Mt68 History
Showing posts with label LienQuanRACHGIA. Show all posts
Showing posts with label LienQuanRACHGIA. Show all posts
Friday, 14 July 2017
Monday, 12 December 2016
MOUNTAIN VIEW CŨNG XIN CỔ VÕ CHO RẠCH GIÁ NĂM XƯA HỘI NGỘ THẬT ĐÔNG ĐẢO NHÉ NGƯỜI KARAOKE PARIS ...
Hội Ngộ Kiên giang,
câu chuyện bên lề.
LANH NGUYỄN
Còn không đầy 7 tháng nữa là người Rạch Giá lại có dịp gặp gở nhau để cùng hàn huyên tâm sự.
câu chuyện bên lề.
LANH NGUYỄN
Còn không đầy 7 tháng nữa là người Rạch Giá lại có dịp gặp gở nhau để cùng hàn huyên tâm sự.
Đây là lần thứ 11 rồi đó nhưng tui chưa hề đi dự lần nào cả. Lý do thật đơn giản là bởi vì tui vốn không thích chổ đông người ồn ào náo nhiệt. Có lần thằng bạn thân rủ tui đi theo chơi cho vui.
Hắn ta nói:
- Mầy nên đi chơi 1 lần cho biết với người ta, ở đó vui lắm biết đâu chừng đến đó mình sẻ gặp lại nhiều đồng hương, hỏng chừng còn được gặp người xưa của mầy ...
Tôi vẫn từ chối:
- Gặp làm gì? Gặp lại rồi thì làm được cái gì? Chỉ là "4 mắt nhìn nhau trào máu họng" chứ có vui sướng chi mà ham? Thôi tao ở nhà nghỉ cho khoẻ.
Nó kiếm cách chọc tức tôi:
- Hay là mầy mặc cảm nên không dám đi?
- Ơ hay! Cái thằng nầy dở hơi thật, mắc chứng gì mà mặc cảm với mặc tình?
Nó cười hì hì:
- Thì tại tao có học trường Nguyễn Trung Trực còn mầy thì không.
Nó làm tôi nhớ lại chuyện cũ rít của 47 năm về trước thuở mà hai đứa chúng tôi còn mài đủng quần trên ghế của trường trung học Kiên Tân.
Năm học 1969-1970 trường chúng tôi chỉ có vỏn vẹn có 2 lớp Đệ Nhị A&B trong đó lại chia ra 2 ban Anh Văn & Pháp Văn cho nên đổi buổi học liền tù tì, lúc thì học lý hóa với ban A lúc thì chỉ học Toán & Vạn Vật chung 1 tốp của ban B, chỉ có lúc học sinh ngữ thì mới nhìn đủ mặt bạn bè cũ mà thôi. Nhưng thật là ngộ mấy đứa con gái lớp tôi đều đi ban B hết ráo nên ngày nào buổi nào cũng được gặp mặt nhau đều rang...
Ờ! Mà nói lớp cho oai dzị chớ lúc đó ban Pháp văn của tụi tui còn không đầy 20 chục đứa mà hết mấy mạng chọn ban A rồi.
Kỳ thi Tú Tài 1 năm đó ban Pháp văn bọn tui chiếm tỉ lệ đâu cao nhất hơn chục đứa được lên chức cô cậu tú.
Tụi nó hè nhau chuyễn lên trường Thoại Ngọc Hầu và Chưởng Bình Lễ ở Long Xuyên để học tiếp năm Đệ Nhất, chỉ có tui và thằng Lục muốn gần nhà nên chuyển ra Nguyễn Trung Trực học mà thôi
Tựu trường được 1 tuần lễ thì tui có tên đi học khóa SPVL bỏ lại một mình nó trong cái trường mới hoàn toàn xa lạ...
Nếu tính kỹ ra tui cũng là học sinh của trường NTT chứ bộ chơi sao, dù chỉ học có 1 tuần lễ vỏn vẹn vì vậy dể gì tui chịu thua nó:
- Mầy làm như chỉ có mình mầy được đi học ngoài đó dzị. Tao cũng có đi nữa chứ bộ.
Nó phá lên cười như chưa từng được cười bao giờ:
- Thôi mầy ơi, đừng có thấy sang rồi bắt quàng làm họ. Học có 1 tuần mà cũng kể là cựu học sinh NTTđược sao? Một năm như tao mà tao còn chưa dám nhận huống chi là 1 tuần lễ như mầy thì nói làm gì.
- Biết vậy sao còn rủ tao theo làm gì?
Nó thôi cười mà nói nhỏ với tui:
- Người ta tổ chức reunion cho cựu học sinh Kiên Giang toàn tỉnh chứ nào phải riêng cho một trường nào đâu mà mầy lo...
Năm nào cũng vậy còn vài tháng là nó điện thoại rủ tui đi hội ngộ dù biết rằng tui không đời nào đi theo nó, nhưng năm nào cũng vậy tuy tui không đi nhưng lại mò vô trang web của hội nghị để xem tên những người tham dự coi thử có ai quen với mình không. Xem chơi cho biết dzị mà.
Năm nay người ta tổ chức ở Boston tui dò đi dò lại cái danh sách tham dự viên hơn chục lần mà không thấy tên nó nên tui phone qua hỏi:
- Ê ! Bộ năm nay mầy hổng tính đi dự hội nghị liên trường sao mà tao không thấy tên mầy dzậy?
Nó buồn buồn trả lời:
- Đi hoài mà hỏng gặp ai quen hết nên năm nay tao thôi đi rồi. Mà mầy không đi quan tâm tới chuyện đó làm cái gì?
Hai thằng tui gọi điện thoại với nhau là chỉ để chọc qua móc lại y như thời còn đi học, cho nên nghe nó nói không dự hội nghi liên trường tui liền quăng cây cù ngéo cái vèo:
- Í! Tao quên, mầy mới lấy vợ nên đâu còn thời gian rảnh mà đi đó đi đây. Ở nhà gọi điện thoại tán dóc với nàng rồi ráng đi cày thêm kiếm ba mớ tiền để dong về Việt Nam mà thăm chừng cái dĩa mứt gừng của mầy đi nghen, coi chừng để khơi khơi thiên hạ bóc lủm hết đến khi mầy trở qua bên đó thì nó chỉ còn là cái dĩa còi trọc lóc.
Thường khi tui chọc nó như dzị thì nó chỉ cười một cách ngon lành làm như có vợ trẻ ở Việt Nam là nhứt trên đời, dzị mà lần nầy thì nó cúp máy cái cụp cũng không thèm bay hay lặn gì ráo trọi, tui lại tưởng có người đến sửa xe cho nên nó quên ai dè đâu tháng rồi tui xuống chơi nhà HTX ở Dallas cũng gần nhà nó nên nó mò tới khách sạn đón tui đi uống cà phê để tâm sự với nhau.
Bạn tui hồi đi học nó đẹp trai ác đạn lại là con nhà giàu còn thêm chiếc xe honda mới toanh nên con ai theo nó rần rần, bồ bịch hàng tá, nhưng cuộc đổi đời đã làm cho đường tình duyên của nó cũng bị đổi theo hay là nói theo thuyết của nhà Phật "gieo nhân nào gặt quả đó" cho nên bây giờ đường tình của nó "đen như mỏm chó"...
Chuyện gia đình gảy đổ, bước thêm bước nữa lại bị sụp ổ cọp, từng tuổi nầy rồi mà nó phải sống cu ki có một mình:
Chưa sang đông mà lòng giá lạnh
Sống một mình hiu quạnh ai ơi
Cô đơn một kiếp con người
Nghe mưa rớt hột (hay) lệ rơi trong lòng
Thấy hoàn cảnh bạn mình lẻ loi tui mủi lòng nên dụ nó:
- Hay là mình đi dự hội nghi liên trường đi, tao có bạn mới nhiều lắm nè, biết đâu lần nầy mầy sẻ gặp được 1/4 còn sót lại của mầy để mà an ủi cuộc đời.
Tui tưởng có người đi chung thế nào nó cũng hân hoan đón nhận lời rủ rê của tui ai dè nó cũng giống tính tui có một tiếng "No" xài hoài mà hổng mòn.
Lâu lâu 2 đứa gọi phone tán dóc với nhau, tui cứ lập đi, lập lại cái điệp khúc rủ nó đi dự hội nghi liên trường.
Ghẹo nó riết rồi thành ra tui tưởng mình muốn đi thiệt cho nên khi hỏi thăm chuyện trên trời dưới đất cùng HTX mà nghe cô nàng kể "phái đoàn bên Canada của sư bá tui đặt khách sạn hổng được hình như là người ta đã book trước hết rồi".
Tui nghe như vậy thì giật mình nhảy nhỏm hổng có khách sạn thì ở đâu bây giờ? Theo phản ứng tự nhiên tui nói với HTX:
- Khách sạn đầy hết rồi sao? Dzị để sư huynh tìm xem coi có cái nào gần đó hông rồi cho Xí Muội biết nghen.
Chắc HTX đang giật mình hông biết tui ăn trúng giống gì mà làm tài lanh quá xá như vậy, không đi dự hội nghị mà lại đòi book khách sạn dùm, đúng là tào lao ngoại hạng rồi còn gì nữa, cho nên cô nàng trả lời:
- Sư huynh gọi cho ông Thầy thử xem ban tổ chức có liên lạc tìm thêm được cái nào khác hông, nếu chưa có thì ráng tìm dùm coi có cái nào còn tróng hông chứ kỳ nầy người ghi tên đông lắm coi chừng người ta book trước hết chổ à nghen.
Vừa cúp điện thoại là tui tọt lên bàn mở computer ra để tìm khách sạn liền tay, làm y như là ngày Cyber Monday hổng bằng. Sợ chậm chạp thì không còn chổ ở.
Nhưng khi tui vừa bấm vô máy để tìm Khách sạn ở trung tâm thành phố Boston thì nó lại hiện ra trên màn hình những chấm đỏ dầy đặc y như là nấm rơm nở rộ sau cơn mưa, dám chừng có cả 4, 5 trăm cái từ 2 sao cho tới 5 sao.
Úi trời ơi, cái điệu nầy ngồi xem hết không chừng cụp xương sống quẹo cần cổ luôn vì vậy tui bèn giới hạn nó lại chỉ tìm xem mấy cái khách sạn trung bình loại 3 sao thôi và trong khoản cách 20 miles trở lại, dzị mà cũng tròm trèm 3 trăm cái chứ chơi sao.
Thành phố Boston chắc là đông dân như kiến và nhiều người đến du lịch lắm nên mấy tay tư bản mới cất nhiều khách sạn như vậy.
Tìm khách sạn cũng mê như tìm mua xe trên mạng dzị, mình vô coi chơi để mở rộng 2 con mắt mà. Từ giá cả mắc rẻ, phòng óc tốt xấu, mới cũ, địa điểm gần hay xa, rồi có chổ đậu xe hay không cho tới vụ có buổi ăn sáng hay hay là nhịn đói v..v và v..v..
Book vào thời điểm nào để được giá rẻ...
Nó y như là lạc vô "đào hoa" trận của lão Đông Tà vô rồi hổng nhớ đường ra.
Ngày đại hội là cái ngày độc đáo nhất trong năm. Cái ngày của cao điểm mùa hè lại còn rớt ngay bon vào dịp lễ July 4 cho nên mấy cái khách sạn gần ban tổ chức thì giá cao ngất ngưởng tui phải mò ra tuốt ngoài xa mới có giá tạm cho là rẻ một tí.
À! Tui quên kể cho quý vị cái khả năng xử dụng máy vi tính của tui. Nói nhỏ nghe chơi thôi nghen tui toàn là học mò không hè nên đâu có biết cái gì nhiều. Nội cái chuyện copy hình để cho vào email có khi tui làm được có khi không, có khi gởi đi mà người nhận mở ra hổng được. Còn tìm trên google đụng chổ nào tui mò chổ đó kiếm được rồi có khi tui lại không nhớ làm cách nào mà mình mò lên được tận chổ muốn tìm. Thiệt là nhức cái đầu nhưng tui lại ghiền mò mới khổ chớ.
Tìm thấy khách sạn Sheraton giá tương đối rẻ hơn cái Ramada của ban tổ chức đưa ra tui mừng quýnh liền lẹ làng gọi điện thoại báo tin tốt cho sư bá mình.
Sư bá OK liền, HTX cũng đồng ý hai người còn kêu tui book luôn cho cả nhóm.
Thấy tui sắp sửa lên máy bà xã nhắc chừng:
- Anh xem kỹ mấy hàng chữ nhỏ đó nghen coi coi tại sao nó lại rẻ hơn cái Ramada.
Tui thì tánh hơi bộp chộp còn nàng thì cẫn thận hơn nghe vậy tui bèn đem 2 thằng đó ra so sánh thiệt hơn rồi bấm để coi phòng bên trong xem thử đẹp xấu thể nào.
- Úi trời ơi! Giờ đó mà thằng Ramada nó quất gần 3 trăm một đêm chưa tính 14% tiền thuế vậy thì chỉ có từ chết tới bị thương chứ mướn làm sao nổi.
Nghĩ lại phải tặng cho ban tổ chức một đóa hoa hồng vĩ đại vì đã làm được một cái hợp đồng với cái giá quá rẻ.
Thấy cái giá của Ramada đụng tới ông trời rồi mình không thể nào vói tới nên tui quay lại xem kỹ thằng Sheraton. Thì ra nó bắt buộc mình phả trả tiền trước nếu mình book rồi mà không đi thì mất toi 3 đêm, lại phải trả tiền parking 13$ đêm, không cho ăn sáng, Wi-Fi, Internet đều tính thêm tiền, tính ra nó cũng từ bằng cái giá mà ban tổ chức hợp đồng với Ramada chứ đâu có rẻ hơn bao nhiêu...
Chán đời tui không thèm vô mạng nữa mà sàng qua FB xem anh chị em tám chuyện tào lao trên đời chơi, ai dè có một mẫu quảng cáo của web hotelplanner hiện lên cho biết nếu book group sẻ có giá đặc biệt rẻ hơn. Mừng quá tui bèn vô đại điền form tùm lum tá lả rồi chờ mấy cái khách sạn nó cho giá rẻ để mình chọn. Nhưng mà giá của tụi nó đưa ra cũng từ $130 tới $200 chứ chưa thấy cái nào vừa ý.
Giá rẻ thì trả tiền trước còn muốn trả khi check-in thì mắc hơn cở 30%.
Cái xứ Mỹ nầy đúng là tiền nào của nấy, mấy khách sạn giá rẻ thì ở xa, phòng óc lại cũ xì còn đồ ăn sáng chỉ có trứng chiên với bánh mì thấy cái menu của nó là muốn chạy ra ngoài tìm nhà hàng Việt Nam rồi. Còn muốn phòng mới đồ ăn ngon thì giá mắc bỏ xừ.
Chờ 2 ngày mà chưa thấy ánh sáng của buổi bình minh đẹp trời nào hết. Tới ngày thứ 3 thì có cái khách sạn Hampton Inn cho giá khá rẻ lại free đủ thứ từ Parking, internet, wi-fi giá trả trước trả sau chỉ chênh lệch có 10 đồng thôi, nhưng có điều phòng hơi cũ một tí, nhưng mà chỉ ngủ thôi thì cần phòng mới làm gì cho mắc mỏ, dù cũ nhưng coi ra nó vẫn mới hơn nhà mình cho nên tui quyết định thông báo cho SB và mọi người biết là tui sẻ book cái khách sạn Hampton Inn. Tui gởi email đến mọi người để bà con chọn phòng chọn giá.
Sau khi có thông tin đầy đủ tui lên mạng định book phòng thì gặp ngay cái Marriott đang offer giá khá rẻ tuy so với Hampton Inn thì nó chỉ mắc hơn có 10 tì lại phải trả tiền ăn điểm tâm sáng. Tui tiếp tục mò thử vô coi thế nào.
Úi chao! Phòng nó sao mà đẹp quá so với cái Hampton Inn cũng giống như con gái xứ Mong Thọ đem so với tiểu thư Sài Gòn, lại còn đã hơn cái chổ muốn trả trước hay trả tại quày check-in thì giá tiền đều giống nhau. Thế là tui đổi ý gọi liền cho Sư Bá mình để hỏi ý kiến. HTX nghe book ở Marriott thì khoái chí cười giòn:
- Khách sạn đó ngon bá chấy sư huynh còn chần chờ gì nữa?
Nghe hai người trả lời xong tui bèn nhấn chuột cụp cụp. Nhấn xong rồi thì giật mình nghĩ lại:
- Ủa! Mình có tính đi hội nghị liên trường hồi nào mà book khách sạn dzị cà.
Nhưng đâu có sao hỏng đi thì bỏ mấy hồi. Chắc HTX biết trước tui sẻ làm dzị nên chiều hôm đó nàng phone cho tui hỏi:
- Sư huynh ghi tên giữ chổ chưa dzị? Năm nay người ta giới hạn có 700 người thôi đó nghen coi chừng ghi sau hết chổ bi giờ.
Tui cười giòn trả lời:
- Còn lâu mà hôm nào hứng thì đóng tiền ghi tên một lượt, làm lắc nhắc 2 lần chi cho mất công dzị?
Bà xã tui đứng kế bên nghe tui trả lời với HTX như vậy thì nàng thắc mắc hỏi:
- Anh tính đi Boston chơi hay sao mà book khách sạn?
Tui cười cầu tài:
- Sẳn book cho bà con thì book luôn cho mình chứ còn đi hay không thì phải tùy vào duyên phận.
Tuy là nói vậy nhưng tui lại tiếp tục mò vô mạng để lập chương trình đi chơi 3 ngày ở Boston. Lập cho đở ghiền vậy mà còn đi hay không thì đến đó mới biết.
Chương trình mà tui dự định thiết lập để cho SB duyệt gồm 3 ngày như sau:
Ngày thứ sáu 30 tháng 6 đến khách sạn Marriott check-in lúc 3 giờ chiều. Sau khi tắm rửa để lột bỏ lớp bụi đường thì cả đoàn tập hợp lại lúc 4 giờ để đi Prudential Tower xem thiên hạ shopping chơi chiều tối đó thì đến nhà hàng Victoria Seafood Restaurant xực lobster. Tối về phòng Cô 5BĐSK ở khách sạn quýnh bài cào vùa cho tới 1 giờ sáng thì đi ngủ. Ai ăn thì ngon giấc còn ai thua thì trằn trọc vái trời để đêm sau gở lại...
Ngày thứ bảy 1 tháng 7 thức sớm để chuẩn bị dung nhan mùa thu mà đi gặp người xưa vì ở xa phải trừ hao nên đi trước 1 giờ. 7 giờ tụ họp khởi hành đến tham dự buổi họp mặt tại nhà hàng China Pearl Dim Sum. Ba giờ chiều thì bắt đầu đi xem The Freedoom Trial of Boston lội bộ cho nó tiêu mấy cái đồ Dim Sum ở trong bụng rồi tới nhà hàng Việt Nam hay Mỹ gì đó ăn sơ sơ thôi để tiền gở bài cào cho đêm nay.
Ngày chủ nhật 2 tháng 7 sáng đi ăn phở rồi đến viếng John F. Kennedy library, Havard meseum, Massachusetts state house chiều về đến dự buổi họp mặt chính của hội ngị KG reunion 2017 tại tại nhà hàng Empire Garden Restaurant. Chiều tối về tiếp tục cuộc đỏ đen bài cào vùa...
Sáng thứ 2 chia tay. Ý lộn. Còn phải chạy theo Sư Bá qua xứ Canada quậy thêm vài ngày nữa cho đã đời Vân Tiên...
Trời, trời. Sao tui viết y như thiệt dzậy ta? Hay là anh Tâm đổi ngày lại đi ở chung 3 đêm khách sạn học quýnh bài cào vùa vui lắm. Tiền học phí chắc là phải giao cho thầy Nhựt rồi vì ổng lúc nào cũng hên ... Thiệt là tình mà./-
Saturday, 3 December 2016
MỒ CÔI TRÊN ĐỈNH CAO NGUYÊN
đoàn xuân thu
Thưa, Quân đoàn II, thời mình, gồm 7 tỉnh Cao nguyên Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Tuyên Đức và Lâm Đồng; 5 tỉnh duyên hải: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đặc khu Cam Ranh.
Vùng Cao nguyên là chặng cuối của Đường mòn Hồ Chí Minh, là đầu cầu của tuyến đường Trường Sơn, mà Cộng sản Bắc Việt tuồn vũ khí, đạn dược vào, nhằm xâm chiếm Miền Nam Việt Nam.
Và nổi tiếng nhứt, thời chinh chiến, có lẽ là thành phố Pleiku qua bài thơ ‘Còn một chút gì để nhớ’ của thi sĩ Vũ Hữu Định:
“Phố núi cao phố núi đầy sương/
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn/
anh khách lạ đi lên đi xuống/
may mà có em đời còn dễ thương.
Phố núi cao phố núi trời gần/
phố xá không xa nên phố tình thân/
đi dăm phút đã về chốn cũ/
một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng.
Em Pleiku má đỏ môi hồng/
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông/
nên mắt em ướt và tóc em ướt/
da em mềm như mây chiều trong.
Xin cảm ơn thành phố có em/
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới/
còn một chút gì để nhớ để quên.”
Vùng Cao nguyên là chặng cuối của Đường mòn Hồ Chí Minh, là đầu cầu của tuyến đường Trường Sơn, mà Cộng sản Bắc Việt tuồn vũ khí, đạn dược vào, nhằm xâm chiếm Miền Nam Việt Nam.
Và nổi tiếng nhứt, thời chinh chiến, có lẽ là thành phố Pleiku qua bài thơ ‘Còn một chút gì để nhớ’ của thi sĩ Vũ Hữu Định:
“Phố núi cao phố núi đầy sương/
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn/
anh khách lạ đi lên đi xuống/
may mà có em đời còn dễ thương.
Phố núi cao phố núi trời gần/
phố xá không xa nên phố tình thân/
đi dăm phút đã về chốn cũ/
một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng.
Em Pleiku má đỏ môi hồng/
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông/
nên mắt em ướt và tóc em ướt/
da em mềm như mây chiều trong.
Xin cảm ơn thành phố có em/
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới/
còn một chút gì để nhớ để quên.”
Còn thành phố Kon Tum thì lại nổi tiếng với trận đánh dữ dội, cực kỳ khốc liệt trong Mùa hè đỏ lửa 1972.
Kon Tum là một vị trí chiến lược vì có Ngã ba Đông Dương (Cũng gọi là ngã ba Tam biên (Việt, Miên, Lào), một cảnh sắc biên cương, một nỗi buồn biên tái!)
Hơn bốn mươi năm về trước, Lê Nguyên Ngữ, một nhà thơ lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú tại đây để trấn Trường Sơn, viết:
Kon Tum là một vị trí chiến lược vì có Ngã ba Đông Dương (Cũng gọi là ngã ba Tam biên (Việt, Miên, Lào), một cảnh sắc biên cương, một nỗi buồn biên tái!)
Hơn bốn mươi năm về trước, Lê Nguyên Ngữ, một nhà thơ lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú tại đây để trấn Trường Sơn, viết:
“Trường Sơn nhón gót trông Lào Hạ/
Mù cuối chân mây sắc lá rừng/
Sừng sững bắc phương thành núi dựng/
Đụng đầu dội ngược gió mây xuân.
Xuân đến áp lưng sườn đá dựng/
Nhìn rừng vây núi núi vây mây/
Chẳng biết phương nào phương cố quận/
Phương nào cũng thấy khói mây bay.
Tráng sĩ đồn quân trên đất lạ/
Đón xuân chẳng tốn pháo mừng xuân/
Nghe trong lòng chảy nghìn sông Dịch/
Nhìn bóng Trường Sơn ngỡ nước Tần…”
Bốn mươi năm sau, cuộc chiến tranh tàn, tưởng chừng đất Cao Nguyên thôi bom đạn, nhà xưa dựng lại, ruộng rẫy, rừng xưa lại xanh lá… ai dè dân còn khổ quá qua bài ký của Matthew Clayfield vừa thăm Kon Tum trở về, đăng trên trang web của đài ABC, Úc Châu, viết về thân phận những đứa trẻ mồ côi trên đỉnh Cao nguyên với tựa đề là: Vietnam’s orphans: Lives of hope and poverty. (Những đứa trẻ mồ côi Việt Nam: Cuộc đời của hy vọng và nghèo đói)
Mù cuối chân mây sắc lá rừng/
Sừng sững bắc phương thành núi dựng/
Đụng đầu dội ngược gió mây xuân.
Xuân đến áp lưng sườn đá dựng/
Nhìn rừng vây núi núi vây mây/
Chẳng biết phương nào phương cố quận/
Phương nào cũng thấy khói mây bay.
Tráng sĩ đồn quân trên đất lạ/
Đón xuân chẳng tốn pháo mừng xuân/
Nghe trong lòng chảy nghìn sông Dịch/
Nhìn bóng Trường Sơn ngỡ nước Tần…”
Bốn mươi năm sau, cuộc chiến tranh tàn, tưởng chừng đất Cao Nguyên thôi bom đạn, nhà xưa dựng lại, ruộng rẫy, rừng xưa lại xanh lá… ai dè dân còn khổ quá qua bài ký của Matthew Clayfield vừa thăm Kon Tum trở về, đăng trên trang web của đài ABC, Úc Châu, viết về thân phận những đứa trẻ mồ côi trên đỉnh Cao nguyên với tựa đề là: Vietnam’s orphans: Lives of hope and poverty. (Những đứa trẻ mồ côi Việt Nam: Cuộc đời của hy vọng và nghèo đói)
“Từ đồng bằng ven biển ẩm ướt và những cánh đồng lúa hình như kéo dài vô tận, Matthew Clayfield đã trèo lên vùng cao có thể đến 2000 bộ, lẫn trong sương mù của Cao nguyên Trung Phần, Việt Nam để đến Kon Tum, thăm Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4; nơi đang nuôi dưỡng hơn 157 trẻ , mà đa phần là người thiểu số Ba na (Bahnar), đông hàng thứ ba trong 6 sắc dân thiểu số vùng Cao nguyên.
Dân tộc Bahnar tự gọi mình là Degar, nghĩa là những người con của núi. Người Pháp thì gọi họ là dân miền sơn cước. Người Kinh thì gọi những sắc dân thiểu số trên Cao nguyên nầy là người Thượng.
Còn ai có đầu óc kỳ thị chủng tộc, gọi họ một cách khinh miệt là đồ Mọi, là dân tộc bán khai, không văn minh. Cái từ ngữ sặc mùi kỳ thị ‘đồ Mọi’ ngày nay ít ai còn dám mở miệng ra nói.
Còn ai có đầu óc kỳ thị chủng tộc, gọi họ một cách khinh miệt là đồ Mọi, là dân tộc bán khai, không văn minh. Cái từ ngữ sặc mùi kỳ thị ‘đồ Mọi’ ngày nay ít ai còn dám mở miệng ra nói.
Trong chiến tranh Việt Nam, những sắc dân thiểu số Cao nguyên nầy thường ủng hộ vì có cảm tình với người Mỹ, dĩ nhiên VC không dễ dàng tha thứ, bỏ qua cho những hành động trong quá khứ nầy.
Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4, thuộc thôn 10, xã Đăk Tờ, huyện Kon Rẫy, cách Kontum khoảng 22 km 6 về phía Nam.
Nguyên tên huyện là Kon Rẫy (một từ vô nghĩa trong tiếng địa phương, vì do CS dốt đặt tên) vốn là một làng cổ tên Kon Braih của người Sedan, có nghĩa là làng Cát.
Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4, thuộc thôn 10, xã Đăk Tờ, huyện Kon Rẫy, cách Kontum khoảng 22 km 6 về phía Nam.
Nguyên tên huyện là Kon Rẫy (một từ vô nghĩa trong tiếng địa phương, vì do CS dốt đặt tên) vốn là một làng cổ tên Kon Braih của người Sedan, có nghĩa là làng Cát.
Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4 nầy do 4 nữ tu thuộc Hội Dòng Ảnh Làm Phép Lạ cùng vài thiện nguyện viên điều hành! Vì thế các Sơ (soeur) phải tổ chức cho các em tự quản và chăm sóc cho nhau.
Vị nữ tu 58 tuổi, Sơ Augustine y Lieng, người thiểu số Sêđăng (Sedang) đã thành lập Trại Mồ Côi nầy vào năm 1999; sau khi nằm mơ thấy Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
“Người thiểu số sống chủ yếu nhờ săn bắt, hái lượm trong rừng. Mỗi gia đình có từ 5 đến 10 đứa con. Đông quá nuôi không nổi, đành phải cắt ruột mà gởi con cho các vị nữ tu nuôi dưỡng dùm!”
Em Matthew Long, một trẻ mồ côi bảy tuổi, nhưng ốm yếu, suy dinh dưỡng, thân hình trông giống như trẻ vừa lên bốn.
Long được 3 ngày tuổi, mẹ Long đã chết trong khi sinh con. Và theo hủ tục của người thiểu số, Long sẽ bị chôn sống theo mẹ. May mắn thay các sơ đã cứu được mạng sống của em; đem về Trại Trẻ Mồ Côi Vinh Sơn 4 nuôi dưỡng.
Các trẻ mồ côi hoặc trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mới vào phải mất từ 2 đến 6 tháng trời, các em mới quen được với môi trường mới.
Khi ký giả Úc nầy đến thăm thì mấy em đang học làm toán trong lớp; có vài em nhỏ hơn đang chạy loăng quăng ngoài sân hay đứng bên ngoài nhón cẳng để nhìn vào.
(Các trường học tại Việt Nam đang nghỉ hè nên có một số thầy cô người địa phương tình nguyện đến Trại để giúp các em học tập. Và lâu lâu cũng có một chủng sinh từ Sài Gòn ra cắt tóc cho các em!)
Trên một vách Trại làm bằng tôn có treo một tượng Chúa Jesus Christ trên Thánh giá được bọc cẩn thận bằng một tấm nilon trắng, cho khỏi bám bụi.
Sáng lúc 5 giờ, các em đã thức dậy, cầu kinh vang vọng. Xong, một vài em lớn quét sân. Những em lớn khác đang sắp xếp chăn màn trong phòng ngủ, và chuẩn bị quần áo cho các em nhỏ đến trường.
Trưa đi học về các em được ăn cơm (hoặc cháo cho những em còn quá nhỏ!). Đồ ăn có bữa là thịt kho, bữa trứng chiên, bữa cá mòi chiên. Cơm chiều cũng na ná như thế.
Những ánh mắt ngây thơ, hồn nhiên nơi núi rừng heo hút, và nụ cười tíu tít của các em trước khi đọc kinh đi ngủ làm mình thấy xót xa hơn!
Chúa Nhựt thì toàn thể các em được dẫn đi nhà thờ cách Trại chừng 7 cây số để xem lễ.
Những em còn quá bé thì chen chúc đứng, ngồi lổm ngổm trong thùng sau xe tải của đồn điền cao su. Các em lớn hơn thì sắp hàng lội bộ.
Tan lễ, giáo xứ nhà thờ cho các em ăn khoảng 300 ổ bánh mì ngọt.
Chính các nữ tu là những người Mẹ chăm sóc cho các em được ăn uống, đi học và làm việc để cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống, chia sẻ và bù đắp phần nào những thiếu thốn về tinh thần cũng như vật chất của các em nơi núi rừng heo hút gió này.
Nuôi dưỡng gần cả hai trăm em như vậy nên Trại cần tới 1,200 ký gạo mỗi tháng, đa phần phải mua chịu trước, trả sau.
Những nhà thờ Công giáo, những người từ tâm, lâu lâu cũng có giúp gạo, mì gói, nhu yếu phẩm!
Các sơ và các em rất biết ơn nhưng cũng không giúp được gì nhiều cho việc thiếu đói triền miên…
Sơ Bernadine nói: “Hỗ trợ của chính phủ cho Trại Trẻ Mồ Côi nầy chẳng có bao nhiêu. Mỗi em được cấp một số tiền tương đương 15 đô Úc cho một niên học 9 tháng. Ngoài ra không có giúp gì hơn thế nữa”.
Dẫu vậy chánh quyền địa phương thường hay đến kiểm toán, xem thu nhập từ làm rẫy và chăn nuôi bao nhiêu? Tiền hiến tặng từ thiện được bao nhiêu?… Các sơ không dám than phiền vì sợ bị trù dập.
Băng ngang con suối, trước Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4 là mười mẫu đất! Ở đó một vị nữ tu và các em đã lớn nuôi heo, làm bánh mì và trồng bắp, trồng cao su để kiếm tiền cho trại. Con heo đầu tiên của trại mua được là nhờ vào tiền của sơ Augustine mượn của những người bà con ở Sài Gòn.
Những năm được mùa, ruộng rẫy của Trại Mồ Côi nầy kiếm được khoảng 50 triệu đồng tiền Việt Nam, tương đương với khoảng 2800 đô Úc, chỉ đủ cho nhu cầu căn bản cho các cháu mồ côi trong 5 tháng.
Nhà báo Úc đến thăm lần nầy có mang theo nhiều bao đựng quần áo cũ và một trăm ký gạo… chỉ đủ cho các em ăn chưa được tới 2 ngày.
Vị nữ tu 58 tuổi, Sơ Augustine y Lieng, người thiểu số Sêđăng (Sedang) đã thành lập Trại Mồ Côi nầy vào năm 1999; sau khi nằm mơ thấy Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
“Người thiểu số sống chủ yếu nhờ săn bắt, hái lượm trong rừng. Mỗi gia đình có từ 5 đến 10 đứa con. Đông quá nuôi không nổi, đành phải cắt ruột mà gởi con cho các vị nữ tu nuôi dưỡng dùm!”
Em Matthew Long, một trẻ mồ côi bảy tuổi, nhưng ốm yếu, suy dinh dưỡng, thân hình trông giống như trẻ vừa lên bốn.
Long được 3 ngày tuổi, mẹ Long đã chết trong khi sinh con. Và theo hủ tục của người thiểu số, Long sẽ bị chôn sống theo mẹ. May mắn thay các sơ đã cứu được mạng sống của em; đem về Trại Trẻ Mồ Côi Vinh Sơn 4 nuôi dưỡng.
Các trẻ mồ côi hoặc trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mới vào phải mất từ 2 đến 6 tháng trời, các em mới quen được với môi trường mới.
Khi ký giả Úc nầy đến thăm thì mấy em đang học làm toán trong lớp; có vài em nhỏ hơn đang chạy loăng quăng ngoài sân hay đứng bên ngoài nhón cẳng để nhìn vào.
(Các trường học tại Việt Nam đang nghỉ hè nên có một số thầy cô người địa phương tình nguyện đến Trại để giúp các em học tập. Và lâu lâu cũng có một chủng sinh từ Sài Gòn ra cắt tóc cho các em!)
Trên một vách Trại làm bằng tôn có treo một tượng Chúa Jesus Christ trên Thánh giá được bọc cẩn thận bằng một tấm nilon trắng, cho khỏi bám bụi.
Sáng lúc 5 giờ, các em đã thức dậy, cầu kinh vang vọng. Xong, một vài em lớn quét sân. Những em lớn khác đang sắp xếp chăn màn trong phòng ngủ, và chuẩn bị quần áo cho các em nhỏ đến trường.
Trưa đi học về các em được ăn cơm (hoặc cháo cho những em còn quá nhỏ!). Đồ ăn có bữa là thịt kho, bữa trứng chiên, bữa cá mòi chiên. Cơm chiều cũng na ná như thế.
Những ánh mắt ngây thơ, hồn nhiên nơi núi rừng heo hút, và nụ cười tíu tít của các em trước khi đọc kinh đi ngủ làm mình thấy xót xa hơn!
Chúa Nhựt thì toàn thể các em được dẫn đi nhà thờ cách Trại chừng 7 cây số để xem lễ.
Những em còn quá bé thì chen chúc đứng, ngồi lổm ngổm trong thùng sau xe tải của đồn điền cao su. Các em lớn hơn thì sắp hàng lội bộ.
Tan lễ, giáo xứ nhà thờ cho các em ăn khoảng 300 ổ bánh mì ngọt.
Chính các nữ tu là những người Mẹ chăm sóc cho các em được ăn uống, đi học và làm việc để cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống, chia sẻ và bù đắp phần nào những thiếu thốn về tinh thần cũng như vật chất của các em nơi núi rừng heo hút gió này.
Nuôi dưỡng gần cả hai trăm em như vậy nên Trại cần tới 1,200 ký gạo mỗi tháng, đa phần phải mua chịu trước, trả sau.
Những nhà thờ Công giáo, những người từ tâm, lâu lâu cũng có giúp gạo, mì gói, nhu yếu phẩm!
Các sơ và các em rất biết ơn nhưng cũng không giúp được gì nhiều cho việc thiếu đói triền miên…
Sơ Bernadine nói: “Hỗ trợ của chính phủ cho Trại Trẻ Mồ Côi nầy chẳng có bao nhiêu. Mỗi em được cấp một số tiền tương đương 15 đô Úc cho một niên học 9 tháng. Ngoài ra không có giúp gì hơn thế nữa”.
Dẫu vậy chánh quyền địa phương thường hay đến kiểm toán, xem thu nhập từ làm rẫy và chăn nuôi bao nhiêu? Tiền hiến tặng từ thiện được bao nhiêu?… Các sơ không dám than phiền vì sợ bị trù dập.
Băng ngang con suối, trước Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4 là mười mẫu đất! Ở đó một vị nữ tu và các em đã lớn nuôi heo, làm bánh mì và trồng bắp, trồng cao su để kiếm tiền cho trại. Con heo đầu tiên của trại mua được là nhờ vào tiền của sơ Augustine mượn của những người bà con ở Sài Gòn.
Những năm được mùa, ruộng rẫy của Trại Mồ Côi nầy kiếm được khoảng 50 triệu đồng tiền Việt Nam, tương đương với khoảng 2800 đô Úc, chỉ đủ cho nhu cầu căn bản cho các cháu mồ côi trong 5 tháng.
Nhà báo Úc đến thăm lần nầy có mang theo nhiều bao đựng quần áo cũ và một trăm ký gạo… chỉ đủ cho các em ăn chưa được tới 2 ngày.
Năm ngoái, có phái đoàn từ Sài Gòn ra ủy lạo và trong đời côi cút, lần đầu các em mới được ăn cái bánh Trung Thu… rồi cứ nhắc hoài… vì ngon quá!
Chưa ở đâu mà trẻ mồ côi nhiều đến như vậy! Thiếu thốn đến như vậy! Tỉnh Kon Tum còn có Trại Mồ Côi Vinh Sơn 1, 2, 3, 4, 5 và 6.
Sơ quản nhiệm Trại Mồ Côi Vinh Sơn 4 nói: “Gia đình tôi cũng là nông dân rất nghèo. Thế nên lòng tôi rộng mở với những trẻ đang lâm vào cảnh khốn cùng cũng giống như tôi”.
Còn các em tương đối lớn khôn đã trải lòng mình: “Từ khi có trí khôn đến nay, em chỉ biết đây là nhà. Em cảm ơn quý sơ và mọi người đã giúp đỡ chúng em, nhưng em luôn mong có ngày gặp lại được cha mẹ”.
Một em khác thì: “Con đang theo học lớp 8 buổi sáng, chiều về con phụ quý sơ làm bánh mì, gấp quần áo cho các em còn nhỏ. Con ráng học giỏi để sau này đi làm, con phụ lại quý sơ”.
Còn các em tương đối lớn khôn đã trải lòng mình: “Từ khi có trí khôn đến nay, em chỉ biết đây là nhà. Em cảm ơn quý sơ và mọi người đã giúp đỡ chúng em, nhưng em luôn mong có ngày gặp lại được cha mẹ”.
Một em khác thì: “Con đang theo học lớp 8 buổi sáng, chiều về con phụ quý sơ làm bánh mì, gấp quần áo cho các em còn nhỏ. Con ráng học giỏi để sau này đi làm, con phụ lại quý sơ”.
Sơ Augustine nói: “Những đứa trẻ mồ côi sau khi được nuôi dạy khôn lớn tới 18 tuổi thì ra ngoài sống, nhưng thường quay trở lại để xin thực phẩm, tiền bạc hay việc làm. Chúng có vợ, có chồng, có con nhưng không thể nào nuôi nổi. Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo đeo bám các em làm tim tôi quặn thắt!”
Thưa, Chúa đã dạy rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40)
“Mỗi mùa Chay Thánh, luôn nhắc nhớ chúng ta hãy trao ban những gì mình đã lãnh nhận, để một ngày nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng những gì mình sở hữu thực sự, lại chính là những gì mình đã trao ban”.
Còn chánh quyền CS thì đang mắc bận tập diễn hành, lễ lạc ăn mừng Quốc khánh ở Hà Nội và xây tượng đài 1400 tỷ bạc ở Sơn La.
“Mỗi mùa Chay Thánh, luôn nhắc nhớ chúng ta hãy trao ban những gì mình đã lãnh nhận, để một ngày nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng những gì mình sở hữu thực sự, lại chính là những gì mình đã trao ban”.
Còn chánh quyền CS thì đang mắc bận tập diễn hành, lễ lạc ăn mừng Quốc khánh ở Hà Nội và xây tượng đài 1400 tỷ bạc ở Sơn La.
Thôi còn mong gì ở tụi nó! Mình chỉ còn cách lá lành đùm lá rách. Lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách nát… để mong một ngày nào đó đất nước tự do, không còn cảnh kẻ ăn ngập mặt người lần không ra.
Nhà báo Úc đến thăm, ra về, lòng bùi ngùi tấc dạ, “Tạm biệt các em nơi đại ngàn, gởi trao tình thương đến với các em mồ côi nơi rừng núi Tây Nguyên, Việt Nam.”
Nhà báo Úc đến thăm, ra về, lòng bùi ngùi tấc dạ, “Tạm biệt các em nơi đại ngàn, gởi trao tình thương đến với các em mồ côi nơi rừng núi Tây Nguyên, Việt Nam.”
Thưa ông Matthew Clayfield, ký giả tự do của đài ABC Úc Châu!
Đọc xong bút ký nầy của ông, dẫu ông không cùng màu da, cùng chủng tộc với đồng bào tôi; dẫu quà tặng của ông chỉ là những bao quần áo cũ và một trăm ký gạo cho các em ăn chưa tới hai ngày… Nhưng tấm lòng của ông thiệt quảng đại biết bao!
Tôi xin cám ơn ông!
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”
Đọc xong bút ký nầy của ông, dẫu ông không cùng màu da, cùng chủng tộc với đồng bào tôi; dẫu quà tặng của ông chỉ là những bao quần áo cũ và một trăm ký gạo cho các em ăn chưa tới hai ngày… Nhưng tấm lòng của ông thiệt quảng đại biết bao!
Tôi xin cám ơn ông!
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”
đoàn xuân thu
melbourne
melbourne
Monday, 28 November 2016
CHÚT TÌNH ... BƯU ĐIỆN RẠCH GIÁ
Ba tôi, người đánh máy mướn
Đoàn Xuân Thu
Đoàn Xuân Thu
Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!
Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.
Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dể thở của các công chức bậc trung.
Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!
Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!
Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.
Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.
Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên.
Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.
Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai.
Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.
Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.
Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!
Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?
Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!
Rồi khi thi đậu Tú Tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!
Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?
Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”.
Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!
Sau nầy vào Đại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhứt Cấp ‘quèn’ mà thôi?!
***
Rồi 75 đến, nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.
Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?
Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”.
Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi!
Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.
Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?!
Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn Công An, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!
Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển,
đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại.
Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva.
Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!
Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau.
Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm Cộng Sản.
Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế!
Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”
***
Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy do anh Hoàng Định Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây!
Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.
Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp.
Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!
Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!
đoàn xuân thu
melbourne
Subscribe to:
Posts (Atom)