Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label Quan9DoThanhSG. Show all posts
Showing posts with label Quan9DoThanhSG. Show all posts

Thursday, 7 January 2021

TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH ĐÔ THÀNH SÀI GÒN TRƯỚC 1975./-TCL

 

Tổ chức các đơn vị hành chính Sài Gòn thời VNCH 1955 đến trước 30-4-1975

Thời Việt Nam Cộng hòa (Giai đoạn 26/10/1955 - 29/04/1975)

Dưới đây tóm lược quá trình hình thành, tồn tại của những đơn vị hành chính trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, có địa giới là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:
Đô thành Sài Gòn

Tổ chức chính quyền
Theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn đổi thành Đô thành Sài Gòn. đứng đầu là Đô trưởng do Tổng thống bổ nhiệm (thời kỳ đầu là viên chức dân sự, giai đoạn từ năm 1963 trở đi do tình hình chiến cuộc, chức vụ này thường do một sĩ quan cấp Đại tá trở lên đảm nhiệm), có một Tổng thơ ký và hai Phó Đô trưởng phụ tá (một phụ trách nội an, một phụ trách hành chính). Đô thành chia thành quận, dưới quận là phường, dưới phường là khóm; đứng đầu lần lượt là Quận trưởng, Phường trưởng và Khóm trưởng. Quận, phường và khóm chỉ là những cấp hành chính mang tính chất đại diện cho chính quyền Đô thành trên địa bàn quản lý. Khóm thường gồm từ 10-30 liên gia (có khoảng 20-40 gia đình/ liên gia), đứng đầu là Liên gia trưởng do dân bầu chọn.
Sắc lệnh số 74-TTP ngày 23/03/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa quy định quy chế quản trị Đô thành Sài Gòn, theo đó các chức vụ Đô trưởng và Quận trưởng do Tổng thống bổ nhiệm.
Đô thành Sài Gòn có Hội đồng Đô thành (đứng đầu là vị Chủ tịch), gồm 35 nghị viên do dân bầu. Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về ngân sách, các vấn đề dân sinh trên địa bàn và giám sát việc quản lý của Đô trưởng.
Phân chia đơn vị hành chính
Nghị định số 110-NV ngày 27/03/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa phân chia bảy quận đang có thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám. Trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba (tức ba quận: 1, 2, 3 cũ) giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính):
Quận Nhứt, địa giới quận 1 cũ;
Quận Nhì, địa giới quận 2 cũ;
Quận Ba, địa giới quận 3 cũ;
Quận Tư, địa giới thuộc quận 6 cũ;
Quận Năm, địa giới quận 7 và phần địa giới thuộc quận 4 cũ, phía bắc Kênh Tàu Hủ;
Quận Sáu, một phần địa giới của quận 5 cũ;
Quận Bảy, một phần địa giới của quận 5 cũ;
Quận Tám, phần địa giới thuộc quận 4 cũ, phía nam Kênh Tàu Hủ.
Nghị định số 504-BNV/NC/8 ngày 22/04/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa lâp cấp hành chính phường dưới cấp quận; tám quận của Đô thành Sài Gòn chia thành 41 phường trực thuộc[51].
Năm 1965 Đô thành Sài Gòn có tám quận, bao gồm 54 phường, 707 khóm với tổng cộng 1.485.295 dân.
Sắc lệnh số 100-SL/NV ngày 15/06/1966 của Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Việt Nam Cộng hòa cắt xã An Khánh Xã của quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định; nhập vào quận Nhứt. Diện tích Đô thành tăng lên 67,53 km2 vả không thay đổi đến tháng 4/1975.
Ngày 05/12/1966 xã An Khánh Xã được chia thành hai phường mới: An Khánh và Thủ Thiêm trực thuộc quận Nhứt.
Sắc lệnh số 9-SL/ĐUHC ngày 17/01/1967 của Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Việt Nam Cộng hòa lập quận Chín mới, trên cơ sở hai phường: An Khánh và Thủ Thiêm tách khỏi quận Nhứt.
Sắc lệnh số 073-SL/NV ngày 01/07/1969 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa thành lập quận Mười và quận Mười Một. Quận Mười hình thành từ hai phường: Chí Hòa, Phan Thanh Giản của quận Ba và hai phường: Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương của quận Năm; quận Mười Một hình thành từ phường Phú Thọ của quận Năm và ba phường: Bình Thới, Cầu Tre, Phú Thọ Hòa của quận Sáu. Từ thời gian này Đô thành có tổng cộng mười một quận.
Về số phường, năm 1959 Đô thành Sài Gòn có 41 phường:
Quận Nhứt có 04 phường: Bến Nghé, Hoà Bình, Tự Đức, Trần Quang Khải;
Quận Nhì có 04 phường: Chợ Bến Thành, Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho, Nhà Thờ Huyện Sĩ;
Quận Ba có 05 phường: Chí Hoà, Bàn Cờ, Đài Chiến Sĩ, Trương Minh Giảng, Yên Đổ;
Quận Tư có 04 phường: Bến Xà Lan, Lý Nhơn, Xóm Chiếu, Vĩnh Hội;
Quận Năm có 06 phường: An Đông, Chợ Quán, Trung Ương, Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương, Phú Thọ;
Quận Sáu có 07 phường: Bình Tây, Bình Tiên, Chợ, Phú Lâm, Bình Thới, Cầu Tre, Phú Thọ Hoà;
Quận Bảy có 06 phường: Bến Đá, Bình Đông, Cây Sung, Hàng Thái, Phú Định, Rạch Cát;
Quận Tám có 05 phường: Bình An, Chánh Hưng, Hưng Phú, Rạch Ông, Xóm Củi.
Qua thời gian do mở rộng địa giới và một số phường được chia nhỏ (có trường hợp đổi tên), số phường tăng dần:
Năm 1962 có 54 phường, do:
Quận Nhì lập thêm ba phường: Bùi Viện, Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cư Trinh. Như thế lúc này quận có 07 phường:
Quận Ba giải thể phường Đài Chiến Sị; lập mới sáu phường: Cộng Hoà, Cư Xá Đô Thành, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản. Như thế lúc này quận có 10 phường;
Quận Tư giải thể phường Bến Xà Lan; lập mới hai phường: Cây Bàng và Khánh Hội. Như thế quận có 05 phường;
Quận Năm giải thể phường Trung Ương; lập mới năm phường: Đồng Khánh, Hồng Bàng, Khổng Tử, Nguyễn Huỳnh Đức và Trang Tử. Như thế lúc này quận có 10 phường;
Năm 1966 Đô thành có 56 phường, do lập thêm hai phường: An Khánh và Thủ Thiêm tại quận Nhứt, như thế quận này có 06 phường;
Đầu năm 1967, tách hai phường: An Khánh và Thủ Thiêm lập quận Chín, quận Nhứt còn 04 phường;
Năm 1969 tách đất của ba quận: Ba, Năm và Sáu, để lập mới quận Mười với 04 phường (Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Chí Hòa) và quận Mười Một với 04 phường (Phú Thọ, Bình Thới, Cầu Tre, Phú Thọ Hòa). Như thế quận Ba còn 08 phường, quận Năm còn 07 phường và quận Sáu còn 04 phường. Tổng số phường của Đô thành vẫn là 56;
Năm 1972 lập thêm bốn phường: Bình Phú tại quận Sáu (quận này có 05 phường); Nhật Tảo tại quận Mười (quận này có 05 phường); Bình Thạnh và Phú Thạnh tại quận Mười Một (quận này có 06 phường); đồng thời đổi tên phường Chợ Bến Thành của quận Nhì thành Bến Thành. Số phương Đô thành tăng lên 60;
Năm 1974 lập thêm hai phường: Trần Quang Diệu tại quận Ba (quận này có 09 phường) và Nguyễn Trãi tại quận Năm (quận này có 08 phường); số phường Đô thành là 62.
Về số khóm, năm 1965 Đô thành có 707 khóm, năm 1972 tăng lên 861 khóm.
Năm 1972 toàn Đô thành có 14.288 liên gia.
Dân số Đô thành Sài Gòn năm 1968 là 1.750.606 người, năm 1970 là 1.759.816 người, năm 1974 là 1.825.297 người.

Tỉnh Gia Định

Tổ chức chính quyền
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa cấp tỉnh chia thành quận, quận chia thành tổng, dưới tổng là xã (trước 1956 gọi là làng). Đứng đầu lần lượt là: Tỉnh trưởng (do Tổng thống bổ nhiệm), Quận trưởng, Chánh tổng và Xã trưởng. Xã chia thành nhiều ấp, đứng đầu mỗi ấp là Ấp trưởng.
Tỉnh Gia Định có Hội đồng tỉnh Gia Định (đứng đầu là vị Chủ tịch), gồm 30 nghị viên do dân bầu. Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về ngân sách, các vấn đề dân sinh trên địa bàn và giám sát việc quản lý của Tỉnh trưởng. Quận và tổng không có Hội đồng tương ứng, do chỉ là cấp hành chính đại diên cho tỉnh. Riêng cấp xã do làng, xã Việt Nam theo truyền thống lịch sử có tính tự quản cao, nên có Hội đồng xã do dân bầu, có thẩm quyền trên các vấn đề đới sống của địa phương.
Phân chia đơn vị hành chính
Ngày 29/11/1955 chính quyền cắt tổng Bình Thạnh Hạ của quận Gò Vấp, nhập vào quận Hóc Môn. Tổng này được nhập thêm một phần tổng Long Tuy Thượng cùng quận Hóc Môn và đổi tên thành tổng Long Bình.
Năm 1956 sáp nhập hai xã: Tân Đông Thượng và Đông Hưng Thuận cùng thuộc tổng Bình Thạnh Trung, quận Hóc Môn, thành xã Đông Hưng Tân.
Đầu năm 1957 giải thể tổng An Thổ của quận Thủ Đức, các xã thuộc tổng này sáp nhập vào tổng An Thủy và tổng An Điền cùng quận.
Ngày 08/04/1957 ba tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng và Long Hưng Trung (tổng này được nhập thêm ba xã: Hưng Long, Qui Đức và Tân Quý Tây của tổng Phước Điền Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn) thuộc quận Gò Đen (Trung Quận) của tỉnh Chợ Lớn giải thể (theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa) được sáp nhập vào tỉnh Gia Định, lập nên quận Bình Chánh mới[9]. Riêng tổng Long Hưng Hạ cùng quận Gò Đen (Trung Quận) cũ, nhập vào quận Bến Lức mới lập của tỉnh Long An;
Ngày 24/04/1957 chính quyền cắt bốn xã: Long Đức, Nhơn Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ của tổng Dương Hòa Hạ, quận Nhà Bè chuyển sang thuộc quận Cần Giuộc, tỉnh Long An. Riêng hai xã: Long Kiểng và Phước Lộc Thôn của tổng này nhập vào tổng Bình Trị Hạ, quận Nhà Bè.
Nghị định số 138-BNV/HC/NĐ ngày 29/04/1957 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa cắt tổng Dương Hòa Thượng (gồm bảy xã) của quận Gò Vấp, lập nên quận Tân Bình mới. Đây là quận thứ sáu của tỉnh Gia Định.
Ngày 02/05/1957 chính quyền cắt hai tổng: An Thủy và Long Vĩnh Hạ của quận Thủ Đức, sáp nhập vào quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa.
Ngày 30/08/1957 tách ba tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung và Long Tuy Hạ của quận Hóc Môn, lập nên quận Củ Chi thuộc tỉnh Bình Dương.
Ngày 29/02/1960 nhập xả Tân Hòa thuộc tổng Dương Hòa Thượng, quận Tân Bình, vào xã Vĩnh Lộc cùng tổng.
Ngày 03/06/1960 nhập xả Quới Xuân thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, vào xã Thạnh Lộc Thôn cùng tổng.
Ngày 31/08/1961 hai xã: Long Đức và Nhơn Đức, tổng Dương Hòa Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An trả lại cho quận Nhà Bè (nhập vào tổng Bình Trị Hạ).
Ngày 10/10/1962 tổng Long Vĩnh Hạ, quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa trả lại cho quận Thủ Đức.
Sau nhiều lần thay đổi, điều chỉnh địa giới hành chính, đến cuối năm 1962 tỉnh Gia Định có mười một tổng:
Quận Thủ Đức có ba tổng: An Bình,An Điền và Long Vĩnh Hạ.
Quận Nhà Bè có một tổng là Bình Trị Hạ.
Quận Gò Vấp có một tổng là Bình Trị Thượng.
Quận Tân Bình có một tổng là Dương Hòa Thượng.
Quận Hóc Môn có hai tổng: Bình Thạnh Trung và Long Bình.
Quận Bình Chánh có ba tổng: Tân Phong Hạ, Long Hưng Thượng và Long Hưng Trung.
Từ năm 1962 chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 bỏ hẳn cấp hành chính tổng.
Ngày 17/11/1965 hai quận: Quảng Xuyên và Cần Giờ được cắt từ tỉnh Biên Hoà nhập vào tỉnh Gia Định.
Ngày 11/12/1965 lâp xã Tân Phú thuộc quận Tân Bình, từ phần đất cắt ra của hai xã: Tân Sơn Nhì và Phú Thọ Hòa cùng quận.
Tính đến cuối năm 1965 tỉnh Gia Định có diện tích 1.554,63 km2, dân số 925.428 người, có 8 quận (Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Đức, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ và Quảng Xuyên), 74 xã và 340 ấp.
Ngày 15/06/1966 xã An Khánh Xã của quận Thủ Đức bị cắt nhập vào Đô thành Sài Gòn, diện tích tỉnh Gia Định giảm còn 1545,4 km2 với 73 xã; từ đây địa giới hành chính của tỉnh giữ ổn định cho đến 30/04/1975.
Ngày 04/04/1972 thành lập xã Phước Bình thuộc quận Thủ Đức, do chia tách từ xã Phước Long Xã cùng quận. Lúc này tổng số xã của tỉnh Gia Định là 74.
Về số làng. xã trực thuộc, năm 1955 tỉnh Gia Định có 72 làng:
Quận Thủ Đức có 19 làng:
Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú và An Khánh Xã;
Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã và Tăng Nhơn Phú;
Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã, Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã;
Tổng An Thủy có 03 làng: Bình An, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp;
Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình;
Quận Nhà Bè có 11 làng:
Tổng Bình Trị Hạ có 05 làng: Phú Mỷ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông;
Tổng Dương Hòa Hạ có 06 làng: Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ;
Quận Hóc Môn có 27 làng:
Tổng Bình Thạnh Trung có 07 làng: Đông Hưng Thuận, Tân Đông Thượng, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Thới Tam Thôn và Trung Mỹ Tây;
Tổng Long Bình có 06 làng: Tân Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Xuân Thới Sơn và Xuân Thới Thượng;
Tổng Long Tuy Thượng có 06 làng: Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, Bình Mỹ, Tân Hòa, Tân Thạnh Đông và Trung An;
Tổng Long Tuy Trung có 04 làng: An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông và Phú Mỹ Hưng;
Tổng Long Tuy Hạ có 04 làng; Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ và Trung Lập;
Quận Gò Vấp có 15 làng:
Tổng Bình Trị Thượng có 08 làng: An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội và Quới Xuân;
Tổng Dương Hòa Thượng có 07 làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc.
Năm 1956 các làng đổi thành xã; đồng thời sáp nhập hai xã: Tân Đông Thượng và Đông Hưng Thuận thành xã Đông Hưng Tân. Như thế quận Hóc Môn còn 26 xã.
Năm 1957 số xã của tỉnh Gia Định là 60, thay đổi do:
Giải thể tổng An Thổ của quận Thủ Đức; xã An Bình Xã thuộc tổng này sáp nhập vào tổng An Thủy, hai xã còn lại: Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã nhập vào tổng An Điền. Như thế lúc nảy tổng An Thủy có 04 xã, tổng An Điền có 06 xã.
Lập quận Bình Chánh từ phần đất cắt ra của tỉnh Chợ Lớn giải thể, Quận này có 03 tổng với 15 xã:
Tổng Tân Phong Hạ có 03 xã: An Phú, Bình Hưng và Phong Đước;
Tổng Long Hưng Thượng có 05 xã: An Lạc, Bình Trị Đông, Tân Kiên, Tân Nhựt và Tân Tạo;
Tổng Long Hưng Trung có 07 xã: An Phú Tây, Bình Chánh, Đa Phước, Hưng Long, Qui Đức, Tân Quý Tây và Tân Túc;
Lập quận Tân Bình có 01 tổng là Dương Hòa Thượng với 07 xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc, cắt ra từ quận Gò Vấp. Như thế lúc này quận Gò Vấp còn 08 xã;
Cắt tổng Dương Hòa Hạ với bốn xã: Long Đức, Nhơn Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ chuyển sang thuộc tỉnh Long An. Quận Nhà Bè còn 01 tổng là Bình Trị Hạ với 07 xã;
Cắt tổng Long Vĩnh Hạ với bốn xã: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình, cùng tổng An Thủy với bốn xã: Bình An, An Bình Xã, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp, chuyển sang thuộc tỉnh Biên Hòa. Như thế quận Thủ Đức còn 11 xã;
Cắt ba tổng Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung và Long Tuy Hạ với tổng cộng mười bốn xã: Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Trung Lập, Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, An Nhơn Tây, Bình Mỹ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông, Phú Mỹ Hưng, Tân Hòa, Tân Thạnh Đông, Trung An chuyển sang thuộc tỉnh Bình Dương; quận Hóc Môn còn 12 xã;
Năm 1960 tỉnh Gia Định còn 58 xã, do:
Sáp nhập xả Tân Hòa vào xã Vĩnh Lộc, quận Tân Bình còn 06 xã;
Sáp nhập xả Quới Xuân vào xã Thạnh Lộc Thôn, quận Gò Vấp còn 07 xã.
Năm 1961 hai xã: Long Đức và Nhơn Đức trả lại cho quận Nhà Bè. Như thế quận này có 09 xã.
Năm 1962 tổng Long Vĩnh Hạ với bốn xã: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình trả lại cho quận Thủ Đức. Như thế lúc này quận Thủ Đức có 15 xã và toàn tỉnh Gia Định có 64 xã.
Năm 1965 tỉnh Gia Định có 74 xã, thay đổi do:
Nhận thêm quận Cần Giờ với 05 xã: Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh An và Tân Thạnh;
Nhận thêm quận Quảng Xuyên với 04 xã: An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp;
Lập mới xã Tân Phú thuộc quận Tân Bình. Như thế quận này có 07 xã;
Năm 1966 do cắt xã An Khánh Xã nhập vào Đô thành Sài Gòn, nên quận Thủ Đức còn 14 xã và toàn tỉnh Gia Định còn 73 xã.
Năm 1972 lập xã Phước Bình thuộc quận Thủ Đức. Như thế quận Thủ Đức có 15 xã và toàn tỉnh Gia Định có 74 xã.
Vế số ấp trực thuộc, năm 1964 tỉnh Gia Định có 326, năm 1965 có 340, năm 1972 là 347, năm 1974 tăng lên 351.
Năm 1974 dân số tỉnh Gia Định là 1.422.653 người.

Quận Cần Giờ - Quận Quảng Xuyên

Năm 1956 quận Cần Giờ (gồm hai tổng: Cần Giờ và An Thít) thuộc thị xã Vũng Tàu. Ngày 03/01/1957 do thị xã này giải thể, quận Cần Giờ bị phân ra: Tổng An Thít giải thể, các xã của tổng này nhập vào tổng Dương Hòa Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An; quận còn lại tổng Cần Giờ chuyển sang trực thuộc tỉnh Phước Tuy. Dân số quận Cần Giờ năm 1964 là 8.246 người, gồm 05 xã (Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh An và Tân Thạnh) và 10 ấp; có diện tích 287,8 km2. Năm 1972 dân số là 9.934 người.
Ngày 30/08/1957 tái lập tổng An Thít thuộc quận Cần Giuộc, gồm bốn xã: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp của tổng Dương Hòa Hạ. Ngày 29/01/1959 lập quận Quảng Xuyên mới thuộc tỉnh Phước Tuy, trên cơ sở tổng An Thít tách từ quận Cân Giuộc, tỉnh Long An. Dân số quận Quảng Xuyên năm 1964 là 6.679 người, gồm 04 xã (An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn và Tam Thôn Hiệp) và 10 ấp; có diện tích 403,4 km2. Năm 1970 dân số tăng lên 14.617 người.
Đến 09/09/1960 hai quận: Cần Giờ và Quảng Xuyên của tỉnh Phước Tuy chuyển sang thuộc tỉnh Biên Hoà và từ 17/11/1965 lại đổi sang thuộc tỉnh Gia Định.

Quận Củ Chi - Quận Phú Hòa

Quận Củ Chi thuộc tỉnh Bình Dương được thành lập từ 30/08/1957, trên cơ sở tách ba tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Trung và Long Tuy Hạ, gồm mười bốn xã của quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định.
Đến 15/10/1963 toàn bộ tổng Long Tuy Hạ và hai xã: Tân Phú Trung và Phước Vĩnh Ninh của tổng Long Tuy Thượng gồm sáu xã phía tây của quận cắt ra nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập theo sắc lệnh số 124/NV ngày 14/10/1963 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, lập thành quân Củ Chi mới. Dân số quận Củ Chi năm 1964 là 57.152 người, gồm 06 xã (Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Trung Lập, Phước Vĩnh Ninh và Tân Phú Trung) và 53 ấp, có diện tích 206,8 km2. Năm 1973 lập thêm xã Tân Thông Hội từ phần đất cắt ra của xã Tân An Hội.
Toàn bộ tổng Long Tuy Trung và bốn xã còn lại của tổng Long Tuy Thượng (Tân Thạnh Đông, Bình Mỹ, Tân Hòa và Trung An), gồm tám xã phía đông vẫn thuộc thuộc tỉnh Bình Dương, lập nên quận Phú Hòa mới. Dân số quận Phú Hòa năm 1964 là 48.913 người, gồm 08 xã (An Nhơn Tây, Bình Mỹ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông, Phú Mỹ Hưng, Tân Hòa, Tân Thạnh Đông và Trung An) và 57 ấp, có diện tích 237 km2. Năm 1972 chia xã Tân Hòa thành hai xã: Hòa Phú và Tân Thạnh Tây.

VẪN CÒN NHIỀU NGƯỜI THẮC MẮC ĐÔ THÀNH SÀI GÒN TRƯỚC 1975 CÓ QUẬN 9 KHÔNG?./-TCLãnh

 

SAIGON TRƯỚC NĂM 1975 CÓ MẤY QUẬN?

Đô thành Saigon trước tháng 2/1967 chỉ có 8 quận, gồm có: Quận Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám đây là cách gọi chính xác thời bấy giờ chớ không phải là kêu theo số, dù chúng là quận số.

Tháng 12/1966, xã An Khánh (Thủ Thiêm), quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, được tách ra làm 2 phường An Khánh và Thủ Thiêm thuộc Quận nhứt Saigon.

Thời gian ngắn sau đó 2 tháng, nghĩa là tháng 2/1967 thì một lần nữa xã An Khánh được tách ra và thành lập Quận 9.

Sau năm 1975, Quận 9 được nhập trở về huyện Thủ Đức, rồi lại được tách ra để thành lập Quận 2 cho đến nay.

Riêng Quận 10 và Quận 11 thì sau chiến cuộc năm Mậu Thân, người dân tản cư về Saigon sinh sống hơi đông và để dễ cai quản Toà Đô Chánh, Saigon mới thành lập thêm hai quận nầy vào khoảng tháng 7/1969, nâng số quận tại Đô Thành Saigon thành 11 quận.

Riêng các quận mang tên tại TPHCM ngày nay như: Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp ,Tân Bình, v.v.. thì trước năm 1975 thuộc tỉnh Gia Định.

Đô Thành Saigon dưới cấp quận gọi là phường, khóm.

Tỉnh Gia Định dưới cấp quận gọi là xã và ấp. Tổ trưởng dân phố ngày nay thì hồi đó gọi là Liên gia trưởng.

Sau năm 1975 thì Quận nhì nhập vô Quận nhứt, và Quận 7 nhập vô Quận 8.

Về cách gọi Toà Đô Chánh đứng đầu gọi là Đô Trưởng. Quận gọi là quận trưởng. Phường gọi là phường trưởng. Khóm thì gọi là khóm trưởng. Cấp thấp nhất là liên gia trưởng. Dưới cấp trưởng thì gọi là phụ tá. Thời thiết quân lực thì gọi là phụ tá hành chánh.

Tôi kể theo trí nhớ anh em nào có tư liệu thì ké vô bổ sung. Vụ mấy cái quận xưa nay thấy cãi hoài nên tôi công bố chính xác 100% nhé, dù không có tài liệu chứng minh!

Saigon 08-12-2019
Theo Fb Trần Ngọc Hiếu