôn chính trị bất lương, đã nói rằng chức vụ này được mua với giá 20 triệu đồng, qua “đường giây Bà Thiệu”! Vị Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/43 là một sĩ quan thuộc binh chủng Mũ Nâu trước đây. Ông nổi tiếng với lối đánh ào ạt, thần tốc trong đêm tối. Ban ngày nhẩy vào vùng địch, nhưng chỉ là đánh “nhứ” để quan sát địa thế, và ước lượng tình hình, khả năng thật sự của địch, tối đến mới là đánh thật. Và đã đánh đêm là phải thắng. Đó cũng là quy luật của đơn vị này! Hai trái bom 500 cân Anh thả lầm xuống Tiểu đoàn 2/43 là một đại bất hạnh, một thiệt hại lớn lao chung cho tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh. Vị Tiểu đoàn Trưởng tài ba, anh hùng nếu còn sống, chắc chắn sẽ điên loạn; vì ông thương yêu chiến hữu, lo cho những người lính nhiều khi còn hơn cả cho bản thân ông! Chiến đoàn 52 Bộ binh về tới tuyến mới, Ngã Ba Dầu Giây tối ngày 8-4-1975, thì ngay sáng hôm sau, mặt trận Long Khánh đồng loạt bùng nổ cả 3 nơi: Xuân Lộc, Ngã Ba Dầu Giây và vùng giáp ranh tỉnh Bình Tuy. Cả hai Sư đoàn 6 và 7 Chủ lực quân, các Trung đoàn Pháo thuộc Sư đoàn 75 Pháo binh Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, mở những cuộc tấn kích vào các vị trí của quân ta ngay giữa ban ngày. Chiến thuật của chúng tại mỗi nơi vẫn là tiền pháo, hậu xung và phục kích chận viện. Ngày đầu tiên, 10-3-1975, áp lực nặng nề nhất là Bắc Xuân Lộc và vùng núi Chứa Chan, nằm ở phía Đông Xuân Lộc chừng 12 cây số, gần với ranh giới tỉnh Bình Tuy. Lực lượng bên ta, tại Xuân Lộc trong ngày đầu, ngoài những đơn vị Địa Phương quân của Tiểu khu Long Khánh, có Trung đoàn 43 và Trung đoàn 48 Bộ binh. Trung đoàn 48 Bộ binh đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình, trước đó đã được lệnh tới tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc, và phòng tuyến phía Đông của thị trấn này.

Cuộc chuyển quân thần tốc của Trung đoàn 48 Bộ binh cùng với tinh thần chiến đấu cao độ của đơn vị này, đã làm cho địch quân không thể tràn ngập được phòng tuyến phía Đông Xuân Lộc, vùng núi Chứa Chan trong ngày đầu như chúng đã dự định. Tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh dọc theo Quốc lô 20, khoảng 6 cây số về phía Bắc, và 2 cây số về phiá Nam từ Ngã Ba Dầu Giây. Khoảng từ Dầu Giây về Xuân Lộc trên Quốc lộ 1 chừng 10 cây số vẫn còn là một trục lộ an toàn. Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, các Pháo đội đại bác 155 ly va 105 ly, các Chi đoàn M-41 và Thiết vận xa M-113 trấn đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, cách Dầu Giây 3 cây số về phía Bắc. Tiểu đoàn 3/52 đóng chốt trên núi Sóc Lu và những cao điểm khác, làm thành vòng đai ngoài cùng.

Ảnh minh hoạ

Phòng tuyến của Tiểu đoàn 1/52 ở phía Nam Dầu Giây chừng hơn một cây số. Vùng đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh trong những ngày cuối, trừ Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đóng tiền đồn, đóng chốt trên các đỉnh cao, phía Bắc và Đông Bắc của Dầu Giây, tất cả đều nằm trong những đồn điền cao su bát ngát. Chiều ngày 11-4-1975, Tiểu đoàn 2/52 được lệnh về tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc.

Vị sĩ quan Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/52, Đại úy Út, với kinh nghiệm chiến trường, và nổi tiếng bén nhậy trong những ước tính đối với sự việc có thể xẩy ra, nên ông đã để lại dọc đường 2 Đại đội “ngủ đêm” trong vườn cao su. Trận phục kích tuyệt vời của Tiểu đoàn 2/52 đêm 11-4-1975, tiêu diệt, đốt cháy cả một đoàn xe chở quân và chở đạn của Việt cộng tại ấùp Cái Răng cách Xuân Lộc 6 cây số về phiá Tây Bắc, đã là chiến thắng cuối cùng của Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh trước khi bị tan hàng!

NHỮNG NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH

Đơn vị tôi thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn, mặt phía Nam Ngã Ba Dầu Giây. Một đại đội, nhưng chỉ còn khoảng 50 người, quân số chưa được một nửa theo quân số lý thuyết. Sĩ quan có đúng 2 người, một Trung úy Đại đội Trưởng, và tôi, chỉ huy Trung đội 3 với 12 tay súng.

Ngay đêm đầu tiên, sau những trận mưa pháo của Bắc quân, những đơn vị pháo binh của Sư đoàn 75 Pháo Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, “tuyến đầu” ở phía sau khu vực đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh đã co rút lại gần 1 cây số. Chúng tôi lui về phòng thủ sát xã Dầu Giây và Quốc lộ 1. Vẫn là những rừng cao su dầy đặc. Tôi nhìn những chiến hữu trong đơn vị, rồi nghĩ đến mình mà lòng thấy sót sa, đau đớn. Trận chiến cuối cùng này đã vượt khỏi tầm tay của mọi người. Không còn tin tưởng, hy vọng, hay tính toán gì được nữa. Bị bao vây, nguy khốn, bị thương chờ chết, bắn hết đạn, hãy tự giải quyết lấy. Những người gục xuống, đó là cách giải quyết tốt đẹp nhất cho chính họ, và cả những người còn sống. Pháo cuả địch rót vào chiến tuyến của ta giờ này qua giờ khác, ngày cũng như đêm. Những đại đội, trung đội đóng chốt, đóng tiền đồn của Tiểu đoàn 3 trên núi Sóc Lu và những cao điểm phía Bắc Dầu Giây. Khi còn sử dụng được máy móc liên lạc, họ gọi kêu cứu liên tục. Các khẩu đại bác từ Bộ Chỉ huy Hành quâïn của Chiến đoàn bắn đi yểm trợ cầm chừng. Cứ điểm nào sắp bị tràn ngập, nghe tiếng phản lực xé không gian bay tới, hay tiếng gầm thét của chiến xa ào ạt đến, đó là cứu tinh, là hy vọng, là mong ước cho sự sống được kéo dài thêm của những người lính bộ binh khốn khổ, bất hạnh. Nhưng khi đã thấy một phản lực cơ nổ trên không trung, một chiến xa bốc cháy rồi thì niềm hy vọng và cuộc sống của họ tiêu tan, dẫy chết.

Ngày thứ tư của trận chiến Xuân Lộc, Long Khánh, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn 52 Bộ binh tại mặt trận phía Tây Xuân Lộc, cả Tiểu đoàn 3 với quân số hơn 300 người, đóng trên các cao điểm phía Bắc Dầu Giây chừng 5 cây số, không còn liên lạc, vết tích gì nữa. Họ đã chết thật tức tưởi, phi lý và trong uất hận, đau đớn. Trước khi vào lính, tôi không biết nhiều về đời sống quân đội. Cuộc đời quân ngũ của tôi cũng thật ngắn ngủi, 2 năm, 2 tháng, 20 ngày. Và tôi chỉ phục vụ tại một đơn vị, giữ một chức vụ duy nhất là Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Tôi bị động viên theo học khóa Sĩ quan Trừ bị 2-73, dù thời gian đó Hiệp định Paris đã được ký kết. Cũng trong thời gian này, tôi đã mất đi một người bạn thân nhất. Đó là Chuẩn úy Lương Đức Hậu, người bạn học từ thuở nhỏ, cùng khóa 2-73 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, và cùng một đơn vị khi ra trường.

Cái chết của Lương Đức Hậu đã làm tôi day dứt, đau đớn nhiều ngày, và hận thù những người đang lãnh đạo Đất Nước, chỉ huy cuộc chiến này. Tại sao lại bắt chúng tôi, những người không thích đời sống quân đội phải vào lính, để thay thế những người yêu võ nghiệp, có khả năng chiến đấu, và cuộc đời họ đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay? Cuối năm 1974, Tiểu đoàn của tôi toàn những sĩ quan “non choẹt” mới ra trường như tôi, giữ các chức vụ Trung đội Trưởng, Đại đội Phó, trong khi đó quân đội cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, với một lý do rất mơ hồ là “lý do kỷ luậtï”, khiến họ rất căm phẫn, bất mãn.

Tôi nhớ cuối tháng 8 năm 1974, Hậu và tôi được tham dự “một trò chơi lớn”. Sau hào quang chiến thắng của Sư đoàn 18 “bắt sống” được xe tăng của Việt cộng tại Bến Cát, vị Tư lệnh Quân đoàn lúc bấy giờ muốn chúng tôi “thừa thắng xông lên”. Ông ra lệnh thẳng cho Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 thả Tiểu đoàn 1/52 vào giữa lòng Chiến khu D, “lùng và diệt” một Trung đoàn Việt cộng. Rừng rậm và địa thế gai góc, hiểm trở, chỉ một đêm, chúng tôi bị địch pháo, thiệt hại hơn 100 người. Lương Đức Hậu, Trung đội Trưởng Trung đội 1 chết tan xác cùng với hàng chục người lính thuộc trung đội anh, cách tôi chừng 20 thước. Hậu chết khi tuổi lính mới được vừa 1 tuổi, và tuổi đời chưa tới 20. Cũng may trận đó vị Đại tá Chiến đoàn Trưởng, dù phải nghe lệnh của ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn, nhưng biết trước chúng tôi sẽ “ôm đầu máu”, nên đã tập trung sẵn những thiết giáp M-48 và một tiểu đoàn khác vào giải vây khi trận chiến xẩy ra. Những cảm nghĩ chân thành của tôi, có thể không đúng với những người cùng lứa tuổi, đã chọn võ nghiệp như cái nghề cao quý của mình. Nhưng tôi tin rằng đó là tâm trạng chung của một số lớn sinh viên và học sinh, đã bị ném vào các quân trường, các trung tâm huấn luyện trong những năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam.

Tại một số quốc gia có chiến tranh, nhất là trong cuộc chiến đấu sinh tử với cộng sản để sống còn như Việt Nam Cộng Hòa, luật Tổng Động Viên là một đạo luật cần thiết va hợp lý. Tuy nhiên, đạo luật này đã không đưọc thi hành một cách công bằng như ở các quốc gia khác. Những người lãnh đạo Đất Nước, những tướng lãnh giữ những chức vụ quan trọng tại Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn, Nha Động Viên, v.v… chính là những người đã dung dưỡng, bao che cho con cháu, người thân, tạo ra sự bất công nhiều nhất. Thật đau lòng khi nhìn thấy những sự thật xẩy ra trước mắt. Trước năm 1954, khi người Pháp còn chỉ huy cuộc chiến tại Đông Dương, Tướng De Lattre được bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp, và các lực lượng Việt-Miên-Lào năm 1950, thì đứa con trai duy nhất của ông là Trung uý Bernard De Lattre, đóng tại đền Non Nước, Ninh Bình. Khi De Lattre sang Việt Nam, phương vị của Bernard vẫn không thay đổi, tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận, cho đến khi chết tại đó, vào tháng 5 năm 1951. Một tấm gương khác, khi Mỹ khởi sự ném bom Bắc Việt năm 1965, con trai của Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hải quân Thiếu tá McCain, là một trong những phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rớt tại Bắc Việt. Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy bất cứ con một ông Tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận. Em trai bà Thủ tướng đến tuổi đi lính, ngay lập tức được “tuyển” để đi theo xách bóp cho bà chị. Tất nhiên sự tuyển dụng này không qua một thủ tục nào, vì ông Thủ tướng còn là một đại tướng 4 sao, quyền uy coi như vô địch. Con những ông tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên, đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo, và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng Động Viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại những “chỗ ngon, chỗ bở” ở Sài Gòn hay các tỉnh. Điều đáng buồn hơn nũa là trước khi được gọi nhập ngũ, và khi học ở các quân trường, các trung tâm huấn luyện quân sự, họ không nhận được các tài liệu, hoặc sự giải thích một cách minh bạch, hợp lý của các cán bộ trong quân đội, đối với nhiệm vụ, quyền lợi và thời gian thi hành lệnh động viên.

Với cuộc chiến ác liệt trong những năm sau cùng, nhiều khi sau một trận giao tranh, một tiểu đoàn tác chiến, với quân số hành quân khoảng 400 người, có khi bị thiệt hại 1/3 hay nhiều hơn nữa. Và trong trường hợp ấy, ít nhất 50 phần trăm sĩ quan trung đội trưởng, cấp chuẩn úy, thiếu úy bị hy sinh. Một bức hình chụp 9 người khi nhập học khóa 2/73 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, hình như chỉ có tôi và một người nữa sống sót. Thật tình tôi đã không hiểu nổi, tại sao những người làm việc tại Nha Động Viên thời gian đó đã tiếp tục gọi nhập ngũ chúng tôi sau khi Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 được ký kết? Tôi không muốn nói đến cái “văn kiện đầu hàng” không có một chút xíu giá trị này, vì bọn cộng sản không bao giờ tôn trọng những điều chúng cam kết, và không bao giờ chúng thay đổi chính sách sắt máu, xâm lăng miền Nam bằng võ lực, nếu chưa nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ muốn nói đến sự giải kết, bỏ chạy của người Mỹ khi ký hiệp định này với cộng sản Bắc Việt. Vì vấn đề tù binh Mỹ, chắc chắn Mỹ sẽ ép Việt Nam Cộng Hòa trên nhiều lãnh vực, và tôn trọng những mật ước đối với cộng sản Bắc Việt. Sau Hiệp định Ba Lê 1973, viện trợ quân sự bị Mỹ cắt xuống rất nhiều. Do đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải giảm bớt quân số, chiến cụ, phi cơ, và đạn dược sử dụng bị hạn chế. Để đối phó với vấn đề giảm bớt quân số, những giới chức quân sự cao cấp đã hành động để có biện pháp như thế nào? Họ cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, và cuộc đời họ hầu như đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay. Những người này bị cho giải ngũ, vì lý do kỷ luật, và dù họ không muốn bị giải ngũ. Trong khi đó, chúng tôi, những sĩ quan “non choẹt”, ra trường mới được mấy tháng, nếu sống sót, được “đẩy” lên làm đại đội phó, hay đại đội trưởng, dù kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu chưa có bao nhiêu. Sự làm việc không có kế hoạch, chương trình của những cơ quan phụ trách về động viên và giải ngũ đã gây sựï oán hận cho rất nhiều người, và hủy hoại tiềm năng của Quốc Gia, của quân đội không ít, trong 2 năm chót, trước khi chiến tranh chấm dứt.

Ảnh minh hoạ

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi trung đội của tôi lui về phòng thủ tại xã Dầu Giây, với quân số chiến đấu vỏn vẹn còn 12 người, đi nằm tiền đồn, bố trí chờ địch đến, hay tránh pháo kích, chúng tôi đều dàn hàng ngang, sau những gốc cao su. Tôi cũng không còn khe khắt bắt anh em binh sĩ đào hố cá nhân như trước kia nữa. Bởi vì, những hố đó cũng sẽ chẳng ích lợi gì khi Việt cộng tràn đến. Lúc tôi trúng mảnh pháo của địch, người đầy máu té xuống, tôi đã nghe thấy tiếng rên la trong đêm tối của Trung sĩ Hoan, người Trung đội Phó gan dạ, anh hùng. Hoan người gốc Tầu vùng Chợ Lớn, lầm lì, ít nói, nhưng can đảm và tháo vát. Trận đánh tại Bến Cát cách đây mấy tháng, khi tôi chỉ huy 2 khinh binh bò lên đánh lựu đạn vào một cái hầm có Việt cộng trú ẩn, một trái B-40 của địch “thổi” trúng, “chém” đứt đôi 2 người lính, Hạ sĩ Lê Sen và Binh nhất Hòa. Tôi thoát chết trong gang tấc, nhờ Hoan kẹp khẩu đại liên vào đùi, đứng bắn che cho tôi bò ngược trở lại. Hạ sĩ Sen và Binh nhất Hòa đều là “những người lính bất hạnh” mà tôi thương mến họ. Tôi gọi Sen là “người lính gương mẫu” và Hoà là “đứa bất hiếu”. Sen là người tằn tiện, mực thước, tiền lương hàng tháng thường dành dụm gởi về cho vợ con. Còn Hòa ăn tiêu hoang phí, rượu chè, nhiều khi bà mẹ già chờ đầu tháng lên vùng hành quân xin tiền con, Hòa không có, phải trốn mẹ, bị tôi rầy la hoài. Trận trước, Hạ sĩ Sen và Hòa đã ra đi. Hôm nay đến lượt tôi và Hoan! Hoan có người vợ trẻ mới cưới từ 2 tháng trước, định “dù” về Chợ Lớn thăm vợ, nhưng thấy trung đội chỉ còn có mình tôi là cấp chỉ huy, nên không nỡ bỏ đi. Tự nhiên tôi mong ước Hoan sẽ thoát được bàn tay tử thần đêm nay để về thăm vợ anh, dù đó là lần cuối cùng!

Tôi tỉnh dậy sáng hôm sau, một sĩ quan đã cho biết tôi được cứu sống nhờ 3 người lính thay nhau dìu về, những người lính của Trung đội 1, trung đội do cố Thiếu úy Lương Đức Hậu chỉ huy trước đây. Còn 12 quân nhân trong Trung đội 3 của tôi vĩnh viễn ra đi, không một người nào về được. Ngày 14-4-1975, phòng tuyến của Chiến đoàn 52 Bộ binh co lại thêm nữa. Đồng bào từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh… khắp nơi đổ tới Ngã Ba Dầu Giây để tìm đường về Sài Gòn.

Việt cộng nã pháo vào khắp các vị trí của quân ta ngay từ sáng sớm. Đồng bào chiến nạn trở thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch. Tiếng kêu khóc thảm thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 1 thật khủng khiếp, đau thương. Vị Tư lệnh mặt trận, Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 lồng lộn như một con hổ ở trong chuồng, ra lệnh tổ chức phòng tuyến cuối cùng, không lùi thêm nữa. Nhưng cố gắng của ông và của những người lính Chiến đoàn 52 Bộ binh cũng chỉ giữ được phòng tuyến này thêm một ngày nữa, rồi tan hàng. 9 giờ đêm 15-4-1975, đại bác cộng quân bắn sập hầm chỉ huy của Đại tá Chiến đoàn Trưởng, các hệ thống truyền tin, liên lạc bị hủy diệt, ông thoát chết nhờ đang ở bên ngoài. Và lúc đó, ông mới quyết định cho mở đường máu rút lui về hướng Long Bình. Tổng cộng chỉ có 200 người thoát về được đêm 15-4-1975. Khoảng 1500 quân thuộc Chiến đoàn 52 Bộ binh bị thiệt hại, bị đánh tan tác trong 6 ngày cuối cùng tại mặt trận Dầu Giây, Long Khánh.

Phạm Huấn

Trích từ tuyển tập “NHỮNG UẤT HẬN TRONG TRẬN CHIẾN MẤT NƯỚC 1975” của Phạm Huấn
GHI CHÚ: Viết theo lời tường thuật của Thiếu Úy Phạm Văn Trung, Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh.

Nguồn: https://hung-viet.org/p19a17948/tren-phong-tuyen-nga-ba-dau-giay

Thursday, 31 July 2025

Câu chuyện cảm động về một anh hùng VNCH cùng vợ con tuẫn tiết tại Đà Nẵng

Sau ngày định mệnh 30 Tháng Tư 1975, người Việt tị nạn cộng sản đã tản mác khắp bốn phương trời. Trên sách vở, báo chí, hồi ký, bút ký, trong các buổi phát thanh, truyền hình, đại nhạc hội, hội họp của các đoàn thể chính trị hoặc các tổ chức xã hội khác, cũng như trong những cuộc chuyện trò giữa bạn bè đồng đội xưa, người ta vẫn thường nhắc đến cái chết bi hùng của những vị tướng lãnh, sĩ quan và chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Những cái chết ấy – cái chết vì danh dự, vì đất nước – xứng đáng được ghi nhận một cách trang trọng, cần được đưa vào sử sách để các thế hệ mai sau biết rằng cha ông họ đã chọn cái chết oanh liệt thay vì sống nhục dưới ách giặc xâm lăng từ phương Bắc.
Với tinh thần đó, tôi xin ghi lại sự tuẫn tiết bi tráng của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con, đã chọn cái chết vào ngày 29 Tháng Ba năm 1975 tại Đà Nẵng – chỉ một tháng trước khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ.

Hồi ức những ngày cuối cùng ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng
Vào lúc 8 giờ sáng ngày 28/03/1975, tiểu đoàn của tôi được lệnh rút về tuyến phòng thủ phía Tây Nam Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, có nhiệm vụ bảo vệ Pháo đội 105 ly thuộc Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Trên bản đồ, vị trí đó nằm dọc trục lộ 14C, từ quận Điện Bàn đi Đại Lộc, Thượng Đức – thuộc tỉnh Quảng Nam. Tiểu đoàn nhận trách nhiệm khu vực từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km).

Khi chúng tôi đến nơi vào khoảng 10 giờ sáng, đã thấy một số khẩu pháo 105 ly bố trí sẵn tại các thửa ruộng khô, cách tỉnh lộ khoảng 50 mét. Sau khi liên lạc với vị pháo đội trưởng để phối hợp phương án phòng thủ, tôi phân công vị trí cho từng đại đội, và đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn gần pháo đội.
Đến khoảng 12 giờ trưa, vị Đại úy chỉ huy pháo đội thông báo rằng họ vừa nhận được lệnh rút lui. Tôi không thắc mắc, vì pháo binh thường là lực lượng yểm trợ phía sau. Tuy nhiên, tôi vẫn ra lệnh cho Đại úy Quý – Trưởng ban 3 – liên lạc với Tiểu Khu để xác nhận xem đơn vị chúng tôi có cùng rút lui để bảo vệ pháo binh hay không.
Đến 2 giờ 30 chiều, Đại úy Quý báo lại rằng Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã di chuyển về khu vực Non Nước. Tôi bắt đầu thấy tình hình đáng lo ngại, vì qua các băng tần liên lạc với các đơn vị trong vùng I mà chúng tôi có quyền truy cập, tình hình ngày một hỗn loạn.
Vào lúc 4 giờ chiều, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Liên Đoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành chỉ huy – đơn vị mà tiểu đoàn tôi trực thuộc. Các liên lạc với Tiểu Khu cũng không còn phản hồi. Tôi cố gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Đoàn I cũng như của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, nhưng tất cả các đường dây đều bận – có lẽ vì khối lượng thông tin dồn dập từ các đơn vị đang rút lui hoặc giao tranh.
Tôi liền triệu tập các đại đội trưởng và sĩ quan tham mưu để báo cáo tình hình và thảo luận kế hoạch hành động. Không còn mệnh lệnh từ cấp trên, tôi buộc phải tự đưa ra quyết định: cho tiểu đoàn rút về Hội An, vừa để kiểm tra tình hình tại Tiểu Khu, vừa nhằm tìm một đường lui khả thi và tương đối an toàn về Đà Nẵng.

Trên đường rút lui: Gặp Trung tá Nguyễn Tối Lạc và Đại tá Vũ Ngọc Hướng
Khi đơn vị tôi vừa ra đến Quốc lộ 1, cảnh tượng trước mắt khiến tôi chết lặng. Dân và lính hỗn loạn, đổ về Đà Nẵng đông nghẹt – không khác gì một dòng thác người đang hoảng loạn tháo chạy khỏi cơn đại họa.



Họ đang chạy giặc.


Trước tình hình đó, tôi lập tức ra lệnh cho tiểu đoàn dừng lại, tạm ẩn trong một ngôi làng cách quốc lộ chừng 100 mét. Tôi lo sợ nếu để lính tận mắt chứng kiến cảnh hỗn loạn này, họ có thể buông súng, bỏ hàng ngũ mà tìm đường về lo cho gia đình.


Tôi một mình tiến sát quốc lộ để quan sát tình hình thì tình cờ gặp Trung tá Nguyễn Tối Lạc, Quận trưởng Đức Dục. Ông cho biết tất cả các chi khu của Quảng Nam đã rút hoặc tan rã, còn Bộ Chỉ huy Tiểu khu thì đã di chuyển về Đà Nẵng và hiện không còn liên lạc được. Ông cũng báo rằng Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh, vừa chỉ thị ông trực thuộc Đại tá Vũ Ngọc Hướng – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 BB. Đại tá Hướng lúc này đảm trách luôn việc chỉ huy các tiểu đoàn còn lại của Tiểu khu Quảng Nam.
Trung tá Lạc lúc đó chỉ còn lại một người lính mang máy truyền tin và một lính bảo vệ bên cạnh.

Khi chúng tôi đang trao đổi thì một chiến xa M-48 từ phía trong tiến ra. Ngồi trên pháo tháp chính là Đại tá Vũ Ngọc Hướng.

Ông nhận ra tôi, cho xe dừng lại và gọi lớn:
– Tiểu đoàn của mày đâu mà đứng đây?
Tôi nhanh chóng đáp:
– Tiểu đoàn tôi đang trong làng gần đây, thưa Đại tá.
Tôi chỉ tay về phía làng rồi tiếp:
– Quân số còn nguyên, chưa đụng trận lớn, chỉ giao tranh lẻ tẻ với du kích. Đại tá chắc cũng biết rõ tiểu đoàn này rồi mà.
Ông gật đầu:
– Tao biết. Mày đã nhận lệnh của Thiếu tướng Hinh chưa?
– Tôi chưa nhận trực tiếp nhưng đã nghe Trung tá Lạc truyền đạt.
– Tốt. Giờ Bộ Chỉ huy Tiểu khu không còn ai. Từ bây giờ, mày trực thuộc Trung đoàn tao. Có tần số truyền tin chưa?
– Có đầy đủ trong đặc lệnh rồi, thưa Đại tá.
– Vậy nghe đây. Theo lệnh Thiếu tướng Hinh, mày đưa tiểu đoàn về Hội An phòng thủ cùng Trung đoàn. Đến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ chỉ huy Tiểu khu để nhận thêm chỉ thị.

Tôi chào Đại tá Hướng, trở về trình bày tình hình và lệnh mới cho toàn bộ sĩ quan trong tiểu đoàn. Sau khi thảo luận, tôi nói với anh em:
– Chúng ta sẽ về Hội An như dự tính ban đầu. Trên phương diện quân sự, tiểu đoàn nay trực thuộc quyền chỉ huy của Đại tá Hướng. Nếu có chiến sự, ta sẽ phối hợp cùng lực lượng của Trung đoàn. Tại Hội An, chúng ta có những lợi điểm sau:
1. Về địa thế, chúng ta đã nắm rõ như lòng bàn tay.
2. Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung tâm Tiếp vận Quảng Nam – thuộc Tiểu khu – có thể sử dụng nếu chiến đấu kéo dài.
3. Nếu có thương vong, tại Hội An có bệnh viện, bác sĩ Trung đoàn 2 và y tá – đủ khả năng cứu chữa.
4. Đường liên tỉnh 13C từ Đà Nẵng đi Hội An vẫn còn thông suốt, có thể dùng làm đường rút lui nếu cần.

Tôi kết luận:
– Nếu tình huống trở nên tuyệt vọng như ở Huế hay Vùng II, tôi sẽ vào trình diện Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Với tiểu đoàn còn nguyên vẹn như hiện nay, tôi tin chắc Quân đoàn sẽ không bỏ rơi chúng ta – sẽ tạo điều kiện để đưa đơn vị vào Sài Gòn, tiếp tục chiến đấu. Nếu tình thế nguy cấp hơn nữa, ta có thể dùng quân số áp đảo để yêu cầu Hải quân hỗ trợ vận chuyển vào Nam. Chúng ta còn người, còn súng, còn tinh thần – thì chưa thể đầu hàng!


Trên đường rút lui về Hội An – Một đêm đầy thử thách
Lúc này đã 6 giờ chiều. Mặc dù ánh nắng mặt trời vẫn còn, nhưng do dân chúng và binh sĩ từ các đơn vị khác đổ dồn về Đà Nẵng quá đông, việc di chuyển cả một đơn vị lớn như Tiểu đoàn trở nên vô cùng khó khăn và dễ gây thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Đại đội trưởng và Trung đội trưởng phải bám sát binh sĩ của mình, tuyệt đối không để thất lạc người. Nếu có ai bị lạc, họ phải đến điểm tập trung đã được ấn định: Ty Công chánh Hội An – không vào Tiểu khu. Tôi căn dặn thật kỹ các đại đội phải đếm quân kỹ lưỡng, từng người một, để nắm chắc quân số và điểm tập họp.

Đến 6 giờ 30, Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển hướng về Hội An. Trên đường đi, chúng tôi gặp từng đoàn quân lính rã ngũ từ Sư đoàn 2 Bộ binh, các đơn vị thuộc Tiểu khu Quảng Ngãi và Quảng Tín – họ đổ về như kiến cỏ, mất hết chỉ huy, vô kỷ luật, vô trật tự. Chỉ cần một hành động vô ý, một lời nói không đúng lúc, họ có thể rút súng bắn ngay – vì họ đang trong trạng thái tinh thần hoảng loạn.

Tôi và Tiểu đoàn đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung Ty Công chánh, hai đại đội đầu tiên đã có mặt đầy đủ. Tôi lập tức ra lệnh tổ chức phòng thủ và chờ các đơn vị còn lại đến sau. Sau đó, tôi vào gặp Đại tá Vũ Ngọc Hướng tại Bộ Chỉ huy Tiểu khu để nhận chỉ thị.

Đúng nửa đêm, toàn bộ Tiểu đoàn đã có mặt. Đại úy Quý – Trưởng Ban 3 – báo cáo: tổng quân số hiện diện là 470 người. Sĩ quan có đủ mặt. Ngoài ra, có 20 thường dân – là thân nhân của binh sĩ trong Tiểu đoàn – đi theo. Họ vốn sống ở Điện Bàn, khi biết Tiểu đoàn quay về khu vực này, đã tìm đến với hy vọng nếu có cơ hội vào Sài Gòn thì sẽ được đi cùng đơn vị.

Ngoài ra còn có 50 quân nhân thuộc các đơn vị khác của Tiểu khu Quảng Nam bị thất lạc và xin gia nhập tạm thời để cùng rút lui. Tôi đồng ý với điều kiện: họ phải tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh của sĩ quan Tiểu đoàn. Nếu có hành vi bất tuân, đặc biệt trong lúc đụng trận, tôi sẽ cho phép bắn tại chỗ. Tất cả đều đồng ý và tôi phân phối họ về các đại đội tác chiến ngay trong đêm.

Riêng 20 thường dân – trong số này có nhiều người tôi từng quen biết – tôi giao trách nhiệm bảo vệ cho Trung sĩ I Nguyễn Thoảng, Hạ sĩ quan Ban 5 của Tiểu đoàn (Trung úy Trưởng Ban 5 lúc này vắng mặt). Tôi đích thân giới thiệu ông Thoảng với bà con và dặn dò:
– Bà con là thân nhân của binh sĩ trong Tiểu đoàn, thì cũng như lính của tôi. Tôi có trách nhiệm bảo vệ bà con như bảo vệ lính tôi vậy. Nếu có đụng trận, phải tuyệt đối nghe lệnh Trung sĩ I Thoảng để được an toàn. Đừng chạy lộn xộn mà thiệt mạng oan uổng. Tiểu đoàn đến đâu, tôi mang bà con theo đến đó.
Nghe tôi nói vậy, mọi người tỏ ra yên tâm và rất cảm kích.

Thành phố Hội An lúc này hoang vắng đến rợn người – gần như toàn bộ dân cư đã di tản ra Đà Nẵng. Sau khi tổ chức xong điểm tập trung, Tiểu đoàn di chuyển đến vị trí phòng thủ mới theo lệnh của Đại tá Hướng – đó là khu vực phía Bắc Hội An, hướng đi Đà Nẵng. Trước khi rời đi, tôi còn để lại một tiểu đội cùng một máy truyền tin, do một Trung sĩ Ban 2 chỉ huy, để đón tiếp và hướng dẫn những người đến trễ.

Tô cháo bồ câu – ly cà phê sữa trong đêm nguy biến
Tại vị trí phòng thủ mới, sau những giờ căng thẳng cao độ, tôi gần như kiệt sức. Vừa ngồi xuống ghế nghỉ, chưa kịp nghĩ gì nhiều thì Hạ sĩ I Minh – một lính cận vệ trẻ – bước đến, tay bưng một tô cháo nóng và ly cà phê sữa bốc khói:
– Mấy ngày nay Thiếu tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước, lo nghĩ nhiều, em thấy Thiếu tá gầy đi rõ rệt. Thiếu tá ăn tô cháo bồ câu này với ly cà phê cho lại sức mà còn đánh giặc nữa chứ.
Tôi định từ chối, bảo cậu dẹp đi – vì đầu óc còn đang lo lắng với tình hình chiến sự. Nhưng thấy cậu lính trẻ thật tình lo cho tôi, giọng nói đầy chân thành và thương mến, tôi không nỡ từ chối. Tôi hỏi:
– Mấy ông kia có ăn chưa? Mà bồ câu ở đâu ra vậy?
– Dạ thưa Thiếu tá, hồi nãy tụi em thấy chuồng bồ câu ở Ty Công chánh, chắc của ông Trưởng ty cũ bỏ lại. Em bắt bốn con, biết chắc Đại bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có no mới đủ sức giết Việt cộng chứ, Đại bàng!
Tôi mỉm cười, khẽ gật đầu:
– Thôi được, để đó... mà nhớ đừng giăng võng nghỉ trước tôi nữa nghe!

Rạng sáng ngày 29/3/1975 – Quyết định rút lui về Đà Nẵng
Từ sáng đến lúc này, tôi chỉ uống nước, ngoài một tô mì gói có đập hai quả trứng gà do Hạ sĩ I Minh nấu giúp. Bụng đói cồn cào, tôi vừa húp mấy muỗng cháo, uống vài ngụm cà phê thì bất ngờ nghe tiếng trực thăng từ xa vọng đến. Ngẩng lên, tôi thấy hai chiếc bay vào từ hướng Quân đoàn I, độ cao khá lớn.

Tôi lập tức bảo Trung úy Bình – sĩ quan truyền tin – mở máy dò tần số Quân đoàn để liên lạc. Nhưng hoàn toàn vô vọng. Bình đã thử hết các tần số trong đặc lệnh truyền tin, liên lạc nhiều đầu mối có thể có mặt trên các chuyến bay, nhưng đều không có phản hồi. Tôi đoán chắc đây là máy bay của Quân đoàn, nhưng không rõ mang theo ai hay thuộc đơn vị nào.
Trong lòng tôi tràn đầy thất vọng.

Tôi ra lệnh cho Đại úy Quý – Trưởng Ban 3 – gọi toàn bộ Đại đội trưởng về họp. Đồng thời, tôi cho lệnh thu hồi Tiểu đội đang giữ chốt tại Ty Công chánh trở về Tiểu đoàn. Tôi còn phái Đại úy Hà Thúc Thuyên cùng một máy truyền tin và vài binh sĩ hộ tống đến Bộ chỉ huy Tiểu khu để tìm hiểu xem tình hình Đại tá Hướng thế nào, vì suốt đêm không thể liên lạc được.

Lúc đó là 2 giờ sáng ngày 29/3/1975.

Một lúc sau, Đại úy Thuyên trở về, báo cáo: Trung đoàn 2 đã âm thầm rút ra hướng biển để tìm đường về Đà Nẵng. Tiểu đội tại Ty Công chánh cũng đã trở về, mang theo 9 binh sĩ đi lạc. Tôi cho họ nhập lại đúng đơn vị gốc. Tổng quân số lúc này là 479 quân nhân Tiểu đoàn, chưa kể 50 binh sĩ các đơn vị khác đi theo.
Sau cuộc họp tham mưu ngắn cùng các Đại đội trưởng, toàn thể đều đồng ý rút lui về Đà Nẵng, vào trình diện Quân đoàn I. Tôi đồng tình và trình bày kế hoạch cụ thể:
– Giờ hãy còn sớm, chưa đến 3 giờ. Nếu đến Chùa Non Nước quá sớm, trời chưa sáng, đơn vị phòng thủ Quân đoàn ở đó không nhận diện được ta, dễ xảy ra nhầm lẫn dẫn đến nổ súng oan. Tôi quyết định: 4 giờ sáng, Tiểu đoàn xuất phát theo đội hình sau:
– Đại đội 1 đi đầu;
– Đại đội 3 bên trái lộ;
– Đại đội 4 bên phải, có Đại úy Thuyên đi cùng để tiện liên lạc nếu gặp Trung đoàn 2;
– Đại đội 2 đi sau cùng;
– Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở giữa;
– Gia đình thân nhân theo sát sau bộ chỉ huy.
– Trong trường hợp đụng địch, các đại đội phải yểm trợ cho nhau, phối hợp đưa toàn đơn vị về Đà Nẵng an toàn.
Không ai có ý kiến gì khác. Tôi cho lệnh các đơn vị lui về chuẩn bị hành quân.

Gặp trở ngại tại Non Nước – Những điều lệnh nghịch lý
Đúng 4 giờ sáng ngày 29/3/1975, Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển theo đội hình đã định. Trên đường tiến quân, chúng tôi không gặp kháng cự đáng kể, chỉ vài loạt súng bắn tỉa lẻ tẻ từ các toán du kích. Các đại đội phản ứng nhanh, dứt điểm và vẫn tiếp tục tiến.
Đến gần 9 giờ sáng, Trung úy Thành – chỉ huy Đại đội 1 – báo đã đến được khu vực Non Nước, tiếp xúc được với đơn vị bạn. Ông cho biết đã gặp một Đại úy Thủy quân Lục chiến ngồi trên chiến xa, người này thông báo:
– Có lệnh: không một quân nhân nào được mang súng vào Đà Nẵng. Muốn vào, phải bỏ vũ khí tại đây.

Tôi nghe mà sửng sốt.
– Lính mà không có súng thì đánh giặc bằng gì? Ôm địch mà cắn à?

Dù vậy, tôi vẫn bình tĩnh ra lệnh cho Trung úy Thành cho binh sĩ dừng lại, cấm mọi phản ứng. Tôi yêu cầu Đại úy Quý điều động các đại đội thu hẹp đội hình, bố trí sát Tiểu đoàn, chờ lệnh. Đồng thời, gọi Đại úy Thuyên đến để cùng tôi lên tiếp xúc đơn vị bạn.
Trên đường đến gặp Đại úy Thủy quân Lục chiến, tôi thầm nghĩ: tình hình an ninh Đà Nẵng lúc này hẳn đã cực kỳ hỗn loạn. Có lẽ đã có VC cải trang lính ta, xâm nhập nội thành, nên phía Thủy quân mới nhận được lệnh quái gở như vậy.

Tôi gặp vị Đại úy TQLC và trình bày tình huống, yêu cầu được cho Tiểu đoàn vào Đà Nẵng với đầy đủ vũ khí. Ban đầu ông ta rất cứng rắn, nói đó là mệnh lệnh từ cấp trên, ông không thể trái lệnh.
Tôi không nổi giận. Tôi nói tình, nói lý, gần như van nài. Cuối cùng, ông ta cũng mủi lòng, hứa sẽ báo cáo lại cấp chỉ huy.
Tôi tìm hiểu thì biết Thiếu tá Định là cấp trên trực tiếp của ông ta. May mắn thay, tôi và Thiếu tá Định từng học chung một khóa Bộ binh cao cấp năm 1973, lại cùng quê Huế, từng ngủ chung phòng. Chúng tôi khá thân thiết.

Tôi nói với vị Đại úy Thủy quân Lục chiến rằng tôi là bạn thân với Thiếu tá Định – Tiểu đoàn trưởng đơn vị ông. Người Đại úy xác nhận điều đó, rồi liên lạc và trao máy cho tôi. Trong cuộc trò chuyện ngắn, Thiếu tá Định thông báo cho tôi một sự thật cay đắng: Quân đoàn I đã rút lui hết, toàn bộ bỏ ngỏ. Ngay cả đơn vị Thủy quân Lục chiến cũng đang phải tự lo liệu tìm đường về Sài Gòn, không có chỉ thị, không phương tiện, không ai còn chỉ huy nữa. Hải quân ở Tiên Sa cũng đã nhổ neo.

Tôi lặng người. Đưa trả máy, tôi chỉ biết cảm ơn trong lặng lẽ.
Lúc này là 9 giờ 30 sáng ngày 29/3/1975, tại khu vực Chùa Non Nước. Tôi ra lệnh triệu tập toàn thể sĩ quan Tiểu đoàn. Vị Đại úy TQLC cho biết chúng tôi được phép vào Đà Nẵng. Tôi không còn gì để nói, chỉ nhẹ nhàng gật đầu thay lời cảm ơn. Chiếc chiến xa rồ máy, quay đầu rút lui về hướng Đà Nẵng, theo sau là những binh sĩ Thủy quân Lục chiến cuối cùng của mặt trận này.

Tôi trình bày với các sĩ quan những điều vừa biết từ Thiếu tá Định – rằng không còn phương tiện nào để vào Nam, không còn hệ thống chỉ huy, không còn bất cứ nơi đâu có thể nương nhờ. Tôi nói, giọng chậm và nghẹn:
– Tôi đã cùng các anh em chiến đấu suốt bao tháng ngày, nhất là từ sau Tết đến nay. Tình hình chiến sự khốc liệt, tôi đã đoán trước phần nào, nhưng vẫn cố đưa Tiểu đoàn về đây với hy vọng vào được Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Giờ đây, mọi thứ vượt ngoài tầm tay chúng ta. Tôi đau đớn và bất lực.

Tôi chỉ đạo: không nên tập trung binh sĩ quá đông để tránh đụng độ bất ngờ. Các sĩ quan chia từng trung đội, giải thích rõ ràng, an ủi họ. Ai muốn về gia đình thì tùy ý, vũ khí nên tự phá hủy, đừng để lọt vào tay Việt cộng. Từ giây phút này, quyền chỉ huy không còn tập trung nữa – mỗi người, mỗi đơn vị, tự lo cho mình.

Tôi ngồi xuống, lặng im như một cái xác không hồn, dựa vào trụ cổng một ngôi nhà bên đường, nhìn thuộc cấp rơi vào cơn rối loạn tinh thần. Các sĩ quan đến bên tôi, chia sẻ, bàn bạc, nhưng lòng tôi như đã trôi dạt về một vùng tăm tối không lối ra.

Lời từ biệt cuối cùng của một người lính
10 giờ 30 sáng. Trung đội Tình báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi bảo vệ. Lúc ấy, Trung sĩ I Nguyễn Thoảng bước đến, đứng nghiêm, giơ tay chào trịnh trọng:
– Chắc em không vào Sài Gòn đâu, Thiếu tá. Cả Quân đoàn chưa nổ một trận nào mà đã bỏ đi cả, em thấy buồn chán lắm rồi. Em chúc Thiếu tá may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.

Tôi không đứng dậy, cũng không chào lại. Lòng trống rỗng. Tôi đáp khẽ:
– Tao cũng không biết phải làm gì nữa. Tao cố gắng đưa đơn vị về tới đây, mong một cơ hội cho tất cả. Nhưng bây giờ... thế này đây, vượt ngoài khả năng của tao mất rồi.

Vợ của Trung sĩ Thoảng cũng bước đến, hai con nhỏ – một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi – lẽo đẽo theo sau. Chị nói:
– Em chúc Thiếu tá lên đường bình an, vào được Sài Gòn. Việt cộng mà gặp Thiếu tá chắc không tha đâu.

Tôi xoa đầu hai đứa nhỏ, gượng cười, nói với chị:
– Tôi cũng không chắc có đi nổi không. Thoảng thì chắc không sao, nó cấp bậc nhỏ mà, chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
– Cảm ơn Thiếu tá. Chúc Thiếu tá thượng lộ bình an.

Thoảng bước tới, chào tôi lần nữa. Lần này, tôi đứng dậy, bắt tay anh:
– Thôi... mày về đi. Tùy tình hình địa phương mà sống. Chắc cũng không sao đâu.

Anh rời đi, chào từng sĩ quan – Đại úy Thuyên (Tiểu đoàn phó), Đại úy Nhựt (Ban 2), Đại úy Quý (Ban 3) – rồi lặng lẽ biến mất.
Tiếng nổ sau cùng và lần khóc duy nhất
Tôi lại ngồi xuống. Đầu óc mụ mị. Bỗng một tiếng nổ lớn vang lên phía sau nhà.
– Minh! Mày ra coi coi chuyện gì?
Minh và hai lính khác lao đi. Năm phút sau, Minh quay lại, mặt tái xanh:
– Thiếu tá ơi... Ông Trung sĩ I Thoảng tự sát bằng lựu đạn cùng vợ con rồi!

Tôi đứng bật dậy. Lồng ngực như bị bóp nghẹt. Bao nhiêu năm chinh chiến, từng đứng trước cái chết, từng chứng kiến máu đổ, đầu rơi, tiếng rên la tuyệt vọng – tôi vẫn không khóc. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên, tôi bật khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào, vỡ òa giữa đám đổ nát niềm tin và lý tưởng.
Tôi đi đến căn nhà nơi xảy ra vụ nổ – một căn nhà tôn nhỏ. Cảnh tượng trước mắt khiến tim tôi như ngừng đập: bốn thi thể tan nát, máu, thịt, mền gối vương vãi khắp nơi.

Tôi đứng nghiêm, giơ tay chào lần cuối. Một phút mặc niệm không lời, cho một thuộc cấp – mà giờ đây tôi gọi bằng “Ông”.
Một người lính thì thầm:
– Thiếu tá... ông Thoảng và vợ ông là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đó.

Đồng hồ lúc này điểm 11 giờ sáng. Ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Một Trung sĩ I – cấp bậc quá nhỏ so với tôi. Một người mà tôi từng gọi là “thằng Thoảng”, vì thân mật, vì tuổi đời, vì quân phong. Một người tôi từng rầy la, quở mắng. Thế mà hôm nay, trong tận cùng đau thương, tôi cúi đầu gọi anh là Ông Thoảng – một người lính, một con người dám chọn cái chết để giữ tròn tiết tháo, không sống nhục dưới gót giày cộng sản.

Xin nghiêng mình tôn vinh một Anh hùng vô danh – người lính Trung sĩ I Nguyễn Thoảng – Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trích từ nguồn Trương Quang Chung - Khóa 11 Thủ Ðức, sửa bởi Gibbs VIETBF