Monday, July 27, 2026
Tôn Thất Tuệ
Tôn Thất Tuệ
ĐỌC LẠI MẤY "MIỂNG VỤN" NẦY TÔI NHỚ SAU HĐ PARIS - CÁC PHÓ QUẬN, PHÓ TỈNH, MỘT SỐ QT, TT, TIỂU KHU PHÓ CẤP TỐC ĐƯỢC GỌI ĐI HỌC 1 KHÓA VŨNG TÀU 1 TUẦN.
Khi khóa học kết thúc mọi người nhận được một mẫu giấy để khóa sinh điền vào từng mục như: Nội dung giúp ích gì cho khóa sinh? Nhận xét về khóa học? Về giảng viên và TTHL Vũng Tàu?
Tôi (PQT) làm tà lọt cho 1 nhóm- Tôi đi gom các tờ phúc đáp của khóa sinh - Sau hơn 50 năm tôi vẫn không quên: Có một vị Trung Tá gốc nhảy dù là Tiểu Khu Phó Long An- Ông đưa cho tôi mẫu giấy trống trơn chỉ có mấy chữ to tổ bố "NGUYỄN BÉ ÔNG LÀ AI?" - Bên dưới ông ghi đầy đủ tên họ, cấp bâc, chức vụ của Ông!
Khi tôi sắp xếp các mẫu giấy, tôi mới phát hiện như đã ghi trên. Tôi vội quay lại thưa Trung Tá hình như TT đã đưa bản nháp cho tôi? Ông trả lời đó là bản gốc, anh cứ nộp, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Trong khi đó đa số đều phát biểu lấp lửng, vô thưởng, vô phạt. Tuy nhiên cũng có vài người điếu đóm ca tụng cá nhân Nguyễn Bé hết mình. Qua sự thật trên đây cho thấy trong hàng ngủ quân đội cũng có người can đảm bày tỏ sự xem thường Nguyễn Bé ngoài sức tưởng tượng của công chức dân chánh như tôi.
Thật sự Cán Bộ XDNT chỉ là lý thuyết suông của Nguyễn Bé mà thực tế Cán Bộ XDNT không hề hữu hiệu như Lý Thuyết gia VC Nguyễn Bé thổi phòng với tốn kém tiền viện trợ Mỹ không ít./-Mt68
___________________
Khi các anh đến học thì Nguyễn Bé không còn ở đó nữa, đã
được thay thế bởi đại tá Quách Huỳnh Hà. Ông Hà về ở một ngôi biệt thự cũ ở bãi
trước trong đó ông Bé cho che cái chái cho BS Quỳnh Sâm ở và sau cho tôi ở; ông
Hà bảo dẹp và tôi phải đưa vợ con về Saigon. Ông Hà vừa là bộ trưởng XDNT mà phải
về kiêm nhiệm có lẽ vì tầm quan trọng nào đó chăng. Sau khóa học nầy ông Hà
thành tổng ủy trưởng công vụ dọn trụ sở từ Tự Do về thành Omar. Giao XDNT nầy
cho đại tá Lâm là một giám đốc từ lâu trong Bộ XDNT.
Như vậy ông trung tá Đà Lạt không biết ông Bé đã ra đi.
Ông Hà mới đến chừng một tháng.
Lời tuyên bố của ông Nội nầy không ám chỉ lập trường
chính trị của ông Bé mà chỉ nói lai lịch tầm thường tên hồi chánh không đáng
làm thầy ra đề tài thảo luận.
Lớp học nầy rất buồn cười. Ai là giảng viên? đó là những
cán bộ xưa nay huấn luyện cán bộ, là một di sản tuyển dụng của thời Mỹ, không
đòi hỏi bằng cấp, một số người Mỹ gọi đùa và thật là famous singer danh ca,
đánh máy không dấu, nghề đánh cá. Số người có bằng đại học ông Bé tuyển dụng
làm ghost writer đã rời trung tâm trước khi ông Bé đi, tìm nơi ngon lành hơn
như KTS Dương Mạnh Hùng về làm với ông Hoàng Đức Nhã.
Trong những bài học có chuyện đơn giản hóa công văn, vài
người đến hỏi tôi bưu điệp là gì, công điện là gì; tôi không biết họ dạy các
anh cái gì.
Trước khi có lớp huấn luyện ông Bé tổ chức một số người đến
các tỉnh làm như chuẩn bị đấu tranh với CS về tư tưởng khi hiệp ước Paris thi
hành. Nhưng chuẩn bị học hành chưa xong thì có lệnh ông Hà đến thế.
Ông Bé là bố vợ của Hồ Sĩ Mừng, cô Lý; anh Mừng đã chết
khá lâu.
Không biết các anh có được cho xem trình diễn nhạc của
Ban Văn Công (tên chính thức) lúc ấy trưởng ban là Viết Chung tự cho là đã khai
trương một lối viết nhạc mới. Ban nầy mỗi tháng một lần trình diễn chung trong
chương trình XDNT trên truyền hình. Xướng ngôn viên là một cô hình thù không
khác gì lính cái, mà lối phát ngôn giống như đài Hà Nội. Nhạc mới của Viết
Chung sau 1975 được xếp chung là nhạc cách mạng (CS) theo Web "nhạc của
tui", cùng thời Trịnh Công Sơn đã viết âm trưởng và giọng đi lên, âm trắc như
mẹ đi lên đồi cao, mẹ vỗ tay hòa bình. Nội cái tên văn công cũng nhợn rồi. Nguyễn
Bé xem Ban Văn Công là hòn ngọc.
Hóa ra người quốc gia từ đầu khi mô cũng ba lơn, ngay cái câu hỏi Nguyễn Bé là ai cũng ba lớn vì Bé đã đi rồi như Thúy đã đi rồi./-
![]() |
| Trump họp báo, Miller đứng bên cạnh |
| Hải quân HK ngoài khôi Venezuela |
Vài chữ về Fulro
Một nữ sinh Ban Mê Thuột 1965
Vài chữ về Fulro
Front Unifié de Lutte des Races Opprimées
Tôn Thất Tuệ * 2023
Giữa năm 2023 internet chạy một tin nhỏ Fulro đòi tự
trị và quấy phá ở Cao Nguyên. Tuy không có gì ồn ào và thực hay hư đều không có
giá trị về chính trị, tin nầy nhắc chúng tôi một bài báo cũ.
2014, tình cờ chúng tôi gặp vài số báo Việt ngữ của nhóm
người Chàm lưu vong ở Pháp, trình bày sinh hoạt thiểu số và một số bài khảo cứu
của tiến sĩ Po Darma (không dùng tên cũ lối VN). Có một bài rất dài về nguyên
nhân suy tàn của đế quốc Chàm mà mọi thứ xoay quanh một lý do duy nhất là quê tổ
của Po Darma nằm ngay bên cạnh VN, một nước hiếu chiến và khao khát đất đai
(cũng giống như Miền Nam nằm bên cạnh Bắc Việt hiếu chiến, HCM hứa cho mỗi cán
bộ một ngôi nhà Miền Nam).
Xin tham khảo thêm Đồ
Bàn và Saigon
Posted by tôn thất tuệ at 1:22:00 PM
nước nhảy lên bờ
nước nhảy lên bờ
Nguyễn Đặng Mừng
Tháng bảy nước nhảy lên bờ ***Trận mưa gọi là tiểu mãn hồi
tháng ba ngập hết cả ruộng khoai sau rú. Khoai mới hai tháng moi về bốc mùi thối
như phân người, heo cũng chê. Bà con lại mất công gánh đi đổ, phải đổ cho xa
nơi ở để khỏi phải ngửi cái mùi kinh khủng đó. Từ đầu đến cuối làng nồng nặc
mùi khoai thối. Đi họp phân chi hội thằng Thỉ bô bô “đứa mô ăn khoai thúi ni
xin mời ra ngoài cươi (sân) mà ngồi, ngồi trong nhà lỡ… ra không ai chịu nổi ”.
Thỉ gọi tôi bằng chú trong phái. Thanh niên chúng tôi tối nào cũng họp ở nhà
Nhan, cô ấy làm phân chi hội trưởng, nhà Nhan chỉ có hai mẹ con nên được thoải
mái. Có việc cũng họp không có chi thì nói tầm phào cho vui. Tối lại không biết
làm chi, ngồi nhà suy nghĩ nhiều thêm đói bụng.
Vụ đông xuân lại mất mùa. Được bao nhiêu phải bán nghĩa vụ.
Mỗi xã viên chia được vài chục ký lúa. Bà con lên sân đội gánh về nhiều nhất là
…rơm. Gió Lào thổi ù ù qua cánh đồng khô khốc, rát đến ruột gan. Bà con từng đội
uể oải vác cuốc ra đồng cuốc đất thải. Mùa hè thu chỉ sản xuất trên một phần ba
cánh đồng vào những nơi thấp, hoặc có nước tưới.
Ruộng phần trăm * được hợp tác xã chia cho từng hộ để
tính vào việc chăn nuôi. Những khoảnh ruộng được cắm vè, mỗi hộ chừng vài trăm
mét vuông. Bà con đầu tư nhiều phân tro cho đám ruộng cá thể của mình, thường
năng suất gấp nhiều lần so với ruộng hợp tác. Mùa hè thu trước đây gọi là mùa
trái, như đánh bạc, năm được năm mất. Lúa mùa trái năm nay xanh tốt, nhất là ruộng
phần trăm. Qua rằm tháng bảy có đám bắt đầu chín, gọi là lúa đỏ đuôi. Người ta
dự đoán là năm nay mỗi xã viên cũng được mươi thùng lúa. Hy vọng nhen nhúm
trong lòng bà con.
Trời báo hiệu mưa bằng những ngọn gió bấc lành lạnh, ráng
mây đỏ rực phía đằng đông, từng đám mây đen kéo về nghịt trời. Sấm chớp phía biển
ầm ào dội vào. Những lão nông lo lắng, chú Gàn buồn rầu nhìn trời than: “Tháng
bảy nước nhảy lên bờ, coi chừng rồi đói ngất ngư cả làng”. Đến chiều dãy núi
phía Trường Sơn chìm trong mây, báo hiệu mưa nguồn. Đến nửa đêm, cơn mưa dội xuống
mái tôn lạt rạt, lào rào. Mưa kéo dài đến sáng. Những chân ruộng thấp nước ngập
đến nửa thân lúa. Nước lên tới đâu bà con lo gặt ruộng phần trăm tới đó.
Tôi mượn chiếc ghe chú Gàn cùng Nhan xuống gặt ruộng Mơn,
ruộng phần trăm của tôi và Nhan sát nhau. Nhan kêu tôi bằng chú chớ không bà
con chi. Quê tôi con gái nhỏ hơn con trai năm ba tuổi là gọi bằng chú, cho ra vẻ
…con gái nết na. Tôi chống sào sau, Nhan cầm chầm bơi trước. Buổi sáng nước chỉ
ngang bắp chân. Hai chú cháu gặt đến trưa nước lên ngang bụng, không còn thấy
lúa đâu mà gặt, lúa cũng gần đầy ghe. Mưa đổ rát mặt. Nhan trước tôi sau đẩy
ghe lúa về.
Gió mưa thổi ngược, hai đứa đẩy hết sức mà không nhích
lên nổi. Thỉ lội băng băng trong mưa kêu lớn: “Giữ đừng cho ghe lặn”. Tôi và
Nhan cứ bặm môi ghì chặt hai mạn ghe. Thỉ đến bên nói lớn: “Có cái thau đây nì,
để tui giữ ghe cho, o Nhan tát nước ra đi”. Nhan tát một chặp mỏi tay lại đổi
cho Thỉ, hắn tát thiệt nhanh, một chút đã hết nước. Ghe nổi lên, đẩy nhẹ hơn
nhiều. Nhan có vẻ mệt, mặt tái xanh. Thỉ nhìn Nhan cười cười : “Thôi o ngồi
luôn lên ghe cho khỏe, níu vô ghe thêm nặng”. Đoạn hắn nhanh tay xốc nách Nhan
bỏ lên ghe, đưa cái thau bảo “việc o chừ là tát nước”. Mưa ngớt, nước không còn
nhiều, Nhan ngồi tát từng vệt nước nhỏ như chơi đồ hàng. Mỗi lần Nhan hắt nước
là Thỉ đếm “năm, mười, mười lăm, hai mươi…” rồi cười khềnh khệch “Tướng o mà
cũng bày đặt đi cắt lúa nước lụt, ở nhà chơi đồ hàng với chú Bình cho rồi”. Thỉ
nhìn tôi cười châm chọc.Cặp ghe ở cống nước gần nhà, tôi và Thỉ vác lúa về chất
trước sân. Nhan không vác nổi, ngồi bệt nhìn Thỉ ngại ngùng. Thỉ đưa tay vuốt
vuốt đầu tóc ướt nhẻm, nhìn tôi rồi nhìn Nhan cười cười “Kiểu ni lấy chắc rồi mần
chi mà ăn”.
Mưa một đêm tầm tã. Khuya nghe tiếng heo kêu, mạ con tôi
thức dậy, nước đã vào nhà. Lội trong nước bạc lạnh ngắt, bụng đói chân run. Tôi
lôi heo lên bàn giữa, nơi an toàn nhất, nó kêu ré lên rồi nhảy ùm xuống nước.
Đèn lại tắt. Mò mẫm theo tiếng kêu, tôi chụp được chân nó, dùng hết sức lực kéo
được lên bàn. Không biết nó sợ nước hay mệt mà nằm im. Thiệt tình tôi muốn nó
chết để mai được ăn tô cháo lòng cho đã.Nước lên nhanh. Trời chưa sáng đã nghe
tiếng í ới của bà con bên xóm Phường xóm Rào chèo chống ghe lên rú chạy lụt.
Nhà tôi ở xóm chợ, nền cao nhất xóm mà nước đã vô nhà. Theo tính toán của mạ
tôi, giờ này bà con dưới xóm Phường, bên làng Thi Ông, Lam Thủy nước đã chắp
mái.
Trời sáng ra. Nước bạc dập dềnh, ì oạp. Nhà cửa tre pheo
như thấp xuống. Những chiếc bè chuối chở theo heo gà kêu inh ỏi lẫn trong tiếng
người gọi nhau ơi ới. Những khuôn mặt chịu thương chịu khó của các mạ các chị
dưới vành nón lá như tóp lại, quắt queo. Rắn nước lội loằng ngoằng trước sân,
vào cả trong nhà. Tôi đánh chết một con quăng ra ngài vườn. Rắn mai rắn hổ leo
lên tre vằn vện, mấy o mấy chị sợ xanh mặt. Quê tôi không ai ăn thịt rắn. Những
ngày đói kém, rắn nước đầy đồng, người ta đánh chết, sình lên hôi thối mà không
ai màng đến. Có lần tôi nói trong Nam rắn này gọi là rắn bông súng, ăn ngon lắm.
Chú Gàn rụt cổ kinh hãi “ăn uống kiểu chi như mọi, chết thì thôi, ai lại ăn uống
dữ rứa”.
Nhan vác con heo lứa chừng mười ký, theo sau là chị Nị
qua nhà tôi. Nhan mặc chiếc áo bộ đội rách một miếng trước ngực, lộ một phần bầu
vú bên trái. Áo ướt ngang ngực, mặt Nhan tái ngắt “mệ ơi nhà cháu lút ngang cửa
sổ rồi, cho cháu gửi con heo, gia tài nhà cháu chỉ còn chừng ni…hức… hức, cháu
chui vô bụi tre mới lôi nó ra được đây”. Nhan từng khoe với tôi vài tháng nữa
heo đủ bốn chục ký sẽ đem bán cửa hàng, được bán thưởng hai quần chéo đen. Tôi
đón con heo run lẩy bẩy để lên bàn giữa, nơi mà mỗi lần qua nhà Nhan chưa bao
giờ dám ngồi vào. Con gái đàn bà quê tôi không ai dám ngồi bàn giữa, trước bàn
thờ. Heo nhà tôi đã chết rồi. Con heo nhỏ rúc đầu vào bụng con heo lớn. Mạ tôi
đưa tay áo quyệt nước mắt. Tôi thương mạ quá, quên luôn tô cháo lòng.
Chú Gàn và tôi mổ heo chia thành mười sáu xâu, mỗi xâu trị
giá nửa thùng lúa, bán chịu cho bà con qua mùa năm sau mới lấy. Nhà nào còn lúa
đâu mà đong liền. Bà con giành nhau lấy thịt, nhà tôi để lại hai xâu, chia cho
Nhan nửa xâu. Chú Gàn lấy một xâu, cười hề hề “sang năm đến mùa lên côi rú mà lấy,
tau chọn huyệt rồi”. Tôi lạnh người, Chú Gàn thường nói trước những điều xảy
ra. Như mấy năm trước thấy thanh niên phá bờ thửa để công nghiệp hóa nông nghiệp,
chú Gàn bảo “mần ăn kiểu ni có ngày chết đói”. Chú bày cách tôi gài xe đạp nước,
hai chú cháu vào nước phở **, đạp cả buổi, nước chỉ dồn về một góc ruộng. Mùa
trái đó mấy đám ruộng vừa cải tạo thí điểm bỏ hoang.
Nhớ hồi mới giải phóng, những cán bộ đi tập kết về mở tiệc
mời bà con. Mấy chú ngoài Bắc về làng thuộc thế hệ đàn em của chú Gàn thời chống
Pháp, có người khi đi mới mười lăm tuổi, ra Bắc còn đi học tiếp. Nghe đâu có
anh Hạ tốt nghiệp tiến sĩ ở Liên Sô. Những chuyện kể về chiến tranh sinh động lắm.
Bà con chăm chú nghe, đột nhiên chú Gàn nói lớn: “Ăn đi cho tui ăn với một miếng,
nói chi nói mãi, không thì tui về đây”. Mấy chú kéo lại xin lỗi chú Gàn. Ăn
xong ngồi uống nước, lại chuyển qua đề tài kinh tế. Mấy chú kể ngoài Bắc nhiều
mỏ lắm, nào mỏ thiếc, mỏ chì, có cả mỏ u-ra-ni-um để sản xuất bom nguyên tử.
Chú Gàn bực mình nói trổng: “Còn một mỏ nữa”, bà con hỏi mỏ chi, chú tỉnh queo:
“Mỏ nói láo”.
Tôi trải tấm tôn lên bộ phản, lấy một ít tro phủ lên, bắc
kiềng làm bếp. Nhan đi rút rơm vào, nhen lửa nấu cháo lòng. Nhan đã lấy dây rơm
cột lại chỗ bị rách trước ngực, cười cười “chú cháu mình mà xấu hổ chi, chú hỷ”.
Lòng heo nhiều mà chỉ có nửa lon gạo nên cháo lỏng bỏng. Mạ tôi húp một chén,
thở ra, kêu nhức đầu không ăn nữa. Chị Nị cũng ăn một chén, còn bao nhiêu Nhan
và tôi ăn sạch, còn thòm thèm. Chén cuối cùng Nhan đổ vào nửa muỗng ớt bột, bảo
để cay cho ấm bụng. Mặt Nhan tươi lên sắc hồng, lấm tấm mồ hôi. Cháo lòng hiệu
quả thiệt. Quê tôi ai cũng ăn cay, chắc để đánh lừa vị giác vì thức ăn chẳng có
gì, có cơm là quý rồi, ăn với muối và ớt thiệt cay là ngon nhất! Nhan đổ thêm một
ít nước tráng nồi cháo đem đến cho con heo lứa, nó táp lặp phặp. Số thịt
còn lại mạ tôi muối để ăn dần, thường là để kho với nước ruốc cho có vị béo.
Số lúa gặt chung hôm kia nổi lều bều trước sân. Nhan nghĩ
ra cách rang lúa như làm cốm. Tôi đạp lúa bằng chân một đầu tấm phản, đầu kia
Nhan rang. Lúa chưa chín dai nhách, đạp ê cả chân cũng chỉ được vài lon. Nhan bảo
lấy đũa suốt nhanh hơn. Được một ít lại bỏ vào cối giã, sàng sảy xong được vài
chục lon gạo teo tóp, màu xanh như cốm. Cơm chiều hai nhà lại ăn chung. Gạo non
được đổ vài lon nấu cháo, Nhan cắt thêm bó rau muống đổ vào, bảo “để chắc bụng”,
nồi cháo nửa xanh nửa trắng như cháo heo. Bốn người hì hục húp. Chắc bụng nên
ngủ ngon. Chi Nị, Nhan và mạ tôi ngủ chung giường.
Tôi nằm một đầu tấm phản, cuộn mền nghe ếch nhái kêu,
chìm nhanh vào giấc ngủ. Chiêm bao thấy tôi và Nhan được ăn cỗ, xôi thịt ê hề.
Rồi lại thấy cùng Nhan ngồi ăn chè đậu huyết bên một đống lúa to đùng. Rồi lại
thấy Nhan mặc cái quần Mỹ Á láng tưng, cái áo hoa sặc sỡ. Mông và ngực Nhan đầy
đặn như mùa hè thu năm bảy lăm đi làm cỏ lúa, sợ đỉa đến ngất đi, nằm ngửa trên
bờ ruộng, mấy chị vén áo xức dầu. Khoảng bụng trắng nõn, hé một chút nịt ngực,
mấy đêm sau tôi còn mơ thấy… rồi mộng tinh. Đêm này cũng mộng tinh, điều mà mấy
năm này không có. Cháo gạo mới bổ thiệt!?
Nước lên chậm, chưa có dấu hiệu rút, mấp mem tới rú. Bao
nhiêu chuột đồng, chồn cáo tập trung về những bụi cây dại trên rú. Sáng sớm chú
Gàn cõng con chó Bi ngang nhà tôi, kêu “Bình ơi đi săn”, “đi săn mô”, “Sau rú”.
Tôi cõng con Mực theo. Ngang nhà thằng Thỉ rủ hắn dắt con Vàng cùng nhập hội đi
săn. Chúng tôi đi theo đường đập, hướng về phía rú.
Đập là hai con đê song song của hai làng, giữa là lạch nước
chảy trên lòng cát trắng, gọi là khe. Mùa mưa nước từ những bãi cát rộng lớn,
giáp ra tới các làng biển, tập trung chảy về khe rồi đổ ra sông Vĩnh Định. Nước
khe chảy ngược về hướng Trường Sơn. Nghe nói thời vua chúa, những làng có nước
chảy ngược như thế thường hay làm phản, nên chính quyền Nam triều buộc trước
đình làng phải đúc hai con nghê xây đầu về hướng núi. Những làng quê hiền như đất
như khoai, có ai làm phản gì đâu.
*
Hồi lên năm, trào Ngô Đình Diệm, những đêm mưa lớn tôi đã
nghe tiếng ầm ào của nước khe chảy. Tiếng chú Gàn lẫn trong tiếng phèn la “nứt
đập...nứt đập”. Trai tráng đốt đuốc, vác cuốc chạy rầm rập trong đêm mưa gió,
cùng nhau ra hộ đê. Có lần làng tôi cho người lội qua khe phá đập của làng bên
để giảm áp lực nước cho làng mình. Mỗi lần nứt đập là cát lấp hàng chục mẫu ruộng.
Có lúc hai làng kịch chiến với nhau bằng cuốc rựa. Nghe nói thời trai trẻ chú
Gàn một mình tả xung hữu đột rất kiên cường, mỗi lần vắng chú là làng tôi chịu
thua. Thời đó chỉ có một thôn trưởng với chú Gàn làm xâu mà điều động dân làng
nhanh chóng, hiệu quả vào những lúc gặp thiên tai lũ lụt. Nay nhiều hội nhiều
đoàn mà ruộng hợp tác ngập lụt không ai thèm gặt.
Mỗi mùa lụt về, rất nhiều cá lội ngược khe, tìm về trằm,
(vũng nước giửa cát cây tràm nhỏ) để sinh sản, gọi là mùa cá rải. Cá rải rất dễ
bắt. Con nào bụng cũng đầy trứng lội chậm chạp. Dân làng dàn hàng ngang đứng dưới
khe ngước cá. Mỗi người cầm một cái chơm hoặc rập. Có những bầy cá hàng trăm
con chạy ngược dòng, nước trong đến độ thấy rõ từng chú cá gáy trắng bạc chạy lặc
lè bụng trứng. Bà con chơm cá dễ dàng, cả phụ nữ cũng bắt được những con gáy
hàng chục ký. Cá được làm mắm thính ăn tới tết, trứng cá gáy nấu cháo rất ngon.
Đến mùa đông, cá con xuôi dòng khe về sông, từng vạt đen lội như trôi giữa lòng
khe cát trắng, nước cạn. Trẻ con dùng rập xúc những bầy cá cấn, cá mại, cá gáy
con, cá giếc về kho tiêu ăn ngon tuyệt. Suốt cả mùa đông đến hết tháng giêng
chúng tôi ở ngoài khe nhiều hơn ở nhà. Hơn mười năm được thanh bình sung túc,
đó cũng là mười năm đẹp nhất của làng quê tôi.
Rồi chiến tranh ập đến, bà con ly tán. Đến năm bảy bảy, một
con đê chắn nguồn nước được hoàn thành, gọi là đại trường đê. Nước theo những
mương rảnh mới khơi chảy ra biển. Khe nước không còn chảy mạnh như xưa. Những
chuyện trên chỉ còn trong chuyện kể.
Một nửa xã viên đội chúng tôi là dân thành thị, họ đi
lính chế độ cũ hoặc là viên chức, thầy giáo, y tá… Những năm chiến tranh lan rộng,
họ đem vợ con vào sinh sống ở các tỉnh lỵ miền Trung. Gia đình Nhan cũng dân
thành thị từ năm 1960, ba Nhan đi quân dịch đem vợ con theo ở đâu trong Huế.
Mùa hè năm bảy lăm kéo nhau về làng, ai cũng còn chút của nả, ít nhất cũng vài
cây vàng, có nhà còn cả mấy chục cây. Thời mới về làng vui lắm, đi làm ruộng
thanh niên còn hút thuốc Ruby, khói bay là là trên đọt lúa, thơm phức. Những
năm thiếu thốn, nhà nào cũng phải bán dần của cải để mua thêm khoai sắn, một chỉ
vàng có khi mua chưa được vài thúng sắn khô. Đến năm bảy chín thì nhà nào cũng
vô sản như nhau.
*
Bầy chó được thả lên đập chạy loăng quăng, con Bi và con
Mực sủa đổng vào những bụi cây hai bên đập. Riêng con Vàng của Thỉ không sủa.
Nó không bao giờ sủa bậy, khi nào có mồi mới sủa, gọi là đánh.
Thằng Thỉ đi trước, hai vai nó xuội xuống như ông già. Thỉ
cao một mét bảy lăm, hồi mới giải phóng, mười chín tuổi, cân nặng hơn bảy mươi
ký. Có lần mấy đứa thách hắn ăn chè, một mình ăn đúng một sải tay mười lăm chén
chè đậu huyết. Hắn từng tuyên bố đủ sức ngủ với con gái cả làng. Tính Thỉ bộc
trực tốt bụng. Mùa gặt nào hắn cũng giành xóc lúa, công việc chỉ có những người
mạnh khỏe mới làm nổi. Hắn nói nhỏ với tôi, một lần đưa gánh lúa lên vai con
Nhan thế nào hắn cũng rờ ngực một cái, không biết có không. Tôi nghĩ là hắn nói
dóc.
Mới mấy tháng mà trông Thỉ già đi, mặt cứ buồn buồn. Đời
Thỉ là một bi kịch. Chị Hảo mười tám tuổi lấy chồng, có mang Thỉ được một
tháng thì anh Hà cha Thỉ tập kết ra Bắc. Chị Hảo đẹp lắm. Hồi nhỏ chị hay bồng
Thỉ qua nhà tôi chơi. Chị mê bói Kiều, mỗi lần chú Gàn bói xong là chị khóc.
Chú Gàn lại thích thêm mắm thêm muối, bảo “số chị đa đoan, ít nhất cũng vài ba
đời chồng”. Mà chị đa đoan thiệt. Thằng Thỉ năm tuổi chị lại có mang, nghe nói
với một tay cảnh sát trên quận. Thằng Thỉ em hai tuổi chị lại có mang, lần này
nghe nói với một ông thầy pháp.
Những đêm mùa đông rét căm, hai anh em Thỉ đắp chiếu chuyền
hơi ấm cho nhau. Nhiều đêm Thỉ nằm nghe tiếng thì thào của mẹ lẫn trong tiếng
gió rít, với một giọng đàn ông nào đó. Tiếng rên ư ứ nhanh chậm đánh nhịp cùng
tiếng ọt ẹt đều đặn của giường tre, hòa trong tiếng eo éo của những thân tre cạ
nhau ngoài vườn. Âm thanh đó ám ảnh, nhéo vào nỗi đau của Thỉ, báo hiệu những
điều sắp tới.
Buổi sáng ôm vở ra đường là bị đám trẻ chọc ghẹo bằng bài
hát vè:
Mạ ba con lòng còn theo dượng
Dượng chưa qua bắt gà chi mạ
Dượng qua rồi mạ đuổi con
đi
Cái mô ngon để dành cho dượng
Cái mô dở để mạ con ăn.
Mạ ba con lòng còn theo dượng….
Đám trẻ vừa nhảy chồm chồm vừa xỉa xói vào mặt Thỉ. Hắn
tránh bên nào cũng bị chận lại. Có đứa còn hỏi “hồi hôm mi chộ mạ với dượng mi
mần chi”.
Thỉ cúi đầu, đưa tay áo quệt nước mắt, dật dờ đến lớp. Học
đến lớp nhất, gần hết tiểu học, thì nghỉ, ở nhà giữ em.
Những ngày chị Hảo sinh, Thỉ phải lên bệnh xá trên Đồi Ma
chăm sóc. Ban ngày nách mủng đi xin gạo bà con, nấu cơm rồi bới lên cho mẹ. Ban
đêm ở lại quạt than, phụ chị Hảo xông phây. Có những đêm chị Hảo ngủ, một mình
Thỉ thức quạt muỗi cho em, nghe chim chèo hót kêu, sợ run, lay chân chị Hảo mà
khóc: “Mạ ơi mạ, lần ni nữa thôi nghe mạ, đừng nữa, con cực lắm rồi”. Cứ thế, đến
năm bảy hai nhà Thỉ có bốn anh em, hai trai hai gái.
Năm bảy lăm anh Hà về, chị Hảo ba mươi tám tuổi vẫn còn
hương sắc, chị lại đẻ thêm một đứa. Được vài tháng, anh Hà trở về Bắc với gia
đình ngoài đó. Chị Hảo phát điên, đi lang thang từ đầu xóm đến cuối xóm, hò những
câu da diết: “Gió đưa bụi chuối te tàu, chồng Nam vợ Bắc làm giàu ai ăn”. Thằng
út bệnh mất, vài tháng sau chị cũng qua đời.
Ngày đưa đám bà con đông đủ. Anh Hà không vào. Thỉ đội mũ
rơm, chống gậy đi thụt lùi đưa mẹ về rú. Nó khóc rống lên lúc hạ huyệt, giọng ồm
ồm: “ Mạ ơi… ai mạ cũng thương mà có ai thương mạ mô, mạ ơi… là mạ…”
*
Chúng tôi lên đến rú, chú Gàn kêu: “Thỉ ơi, bữa ni cái
khoản cá tràu ra răng rồi”, Thỉ la lên: “ Xuội rồi ông ơi, con Nhan có cho ngủ
e cũng không mần chi nổi ”. Tôi chọc Thỉ: “Mi nhớ chuyện kim chích vô thịt
không”. “Kim chích vô thịt thì đau, thịt chích vô thịt nhớ nhau suốt đời”. Vừa
nói Thỉ vừa cười toét miệng, ngước mặt lên trời, cái đầu lắc qua lắc lại “bựa
ni chộ con Nhan xanh lét, hôm tê tui bồng lên ghe nhẹ như con nít, hay là ở gần
nhà, chú hay thoèo kèo thoẹt quẹt”, “nói bậy, tau là chú hắn mà”. Hắn nằm ngửa
xuống cát, đập đập hai tay lên đùi, hai chân chọi chọi: “chú mà lấy kim chích
mông cháu”. Tôi nổi cáu trợn mắt: “Mi nói bậy tau đập chết”. Thỉ nhìn chú Gàn
như phân bua, nói tảng lờ: “Hồi nớ đứng gần con Nhan là không chịu nổi, bựa ni
thì mần chi được, đói quá không ngóc đầu lên nổi. Chú nhớ chuyện đi coi phim
ngoài chùa không, hì hì…”
Nhân ngày lễ quốc khánh năm đầu tiên thống nhất, bà con
được thông báo sẽ có đoàn chiếu phim của huyện về phục vụ. Những buổi chiếu
phim thường được tổ chức trước sân chùa. Ăn cơm tối xong là thanh niên trong
làng rủ nhau ra sân chùa sớm để chọc nhau, chờ đoàn chiếu phim lưu động. Con
nít và ông bà già ngồi trước, thanh niên đứng sau. Hôm đó thằng Thỉ tách riêng
nói nhỏ to chi đó với thằng Tám bên đội ba. Nhóm phân chi hội tôi đứng gần
nhau. Nhan đứng gần tôi. Thằng Thỉ cao mà cứ đứng choán trước mặt Nhan, hai tay
chắp sau mông. Đến đoạn phim hấp dẫn Nhan nhón chân để thấy được màn hình, tay
níu lên vai thằng Thỉ. Bỗng nghe Nhan la lên rồi bỏ chạy về. Không ai biết chuyện
chi. Hôm sau Thỉ kể với tôi “con Nhan bị kim chích mông đau quá lắc tới mạnh,
nguyên bộ lọt vô tay tui hết, tui bụm gọn, hì hì…”. Không ai biết thằng Tám
chơi trò đó, còn đồn rằng tôi là thủ phạm. Nhan giận tôi cả mấy tuần, sau lần
tôi nghiêm mặt thề “chú mà làm chuyện nớ là chú chết liền”, mới thôi.
Tiếng con chó Vàng đánh thôi thúc. Chú Gàn bật lên, cầm gậy
chạy trước, tôi và Thỉ chạy sau. Lùm cây trâm bù chỉ cao quá đầu người, bầy chó
đang quần trong đó. Chú Gàn ra lệnh: “Mỗi đứa đứng một góc, chồn chạy ra thì đập”.
Chồn không chạy ra phía chú Gàn, cả ba con chồn đèn bằng con mèo lớn cứ chạy ra
phía tôi đứng rình. Tôi đánh con nào cũng hụt. Ba con chồn lủi vào một bụi
khác. Chú Gàn la lên kêu tôi lại chỉ dẫn: “Ngừa chồn phải ngồi ri nì, đập chồn
phải quơ gậy sát đất. Đập côi đập xuống kiểu thằng Bình trăm con trật cả trăm”.
Chú vừa nói vừa chỉ dẫn từng động tác.
Bầy chó bắt hơi đuổi theo. Lại quần với chồn trong một bụi
trâm bù khác. Tôi ngồi đúng thế chú Gàn chỉ, theo phản xạ tôi quơ gậy đánh thật
mạnh ngay đầu con Vàng vừa ló ra, nó kêu ăng ẳng rồi quay mòng mòng. Tội nghiệp,
chỉ một chút là nó đứng dậy lao vào bụi chiến đấu với đồng đội. Chú Gàn la lên
“một tên nì”, một chút lại la lên “hai tên nì”, rồi “ba tên nì”. Chú kêu lên
“Bình ơi, khi hồi mi chộ mấy con”, “ba con”. “Rứa là hết rồi, mau qua đây”.
Ba con chồn đèn béo múp nằm phơi trên cát. Con Bi và con
Mực ư… ư… khoe chiến công. Con Vàng nằm gối đầu lên chân Thỉ, mắt trợn trừng,
máu ứa ra ở miệng. Nó vừa chết rồi. Tôi vuốt vuốt nhẹ chỗ bụng nó, màu vàng non
xép lẹp. Chắc buổi sáng nó chưa ăn gì. Thỉ nhìn Vàng buồn rầu, mắt rơm rớm. Chú
Gàn bình tĩnh: “Chiến đấu thì có mất mát. Hôm nay mình thắng, một đổi ba. Nhưng
đau nhất là phe ta đánh nhầm phe mình. Rồi chú kể hồi kháng chiến chống Pháp,
chú đã từng nhận lệnh chôn sống đồng đội mình vì bị cấp trên nghi ngờ làm Việt
gian. Chuyện này tôi có nghe kể hồi còn nhỏ. Người ta nói sở dĩ chú Gàn không
đi tập kết vì ân hận. Tôi lại không nghĩ thế, những ngày sống gần mới hiểu thêm
về chú, không như lời đồn đại.
Hồi mới lớn tôi nghe kể rằng chú Gàn làm tổ trưởng du
kích trong làng. Đã từng chỉ huy ba du kích chống lại một đại đội Lê Dương. Chú
dàn mặt trận gần cả cây số dọc con đập. Hằng trăm lính Tây đang dàn hàng ngang
trên cánh đồng để tiến vô làng. Ba người cứ chạy dưới khe, vài trăm thước là
lên đập bắn tỉa về phía địch. Đối phương bị thương tích nhiều, lại tưởng có bộ
đội chính quy nên đến chiều thì rút quân.
Một trong ba du kích đó có chú Toa. Nghe nói chú Toa đã từng
làm thông ngôn cho Tây. Năm 1945 bỏ Tây về làng cùng tham gia cướp chính quyền.
Những năm bốn chín năm mươi thỉnh thoảng có những vụ thanh toán nội bộ, gọi là
“xử lý”. Chú Toa quen miệng nói tiếng Tây. Một lần có phái đoàn cấp tỉnh về
thăm làng, trong buổi hội thảo chú Toa pha tiếng Tây vào. Sau đó bị chôn sống.
Bà con nghi là chú Gàn tố cáo và chôn sống chú Toa.
Đến trào Ngô Đình Diệm, Chú Gàn từ chối mọi đề nghị cộng
tác với chính quyền, chỉ nhận chức làm thằng mõ kiêm giữ rú. Hồi nhỏ tôi cùng bọn
trẻ hay đi mót củi sau rú, mỗi lần thấy chú là bỏ chạy tán loạn. Đứa nào bị bắt
là chú đánh ba roi. Chú thuộc từng bụi cây, ngôi mộ. Rú nhờ vậy vẫn giữ được
cây cối, mồ mả khỏi bị cát lấp.
Ba người cúi đầu im lặng. Gió lào xào thổi rung những bụi
trâm bù. Chú Gàn ngước mặt lên, mắt lim dim nói “Chừ tính răng. Đem con chó về
mần thịt hay cho thằng Rìu”. Thỉ không nói gì, đứng lên, cõng Vàng như kiểu
cõng em, hai tay để lên vai nắm hai chân trước của con Vàng đi về hướng mộ chị
Hảo. Đầu Vàng vắt trên vai như làm nũng với Thỉ. Tôi và chú Gàn đi theo, phụ một
tay moi cát gần bụi trâm bù, bên mộ chị Hảo. Chôn xong Thỉ vơ lá ủ ngụy trang lại,
sợ ai đó biết sẽ đào lên ăn thịt. Cái áo bộ đội sờn vai, máu thấm tới ngực. Tôi
ôm chầm Thỉ, vai hai đứa rung rung. Tôi nói trong tiếng nấc: “Xin lỗi mi, tau
tưởng con chồn”. Thỉ nói chậm rãi: “Chú có lỗi chi mô, số cháu nó rứa, ai thân
cũng chết. Thôi về. Nhà còn hai chai rượu cam ông già gửi vô cúng mạ tui, về
nhà tui uống rượu. Buồn quá!”
Chúng tôi dọn bàn giữa sân, dưới tàng cây ổi. Nước lụt về
chiều rút nhanh để lại những váng phù sa nhớp nháp. Tô thịt chồn hong màu vàng
sậm, lắp xắp nước mỡ. Chú Gàn đem qua mấy củ khoai tía. Thỉ không ăn thịt chồn,
chỉ ăn khoai. Con Bi và con Mực nằm dưới bàn gặm những mẩu xương, nhìn chúng
tôi ăn, mắt nhẫn nhục, chờ đợi, van nài. Thỉ im lặng nốc rượu, mặt từ đỏ chuyển
sang tái.
Buổi chiều lành lạnh trôi chậm chạp. Không ai nói chi.
Môi Thỉ giật giật. Hắn khóc. Hắn đứng lên dùng tay làm loa hướng về phía rú kêu
thảm thiết “Vàng ơi…Vàng ơi…Vàng ơi”. Tiếng kêu loang trong nước lụt vang xa, dội
lại những tiếng "àng…àng…ơi…ơi”. Gió rùng rùng, ngọn tre quỵt xuống vờn
lên. Mây bay thấp từng đụn màu tro sậm. Trời lại chuyển trận mưa lớn. Tôi và
chú Gàn ngửa mặt lên trời, hai con chó cùng ngước nhìn mây, tru lên thống thiết.
Đêm đó tôi chiêm bao thấy mình chôn sống chó Vàng. Mắt
vàng trợn trừng nhìn tôi, không hiểu vì sao tôi chôn sống nó.
_______________________
*Ruộng phần trăm: hợp tác xã nông nghiệp để dành năm phần
trăm diện tích ruộng, chia cho từng hộ, gọi là hổ trợ thực phẩm chăn nuôi. Xã
viên nhận ruộng này có nghĩa vụ bán gia súc lại cho nhà nước theo giá thu mua.
**Nước phở: Nước vào ruộng đã được phơi ải. Đất đang khô
nóng, cho nước vào, đất nhủn rất dễ bừa.
=========================================================================