Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHCTonThatTueUSA. Show all posts
Showing posts with label QGHCTonThatTueUSA. Show all posts

Wednesday, 29 July 2026

 

Monday, July 27, 2026

 


KỶ NIỆM TUỔI THƠ BÊN BÀ NỘI
Nguyen Jenny [FB Ngày Mới 27.7.2026]

Sáng hôm ấy tôi dậy thật sớm, vệ sinh cá nhân, ăn sáng thay quần áo vì một lát nữa sẽ có người đưa tôi ra phi trường bay về Huế sống với bà Nội tôi.
.
Cũng không phải chờ lâu, chú Bình bạn rất thân của Cha tôi đã đến đón.
Mẹ tôi muốn đưa tôi ra phi trường, ngồi bên tôi đứa con gái bé nhỏ ngày nào giờ đây sắp rời xa vòng tay mẹ. Tôi cảm nhận được sự đau xót mà mẹ đã cố gắng kềm nén để không bật thành tiếng khóc và cũng để tôi an lòng ra đi. Bàn tay mẹ nắm lấy tay tôi siết chặt, một tay ôm quàng lấy tôi như muốn truyền hơi ấm cho tôi, trước khi tôi rời xa vòng tay của bà.
.
Bầu trời hôm ấy không trong xanh như mọi ngày mà xam xám u buồn, ông trời cũng cảm động khi nhìn thấy sự chia lìa của hai mẹ con tôi. Tôi như chú chim non đang rời khỏi tổ, giang đôi cánh nhỏ chấp chới bay trong đơn lẻ…
Chiếc xe tiến vào cổng Long Vân, bất giác mẹ ôm tôi thật chặt, tôi thấy có giọt nước mắt nóng rơi trên má mình. Lúc ấy tôi muốn òa khóc, nhưng vội nén lại vì tôi nghĩ tôi phải can đảm lên, không thể khóc, tôi phải cố gắng vui để mẹ yên lòng. Chiếc xe đã dừng trước cửa vào. Tay mẹ xách vali nhỏ của tôi, cũng không có gì nhiều, thêm cái áo len vì nghe nội nói Huế đang mưa dầm, trời rất lạnh.
.
Chú Bình cho xe vào chỗ đậu và tất tả chạy đến. Tôi ôm lấy mẹ, mẹ dặn tôi ngoan ngoãn nghe lời nội. Tôi nhìn mẹ mĩm cười gật đầu, tuyệt đối không khóc. Mẹ tôi nói với chú Bình đôi lời, ôm hôn tôi và nhìn theo tôi đi cùng chú lên chiếc Cessna L-19. Chú đưa tôi bay ra Huế.
Tôi nhìn xuống bóng mẹ vẫn còn đứng dưới phi trường mắt dõi theo đứa con gái vừa xa rời vòng tay yêu thương của mình. Bất chợt nước mắt chảy, tôi quay đi lau vội … tôi không muốn ai nhìn thấy tôi khóc, tôi phải cứng rắn lên vì giờ đây tôi không có mẹ bên cạnh mình.
.
Ít lâu sau tôi rơi vào giấc ngủ vì có lẻ đêm qua tôi cứ nôn nao mà giấc ngủ đến với tôi chập chờn không thẳng giấc.
.
Máy bay đã an toàn hạ cánh ở phi trường Phú Bài. Chú Bình đưa tôi tới nhà ga phi trường nơi mà bà nội và chú tôi đang chờ.
Chú giao tôi cho nội và nói lời tạm biệt. Chú phải bay về Nha Trang, ôm tôi xoa đầu và dặn dò tôi phải ngoan nhé… rồi chú rời đi.
.
Thành phố Huế đón tôi với cơn mưa dầm lạnh lẽo … mưa rơi trắng xóa cả không gian. Nội mặc áo lạnh vào cho tôi. Cảm giác ấm áp tràn đầy, tôi ngồi sát vào bà, gục đầu vào lòng bà và một lần nữa tôi lại nhẹ nhàng rơi vào giấc ngủ …
.
Trong ký ức tuổi thơ tôi, những ngày tháng sống bên bà tại mảnh đất cố đô luôn là khoảng thời gian bình yên và hạnh phúc nhất.
Giờ đây, dù bà đã đi về miền miên viễn… nhưng mỗi khi nhớ về, lòng tôi lại trào dâng một cảm giác ấm áp đến lạ kỳ.
.
Nhà nội tôi là một ngôi biệt thự rộng lớn nằm ngay trong lòng thành phố Huế, nổi bật với một khu vườn ngập tràn hương sắc.
Nơi đó hội tụ biết bao loài hoa tuyệt đẹp như hồng, cúc đại đóa, trà mi, ngọc lan và trúc đào. Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất trong tôi vẫn là những cây ăn trái sai trĩu quả. Cứ mỗi đêm xuân, hương hoa thanh trà lại tỏa ra nồng nàn, len lỏi từ ngoài vườn vào tận trong nhà, ướp hương cho cả giấc ngủ của tôi.
.
Trong vườn có cây thanh trà cho trái tròn lẳn, vỏ mỏng, mọng nước và mang vị ngọt thanh tao.
Cạnh đó là những cây sầu riêng, trái chín thường rụng vào ban đêm, tỏa ra mùi thơm nức mũi.
Tôi còn nhớ vài cây ổi xá lị trái to sần sùi nhưng ngọt và giòn tan.
.
Thuở ấy, tôi thường thoăn thoắt leo lên cây hái trái, chỉ cần chùi sơ qua áo là đã có thể cắn ăn một cách ngon lành.
Phía sau nhà nội nhìn ra là đồng ruộng bao la, nơi những thảm lúa xanh mơn mởn dập dìu theo gió, mịn màng và mượt mà như những dải lụa nhung.
.
Vì mồ côi cha từ năm lên bốn nên tôi được đón về sống với bà nội. Chính vì hoàn cảnh ấy, tôi trở thành đứa cháu được hết mực cưng chiều.
Mọi tình yêu thương của nội, của các cô, các chú đều gom hết lại để bù đắp cho tôi.
Ngày đó, nội đi đâu tôi cũng là cái đuôi nhỏ lăng xăng bám theo sau.
.
Kỷ niệm vui nhất của tôi là những buổi chiều xách cần câu, móc con trùn hổ ra bờ ruộng câu cá rô. Thấy tôi ham thích, bà nội kêu chị Sâm ra chợ mua cho tôi một bộ nồi niêu nho nhỏ bằng đất sét để chơi trò nấu ăn.
.
Chị Sâm là cháu họ ngoài làng, đã vào ở với nội tôi từ nhỏ nên rất mực thương tôi. Những con cá rô tôi câu được đều được chị Sâm giúp đánh vảy, làm sạch và khía sẵn. Tôi liền sang bếp xin nước mắm, đường, bột ngọt, tiêu để tự tay làm món cá rô kho tộ.
Tôi còn xin thêm ít gạo sạch cho vào chiếc nồi đất nhỏ, rồi gắp vài viên than hồng từ bếp chính ra để tự nhóm bếp cơm của mình.
Tất cả những món tôi chơi ngày ấy đều là đồ thật, nấu thật và ăn được thật, khiến trò chơi con trẻ trở nên vô cùng sống động.
.
Mùa hè ở xứ Huế vốn nổi tiếng với cái nóng gay gắt. Để giải nhiệt, bà nội cùng vợ chồng cô ruột và chú tôi thường thuê một chiếc ghe lớn để cả nhà ra ngủ đêm giữa dòng sông Hương.
.
Khi màn đêm buông xuống, không gian trên sông lồng lộng gió, mát rượi và sảng khoái vô cùng. Thú vị nhất là cảnh những chiếc thuyền bán hàng rong chèo lướt qua, cặp sát vào ghe của chúng tôi để bán đủ thứ món ngon lành như: bún bò Huế, bánh canh, cơm hến cho đến chè đậu ván, chè đậu ngự, chè hột sen. Vốn mê bún bò Huế, tôi lúc nào cũng háo hức chờ đợi món ăn này.
.
Sau khi ăn xong tô bún có chút xíu ớt để bắt chước người lớn hít hà cho vui, tôi lại được thưởng thức thêm ly chè bột lọc bọc thịt quay hoặc chén chè đậu ván đặc ngọt bùi, thiệt thơm.
Giữa không gian gió sông mát lồng lộng… tôi ôm chặt lấy tay bà nội rồi ngủ một giấc ngon lành.
Huế khi mùa mưa đến, những ngày mưa dầm, trời lạnh cắt da cắt thịt. Những lúc như vậy, chị Sâm hay làm món ruốc kho với thịt ba chỉ. Tôi thích nhất món này, nên cứ mỗi khi ngửi thấy mùi ruốc thơm nồng đưa ra từ căn bếp là tôi lại tự giác ngồi vào bàn ăn ngon lành mà không cần ai phải kêu cả.
.
Thuở đó, nhìn những cơn mưa cố đô rả rích, từ ngày này qua ngày khác, tôi cảm nhận được cái mùa mưa xứ Huế buồn “vô hậu”. Khi nớ, tôi vốn chẳng hiểu câu "buồn vô hậu" nghĩa là chi cả, nhưng cái miệng nhỏ cứ thích bắt chước điệu bộ của bà nội, lâu lâu lại nhìn ra trời mưa trắng xóa mà thốt lên một câu như rứa...
.
Tuổi thơ của tôi là những tháng ngày trôi qua êm đềm, ấm áp và hạnh phúc trong tình yêu thương của bên nội.
Giờ đây, khi lật lại những thước phim ký ức, tôi thầm cảm ơn những ngày tháng được sống trong vòng tay bảo bọc, chiều chuộng của bà. Đó chính là hành trang hạnh phúc nâng bước tôi đi suốt cả cuộc đời.
NJ 27/7/26

                        buồn vô hậu

Tôn Tht Tu


Nơi tôi chiu nay mưa như Huế
khí hu khô nên không khn kh như ngoài kia.
Hơn thế na
cơm ngày ba ba tm ra hai ln
có cái áo dày hơn bao b
mt đồng thôi cũng đủ m qua mùa.
Kinh Di Đà vn còn như xưa nơi Thun Hóa
Như th ngã văn nht thi Pht ti Xá V quc *
Pht nói gì nghe l quá đi
x ca Pht đất bng như rung lúa
nhà bên nhà gm ph màn hoa
người quên đói vì theo hương ca gió
ca không khóa.
K Pht quc độ thượng vô ác đạo chi danh
hà hung hu thit.**

Mưa như mưa chiu kia ngoài x Huế.
Kinh Di Đà lôi ra đọc quán McDonald
Nếu trn gian không đem tin mua súng đạn
thì sá gì nhà gm vi châu sa,
trường tr rng nhà thương thơm hơn mít.
Nhưng thy Pht là tôi bun vô hu
Pht sinh ra nơi chn ác ôn
Chúa hin thân nơi người xem nhau thua con chó.
i mưa ơi, chiu nay bun vô hu,
Bun vô hu nên để lng bài thơ.
 
* Tôi nghe như vầy, một thời Phật tại nước Xá Vệ...
** Nơi xứ Phật, không có danh tự chỉ tội ác, huống là tội ác thật.

Tuesday, 21 July 2026

 


Thay đổi địa chỉ

Bà Nguyễn Thị Minh Lệ, phu nhân của thầy Võ Văn Dật (nhà văn Võ Hương An) đã từ giả San Jose ngày 01 thg 07, 2026 đến trú sở mới trong vùng quản nhiệm của Phật Di Đà. Nơi nầy: vô tam ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt; trì trung liên hoa đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang ... vi diệu hương khiết.*

Đã gần ba năm nay từ khi biết chị Dật đi đứng khó nhăn, tôi đã cầu nguyện hằng ngày cho anh chị bình yên, trong mục cầu nguyên cho thân hữu.
Nếu thầy là cha thì tôi và chị Lệ là sister and brother; chi Lệ con thầy Nguyễn Đình Hàm, người thầy cao quý nhất đời tôi.


* Thế giới Cực Lạc không có danh tự gọi các việc ác, huống là có tội thiệt; trong đầm hoa sen to như bánh xe, màu xanh chiếu ra ánh sáng xanh, màu trắng chiếu ra ánh sáng trắng; hương thơm diệu vợi.




CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con] 
Nguyên Thảo

Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.
O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.
Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:
“Cây độc không trái, gái độc không con”.
O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.
Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.
Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.
O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.
Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.
Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.
O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.
Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:
Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.
Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.
O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.
Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng
Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…
Cỏ
(trích từ FB Nguyên Thảo)

Sunday, 28 June 2026

 ĐỌC LẠI MẤY "MIỂNG VỤN" NẦY TÔI NHỚ SAU HĐ PARIS - CÁC PHÓ QUẬN, PHÓ TỈNH, MỘT SỐ QT, TT, TIỂU KHU PHÓ CẤP TỐC ĐƯỢC GỌI ĐI HỌC 1 KHÓA VŨNG TÀU 1 TUẦN.

Khi khóa học kết thúc mọi người nhận được một mẫu giấy để khóa sinh điền vào từng mục như: Nội dung giúp ích gì cho khóa sinh? Nhận xét về khóa học? Về giảng viên và TTHL Vũng Tàu?

Tôi (PQT) làm tà lọt cho 1 nhóm- Tôi đi gom các tờ phúc đáp của khóa sinh - Sau hơn 50 năm tôi vẫn không quên: Có một vị Trung Tá gốc nhảy dù là Tiểu Khu Phó Long An- Ông đưa cho tôi mẫu giấy trống trơn chỉ có mấy chữ to tổ bố "NGUYỄN BÉ ÔNG LÀ AI?" - Bên dưới ông ghi đầy đủ tên họ, cấp bâc, chức vụ của Ông!

Khi tôi sắp xếp các mẫu giấy, tôi mới phát hiện như đã ghi trên. Tôi vội quay lại thưa Trung Tá hình như TT đã đưa bản nháp cho tôi?  Ông trả lời đó là bản gốc, anh cứ nộp, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Trong khi đó đa số đều phát biểu lấp lửng, vô thưởng, vô phạt. Tuy nhiên cũng có vài người điếu đóm ca tụng cá nhân Nguyễn Bé hết mình. Qua sự thật trên đây cho thấy trong hàng ngủ quân đội cũng có người can đảm bày tỏ sự xem thường Nguyễn Bé ngoài sức tưởng tượng của công chức dân chánh như tôi.

Thật sự Cán Bộ XDNT chỉ là lý thuyết suông của Nguyễn Bé mà thực tế Cán Bộ XDNT không hề hữu hiệu như Lý Thuyết gia VC Nguyễn Bé thổi phòng với tốn kém tiền viện trợ Mỹ không ít./-Mt68

___________________

Khi chư vị đem từng va li bạc chờ học xong đi Saigon tiêu thì tôi ở trong trung tâm nầy, không có tiền xe đò về Saigon thăm vợ con. Không nhớ ai đã cho tôi ít tiền. Tên các nhân vật tôi chỉ nhớ Cường Cọp con ông Phó Dần ở ngay trước nhà tôi lúc trung học và anh Cát Ngọc Giao, sư tổ tử vi.

Khi các anh đến học thì Nguyễn Bé không còn ở đó nữa, đã được thay thế bởi đại tá Quách Huỳnh Hà. Ông Hà về ở một ngôi biệt thự cũ ở bãi trước trong đó ông Bé cho che cái chái cho BS Quỳnh Sâm ở và sau cho tôi ở; ông Hà bảo dẹp và tôi phải đưa vợ con về Saigon. Ông Hà vừa là bộ trưởng XDNT mà phải về kiêm nhiệm có lẽ vì tầm quan trọng nào đó chăng. Sau khóa học nầy ông Hà thành tổng ủy trưởng công vụ dọn trụ sở từ Tự Do về thành Omar. Giao XDNT nầy cho đại tá Lâm là một giám đốc từ lâu trong Bộ XDNT.

Như vậy ông trung tá Đà Lạt không biết ông Bé đã ra đi. Ông Hà mới đến chừng một tháng.

Lời tuyên bố của ông Nội nầy không ám chỉ lập trường chính trị của ông Bé mà chỉ nói lai lịch tầm thường tên hồi chánh không đáng làm thầy ra đề tài thảo luận.

Lớp học nầy rất buồn cười. Ai là giảng viên? đó là những cán bộ xưa nay huấn luyện cán bộ, là một di sản tuyển dụng của thời Mỹ, không đòi hỏi bằng cấp, một số người Mỹ gọi đùa và thật là famous singer danh ca, đánh máy không dấu, nghề đánh cá. Số người có bằng đại học ông Bé tuyển dụng làm ghost writer đã rời trung tâm trước khi ông Bé đi, tìm nơi ngon lành hơn như KTS Dương Mạnh Hùng về làm với ông Hoàng Đức Nhã.

Trong những bài học có chuyện đơn giản hóa công văn, vài người đến hỏi tôi bưu điệp là gì, công điện là gì; tôi không biết họ dạy các anh cái gì.

Trước khi có lớp huấn luyện ông Bé tổ chức một số người đến các tỉnh làm như chuẩn bị đấu tranh với CS về tư tưởng khi hiệp ước Paris thi hành. Nhưng chuẩn bị học hành chưa xong thì có lệnh ông Hà đến thế.

Ông Bé là bố vợ của Hồ Sĩ Mừng, cô Lý; anh Mừng đã chết khá lâu.

Không biết các anh có được cho xem trình diễn nhạc của Ban Văn Công (tên chính thức) lúc ấy trưởng ban là Viết Chung tự cho là đã khai trương một lối viết nhạc mới. Ban nầy mỗi tháng một lần trình diễn chung trong chương trình XDNT trên truyền hình. Xướng ngôn viên là một cô hình thù không khác gì lính cái, mà lối phát ngôn giống như đài Hà Nội. Nhạc mới của Viết Chung sau 1975 được xếp chung là nhạc cách mạng (CS) theo Web "nhạc của tui", cùng thời Trịnh Công Sơn đã viết âm trưởng và giọng đi lên, âm trắc như mẹ đi lên đồi cao, mẹ vỗ tay hòa bình. Nội cái tên văn công cũng nhợn rồi. Nguyễn Bé xem Ban Văn Công là hòn ngọc.

Hóa ra người quốc gia từ đầu khi mô cũng ba lơn, ngay cái câu hỏi Nguyễn Bé là ai cũng ba lớn vì Bé đã đi rồi như Thúy đã đi rồi./-

Friday, 26 June 2026

BÀI PHÂN TÁCH NẦY ĐƯỢC VIẾT SAU KHI MỸ TẤN CÔNG BẮT CÓC VỢ CHỒNG MADURO- HÉ LỘ CHO THẤY HƯỚNG ĐI MỚI CỦA MỸ ... NHƯNG RỒI TRUMP TẤN CÔNG IRAN KHIẾN CHO CHỦ THUYẾT FLEXIBLE REALISM TRỞ THÀNH HOANG TƯỞNG - KHIẾN TRUMP XUỐNG TẬN ĐÁY ĐỊA NGỤC KHÔNG CHỪNG?! NẾU MOU BỊ IRAN LỘNG KIẾN (LIỆNG CỐNG)./-Mt68 (*Hoang tưởng (tiếng Anh: delusion) là một niềm tin vững chắc và cố định dựa trên những cơ sở không đầy đủ, không thể chứng minh bằng lý lẽ hay bằng chứng trái ngược. Đây là một bệnh lý tâm thần, khác với niềm tin sai lệch hoặc không đầy đủ)
____________
FLEXIBLE REALISM
ngoại giao thực tiển uyển chuyển

Linda Kinstler • New York Times Jan 9, 2026


Sau vụ đột kích bắt Maduro, phụ tá của Trump, Stephen Miller tự nhiên thoải mái trình bày quan điểm của WH khi trả lời phỏng vấn của CNN: Chúng ta sống trong một thế giới hiện thực được cai quản bởi sức mạnh, bởi vũ lực, bởi quyền lực. Đó là luật sắt từ khi có thời gian.
Những lời ấy phản ảnh trung thực lời của Trump sau vụ bắt vợ chồng Maduro dẫn độ về Mỹ. Ông nói tác vụ nầy có nghĩa rằng luật sắt đã quyết định thành hình uy quyền toàn cầu. "Tôi không cần luật quốc tế." 
Hôm sau, ông tuyên bố: HK không cho phép một cường quốc nào tước đoạt quyền lợi của dân chúng Mỹ, đẩy HK vào xó kẹt hay ra khỏi bán cầu nầy. Trong chiến lược an ninh quốc gia mới, việc HK thống lãnh Tây Bán Cầu không còn ai thắc mắc hạch hỏi". Như vậy muốn tái lập sự thống lãnh nầy, HK sẽ làm sống lại chủ thuyết Monroe từ năm 1823.
Kỷ yếu National Security Strategy* công bố cuối năm 2025 nêu ra một danh tự mới định danh một trong những nguyên tắc căn bản của chính sách đối ngoại: đường lối hiện thực uyển chuyển (flexible realism). HK sẽ thực hiện hòa bình bằng sức mạnh, không can thiệp, bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Tài liệu nầy tái xác nhận sự thống lãnh của HK ở Tây Bán Cầu.
Theo kỷ yếu nầy, không có gì mâu thuẩn hay hay sai quấy trong hành động đối ứng một tệ trạng hay hợp tác với các chính thể không dân chủ, nếu phục vụ quyền lợi quốc gia. Đọc hết tài liệu ngắn nầy, chúng ta sẽ thấy thế giới quan của HK; ấy là Tây Bán Cầu là vùng vô cùng quan trọng của HK; và đó là một thế giới quan thực tiển.

Trump họp báo, Miller đứng bên cạnh

Trường phái thực tiển nầy không tin vào tiềm năng một thứ luật pháp quốc tế có thể cưởng ép các quốc gia hành sử tử tế, có trật tự; trái lại thế giới là một khối bất khả trị. Trong khi giới học thuật cho rằng chủ thuyết thực tiển là công nhận thế giới nó là như vậy, cần chấp nhận thì Trump và quần thần xem thực tiển là một cách vẽ lại bản đồ thế giới để tránh tiếng chủ nghĩa đế quốc Mỹ, là lời biện hộ cho các hành vi bạo lực.
Chủ thuyết Monroe được dùng như căn bản lý thuyết của trường phái thực tiển nầy. Nguyên khởi chủ thuyết nầy viết ra giấy nhằm ngăn chận các nước Âu Châu thuộc địa hóa Tây Bán Cầu, rồi được dùng trong thế kỷ 20 như một công cụ biện minh các sự can thiệp quân sự của HK. HK đã nại lý thuyết nầy để năm 1941 chiếm Greenland để đảo nầy không mất vào tay Hitler. Từ ngày đó đến giờ HK vẫn có quân đồn trú ở đấy, và ngày nay Trump muốn dùng tiền lệ trên để đòi sáp nhập Greenland bằng mọi cách.

Chính phủ Mỹ đã làm cuộc "thí nghiệm lớn", do đó đã đổi thay nền ngoại giao. Bộ trưởng QP Pete Hegseth nói: HK đang đánh dấu một kỷ nguyên mới với chủ trương hiện thực, cương nghị, cứng như đồng. Đường lối hiện thực dựa trên luật của sức mạnh nay là chính sách chính thức của HK; và việc đột kích bắt Maduro là một sản phẩm áp dụng.
Hải quân HK ngoài khôi Venezuela

Ursula Leyden, chủ tịch Liên Âu nói rằng Âu Châu cần nhận chân một thực tế của thế giới ngày nay và ứng xử thích đáng. Ngoại trưởng Singapore nói rằng trật tự quốc tế đặt trên luật lệ nay đã chuyển vào thời đại thế giới chia thành từng khối chi phối bởi các đại cường. Trump không mô tả thế giới như hiện thực mà ông đã tạo ra một thế giới mới.

Sau Thế Chiến 2, chủ trương hiện thực đã là khung sườn suy nghĩ về bản chất của chính trị. Sự thất bại của Cộng Hòa Weimar, của Hội Quốc Liên và sự diệt chủng Do Thái đã làm cho một thế hệ học giả chính trị học - gồm có Hans Morgenthau, Paul Nitze, Henry Kissinger và Reinhold Niebuhr -  đi đến kết luận rằng tại căn bản chính trị không thuần lý và rằng quốc gia nhà nước từ trong cốt tủy không phải là một năng lực làm việc tốt lành. Các học giả nầy đã xây dựng một triết lý quan hệ quốc tế trên quan niệm rằng chính trị đại cường là một thực thể sống.
Lối suy nghĩ thực tiển ấy chiếm vị thế hàng đầu suốt Chiến Tranh Lạnh, lúc HK và Liên Xô là hai thế lực bá quyền kình chống nhau. NATO thành hình là phản tác thực tế mối đe dọa hạch nhân của Nga Sô. Sau khi đế quốc Nga sụp đổ, chủ thuyết hiện thực không được ưu ái như xưa vì thế giới bước vào giai đoạn chỉ có một cực duy nhất.
Tuy có danh xưng gần với thuyết thực tế của HK, các nhà realists thực tế hơn và hòa bình hơn. Các cường quốc phải biết giới hạn của mình về tài nguyên, về chính trị trong vùng, về nguồn nhân lực. Việc dùng quá độ sức mạnh với kẻ yếu sẽ đến thảm họa. Xưa Athens đã dùng và Hy Lạp đã lụn bại mất uy thế nhường địa bàn cho đế quốc La Mã. Gần hơn nữa, HK đã phung phí không có kết quả ở VN, Iraq, Afganistan.

Kỷ yếu National Security Strategie chỉ là bộ mặt mới, viết thành văn đường lối ngoại giao can thiệp, bắt đầu từ thời Roosevelt với quan niệm an ninh quốc gia thay quan niệm quyền lợi quốc gia. Tài liệu nầy mang hình thức một bạch thư, nói rõ đường lối ngoại giao chính thức của chính phủ đương thời. Nếu ngừng ở chỗ nầy thì tạm yên. Nhưng sẽ tạo nên nhiều hậu quả nếu dùng làm phương tiện biện giải mọi hành động thái quá theo châm ngôn xưa của Hy Lạp: "kẻ mạnh có thể làm bất cứ điều gì và kẻ yếu chỉ có việc chịu đựng".

Tuesday, 23 June 2026

Xổ số kiến thiết quốc gia
Hoàng Hi Thy

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Ðược nên cửa nhà
Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng
Triệu phú đến nơi
Năm, muời đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi
Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Ấy là thiên chức
của người Việt Nam
Mua số mau lên
Xổ số gần đến
Mua số mau lên
Xổ số gần đến.
Kiến thiết quốc gia.
Giúp đồng bào ta…

Tiếng ca quen thuộc tôi nghe mỗi tuần từ năm 1952 cho đến Tháng Tư năm 1975. Vang tiếng một thời. 60 mùa lá vàng bay qua đời tôi, tôi vẫn nhớ tiếng ca Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch.

See the source image

Tôi không biết người Pháp đem trò chơi Xổ Số vào nước ta năm nào, chắc vào khoảng năm 1935, 1938. Những năm 1940 tôi mười tuổi, ở tỉnh lỵ Hà Ðông bên hông Hà Nội, tôi nghe người lớn nói đến chuyện xổ sổ.
Xổ số thời xưa ấy tên tiếng Pháp là Lotterie, bán trên toàn cõi Ðông Pháp, tức bán trên cả ba nước Việt, Miên, Lào, 1 đồng bạc Ðông Dương một vé số, mỗi năm – 12 tháng – xổ số một kỳ, vé số trúng độc đắc 10.000 đồng bạc Ðông Dương, tiếng Nam là Mười Ngàn đồng, tiếng Bắc là Một Vạn đồng.
Chiến tranh bùng nổ trên khắp nước năm 1946, Xổ Số bị dẹp. Năm 1952 tôi thấy xổ số sống lại ở Sài Gòn. Giá mỗi vé là 10 đồng. Số tiền khá lớn thời đó. Năm ấy Sài Gòn có hai sòng bạc mở cửa hành nghề suốt ngày đêm, quanh năm không đóng cửa nghỉ một ngày, là Kim Chung và Ðại Thế Giới.
Đó là hai sòng bạc có trò Sổ Ðề mỗi chiều. Dân nghèo chỉ có hai, ba đồng cũng đánh đề được, biết được mất, tức trúng đề – đề xổ đúng con số mình mua, hay không trúng – biết ngay trong ngày. Dân Sài Gòn mê chơi số đề phần đông là dân nghèo. Như đã nói chỉ hai, ba đồng cũng chơi số đề được. Lại có những người gọi là huyện đề nhận bán số đề ở ngay trong xóm, chi tiền đàng hoàng, việc mua số chỉ bằng miệng.
Vì vậy ít người mua sổ xố do chính quyền bán. Xổ số những năm đầu bị ế. Cảnh sát Sài Gòn phạt người đi xe vi phạm luật giao thông bằng cách bắt mua vé số Kiến Thiết. Tôi không nhớ trong những năm 1952, 1953, xổ số xổ mỗi tuần hay xổ mỗi tháng. Dường như thời xưa đó mỗi tháng Xổ Số một kỳ.
Tôi cũng không biết chắc những năm đó xổ số đã có tên là Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia hay chưa. Căn cứ trên bài ca Kiến Thiết Quốc Gia của Trần Văn Trạch làm năm 1952, tôi chắc tên Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia đã có từ năm 1952.
Năm 1955 hai sòng bạc Kim Chung, Ðại Thế Giới bị chính phủ – Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm – đóng cửa. Hết trò số đề. Xổ số bắt đầu được dân mua. Ðến năm 1960 tình trạng Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, vì bán chạy, nên có trò tăng giá. Giá một vé xổ số chính thức là 10 đồng, người mua phải mua với giá 14, 15 đồng. Rồi có tin tổ chức Chợ Ðen Xổ Số KTQG bị bắt, người thầu vé số và bán vé số tăng giá là bà Ðức Lợi. Bà này bị bắt. Tên bà Ðức Lợi Chợ Ðen Vé Số Kiến Thiết được nhiều người Sài Gòn biết.

 ========================================
========================================================================================

 
 See the source image Image result for xổ số kiến thiết quốc gia

Monday, 15 June 2026

Vài chữ về Fulro

Một nữ sinh Ban Mê Thuột 1965

Vài chữ về Fulro

Front Unifié de Lutte des Races Opprimées

Tôn Thất Tuệ * 2023

Giữa năm 2023 internet chạy một tin nhỏ Fulro đòi tự trị và quấy phá ở Cao Nguyên. Tuy không có gì ồn ào và thực hay hư đều không có giá trị về chính trị, tin nầy nhắc chúng tôi một bài báo cũ.

2014, tình cờ chúng tôi gặp vài số báo Việt ngữ của nhóm người Chàm lưu vong ở Pháp, trình bày sinh hoạt thiểu số và một số bài khảo cứu của tiến sĩ Po Darma (không dùng tên cũ lối VN). Có một bài rất dài về nguyên nhân suy tàn của đế quốc Chàm mà mọi thứ xoay quanh một lý do duy nhất là quê tổ của Po Darma nằm ngay bên cạnh VN, một nước hiếu chiến và khao khát đất đai (cũng giống như Miền Nam nằm bên cạnh Bắc Việt hiếu chiến, HCM hứa cho mỗi cán bộ một ngôi nhà Miền Nam).

Nói đến Chàm thì ai cũng nghĩ đến Phan Rang Ninh Thuận và Tháp Chàm Nha Trang. Nhưng Po Drama nói rằng toàn thể Cao Nguyên là đất của người Chàm cũng như Chế Linh tự cho mình là lãnh tụ mọi người thiểu số sống trên cao nguyên. Po Darma kể lại những lần lãnh thổ Chàm bị co rút đều xẩy ra ở vùng thấp (bình nguyên). Giai đoạn cuối, lãnh thổ Chàm làm chiến trường cho hai phe Tây Sơn và Chúa Nguyễn, được mất thua thắng trồi trụt, kéo theo người Chàm giết nhau, cộng với sự điêu tàn tự nhiên của chiến tranh. Hai phe người Việt không đánh nhau ở Cao Nguyên.
Po Darma, qua tạp chí Harak Champa ngày 06.06.2006, ta thán văn hóa Chàm bị hủy diệt sau 1975. Một vũ điệu thần thánh đã thành một vũ điệu khiêu dâm về y phục và động tác. Po Darma chỉ trích Chế Linh đã từ chỗ quyết tử (sic) chống khai thác bauxite cao nguyên đến chỗ ủng hộ những sai lầm nguy hại đến văn hóa, biến ngôn ngữ Chàm thành một quái thai, nhiều cuốn sử được cho tiền xuất bản mang đầy sai lạc cố ý xuyên tạc, cụ thể là một cuốn sách của Hồ Chung Tú.
Po Darma nêu rõ thâm ý của Chế Linh là để được chính quyền VC cho về hát. Điều mới của Po Darma là tiết lộ rằng Chế Linh không biết một chữ Chàm, không nói tiếng Chàm, tự xưng là lãnh tụ Chàm mà không một giờ tranh đấu cho lý tưởng Chàm, nay phách tấu nói ai muốn khai thác bauxite phải qua xác của ông.
Tiến sĩ Chàm nầy đã hạ đo ván Chế Linh để so sánh với chính mình đã hoạt động tích cực, vào sinh ra tử, bên cạnh những đơn vị quân sự của Fulro như một chính ủy (chữ của chúng tôi). Ông đã mô tả các chiến công và dùng những danh tự đê tiện để chỉ quân VNCH tái lập trật tự ở Cao Nguyên.
Ông nói rõ mục đích của Fulro là thành lập một quốc gia độc lập riêng rẻ. Nhưng Fulro tuyên bố ngưng hoạt động ngay từ ngày 30.4.1975.
Hơn hai tháng trước khi miền Nam hoàn toàn thất thủ, cao nguyên đã bỏ trống, một cơ hội rất tốt nhưng quân của Po Darma đã không làm gì mà ngồi chờ ngày hạ súng. Hoặc chẳng có gì cả. Po Darma nói từ nay chỉ tranh đấu cho một “nước Chăm văn hóa”.
Diễn dịch lối Po Darma, nhiệm vụ phù trợ Bắc Việt đã hoàn tất. Thiết nghĩ, Po Darma đã thỏa hiệp rằng sau chiến tranh, BV sẽ cho thiểu số Chàm nhiều đặc ân như quy chế tự trị mà Minh Mạng đã xóa. Dính máu ăn phần.
Tuy vậy, Po Darma đã không hết lời chỉ trích VC vi phạm tính cách thần thánh của dân Chàm bằng cách di dời mồ mã tổ tiên Chàm, lấy đất xây nhà máy điện nguyên tử. Đã cho một bọn không biết tiếng Chàm làm tự điển. Vậy thì dính máu mà chả ăn phần chứ gì?!


Để khỏi gây lạc hướng, xin nói mục đích của những dòng nầy là đừng quên rằng Fulro ngay từ đầu là một công cụ của CS; khai sinh bởi Sihanouk, đứa con có hai dòng máu tinh thần là Tàu và Pháp.
Quan thầy của Sihanouk đã học thuộc bài rằng cao nguyên là nóc nhà, là mái nhà của Đông Dương. Bình dân lẫn trí thức có liên hệ với Đông Nam Á đều thuộc lòng “thánh thi”: Ai chiếm Boloven sẽ chiếm Đông Dương. Qui tient Boloven tiendra l’Indochine.
Để bớt nét trân tráo chính địa, Sihanouk đã đem vô mặt trận nầy nhóm Krom, người Miên Phật Giáo ở đồng bằng Cửu Long.
Chúng tôi rất hoài nghi vai trò chính ủy của Po Darma vì người Chàm ăn mặc không như người Thượng và có nếp sống định cư như người kinh. Yếu tố Chàm cũng do Sihanouk tạo nên bằng cách cử một sĩ quan cấp tá gốc Chàm trong quân đội hoàng gia Miên làm đại biểu phái đoàn Chàm trong hội nghị thành lập Fulro. Chúng tôi không thông suốt ngọn ngành của Fulro nhưng thiết nghĩ lực lượng dân quân của Fulro là nhóm CIDG do Biệt Kích Green Beret Mỹ tuyển dụng và huấn luyện. [CIDG = Civilian irregular defense group]. CIDG đã có lần quấy phá tỉnh Ban Mê Thuột bị chính quyền VNCH đẩy lui nhưng được sĩ quan Mỹ ra bao che đem về trại.
Sept 1964, CIDG trong năm trại đồng thời nổi loạn giết 80 quân nhân VN, bắt làm con tin 20 lính Mỹ. Nhưng may, Green Beret còn ảnh hưởng và thương lượng để quân phiến loạn hạ vũ khí. Chính phủ VNCH tương nhượng chấp nhận vài đề nghị của người Thượng nhưng không chấp nhận quyền tự trị. Chính phủ VNCH phản đối HK vũ trang người Thượng không được chấp thuận trước của Saigon. HK đã chính thức công nhận ủng hộ tiền thân của Fulro.
05.1958, một nhóm trí thức Thượng thành lập Bajaraka (Banar, Jarai, Radé, Koko) đòi tự trị các dân tộc thiểu số Cao Nguyên qua một bức thư gởi hai tòa đại sứ Pháp Mỹ. 1964, với sự hậu thuẩn của HK, tổ chức nầy ghép thêm nhiều sắc dân thiểu số khác và trở thành FLHP (Front de Libération des Hauts Plateaux, Mặt trận giải phóng Cao Nguyên).
[Tình cờ??? Trong thời gian biến động nầy, Nghiêm Thẩm, tự nhận là nhà xã hội học, xuất bản luận văn chứng minh khu vực cao nguyên có đủ những yếu tố cần thiết như lịch sử, văn hóa…. để thành lập một quốc gia.]
Sách báo ủng hộ Fulro đều nói Fulro chống VNCH lẫn VC bằng quân sự và chính trị. Những tài liệu nầy nại sự việc một số Fulro trốn trong tòa đại sứ Mỹ ở Pnom Penh lúc Khmer Rouge chiếm Cambodia 1975, được / bị giao cho Khmer Rouge giết sạch. Thực tế Fulro luôn là con cờ của khối CS tuy thay hình đổi dạng liền liền. Fulro đã hạ súng giao cho Liên Hiệp Quốc rồi nhận vũ khí của Tàu.


Nay có tin Fulro gây rối ở Cao Nguyên làm khó chính quyền CSVN đòi tự trị. Người không thích CS lấy làm thú vị: kẻ thù của kẻ thù là bạn của ta. Tâm lý ấy quá tầm thường và nguy hại.
Cao nguyên hiện nay là vùng khai thác Bauxite. Vụ Bauxite được dựng lên, la lên cho qua lườn. Trung Cộng đã thành lập những khu tự trị và có bản hiệu hoàn toàn chữ Tàu, không như thời ông Diệm phải song ngữ Hoa Việt. Trong cuộc bàn tán xôn xao ấy, Võ Nguyên Giáp ăn có một cách chuyên nghiệp nhà binh, ông nói không thể để cho Tàu chiếm vùng Boloven, là cao địa là đòn dông nóc nhà của Đông Dương. Như chúng tôi đã thưa phía trên: ai chiếm cao nguyên sẽ chiếm Đông Dương. Bắc Kinh sẽ không nhả miếng mồi ngon nầy cho Y Bun, Y Thiện, Y Kha, Y Thih ….
Trung Cộng vũ trang người Thượng để làm gì nếu không để làm lính cho các khu kinh tế nầy. Còn nhớ Nga thuê đảo Crimea của Ukraine rồi tổ chức trưng cầu dân ý đồng lòng gia nhập Nga. Trung Cộng sẽ làm vậy sau khi thuê những Y nầy để cùng những chú xìn thím xẩm mới đưa qua sẽ bỏ phiếu thuận làm con cháu của bác Mao, biến Cao Nguyên thành lãnh thổ hải ngoại như France d’Outre Mer.
Đưa tin, viết tin là nghề của ký giả. Đọc tin và thẩm lượng tin tùy từng độc giả. Nói thì nghe to tác vô lý, nhưng chuyện Fulro phải được đặt trong bối cảnh toàn diện về lịch sử và địa dư Đông Nam Á. Bajarara ra đời cùng thời với Trận Bà Bèo, Định Tường mở đầu chiến tranh du kích. Có vậy mới thấy Fulro là đứa con chung của đám bạch tuộc quốc tế; trong hậu trường, chúng “đồng nhi bất hòa”. Fulro đã phục vụ Lon Nol trong đợt cáp duồng người Việt thập niên 1960, dù Lon Nol có đứng về phía Tự Do. Người đọc vẫn còn thì giờ tìm hiểu câu nói của Georges Kalin: Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ và Sihanouk ủng hộ chiến binh miền núi đánh lại Miền Nam. (The US Special Forces and Sihanouk backed the Fulro Montagnard fighters who were fighting against the South of VN (South East Asia, a Testament).

 

 Xin tham khảo thêm Đồ Bàn và Saigon

Posted by tôn thất tuệ at 1:22:00 PM 

Wednesday, 10 June 2026

nước nhảy lên bờ

 

nước nhảy lên bờ 

Nguyễn Đặng Mừng

Tháng bảy nước nhảy lên bờ ***Trận mưa gọi là tiểu mãn hồi tháng ba ngập hết cả ruộng khoai sau rú. Khoai mới hai tháng moi về bốc mùi thối như phân người, heo cũng chê. Bà con lại mất công gánh đi đổ, phải đổ cho xa nơi ở để khỏi phải ngửi cái mùi kinh khủng đó. Từ đầu đến cuối làng nồng nặc mùi khoai thối. Đi họp phân chi hội thằng Thỉ bô bô “đứa mô ăn khoai thúi ni xin mời ra ngoài cươi (sân) mà ngồi, ngồi trong nhà lỡ… ra không ai chịu nổi ”. Thỉ gọi tôi bằng chú trong phái. Thanh niên chúng tôi tối nào cũng họp ở nhà Nhan, cô ấy làm phân chi hội trưởng, nhà Nhan chỉ có hai mẹ con nên được thoải mái. Có việc cũng họp không có chi thì nói tầm phào cho vui. Tối lại không biết làm chi, ngồi nhà suy nghĩ nhiều thêm đói bụng.

Vụ đông xuân lại mất mùa. Được bao nhiêu phải bán nghĩa vụ. Mỗi xã viên chia được vài chục ký lúa. Bà con lên sân đội gánh về nhiều nhất là …rơm. Gió Lào thổi ù ù qua cánh đồng khô khốc, rát đến ruột gan. Bà con từng đội uể oải vác cuốc ra đồng cuốc đất thải. Mùa hè thu chỉ sản xuất trên một phần ba cánh đồng vào những nơi thấp, hoặc có nước tưới.

Ruộng phần trăm * được hợp tác xã chia cho từng hộ để tính vào việc chăn nuôi. Những khoảnh ruộng được cắm vè, mỗi hộ chừng vài trăm mét vuông. Bà con đầu tư nhiều phân tro cho đám ruộng cá thể của mình, thường năng suất gấp nhiều lần so với ruộng hợp tác. Mùa hè thu trước đây gọi là mùa trái, như đánh bạc, năm được năm mất. Lúa mùa trái năm nay xanh tốt, nhất là ruộng phần trăm. Qua rằm tháng bảy có đám bắt đầu chín, gọi là lúa đỏ đuôi. Người ta dự đoán là năm nay mỗi xã viên cũng được mươi thùng lúa. Hy vọng nhen nhúm trong lòng bà con.

Trời báo hiệu mưa bằng những ngọn gió bấc lành lạnh, ráng mây đỏ rực phía đằng đông, từng đám mây đen kéo về nghịt trời. Sấm chớp phía biển ầm ào dội vào. Những lão nông lo lắng, chú Gàn buồn rầu nhìn trời than: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ, coi chừng rồi đói ngất ngư cả làng”. Đến chiều dãy núi phía Trường Sơn chìm trong mây, báo hiệu mưa nguồn. Đến nửa đêm, cơn mưa dội xuống mái tôn lạt rạt, lào rào. Mưa kéo dài đến sáng. Những chân ruộng thấp nước ngập đến nửa thân lúa. Nước lên tới đâu bà con lo gặt ruộng phần trăm tới đó.

Tôi mượn chiếc ghe chú Gàn cùng Nhan xuống gặt ruộng Mơn, ruộng phần trăm của tôi và Nhan sát nhau. Nhan kêu tôi bằng chú chớ không bà con chi. Quê tôi con gái nhỏ hơn con trai năm ba tuổi là gọi bằng chú, cho ra vẻ …con gái nết na. Tôi chống sào sau, Nhan cầm chầm bơi trước. Buổi sáng nước chỉ ngang bắp chân. Hai chú cháu gặt đến trưa nước lên ngang bụng, không còn thấy lúa đâu mà gặt, lúa cũng gần đầy ghe. Mưa đổ rát mặt. Nhan trước tôi sau đẩy ghe lúa về.

Gió mưa thổi ngược, hai đứa đẩy hết sức mà không nhích lên nổi. Thỉ lội băng băng trong mưa kêu lớn: “Giữ đừng cho ghe lặn”. Tôi và Nhan cứ bặm môi ghì chặt hai mạn ghe. Thỉ đến bên nói lớn: “Có cái thau đây nì, để tui giữ ghe cho, o Nhan tát nước ra đi”. Nhan tát một chặp mỏi tay lại đổi cho Thỉ, hắn tát thiệt nhanh, một chút đã hết nước. Ghe nổi lên, đẩy nhẹ hơn nhiều. Nhan có vẻ mệt, mặt tái xanh. Thỉ nhìn Nhan cười cười : “Thôi o ngồi luôn lên ghe cho khỏe, níu vô ghe thêm nặng”. Đoạn hắn nhanh tay xốc nách Nhan bỏ lên ghe, đưa cái thau bảo “việc o chừ là tát nước”. Mưa ngớt, nước không còn nhiều, Nhan ngồi tát từng vệt nước nhỏ như chơi đồ hàng. Mỗi lần Nhan hắt nước là Thỉ đếm “năm, mười, mười lăm, hai mươi…” rồi cười khềnh khệch “Tướng o mà cũng bày đặt đi cắt lúa nước lụt, ở nhà chơi đồ hàng với chú Bình cho rồi”. Thỉ nhìn tôi cười châm chọc.Cặp ghe ở cống nước gần nhà, tôi và Thỉ vác lúa về chất trước sân. Nhan không vác nổi, ngồi bệt nhìn Thỉ ngại ngùng. Thỉ đưa tay vuốt vuốt đầu tóc ướt nhẻm, nhìn tôi rồi nhìn Nhan cười cười “Kiểu ni lấy chắc rồi mần chi mà ăn”.

Mưa một đêm tầm tã. Khuya nghe tiếng heo kêu, mạ con tôi thức dậy, nước đã vào nhà. Lội trong nước bạc lạnh ngắt, bụng đói chân run. Tôi lôi heo lên bàn giữa, nơi an toàn nhất, nó kêu ré lên rồi nhảy ùm xuống nước. Đèn lại tắt. Mò mẫm theo tiếng kêu, tôi chụp được chân nó, dùng hết sức lực kéo được lên bàn. Không biết nó sợ nước hay mệt mà nằm im. Thiệt tình tôi muốn nó chết để mai được ăn tô cháo lòng cho đã.Nước lên nhanh. Trời chưa sáng đã nghe tiếng í ới của bà con bên xóm Phường xóm Rào chèo chống ghe lên rú chạy lụt. Nhà tôi ở xóm chợ, nền cao nhất xóm mà nước đã vô nhà. Theo tính toán của mạ tôi, giờ này bà con dưới xóm Phường, bên làng Thi Ông, Lam Thủy nước đã chắp mái.

Trời sáng ra. Nước bạc dập dềnh, ì oạp. Nhà cửa tre pheo như thấp xuống. Những chiếc bè chuối chở theo heo gà kêu inh ỏi lẫn trong tiếng người gọi nhau ơi ới. Những khuôn mặt chịu thương chịu khó của các mạ các chị dưới vành nón lá như tóp lại, quắt queo. Rắn nước lội loằng ngoằng trước sân, vào cả trong nhà. Tôi đánh chết một con quăng ra ngài vườn. Rắn mai rắn hổ leo lên tre vằn vện, mấy o mấy chị sợ xanh mặt. Quê tôi không ai ăn thịt rắn. Những ngày đói kém, rắn nước đầy đồng, người ta đánh chết, sình lên hôi thối mà không ai màng đến. Có lần tôi nói trong Nam rắn này gọi là rắn bông súng, ăn ngon lắm. Chú Gàn rụt cổ kinh hãi “ăn uống kiểu chi như mọi, chết thì thôi, ai lại ăn uống dữ rứa”.

Nhan vác con heo lứa chừng mười ký, theo sau là chị Nị qua nhà tôi. Nhan mặc chiếc áo bộ đội rách một miếng trước ngực, lộ một phần bầu vú bên trái. Áo ướt ngang ngực, mặt Nhan tái ngắt “mệ ơi nhà cháu lút ngang cửa sổ rồi, cho cháu gửi con heo, gia tài nhà cháu chỉ còn chừng ni…hức… hức, cháu chui vô bụi tre mới lôi nó ra được đây”. Nhan từng khoe với tôi vài tháng nữa heo đủ bốn chục ký sẽ đem bán cửa hàng, được bán thưởng hai quần chéo đen. Tôi đón con heo run lẩy bẩy để lên bàn giữa, nơi mà mỗi lần qua nhà Nhan chưa bao giờ dám ngồi vào. Con gái đàn bà quê tôi không ai dám ngồi bàn giữa, trước bàn thờ. Heo nhà tôi đã chết rồi. Con heo nhỏ rúc đầu vào bụng con heo lớn. Mạ tôi đưa tay áo quyệt nước mắt. Tôi thương mạ quá, quên luôn tô cháo lòng.

Chú Gàn và tôi mổ heo chia thành mười sáu xâu, mỗi xâu trị giá nửa thùng lúa, bán chịu cho bà con qua mùa năm sau mới lấy. Nhà nào còn lúa đâu mà đong liền. Bà con giành nhau lấy thịt, nhà tôi để lại hai xâu, chia cho Nhan nửa xâu. Chú Gàn lấy một xâu, cười hề hề “sang năm đến mùa lên côi rú mà lấy, tau chọn huyệt rồi”. Tôi lạnh người, Chú Gàn thường nói trước những điều xảy ra. Như mấy năm trước thấy thanh niên phá bờ thửa để công nghiệp hóa nông nghiệp, chú Gàn bảo “mần ăn kiểu ni có ngày chết đói”. Chú bày cách tôi gài xe đạp nước, hai chú cháu vào nước phở **, đạp cả buổi, nước chỉ dồn về một góc ruộng. Mùa trái đó mấy đám ruộng vừa cải tạo thí điểm bỏ hoang.

Nhớ hồi mới giải phóng, những cán bộ đi tập kết về mở tiệc mời bà con. Mấy chú ngoài Bắc về làng thuộc thế hệ đàn em của chú Gàn thời chống Pháp, có người khi đi mới mười lăm tuổi, ra Bắc còn đi học tiếp. Nghe đâu có anh Hạ tốt nghiệp tiến sĩ ở Liên Sô. Những chuyện kể về chiến tranh sinh động lắm. Bà con chăm chú nghe, đột nhiên chú Gàn nói lớn: “Ăn đi cho tui ăn với một miếng, nói chi nói mãi, không thì tui về đây”. Mấy chú kéo lại xin lỗi chú Gàn. Ăn xong ngồi uống nước, lại chuyển qua đề tài kinh tế. Mấy chú kể ngoài Bắc nhiều mỏ lắm, nào mỏ thiếc, mỏ chì, có cả mỏ u-ra-ni-um để sản xuất bom nguyên tử. Chú Gàn bực mình nói trổng: “Còn một mỏ nữa”, bà con hỏi mỏ chi, chú tỉnh queo: “Mỏ nói láo”.

Tôi trải tấm tôn lên bộ phản, lấy một ít tro phủ lên, bắc kiềng làm bếp. Nhan đi rút rơm vào, nhen lửa nấu cháo lòng. Nhan đã lấy dây rơm cột lại chỗ bị rách trước ngực, cười cười “chú cháu mình mà xấu hổ chi, chú hỷ”. Lòng heo nhiều mà chỉ có nửa lon gạo nên cháo lỏng bỏng. Mạ tôi húp một chén, thở ra, kêu nhức đầu không ăn nữa. Chị Nị cũng ăn một chén, còn bao nhiêu Nhan và tôi ăn sạch, còn thòm thèm. Chén cuối cùng Nhan đổ vào nửa muỗng ớt bột, bảo để cay cho ấm bụng. Mặt Nhan tươi lên sắc hồng, lấm tấm mồ hôi. Cháo lòng hiệu quả thiệt. Quê tôi ai cũng ăn cay, chắc để đánh lừa vị giác vì thức ăn chẳng có gì, có cơm là quý rồi, ăn với muối và ớt thiệt cay là ngon nhất! Nhan đổ thêm một ít nước tráng nồi cháo đem đến cho con heo lứa, nó táp lặp phặp. Số thịt còn lại mạ tôi muối để ăn dần, thường là để kho với nước ruốc cho có vị béo.

Số lúa gặt chung hôm kia nổi lều bều trước sân. Nhan nghĩ ra cách rang lúa như làm cốm. Tôi đạp lúa bằng chân một đầu tấm phản, đầu kia Nhan rang. Lúa chưa chín dai nhách, đạp ê cả chân cũng chỉ được vài lon. Nhan bảo lấy đũa suốt nhanh hơn. Được một ít lại bỏ vào cối giã, sàng sảy xong được vài chục lon gạo teo tóp, màu xanh như cốm. Cơm chiều hai nhà lại ăn chung. Gạo non được đổ vài lon nấu cháo, Nhan cắt thêm bó rau muống đổ vào, bảo “để chắc bụng”, nồi cháo nửa xanh nửa trắng như cháo heo. Bốn người hì hục húp. Chắc bụng nên ngủ ngon. Chi Nị, Nhan và mạ tôi ngủ chung giường.

Tôi nằm một đầu tấm phản, cuộn mền nghe ếch nhái kêu, chìm nhanh vào giấc ngủ. Chiêm bao thấy tôi và Nhan được ăn cỗ, xôi thịt ê hề. Rồi lại thấy cùng Nhan ngồi ăn chè đậu huyết bên một đống lúa to đùng. Rồi lại thấy Nhan mặc cái quần Mỹ Á láng tưng, cái áo hoa sặc sỡ. Mông và ngực Nhan đầy đặn như mùa hè thu năm bảy lăm đi làm cỏ lúa, sợ đỉa đến ngất đi, nằm ngửa trên bờ ruộng, mấy chị vén áo xức dầu. Khoảng bụng trắng nõn, hé một chút nịt ngực, mấy đêm sau tôi còn mơ thấy… rồi mộng tinh. Đêm này cũng mộng tinh, điều mà mấy năm này không có. Cháo gạo mới bổ thiệt!?

Nước lên chậm, chưa có dấu hiệu rút, mấp mem tới rú. Bao nhiêu chuột đồng, chồn cáo tập trung về những bụi cây dại trên rú. Sáng sớm chú Gàn cõng con chó Bi ngang nhà tôi, kêu “Bình ơi đi săn”, “đi săn mô”, “Sau rú”. Tôi cõng con Mực theo. Ngang nhà thằng Thỉ rủ hắn dắt con Vàng cùng nhập hội đi săn. Chúng tôi đi theo đường đập, hướng về phía rú.

Đập là hai con đê song song của hai làng, giữa là lạch nước chảy trên lòng cát trắng, gọi là khe. Mùa mưa nước từ những bãi cát rộng lớn, giáp ra tới các làng biển, tập trung chảy về khe rồi đổ ra sông Vĩnh Định. Nước khe chảy ngược về hướng Trường Sơn. Nghe nói thời vua chúa, những làng có nước chảy ngược như thế thường hay làm phản, nên chính quyền Nam triều buộc trước đình làng phải đúc hai con nghê xây đầu về hướng núi. Những làng quê hiền như đất như khoai, có ai làm phản gì đâu.

*

Hồi lên năm, trào Ngô Đình Diệm, những đêm mưa lớn tôi đã nghe tiếng ầm ào của nước khe chảy. Tiếng chú Gàn lẫn trong tiếng phèn la “nứt đập...nứt đập”. Trai tráng đốt đuốc, vác cuốc chạy rầm rập trong đêm mưa gió, cùng nhau ra hộ đê. Có lần làng tôi cho người lội qua khe phá đập của làng bên để giảm áp lực nước cho làng mình. Mỗi lần nứt đập là cát lấp hàng chục mẫu ruộng. Có lúc hai làng kịch chiến với nhau bằng cuốc rựa. Nghe nói thời trai trẻ chú Gàn một mình tả xung hữu đột rất kiên cường, mỗi lần vắng chú là làng tôi chịu thua. Thời đó chỉ có một thôn trưởng với chú Gàn làm xâu mà điều động dân làng nhanh chóng, hiệu quả vào những lúc gặp thiên tai lũ lụt. Nay nhiều hội nhiều đoàn mà ruộng hợp tác ngập lụt không ai thèm gặt.

Mỗi mùa lụt về, rất nhiều cá lội ngược khe, tìm về trằm, (vũng nước giửa cát cây tràm nhỏ) để sinh sản, gọi là mùa cá rải. Cá rải rất dễ bắt. Con nào bụng cũng đầy trứng lội chậm chạp. Dân làng dàn hàng ngang đứng dưới khe ngước cá. Mỗi người cầm một cái chơm hoặc rập. Có những bầy cá hàng trăm con chạy ngược dòng, nước trong đến độ thấy rõ từng chú cá gáy trắng bạc chạy lặc lè bụng trứng. Bà con chơm cá dễ dàng, cả phụ nữ cũng bắt được những con gáy hàng chục ký. Cá được làm mắm thính ăn tới tết, trứng cá gáy nấu cháo rất ngon. Đến mùa đông, cá con xuôi dòng khe về sông, từng vạt đen lội như trôi giữa lòng khe cát trắng, nước cạn. Trẻ con dùng rập xúc những bầy cá cấn, cá mại, cá gáy con, cá giếc về kho tiêu ăn ngon tuyệt. Suốt cả mùa đông đến hết tháng giêng chúng tôi ở ngoài khe nhiều hơn ở nhà. Hơn mười năm được thanh bình sung túc, đó cũng là mười năm đẹp nhất của làng quê tôi.

Rồi chiến tranh ập đến, bà con ly tán. Đến năm bảy bảy, một con đê chắn nguồn nước được hoàn thành, gọi là đại trường đê. Nước theo những mương rảnh mới khơi chảy ra biển. Khe nước không còn chảy mạnh như xưa. Những chuyện trên chỉ còn trong chuyện kể.

Một nửa xã viên đội chúng tôi là dân thành thị, họ đi lính chế độ cũ hoặc là viên chức, thầy giáo, y tá… Những năm chiến tranh lan rộng, họ đem vợ con vào sinh sống ở các tỉnh lỵ miền Trung. Gia đình Nhan cũng dân thành thị từ năm 1960, ba Nhan đi quân dịch đem vợ con theo ở đâu trong Huế. Mùa hè năm bảy lăm kéo nhau về làng, ai cũng còn chút của nả, ít nhất cũng vài cây vàng, có nhà còn cả mấy chục cây. Thời mới về làng vui lắm, đi làm ruộng thanh niên còn hút thuốc Ruby, khói bay là là trên đọt lúa, thơm phức. Những năm thiếu thốn, nhà nào cũng phải bán dần của cải để mua thêm khoai sắn, một chỉ vàng có khi mua chưa được vài thúng sắn khô. Đến năm bảy chín thì nhà nào cũng vô sản như nhau.

*

Bầy chó được thả lên đập chạy loăng quăng, con Bi và con Mực sủa đổng vào những bụi cây hai bên đập. Riêng con Vàng của Thỉ không sủa. Nó không bao giờ sủa bậy, khi nào có mồi mới sủa, gọi là đánh.

Thằng Thỉ đi trước, hai vai nó xuội xuống như ông già. Thỉ cao một mét bảy lăm, hồi mới giải phóng, mười chín tuổi, cân nặng hơn bảy mươi ký. Có lần mấy đứa thách hắn ăn chè, một mình ăn đúng một sải tay mười lăm chén chè đậu huyết. Hắn từng tuyên bố đủ sức ngủ với con gái cả làng. Tính Thỉ bộc trực tốt bụng. Mùa gặt nào hắn cũng giành xóc lúa, công việc chỉ có những người mạnh khỏe mới làm nổi. Hắn nói nhỏ với tôi, một lần đưa gánh lúa lên vai con Nhan thế nào hắn cũng rờ ngực một cái, không biết có không. Tôi nghĩ là hắn nói dóc.

Mới mấy tháng mà trông Thỉ già đi, mặt cứ buồn buồn. Đời Thỉ là một bi kịch. Chị Hảo mười tám tuổi lấy chồng, có mang Thỉ được một tháng thì anh Hà cha Thỉ tập kết ra Bắc. Chị Hảo đẹp lắm. Hồi nhỏ chị hay bồng Thỉ qua nhà tôi chơi. Chị mê bói Kiều, mỗi lần chú Gàn bói xong là chị khóc. Chú Gàn lại thích thêm mắm thêm muối, bảo “số chị đa đoan, ít nhất cũng vài ba đời chồng”. Mà chị đa đoan thiệt. Thằng Thỉ năm tuổi chị lại có mang, nghe nói với một tay cảnh sát trên quận. Thằng Thỉ em hai tuổi chị lại có mang, lần này nghe nói với một ông thầy pháp.

Những đêm mùa đông rét căm, hai anh em Thỉ đắp chiếu chuyền hơi ấm cho nhau. Nhiều đêm Thỉ nằm nghe tiếng thì thào của mẹ lẫn trong tiếng gió rít, với một giọng đàn ông nào đó. Tiếng rên ư ứ nhanh chậm đánh nhịp cùng tiếng ọt ẹt đều đặn của giường tre, hòa trong tiếng eo éo của những thân tre cạ nhau ngoài vườn. Âm thanh đó ám ảnh, nhéo vào nỗi đau của Thỉ, báo hiệu những điều sắp tới.

Buổi sáng ôm vở ra đường là bị đám trẻ chọc ghẹo bằng bài hát vè:

       Mạ ba con lòng còn theo dượng

       Dượng chưa qua bắt gà chi mạ

       Dượng qua rồi mạ đuổi con đi

       Cái mô ngon để dành cho dượng

       Cái mô dở để mạ con ăn.

       Mạ ba con lòng còn theo dượng….

Đám trẻ vừa nhảy chồm chồm vừa xỉa xói vào mặt Thỉ. Hắn tránh bên nào cũng bị chận lại. Có đứa còn hỏi “hồi hôm mi chộ mạ với dượng mi mần chi”.

Thỉ cúi đầu, đưa tay áo quệt nước mắt, dật dờ đến lớp. Học đến lớp nhất, gần hết tiểu học, thì nghỉ, ở nhà giữ em.

Những ngày chị Hảo sinh, Thỉ phải lên bệnh xá trên Đồi Ma chăm sóc. Ban ngày nách mủng đi xin gạo bà con, nấu cơm rồi bới lên cho mẹ. Ban đêm ở lại quạt than, phụ chị Hảo xông phây. Có những đêm chị Hảo ngủ, một mình Thỉ thức quạt muỗi cho em, nghe chim chèo hót kêu, sợ run, lay chân chị Hảo mà khóc: “Mạ ơi mạ, lần ni nữa thôi nghe mạ, đừng nữa, con cực lắm rồi”. Cứ thế, đến năm bảy hai nhà Thỉ có bốn anh em, hai trai hai gái.

Năm bảy lăm anh Hà về, chị Hảo ba mươi tám tuổi vẫn còn hương sắc, chị lại đẻ thêm một đứa. Được vài tháng, anh Hà trở về Bắc với gia đình ngoài đó. Chị Hảo phát điên, đi lang thang từ đầu xóm đến cuối xóm, hò những câu da diết: “Gió đưa bụi chuối te tàu, chồng Nam vợ Bắc làm giàu ai ăn”. Thằng út bệnh mất, vài tháng sau chị cũng qua đời.

Ngày đưa đám bà con đông đủ. Anh Hà không vào. Thỉ đội mũ rơm, chống gậy đi thụt lùi đưa mẹ về rú. Nó khóc rống lên lúc hạ huyệt, giọng ồm ồm: “ Mạ ơi… ai mạ cũng thương mà có ai thương mạ mô, mạ ơi… là mạ…”

*

Chúng tôi lên đến rú, chú Gàn kêu: “Thỉ ơi, bữa ni cái khoản cá tràu ra răng rồi”, Thỉ la lên: “ Xuội rồi ông ơi, con Nhan có cho ngủ e cũng không mần chi nổi ”. Tôi chọc Thỉ: “Mi nhớ chuyện kim chích vô thịt không”. “Kim chích vô thịt thì đau, thịt chích vô thịt nhớ nhau suốt đời”. Vừa nói Thỉ vừa cười toét miệng, ngước mặt lên trời, cái đầu lắc qua lắc lại “bựa ni chộ con Nhan xanh lét, hôm tê tui bồng lên ghe nhẹ như con nít, hay là ở gần nhà, chú hay thoèo kèo thoẹt quẹt”, “nói bậy, tau là chú hắn mà”. Hắn nằm ngửa xuống cát, đập đập hai tay lên đùi, hai chân chọi chọi: “chú mà lấy kim chích mông cháu”. Tôi nổi cáu trợn mắt: “Mi nói bậy tau đập chết”. Thỉ nhìn chú Gàn như phân bua, nói tảng lờ: “Hồi nớ đứng gần con Nhan là không chịu nổi, bựa ni thì mần chi được, đói quá không ngóc đầu lên nổi. Chú nhớ chuyện đi coi phim ngoài chùa không, hì hì…”

Nhân ngày lễ quốc khánh năm đầu tiên thống nhất, bà con được thông báo sẽ có đoàn chiếu phim của huyện về phục vụ. Những buổi chiếu phim thường được tổ chức trước sân chùa. Ăn cơm tối xong là thanh niên trong làng rủ nhau ra sân chùa sớm để chọc nhau, chờ đoàn chiếu phim lưu động. Con nít và ông bà già ngồi trước, thanh niên đứng sau. Hôm đó thằng Thỉ tách riêng nói nhỏ to chi đó với thằng Tám bên đội ba. Nhóm phân chi hội tôi đứng gần nhau. Nhan đứng gần tôi. Thằng Thỉ cao mà cứ đứng choán trước mặt Nhan, hai tay chắp sau mông. Đến đoạn phim hấp dẫn Nhan nhón chân để thấy được màn hình, tay níu lên vai thằng Thỉ. Bỗng nghe Nhan la lên rồi bỏ chạy về. Không ai biết chuyện chi. Hôm sau Thỉ kể với tôi “con Nhan bị kim chích mông đau quá lắc tới mạnh, nguyên bộ lọt vô tay tui hết, tui bụm gọn, hì hì…”. Không ai biết thằng Tám chơi trò đó, còn đồn rằng tôi là thủ phạm. Nhan giận tôi cả mấy tuần, sau lần tôi nghiêm mặt thề “chú mà làm chuyện nớ là chú chết liền”, mới thôi.

Tiếng con chó Vàng đánh thôi thúc. Chú Gàn bật lên, cầm gậy chạy trước, tôi và Thỉ chạy sau. Lùm cây trâm bù chỉ cao quá đầu người, bầy chó đang quần trong đó. Chú Gàn ra lệnh: “Mỗi đứa đứng một góc, chồn chạy ra thì đập”. Chồn không chạy ra phía chú Gàn, cả ba con chồn đèn bằng con mèo lớn cứ chạy ra phía tôi đứng rình. Tôi đánh con nào cũng hụt. Ba con chồn lủi vào một bụi khác. Chú Gàn la lên kêu tôi lại chỉ dẫn: “Ngừa chồn phải ngồi ri nì, đập chồn phải quơ gậy sát đất. Đập côi đập xuống kiểu thằng Bình trăm con trật cả trăm”. Chú vừa nói vừa chỉ dẫn từng động tác.

Bầy chó bắt hơi đuổi theo. Lại quần với chồn trong một bụi trâm bù khác. Tôi ngồi đúng thế chú Gàn chỉ, theo phản xạ tôi quơ gậy đánh thật mạnh ngay đầu con Vàng vừa ló ra, nó kêu ăng ẳng rồi quay mòng mòng. Tội nghiệp, chỉ một chút là nó đứng dậy lao vào bụi chiến đấu với đồng đội. Chú Gàn la lên “một tên nì”, một chút lại la lên “hai tên nì”, rồi “ba tên nì”. Chú kêu lên “Bình ơi, khi hồi mi chộ mấy con”, “ba con”. “Rứa là hết rồi, mau qua đây”.

Ba con chồn đèn béo múp nằm phơi trên cát. Con Bi và con Mực ư… ư… khoe chiến công. Con Vàng nằm gối đầu lên chân Thỉ, mắt trợn trừng, máu ứa ra ở miệng. Nó vừa chết rồi. Tôi vuốt vuốt nhẹ chỗ bụng nó, màu vàng non xép lẹp. Chắc buổi sáng nó chưa ăn gì. Thỉ nhìn Vàng buồn rầu, mắt rơm rớm. Chú Gàn bình tĩnh: “Chiến đấu thì có mất mát. Hôm nay mình thắng, một đổi ba. Nhưng đau nhất là phe ta đánh nhầm phe mình. Rồi chú kể hồi kháng chiến chống Pháp, chú đã từng nhận lệnh chôn sống đồng đội mình vì bị cấp trên nghi ngờ làm Việt gian. Chuyện này tôi có nghe kể hồi còn nhỏ. Người ta nói sở dĩ chú Gàn không đi tập kết vì ân hận. Tôi lại không nghĩ thế, những ngày sống gần mới hiểu thêm về chú, không như lời đồn đại.

Hồi mới lớn tôi nghe kể rằng chú Gàn làm tổ trưởng du kích trong làng. Đã từng chỉ huy ba du kích chống lại một đại đội Lê Dương. Chú dàn mặt trận gần cả cây số dọc con đập. Hằng trăm lính Tây đang dàn hàng ngang trên cánh đồng để tiến vô làng. Ba người cứ chạy dưới khe, vài trăm thước là lên đập bắn tỉa về phía địch. Đối phương bị thương tích nhiều, lại tưởng có bộ đội chính quy nên đến chiều thì rút quân.

Một trong ba du kích đó có chú Toa. Nghe nói chú Toa đã từng làm thông ngôn cho Tây. Năm 1945 bỏ Tây về làng cùng tham gia cướp chính quyền. Những năm bốn chín năm mươi thỉnh thoảng có những vụ thanh toán nội bộ, gọi là “xử lý”. Chú Toa quen miệng nói tiếng Tây. Một lần có phái đoàn cấp tỉnh về thăm làng, trong buổi hội thảo chú Toa pha tiếng Tây vào. Sau đó bị chôn sống. Bà con nghi là chú Gàn tố cáo và chôn sống chú Toa.

 

Đến trào Ngô Đình Diệm, Chú Gàn từ chối mọi đề nghị cộng tác với chính quyền, chỉ nhận chức làm thằng mõ kiêm giữ rú. Hồi nhỏ tôi cùng bọn trẻ hay đi mót củi sau rú, mỗi lần thấy chú là bỏ chạy tán loạn. Đứa nào bị bắt là chú đánh ba roi. Chú thuộc từng bụi cây, ngôi mộ. Rú nhờ vậy vẫn giữ được cây cối, mồ mả khỏi bị cát lấp.

Ba người cúi đầu im lặng. Gió lào xào thổi rung những bụi trâm bù. Chú Gàn ngước mặt lên, mắt lim dim nói “Chừ tính răng. Đem con chó về mần thịt hay cho thằng Rìu”. Thỉ không nói gì, đứng lên, cõng Vàng như kiểu cõng em, hai tay để lên vai nắm hai chân trước của con Vàng đi về hướng mộ chị Hảo. Đầu Vàng vắt trên vai như làm nũng với Thỉ. Tôi và chú Gàn đi theo, phụ một tay moi cát gần bụi trâm bù, bên mộ chị Hảo. Chôn xong Thỉ vơ lá ủ ngụy trang lại, sợ ai đó biết sẽ đào lên ăn thịt. Cái áo bộ đội sờn vai, máu thấm tới ngực. Tôi ôm chầm Thỉ, vai hai đứa rung rung. Tôi nói trong tiếng nấc: “Xin lỗi mi, tau tưởng con chồn”. Thỉ nói chậm rãi: “Chú có lỗi chi mô, số cháu nó rứa, ai thân cũng chết. Thôi về. Nhà còn hai chai rượu cam ông già gửi vô cúng mạ tui, về nhà tui uống rượu. Buồn quá!”

Chúng tôi dọn bàn giữa sân, dưới tàng cây ổi. Nước lụt về chiều rút nhanh để lại những váng phù sa nhớp nháp. Tô thịt chồn hong màu vàng sậm, lắp xắp nước mỡ. Chú Gàn đem qua mấy củ khoai tía. Thỉ không ăn thịt chồn, chỉ ăn khoai. Con Bi và con Mực nằm dưới bàn gặm những mẩu xương, nhìn chúng tôi ăn, mắt nhẫn nhục, chờ đợi, van nài. Thỉ im lặng nốc rượu, mặt từ đỏ chuyển sang tái.

Buổi chiều lành lạnh trôi chậm chạp. Không ai nói chi. Môi Thỉ giật giật. Hắn khóc. Hắn đứng lên dùng tay làm loa hướng về phía rú kêu thảm thiết “Vàng ơi…Vàng ơi…Vàng ơi”. Tiếng kêu loang trong nước lụt vang xa, dội lại những tiếng "àng…àng…ơi…ơi”. Gió rùng rùng, ngọn tre quỵt xuống vờn lên. Mây bay thấp từng đụn màu tro sậm. Trời lại chuyển trận mưa lớn. Tôi và chú Gàn ngửa mặt lên trời, hai con chó cùng ngước nhìn mây, tru lên thống thiết.

Đêm đó tôi chiêm bao thấy mình chôn sống chó Vàng. Mắt vàng trợn trừng nhìn tôi, không hiểu vì sao tôi chôn sống nó.

_______________________

*Ruộng phần trăm: hợp tác xã nông nghiệp để dành năm phần trăm diện tích ruộng, chia cho từng hộ, gọi là hổ trợ thực phẩm chăn nuôi. Xã viên nhận ruộng này có nghĩa vụ bán gia súc lại cho nhà nước theo giá thu mua.

**Nước phở: Nước vào ruộng đã được phơi ải. Đất đang khô nóng, cho nước vào, đất nhủn rất dễ bừa.

=========================================================================

 _______________________