Mt68 History
Tuesday, 13 October 2026
Tuesday, 5 May 2026
CÁC BÁC HÀNH TRÁNH 7,8, 9 BÓ CẢ RỒI! TỔ CHỨC QUAN TRỌNG HƠN HẾT "CÒN THẤY NHAU LÀ VUI RỒI"- PHÊ PHÁN RÚT TỈA KINH NGHIỆM HƠN 50 NĂM CHƯA ĐỦ SAO? - NAY TRONG TỦ HỒ SƠ TRỐNG TRƠN KHÔNG CÒN 1 CÁI NÀO CẢ -
KHÔNG CẦN LƯU GIỮ NỮA THÌ "BÌNH LOẠN" LÀM CHI CHỨ? BỎ QUA ĐI CÁC BÁC "THỦ TỤC" ƠI!!!./-Mt68
_____________________
Tường Thuật
Buổi Tưởng Niệm 51 Năm Quốc Hận 30 Tháng Tư Năm 2026.
Hội QGHC Nam Cali đã tổ chức buổi tưởng niệm 51 ngày Quốc Hận 30-4-1975 lúc 11 giờ sáng ngày thứ Sáu 1-5-2026 tại Thư Viện Việt Nam thuộc thành phố Garden Grove, Nam Cali. Đông đảo các đồng môn, gia đình, thân hữu và đồng bào đến tham dự, ngồi kín hội trường Thư Viện Việt Nam. 1 Bài tường thuật buổi tưởng niệm này gồm 4 phần: - - - -
Phần khai mạc Phần thuyết trình Phần văn nghệ phụ diễn Phần Nhận Định của Những Người Tham Dự Phần
I - Phần khai mạc * Phần khai mạc bắt đầu bằng nghi thức chào quốc kỳ Việt-Mỹ và phút mặc niệm. Sau đó MC Vũ Ngọc Lộc giới thiệu anh Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch Hội QGHC Nam Cali, ngỏ lời chào mừng quan khách và nói về ý nghĩa của buổi tưởng niệm 51 năm ngày Quốc Hận 30-4-1975. Phần II - Phần thuyết trình Phần thuyết trình gồm 3 đề tài do 3 cựu sinh viên QGHC chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày 30 tháng Tư năm 1975. Phần thuyết trình do MC Vũ Ngọc Lộc giới thiệu tiểu sử của từng thuyết trình viên và đề tài chia sẻ. MC Vũ Ngọc Lộc (ĐS16) 2 Thuyết trình viên # 1: Nguyễn Công Lượng Anh Nguyễn Công Lượng tốt nghiệp khóa Đốc Sứ 16 QGHC, sau khi ra trường anh được bổ nhiệm làm Phó Quận Trưởng quận Hòai Nhơn (1972 -1974) và quận An Nhơn (1974-1975) thuộc tỉnh Bình Định, bị tù cải tạo 6 năm và qua Mỹ định cư theo chương trình HO năm 1991. Anh Lượng thuyết trình đề tài: “CHUYỆN TRƯỚC và SAU 1975 CHÚNG TA CẦN SUY NGẪM”. Trong bài thuyết trình, anh tập trung vào vấn đề đối lập trong chính thể dân chủ. Mở đầu, anh nhắc lại ý niệm đối lập trong chính thể dân chủ theo quan niệm của GS Nguyễn Văn Bông: “phải có đối lập mới có dân chủ” và “đối lập thực sự phải bao gồm các yếu tố như đối lập phải có tính cách tập thể, hoạt động trong vòng luật pháp và khi nào có một chính đảng đối lập. Và từ đó đối lập có vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền và đồng thời phải cộng tác với chính quyền”.
Dựa vào quan niệm này của GS Nguyễn Văn Bông, anh điểm qua các sư kiện chống đối TT Ngô Đình Diệm xảy ra dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, và các cuộc đảo chánh, chỉnh lý và biểu tình dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam, để rồi kết luận rằng: “Có đối lập chính trị dưới thời VNCH nhưng phải nói là những hoạt động nầy gặp rất nhiều hạn chế và đối mặt với sự 3 kiểm soát chặt chẽ từ chính quyền vì chúng ta đang đối diện với lực lượng Cộng Sản Quốc tế đang muốn ‘Vô Sản Toàn Thế Giới, Tất Cả Đoàn Kết Lại’”. Sau khi bàn về đối lập chính trị thời VNCH, anh chuyển sang vấn đề đối lập chính trị trong chính trường Mỹ hiện nay với ngôn từ đanh thép, quyết đóan và kích động hơn. Theo anh, các hành động chống đối của Đảng Dân Chủ đối với chính quyền của TT Trump trong nhiệm kỳ đầu và nhiệm kỳ hai là những hành động phá họai do thù ghét TT Trump, chứ không phải là những hành vi đối lập mang tính cách xây dựng. Tưởng cũng cần nói rõ là trong phần phê phán gay gắt các chính khách của Đảng Dân Chủ chống đối các chính sách của chính quyền đương nhiệm, diễn gỉa không nêu đích danh TT Trung nhưng ai cũng hiểu là diễn gỉa muốn ám chỉ TT Trump. Cuối bài thuyết trình, anh mới đề cập đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 bằng cách nhắc lại sự hy sinh vất vả của các bà vợ tù cải tạo, vừa tần tảo nuôi con vừa nuôi chồng trong các trại tù cải tạo, rồi đề nghị “Ngày nầy cũng là ngày vinh danh các bà vợ tù cải tạo”. Sau phần thuyết trình, anh còn diễn đọc bài thơ do anh sáng tác “Những Bước Tha Hương”. Bài thuyết trình của anh dài 25 phút.
Thuyết trình viên # 2: Nguyễn Văn Hòa Anh Nguyễn Văn Hòa tốt nghiệp ban Đốc sự 15 QGHC năm 1970, sau khi ra trường anh được bổ nhiệm về làm việc tại Bộ Dân Vận Chiêu Hồi cho đến tháng 04/1975; rồi bị tù 6 năm, vượt biên đến USA năm 1982. Hiện anh là đương kim chủ tịch Hội QGHC Nam Cali. 4 Anh Hòa thuyết trình về đề tài: “Chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày 30 tháng tư 1975”. Trong bài thuyết trình dài 10 phút, với tư cách là một cựu cán bộ quốc gia chân chính, anh cảm thấy có trách nhiệm phải kể cho con cháu biết về 3 điều quan trọng sau đây: - Bản chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975) và lý do tại sao VNCH thua trận. Cuộc chiến Việt Nam (Vietnam War) là cuộc chiến tự vệ của quân dân VNCH ở Miền Nam Tự Do chống lại sự xâm lăng của CSBV theo lệnh của quan thầy Liên Xô và Trung Cộng. Còn VNCH thua trận vì đồng minh Hoa Kỳ đã không giữ lời hứa và bỏ rơi VNCH. - Chính sách tàn ác của CSVN đối với dân chúng Miền Nam sau ngày 30-4-1975. Sau khi chiếm cả Miền Nam, CSVN đã trả thù nhân dân Miền Nam qua các chính sách dã man và độc ác như chính sách “Học Tập Cải Tạo”, đánh tư sản, đuổi dân chúng thành thị đi các vùng “Kinh Tế Mới”, và chính sách đổi tiền với mục đích bần cùng hóa dân chúng Miền Nam, đến nỗi cả triệu người phải bỏ nước ra đi bằng đường biển và đường bộ. -
Tính ưu việt của chế độ VNCH so với chế độ CSVN. So sánh với chế độ CSVN độc tài và tàn ác, chế độ VNCH có những điểm ưu việt về mọi phương diện: từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến giáo dục. Thuyết trình viên # 3: Bùi Đắc Danh Anh Bùi Đắc Danh tốt nghiệp QGHC khóa Đốc Sự 14. Nhiệm sở cuối cùng là Trưởng Ty Tài Chánh tỉnh Hậu Nghĩa. Anh thuyết trình về đề tài: “Việt Nam 30 Tháng Tư năm 1975 – Cảm Nghĩ Rời”. 5 Trong bài thuyết trình, anh chia sẻ cảm nghĩ rời rạc của anh về ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Anh vừa buồn sầu vừa nuối tiếc. Anh buồn vì mất tương lai tươi sáng của một cán bộ hành chánh VNCH và phải bỏ quê cha đất tổ, tủi nhục lưu lạc chốn quê người. Anh nuối tiếc một thời huy hòang vàng son sống dưới chế độ VNCH nhân bản, tự do và thịnh vượng (1955 – 1975). Anh cũng chia sẻ những hệ lụy sau khi đồng minh Mỹ bỏ rơi và chế độ VNCH sụp đổ: sự đổi đời tòan diện dưới chế độ CSVN về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa. Cuối cùng, anh cám ơn chính quyền và dân chúng Mỹ cũng như các tổ chức thiện nguyện quốc tế và các quốc gia khác đã cứu vớt dân tỵ nạn Việt Nam, trong đó có anh và gia đình anh. Trong 15 phút, anh chia sẻ những cảm nghĩ rời rạc của mình về ngày Quốc Hận 30 tháng Tư năm 1975.
Tuy rời rạc nhưng các cảm nghiệm của anh kết thành một xâu chuỗi phản ánh tâm trạng chung của tất cả các người Việt tỵ nạn! Phần III - Phần văn nghệ phụ diễn Xen kẽ giữa các bài thuyết trình là các tiết mục văn nghệ. Phần văn nghệ phụ diễn phong phú và đa dạng với các tiết mục: ngâm thơ, đơn ca và hợp ca, nói lên tinh thần đấu tranh và tình tự quê hương dân tộc. Chương trình văn nghệ do nhạc sĩ Nguyễn Phú Hùng biên sọan và giới thiệu từng ca sĩ và ý nghĩa của từng tiết mục sau đây: MC Nguyễn Phú Hùng (ĐS11) 6 1. Ngâm Thơ : Tôi sẽ về …nếu (Thơ : Trần Văn Lương do tác giả trình bày) 2. Đơn ca : Gởi Về Em của Đặng Minh Ty ( Phương Thảo trình bầy) 7 3. Đơn ca : Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc (Bích Thủy trình bầy) 4. Đơn ca : Cơn Mê Chiều của Nguyễn Minh Khôi (Ngọc Hoa trình bầy) 8 5. Đơn ca : Phút Suy Tư của Chính Mung do tác giả vừa đệm đàn vừa hát 9 6. Đơn ca : Mùa Đông Binh Sĩ của Phan Huỳnh Điểu (Trần Văn Lương trình bầy) 10 7. Đơn ca : Hải ngoại Thương Ca của Nguyễn Văn Đông (Trương Minh Cường trình bầy) 8. Đồng môn Đinh Viết Cư (ĐS15) chia sẻ về Ngày Quốc Hận 30-4-1975 thay cho tiết mục ca vọng cổ của đồng môn Trương An Ninh (ĐS14)). 11 9. Hợp Ca : Trả Lại Cho Dân (toàn ban văn nghệ) kết thúc phần văn nghệ phụ diễn. Sau 3 tiếng đồng hồ, buổi tưởng niệm kết thúc lúc 2 giờ trưa, và một số đồng môn ở lại giúp Ban Tổ Chức (BTC) dọn dẹp bàn ghế, tháo gỡ các đồ trang trí trên sân khấu, khiêng hệ thống âm thanh ra xe cho anh Nguyễn Phú Hùng, và lau chùi phòng họp sạch sẽ.
Phần IV - Phần Nhận Định của Những Người Tham Dự Trong phần nhận định này, người tường thuật sẽ đề cập đến các ưu và khuyết điểm của buổi tưởng niệm căn cứ trên những điều tai nghe mắt thấy tại hiện trường. Các Ưu Điểm: - Ưu điểm đầu tiên là số người tham dự đông đảo. Buổi tưởng niệm năm nay có đông đảo các đồng môn, gia đình, thân hữu và đồng bào vùng lân cận Little Saigon đến tham dự. Đó là nhờ BTC đã nhiều lần nhắc mời các đồng môn trên Diễn Đàn Email QGHC Tòan Cầu cũng như thông báo trên đài Little Saigon Radio. Mặt khác BTC nhờ các đồng môn khóa nào kêu gọi các đồng môn cùng khóa tham dự. Có một chị đến tham dự tên là Lan Hương, em họ của đồng môn Tôn Thất Hùng (ĐS12) ở Michigan, cho biết chị đến dự vì được ông anh họ ở xa gọi điện thọai yêu cầu chị đến dự buổi tưởng niệm này. Ngòai ra, còn có 12 các nhà báo đến làm phóng sự như nhà báo Văn Lan của báo Người Việt, nhà báo Phạm Khanh của đài Little Saigon TV, và nhà báo Thanh Huy của báo Việt Báo. - Nỗ lực đáng khen của BTC về mặt tổ chức Trong phần khai mạc, thay mặt BTC, MC Vũ Ngọc Lộc đã ngỏ lời cám ơn sự đóng góp tích cực của các đồng môn thuộc các ban ngành sau đây: Ban Ẩm Thực: anh Nguyễn Văn Sáu và anh NĐT Ban Khánh Tiết: anh Nguyễn Tấn Hữu và anh Đinh Viết Cư Ban Truyền Thông: anh Trần Đức Tạo (chụp hình), anh Đèo Chính Mung (quay phim), anh Ngô Ngọc Trác (liên lạc với đài Little Saigon Radio), và anh Nguyễn Phú Hùng (mời các nhà báo).
Ban Thuyết Trình: anh Nguyễn Công Lượng, anh Nguyễn Văn Hòa, và anh Bùi Đắc Danh. Ban Tiếp Tân: chị Nguyễn Văn Hòa, chị Đinh Viết Cư, và chị Vũ Ngọc Lộc. Ban Văn Nghệ: anh Nguyễn Phú Hùng, chị Phương Thảo, anh Trần Văn Lương, và anh Đèo Chính Mung v.v. Sự đóng góp tích cực của các đồng môn QGHC đã được một người tham dự ghi nhận và ca ngợi. Ông Đặng Văn Âu, cựu Trung Tá Không Quân VNCH, đã nói với người tường thuật rằng ông rất khâm phục BTC đã huy động được một số đông cựu sinh viên QGHC đến dự; dù nhiều người đã trên 80 vẫn tham gia vào các ban chuyên môn nói trên, đến sớm để treo biểu ngữ (Banner), thiết kế âm thanh, trang trí phòng họp, xếp bàn ghế, và ở lại sau buổi lễ để thu dọn bàn ghế và lau chùi phòng họp. Ông cũng đề nghị nên có phần thảo luận hay góp ý sau mỗi bài thuyết trình. - Chương trình văn nghệ phụ diễn phong phú và đặc sắc Cuối buổi lễ, người tường thuật gặp một cặp vợ chồng ông Long quen biết từ cộng đòan Tam Biên (Nhà Thờ Chính Tòa Chúa Kitô) cũng đến tham dự. Anh chị này rất rành về nhạc lý và đã từng hát và đánh đàn cho ca đòan nhà thờ. Anh chị khen ngợi chương trình văn nghệ rất đặc sắc và có ý nghiã: đặc sắc vì BTC đã chọn lựa các bài hát phù hợp với buổi tưởng niệm, nói lên tình yêu quê hương và tinh thần đấu tranh cho đất nước; và các ca sĩ diễn tả các bài bát với hết cả tâm hồn; hơn nữa ông MC văn nghệ có ưu điểm là giới thiệu ý nghĩa từng bài hát trước khi giới thiệu ca sĩ hát. Các Khuyết Điểm: Mặc dù có các ưu điểm kể trên, BTC cũng vấp phải các khuyết điểm nho nhỏ sau đây:
- Trở ngại kỹ thuật về âm thanh 13 BTC đã xử dụng 2 hệ thống âm thanh: một hệ thống của Thư Viện Việt Nam với micro phone gắn sẵn trên bục thuyết trình dành cho MC tổng quát và các thuyết trình viên, nhưng micro phone này lại nhỏ, âm thanh không rõ; còn hệ thống do Ban Văn Nghệ mang tới dành cho MC văn nghệ và các ca sĩ thì tốt nhưng chỉ có một micro phone. Nên muốn cho cử tọa nghe rõ, hai MC tổng quát và MC văn nghệ phải luân phiên xử dụng cái micro phone tốt. Vì thế sự hóan chuyển micro phone giữa 2 MC đã gây ra sự đứt quãng trong chương trình. Ngòai ra, có nhiều khi ca sĩ phải chờ đợi lâu trên sân khấu trước khi hát vì trở ngại kỹ thuật về âm thanh. - Thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa MC điều hợp tổng quát và MC phụ trách văn nghệ Ngòai trở ngại kỹ thuật về âm thanh, cử tọa còn nhận ra sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa MC điều hợp tổng quát và MC phụ trách văn nghệ. Chẳng hạn, có đôi lúc MC phụ trách văn nghệ lại bước xuống sân khấu căn dặn MC điều hợp tổng quát đang ngồi dưới sân khấu. Điều này làm gián đọan sự liên tục của chương trình.
- Các đề tài thuyết trình không lôi cuốn cử tọa Một khuyết điểm quan trọng mà đa số nhận thấy là các đề tài thuyết trình không lôi cuốn cử tọa và nội dung các bài thuyết trình cũng không có gì mới mẻ và đặc sắc cả. Đây là điều dễ hiểu vì chủ đề chung mà BTC đề ra là “Chia sẻ cảm nghiệm cá nhân về ngày quốc hận 30-4-1975”. Vì thế, mỗi thuyết trình viên có cảm nghiệm riêng, có hòan cảnh riêng, có lối hành văn và cách trình bầy riêng của họ, miễn sao đừng có lạc đề là được. Còn phê bình là quyền của người nghe, có người chê thì cũng có người khen! Ý kiến của các đồng môn khác về buổi tưởng niệm - Anh Nguyễn Phú Hùng, Trưởng Ban Văn Nghệ Trong email gửi cho các đồng môn ngày 2 May 2026 với tựa đề: “Cám ơn các ca nghệ sĩ và bạn đồng môn QGHC”, anh Nguyễn Phú Hùng, Trưởng Ban Văn Nghệ, đã khen ngợi các ca sĩ nói chung và cách riêng anh thi sĩ Trần Văn Lương qua bài thơ “Tôi sẽ về nếu …”, cũng như cám ơn các đồng môn khác trong BTC. Cuối email, anh kết luận như sau: “Buổi Họp Mặt Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 vừa qua của chúng ta còn được sự hỗ trợ tích cực bởi các bài thuyết trình nhắm vào đề tài nghiên cứu lịch sử có giá trị của quý anh Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Công Lượng, Bùi Đắc Danh ... khiến kết quả việc tổ chức đã đạt được mức thành công khả quan.”
- Anh Đèo Chính Mung Trong email gửi cho BTC ngày 2 May 2026, anh Đèo Chính Mung viết như sau: 14 “Buổi họp mặt Tướng Niệm Tháng 4 Đen rất thành công về đủ mọi phương diện. Và chúng tôi rất hãnh diện góp 1 phần nhỏ để nhắc nhở rằng chúng ta đã một thời sống dưới thể chế VNCH thắm đượm tình nhân ái.” - Anh Trần Văn Lương Cũng trong email gửi cho BTC và một số đồng môn ngày 2 May 2026, anh Trần Văn Lương viết: “Tất cả anh em QGHC mình đều đáng được hoan nghênh và cám ơn.” Nói chung, buổi tưởng niệm tương đối thành công về mặt tổ chức mặc dù BTC mắc phải vài khuyết điểm ngòai ý muốn. Thiết tưởng BTC cũng nên cân nhắc thận trọng các đề tài thuyết trình cũng như chọn lựa các thuyết trình viên cho buổi tưởng niệm Quốc Hận năm tới nếu muốn có đông người đến tham dự. 3 tài liệu tham khảo thêm BTC cũng in ra sẵn và để trên bàn tiếp tân 3 tài liệu tham khảo sau đây, hợp với chủ đề Tưởng Niệm Quốc Hận để phát cho báo chí và các người tham dự : 1/THỬ THÁCH CHO ĐỔI MỚI KINH TẾ LẦN HAI VÀ ẢO VỌNG THÀNH HỔ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM (Nguyễn Bá Lộc - ĐS9)
2/ Để Trả Lời 2 Câu Hỏi (Nguyễn Phú Hùng - ĐS 11) 3/ Nhớ Lại Ngày 30 Tháng 4 -1975 (Trần Đức Tạo - ĐS 16/CH8) Lời Cuối: Các hình ảnh đính kèm trong bài tường thuật này là do các đồng môn sau đây chụp: Trần Đức Tạo (ĐS16),
Nguyễn Văn Sáu (TS4) và Nguyễn Đức Khóat (ĐS15). Bài tường thuật này dành cho các đồng môn ở xa hoặc không thể đến tham dự được, để biết về buổi tưởng niệm 51 năm ngày Quốc Hận 30-4-1975 của Hội QGHC Nam Cali. Tường thuật tại Little Saigon –
Nam Cali, ngày 4-5-2026
Vũ Ngọc Lộc (ĐS16) 15
Wednesday, 29 April 2026
NGÀY NẦY 51 NĂM TRƯỚC-30.4.1975 VẪN TỒN TẠI TRONG TÂM TƯ ĐẦY NƯỚC MẮT CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN LANG BẠT CHÂN TRỜI, GÓC BỂ - VẪN ƯỚC MƠ SẼ CÓ MỘT NGÀY..../-Mt68
______________
NHỮNG TRẬN CHIẾN ĐẪM MÁU TẠI THỦ ĐÔ SÀI GÒN NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG THÁNG 4. 1975Sunday, 23 November 2025
Phạm Huấn
*Người xưa đâu?! Dầu Giây 50 năm sau 1975.

Ảnh minh hoạ
“6 giờ chiều ngày 13-4-1975, sau 15 phút Cộng quân bắc loa kêu gọi đầu hàng tại Ngã Ba Dầu Giây, Long Khánh, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh còn khoảng 50 tay súng, cùng bố trí sau những gốc cây cao su chờ giặc đến. Tôi liếc nhìn Trung đội 3 của mình còn đúng 12 người. Những đạn đại pháo, súng cối đủ loại của Bắc quân rót vào. Tiếng lựu đạn nổ chát chúa, tiếng la thét hãi hùng, tiếng rên siết đau noun và rồi “tiếng hô sóng vỗ” của biển người. Tôi gục xuống trên xác một bạn đồng đội, người đầy máu…” Đó là một trận chiến tồi tệ. Một trận đánh bi thảm mà những người lính cuối cùng của Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh phải chấp nhận, gánh chịu.Chiến đấu không yểm trợ, không tản thương, không hy vọng, và trong trạng thái hoang mang, hỗn loạn đến thảm não. Đứng lên một lần cuối cùng trực diện với quân thù, để rồi ngã xuống như những người khác, hay nếu có một may mắn nào đó, sẽ thoát được bàn tay tử thần ở trong họng súng của những kẻ xâm lăng, khát máu.
Đời lính, chết là chuyện thường tình. Vấn đề chỉ là bao giờ đến lượt mình? Trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến được coi là thảm khốc, dã man nhất của nhân loại từ 30 năm nay, đã có biết bao nhiêu những người lính của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nếu được chết cách đây 2 năm, trước khi Hiệp định Ba Lê đầu hàng Cộng sản được ký kết, đó là một niềm hãnh diện, chết cho Đất Nước, chết cho sự tự do của những người khác.
Trong trận chiến cuối cùng năm 1975, với tôi, nếu bị chết, chỉ là một cái chết tức tưởi, oan khiên. Tôi tiếp tục cầm súng chiến đấu vì cấp chỉ huy của tôi chưa bỏ chạy, và vì không muốn thấy 12 người lính còn lại dưới quyền khinh thường. Do đó, bỗng nhiên tôi trở thành “người lính cuối cùng” của Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52, Sư doàn 18 Bộ binh! Đó cũng là điều thành thật nhất tôi muốn được nói ra, để giải thích một cách lương thiện rằng tôi không phải là một Trung đội Trưởng anh hùng. Xin hãy dành từ ngữ anh hùng để vinh danh những chiến sĩ can đảm, xứng đáng khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Bộ Chỉ huy Hành quân Chiến đoàn 52 xin phản lực lên đánh, nhưng chỉ thấy máy bay quan sát gởi tới bay lượn một hồi rồi bay luôn. Lần không yểm cuối cùng cho tuyến Núi Đốt, Định Quán, 2 trái bom 500 cân Anh rớt trúng xuống Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 43, khiến gần 200 thương vong. Các Tiểu đoàn 2/43 và 1/52 là những Tiểu đoàn ưu tú, vũ bão nhất của Sư đoàn 18 Bộ binh. Những đơn vị đã nổi danh với những chiến thắng lẫy lừng tại Chiến khu D, và vùng Bến Cát trong năm 1974. Hai chiếc thiết giáp T-54 và PT-76 do Tiểu đoàn 1/52 “bắt sống” cách đây mấy tháng đã được lính Sư đoàn 18 chạy thẳng về Dinh Độc Lập, Sài Gòn để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chiều chiều … thưởng lãm. Chính các đơn vị này làm cho những người lính của Sư đoàn 18 ngẩng mặt cao lên, quên đi cái mặc cảm là lính của “Sư đoàn 10 số bù” trước đây, đa số là “lính ma, lính kiểng” và được chỉ huy bởi một ông Tướng tham nhũng nhất quân đội thời đó. Và “rửa mặt” cho Tướng Lê Minh Đảo, vị Tư lệnh cuối cùng và anh hùng của Sư đoàn 18 Bộ binh, dập tắt những lời tố cáo dựng đứng của những con buôn chính trị bất lương, đã nói rằng chức vụ này được mua với giá 20 triệu đồng, qua “đường giây Bà Thiệu”! Vị Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/43 là một sĩ quan thuộc binh chủng Mũ Nâu trước đây. Ông nổi tiếng với lối đánh ào ạt, thần tốc trong đêm tối. Ban ngày nhẩy vào vùng địch, nhưng chỉ là đánh “nhứ” để quan sát địa thế, và ước lượng tình hình, khả năng thật sự của địch, tối đến mới là đánh thật. Và đã đánh đêm là phải thắng. Đó cũng là quy luật của đơn vị này! Hai trái bom 500 cân Anh thả lầm xuống Tiểu đoàn 2/43 là một đại bất hạnh, một thiệt hại lớn lao chung cho tất cả các đơn vị thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh. Vị Tiểu đoàn Trưởng tài ba, anh hùng nếu còn sống, chắc chắn sẽ điên loạn; vì ông thương yêu chiến hữu, lo cho những người lính nhiều khi còn hơn cả cho bản thân ông! Chiến đoàn 52 Bộ binh về tới tuyến mới, Ngã Ba Dầu Giây tối ngày 8-4-1975, thì ngay sáng hôm sau, mặt trận Long Khánh đồng loạt bùng nổ cả 3 nơi: Xuân Lộc, Ngã Ba Dầu Giây và vùng giáp ranh tỉnh Bình Tuy. Cả hai Sư đoàn 6 và 7 Chủ lực quân, các Trung đoàn Pháo thuộc Sư đoàn 75 Pháo binh Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, mở những cuộc tấn kích vào các vị trí của quân ta ngay giữa ban ngày. Chiến thuật của chúng tại mỗi nơi vẫn là tiền pháo, hậu xung và phục kích chận viện. Ngày đầu tiên, 10-3-1975, áp lực nặng nề nhất là Bắc Xuân Lộc và vùng núi Chứa Chan, nằm ở phía Đông Xuân Lộc chừng 12 cây số, gần với ranh giới tỉnh Bình Tuy. Lực lượng bên ta, tại Xuân Lộc trong ngày đầu, ngoài những đơn vị Địa Phương quân của Tiểu khu Long Khánh, có Trung đoàn 43 và Trung đoàn 48 Bộ binh. Trung đoàn 48 Bộ binh đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình, trước đó đã được lệnh tới tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc, và phòng tuyến phía Đông của thị trấn này.
Cuộc chuyển quân thần tốc của Trung đoàn 48 Bộ binh cùng với tinh thần chiến đấu cao độ của đơn vị này, đã làm cho địch quân không thể tràn ngập được phòng tuyến phía Đông Xuân Lộc, vùng núi Chứa Chan trong ngày đầu như chúng đã dự định. Tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh dọc theo Quốc lô 20, khoảng 6 cây số về phía Bắc, và 2 cây số về phiá Nam từ Ngã Ba Dầu Giây. Khoảng từ Dầu Giây về Xuân Lộc trên Quốc lộ 1 chừng 10 cây số vẫn còn là một trục lộ an toàn. Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, các Pháo đội đại bác 155 ly va 105 ly, các Chi đoàn M-41 và Thiết vận xa M-113 trấn đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, cách Dầu Giây 3 cây số về phía Bắc. Tiểu đoàn 3/52 đóng chốt trên núi Sóc Lu và những cao điểm khác, làm thành vòng đai ngoài cùng.

Ảnh minh hoạ
Phòng tuyến của Tiểu đoàn 1/52 ở phía Nam Dầu Giây chừng hơn một cây số. Vùng đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh trong những ngày cuối, trừ Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đóng tiền đồn, đóng chốt trên các đỉnh cao, phía Bắc và Đông Bắc của Dầu Giây, tất cả đều nằm trong những đồn điền cao su bát ngát. Chiều ngày 11-4-1975, Tiểu đoàn 2/52 được lệnh về tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc.
Vị sĩ quan Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 2/52, Đại úy Út, với kinh nghiệm chiến trường, và nổi tiếng bén nhậy trong những ước tính đối với sự việc có thể xẩy ra, nên ông đã để lại dọc đường 2 Đại đội “ngủ đêm” trong vườn cao su. Trận phục kích tuyệt vời của Tiểu đoàn 2/52 đêm 11-4-1975, tiêu diệt, đốt cháy cả một đoàn xe chở quân và chở đạn của Việt cộng tại ấùp Cái Răng cách Xuân Lộc 6 cây số về phiá Tây Bắc, đã là chiến thắng cuối cùng của Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 Bộ binh trước khi bị tan hàng!
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH
Đơn vị tôi thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 đóng tại ấp Nguyễn Thái Học, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn, mặt phía Nam Ngã Ba Dầu Giây. Một đại đội, nhưng chỉ còn khoảng 50 người, quân số chưa được một nửa theo quân số lý thuyết. Sĩ quan có đúng 2 người, một Trung úy Đại đội Trưởng, và tôi, chỉ huy Trung đội 3 với 12 tay súng.
Ngay đêm đầu tiên, sau những trận mưa pháo của Bắc quân, những đơn vị pháo binh của Sư đoàn 75 Pháo Cộng sản Bắc Việt từ An Lộc kéo về, “tuyến đầu” ở phía sau khu vực đóng quân của Chiến đoàn 52 Bộ binh đã co rút lại gần 1 cây số. Chúng tôi lui về phòng thủ sát xã Dầu Giây và Quốc lộ 1. Vẫn là những rừng cao su dầy đặc. Tôi nhìn những chiến hữu trong đơn vị, rồi nghĩ đến mình mà lòng thấy sót sa, đau đớn. Trận chiến cuối cùng này đã vượt khỏi tầm tay của mọi người. Không còn tin tưởng, hy vọng, hay tính toán gì được nữa. Bị bao vây, nguy khốn, bị thương chờ chết, bắn hết đạn, hãy tự giải quyết lấy. Những người gục xuống, đó là cách giải quyết tốt đẹp nhất cho chính họ, và cả những người còn sống. Pháo cuả địch rót vào chiến tuyến của ta giờ này qua giờ khác, ngày cũng như đêm. Những đại đội, trung đội đóng chốt, đóng tiền đồn của Tiểu đoàn 3 trên núi Sóc Lu và những cao điểm phía Bắc Dầu Giây. Khi còn sử dụng được máy móc liên lạc, họ gọi kêu cứu liên tục. Các khẩu đại bác từ Bộ Chỉ huy Hành quâïn của Chiến đoàn bắn đi yểm trợ cầm chừng. Cứ điểm nào sắp bị tràn ngập, nghe tiếng phản lực xé không gian bay tới, hay tiếng gầm thét của chiến xa ào ạt đến, đó là cứu tinh, là hy vọng, là mong ước cho sự sống được kéo dài thêm của những người lính bộ binh khốn khổ, bất hạnh. Nhưng khi đã thấy một phản lực cơ nổ trên không trung, một chiến xa bốc cháy rồi thì niềm hy vọng và cuộc sống của họ tiêu tan, dẫy chết.
Ngày thứ tư của trận chiến Xuân Lộc, Long Khánh, tuyến ngoài cùng của Chiến đoàn 52 Bộ binh tại mặt trận phía Tây Xuân Lộc, cả Tiểu đoàn 3 với quân số hơn 300 người, đóng trên các cao điểm phía Bắc Dầu Giây chừng 5 cây số, không còn liên lạc, vết tích gì nữa. Họ đã chết thật tức tưởi, phi lý và trong uất hận, đau đớn. Trước khi vào lính, tôi không biết nhiều về đời sống quân đội. Cuộc đời quân ngũ của tôi cũng thật ngắn ngủi, 2 năm, 2 tháng, 20 ngày. Và tôi chỉ phục vụ tại một đơn vị, giữ một chức vụ duy nhất là Trung đội Trưởng Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 52 Bộ binh. Tôi bị động viên theo học khóa Sĩ quan Trừ bị 2-73, dù thời gian đó Hiệp định Paris đã được ký kết. Cũng trong thời gian này, tôi đã mất đi một người bạn thân nhất. Đó là Chuẩn úy Lương Đức Hậu, người bạn học từ thuở nhỏ, cùng khóa 2-73 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, và cùng một đơn vị khi ra trường.
Cái chết của Lương Đức Hậu đã làm tôi day dứt, đau đớn nhiều ngày, và hận thù những người đang lãnh đạo Đất Nước, chỉ huy cuộc chiến này. Tại sao lại bắt chúng tôi, những người không thích đời sống quân đội phải vào lính, để thay thế những người yêu võ nghiệp, có khả năng chiến đấu, và cuộc đời họ đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay? Cuối năm 1974, Tiểu đoàn của tôi toàn những sĩ quan “non choẹt” mới ra trường như tôi, giữ các chức vụ Trung đội Trưởng, Đại đội Phó, trong khi đó quân đội cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, với một lý do rất mơ hồ là “lý do kỷ luậtï”, khiến họ rất căm phẫn, bất mãn.
Tôi nhớ cuối tháng 8 năm 1974, Hậu và tôi được tham dự “một trò chơi lớn”. Sau hào quang chiến thắng của Sư đoàn 18 “bắt sống” được xe tăng của Việt cộng tại Bến Cát, vị Tư lệnh Quân đoàn lúc bấy giờ muốn chúng tôi “thừa thắng xông lên”. Ông ra lệnh thẳng cho Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 thả Tiểu đoàn 1/52 vào giữa lòng Chiến khu D, “lùng và diệt” một Trung đoàn Việt cộng. Rừng rậm và địa thế gai góc, hiểm trở, chỉ một đêm, chúng tôi bị địch pháo, thiệt hại hơn 100 người. Lương Đức Hậu, Trung đội Trưởng Trung đội 1 chết tan xác cùng với hàng chục người lính thuộc trung đội anh, cách tôi chừng 20 thước. Hậu chết khi tuổi lính mới được vừa 1 tuổi, và tuổi đời chưa tới 20. Cũng may trận đó vị Đại tá Chiến đoàn Trưởng, dù phải nghe lệnh của ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn, nhưng biết trước chúng tôi sẽ “ôm đầu máu”, nên đã tập trung sẵn những thiết giáp M-48 và một tiểu đoàn khác vào giải vây khi trận chiến xẩy ra. Những cảm nghĩ chân thành của tôi, có thể không đúng với những người cùng lứa tuổi, đã chọn võ nghiệp như cái nghề cao quý của mình. Nhưng tôi tin rằng đó là tâm trạng chung của một số lớn sinh viên và học sinh, đã bị ném vào các quân trường, các trung tâm huấn luyện trong những năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam.
Tại một số quốc gia có chiến tranh, nhất là trong cuộc chiến đấu sinh tử với cộng sản để sống còn như Việt Nam Cộng Hòa, luật Tổng Động Viên là một đạo luật cần thiết va hợp lý. Tuy nhiên, đạo luật này đã không đưọc thi hành một cách công bằng như ở các quốc gia khác. Những người lãnh đạo Đất Nước, những tướng lãnh giữ những chức vụ quan trọng tại Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn, Nha Động Viên, v.v… chính là những người đã dung dưỡng, bao che cho con cháu, người thân, tạo ra sự bất công nhiều nhất. Thật đau lòng khi nhìn thấy những sự thật xẩy ra trước mắt. Trước năm 1954, khi người Pháp còn chỉ huy cuộc chiến tại Đông Dương, Tướng De Lattre được bổ nhiệm làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp, và các lực lượng Việt-Miên-Lào năm 1950, thì đứa con trai duy nhất của ông là Trung uý Bernard De Lattre, đóng tại đền Non Nước, Ninh Bình. Khi De Lattre sang Việt Nam, phương vị của Bernard vẫn không thay đổi, tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận, cho đến khi chết tại đó, vào tháng 5 năm 1951. Một tấm gương khác, khi Mỹ khởi sự ném bom Bắc Việt năm 1965, con trai của Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, Hải quân Thiếu tá McCain, là một trong những phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rớt tại Bắc Việt. Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy bất cứ con một ông Tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận. Em trai bà Thủ tướng đến tuổi đi lính, ngay lập tức được “tuyển” để đi theo xách bóp cho bà chị. Tất nhiên sự tuyển dụng này không qua một thủ tục nào, vì ông Thủ tướng còn là một đại tướng 4 sao, quyền uy coi như vô địch. Con những ông tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên, đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo, và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng Động Viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại những “chỗ ngon, chỗ bở” ở Sài Gòn hay các tỉnh. Điều đáng buồn hơn nũa là trước khi được gọi nhập ngũ, và khi học ở các quân trường, các trung tâm huấn luyện quân sự, họ không nhận được các tài liệu, hoặc sự giải thích một cách minh bạch, hợp lý của các cán bộ trong quân đội, đối với nhiệm vụ, quyền lợi và thời gian thi hành lệnh động viên.
Với cuộc chiến ác liệt trong những năm sau cùng, nhiều khi sau một trận giao tranh, một tiểu đoàn tác chiến, với quân số hành quân khoảng 400 người, có khi bị thiệt hại 1/3 hay nhiều hơn nữa. Và trong trường hợp ấy, ít nhất 50 phần trăm sĩ quan trung đội trưởng, cấp chuẩn úy, thiếu úy bị hy sinh. Một bức hình chụp 9 người khi nhập học khóa 2/73 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, hình như chỉ có tôi và một người nữa sống sót. Thật tình tôi đã không hiểu nổi, tại sao những người làm việc tại Nha Động Viên thời gian đó đã tiếp tục gọi nhập ngũ chúng tôi sau khi Hiệp định Ba Lê 27-1-1973 được ký kết? Tôi không muốn nói đến cái “văn kiện đầu hàng” không có một chút xíu giá trị này, vì bọn cộng sản không bao giờ tôn trọng những điều chúng cam kết, và không bao giờ chúng thay đổi chính sách sắt máu, xâm lăng miền Nam bằng võ lực, nếu chưa nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam. Tôi chỉ muốn nói đến sự giải kết, bỏ chạy của người Mỹ khi ký hiệp định này với cộng sản Bắc Việt. Vì vấn đề tù binh Mỹ, chắc chắn Mỹ sẽ ép Việt Nam Cộng Hòa trên nhiều lãnh vực, và tôn trọng những mật ước đối với cộng sản Bắc Việt. Sau Hiệp định Ba Lê 1973, viện trợ quân sự bị Mỹ cắt xuống rất nhiều. Do đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải giảm bớt quân số, chiến cụ, phi cơ, và đạn dược sử dụng bị hạn chế. Để đối phó với vấn đề giảm bớt quân số, những giới chức quân sự cao cấp đã hành động để có biện pháp như thế nào? Họ cho giải ngũ một số sĩ quan và hạ sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu, và cuộc đời họ hầu như đã gắn liền với trận mạc từ nhiều năm nay. Những người này bị cho giải ngũ, vì lý do kỷ luật, và dù họ không muốn bị giải ngũ. Trong khi đó, chúng tôi, những sĩ quan “non choẹt”, ra trường mới được mấy tháng, nếu sống sót, được “đẩy” lên làm đại đội phó, hay đại đội trưởng, dù kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu chưa có bao nhiêu. Sự làm việc không có kế hoạch, chương trình của những cơ quan phụ trách về động viên và giải ngũ đã gây sựï oán hận cho rất nhiều người, và hủy hoại tiềm năng của Quốc Gia, của quân đội không ít, trong 2 năm chót, trước khi chiến tranh chấm dứt.

Ảnh minh hoạ
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, khi trung đội của tôi lui về phòng thủ tại xã Dầu Giây, với quân số chiến đấu vỏn vẹn còn 12 người, đi nằm tiền đồn, bố trí chờ địch đến, hay tránh pháo kích, chúng tôi đều dàn hàng ngang, sau những gốc cao su. Tôi cũng không còn khe khắt bắt anh em binh sĩ đào hố cá nhân như trước kia nữa. Bởi vì, những hố đó cũng sẽ chẳng ích lợi gì khi Việt cộng tràn đến. Lúc tôi trúng mảnh pháo của địch, người đầy máu té xuống, tôi đã nghe thấy tiếng rên la trong đêm tối của Trung sĩ Hoan, người Trung đội Phó gan dạ, anh hùng. Hoan người gốc Tầu vùng Chợ Lớn, lầm lì, ít nói, nhưng can đảm và tháo vát. Trận đánh tại Bến Cát cách đây mấy tháng, khi tôi chỉ huy 2 khinh binh bò lên đánh lựu đạn vào một cái hầm có Việt cộng trú ẩn, một trái B-40 của địch “thổi” trúng, “chém” đứt đôi 2 người lính, Hạ sĩ Lê Sen và Binh nhất Hòa. Tôi thoát chết trong gang tấc, nhờ Hoan kẹp khẩu đại liên vào đùi, đứng bắn che cho tôi bò ngược trở lại. Hạ sĩ Sen và Binh nhất Hòa đều là “những người lính bất hạnh” mà tôi thương mến họ. Tôi gọi Sen là “người lính gương mẫu” và Hoà là “đứa bất hiếu”. Sen là người tằn tiện, mực thước, tiền lương hàng tháng thường dành dụm gởi về cho vợ con. Còn Hòa ăn tiêu hoang phí, rượu chè, nhiều khi bà mẹ già chờ đầu tháng lên vùng hành quân xin tiền con, Hòa không có, phải trốn mẹ, bị tôi rầy la hoài. Trận trước, Hạ sĩ Sen và Hòa đã ra đi. Hôm nay đến lượt tôi và Hoan! Hoan có người vợ trẻ mới cưới từ 2 tháng trước, định “dù” về Chợ Lớn thăm vợ, nhưng thấy trung đội chỉ còn có mình tôi là cấp chỉ huy, nên không nỡ bỏ đi. Tự nhiên tôi mong ước Hoan sẽ thoát được bàn tay tử thần đêm nay để về thăm vợ anh, dù đó là lần cuối cùng!
Tôi tỉnh dậy sáng hôm sau, một sĩ quan đã cho biết tôi được cứu sống nhờ 3 người lính thay nhau dìu về, những người lính của Trung đội 1, trung đội do cố Thiếu úy Lương Đức Hậu chỉ huy trước đây. Còn 12 quân nhân trong Trung đội 3 của tôi vĩnh viễn ra đi, không một người nào về được. Ngày 14-4-1975, phòng tuyến của Chiến đoàn 52 Bộ binh co lại thêm nữa. Đồng bào từ Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh… khắp nơi đổ tới Ngã Ba Dầu Giây để tìm đường về Sài Gòn.
Việt cộng nã pháo vào khắp các vị trí của quân ta ngay từ sáng sớm. Đồng bào chiến nạn trở thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch. Tiếng kêu khóc thảm thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và Quốc lộ 1 thật khủng khiếp, đau thương. Vị Tư lệnh mặt trận, Đại tá Chiến đoàn Trưởng Chiến đoàn 52 lồng lộn như một con hổ ở trong chuồng, ra lệnh tổ chức phòng tuyến cuối cùng, không lùi thêm nữa. Nhưng cố gắng của ông và của những người lính Chiến đoàn 52 Bộ binh cũng chỉ giữ được phòng tuyến này thêm một ngày nữa, rồi tan hàng. 9 giờ đêm 15-4-1975, đại bác cộng quân bắn sập hầm chỉ huy của Đại tá Chiến đoàn Trưởng, các hệ thống truyền tin, liên lạc bị hủy diệt, ông thoát chết nhờ đang ở bên ngoài. Và lúc đó, ông mới quyết định cho mở đường máu rút lui về hướng Long Bình. Tổng cộng chỉ có 200 người thoát về được đêm 15-4-1975. Khoảng 1500 quân thuộc Chiến đoàn 52 Bộ binh bị thiệt hại, bị đánh tan tác trong 6 ngày cuối cùng tại mặt trận Dầu Giây, Long Khánh.
Phạm Huấn
Nguồn: https://hung-viet.org/p19a17948/tren-phong-tuyen-nga-ba-dau-giay
