Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label TruongBBThuDuc. Show all posts
Showing posts with label TruongBBThuDuc. Show all posts

Friday, 2 January 2026

 Những ngày cuối cùng của Trường Bộ Binh Thủ Đức.

No photo description available.

Định mệnh đa bắt tôi đóng vai tuồng “hàng thần lơ láo”, và đây là điều tủi nhục nhất trong đời tôi. Cho đến khi viết những dòng này niềm tủi nhục ấy vẫn hằn sâu trong tâm khảm tôi, và hẳn rằng không khuây cho đến khi sang bên kia thế giới.

Sau thời gian phục vụ tại Sư đoàn 5 Bộ Binh, tôi đuợc thuyên chuyển về Truờng Bộ Binh theo nhu cầu hoán chuyển các sĩ quan có kinh nghiệm chiến truờng về các quân truờng. Chức vụ sau cùng là Truởng phòng Kế hoạch của Truờng Bộ Binh

Truờng Bộ Binh là một quân truờng chuyên đào tạo các sĩ quan trừ bị cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc truớc trường tọa lạc ở Thủ Đức, đến đầu năm 1974 thì dời ra Long Thành, một cơ sở mới nằm bên cạnh quốc lộ 15, đuờng Sài Gòn – Vũng Tàu và cách quận lỵ Long Thành 5 cây số. Tại đây Truờng Bộ Binh kết hợp với Truờng Thiết Giáp và Trung tâm Huấn luyện Yên Thế, noi huấn luyện Biệt Kích, lập thành Huấn khu Long Thành. Trung tuớng Nguyễn Vĩnh Nghi là Chỉ huy truởng Truờng Bộ Binh kiêm Chỉ huy truởng Huấn khu Long Thành.

Đến đầu tháng 4, 1975, trong lúc đất nước đang lâm vào tình trạng vô cùng nguy ngập, Quân đoàn I và Quân đoàn II đã di tản, Cộng quân vào đến Nha Trang, thì Trung tuớng Nguyễn Vinh Nghi đuợc chỉ định ra làm Tư lệnh Tiền phuong Quân đoàn III, trấn đóng ở phi truờng Thành Sơn, phía bắc thị xã Phan Rang để ngăn chặn địch đang ào ạt tiến vô nam.

Đại tá Trần Đức Minh đang là Chỉ huy phó đuợc Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định lên thay thế làm Chỉ huy truởng Truờng Bộ Binh, kiêm Chỉ huy truởng Huấn khu Long Thành.

Đầu tháng 4, 1975 Truờng Võ Bị Quốc Gia là truờng si quan hiện dịch, di tản từ Đa Lạt về Long Thành và tạm trú chung với Truờng Bộ Binh. Ba tuần sau Truờng Võ Bị cho làm lể mản khóa hai khóa 28 và 29 ra truờng cùng một lúc, còn lại hai khóa 30 và 31.

Cũng vào đầu tháng 4, 1975 Cộng quân bắt đầu gia tăng áp lực, mở các cuộc tấn công vào Huấn khu Long Thành. Đặc công VC đa mấy lần định xâm nhập Trung tâm Huấn luyện Yên Thế, nhung đa bị Biệt kích Lôi Hổ tiêu diệt gọn. Truờng Thiết Giáp cũng bị tấn công liên tục, nhung nhờ tài chỉ huy khéo léo với nhiều kinh nghiệm chiến truờng của Đại tá Tám, nên đã giử vững đuợc căn cứ này cho đến cuối cùng.

Ngày 9 tháng 4, 1975 Cộng quân tấn công vào thị xã Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh chỉ cách Sài Gòn 80 cậy số về huớng Đông và cách Huấn khu Long Thành chừng 30 cây số đuờng chim bay. Trong trận tấn công này lực luợng địch gồm có Sư đoàn 7 Bắc Việt làm mũi chủ công từ huớng Đông Bắc đánh vào thị xã Xuân Lộc, đồng thời Su đoàn 341 Bắc Việt từ huớng Tây Bắc đánh vào khu vực phòng thủ của Su đoàn 18 BB/QLVNCH và Su đoàn 6 Bắc Việt đánh Dầu Giây.

Quân trú phòng ở Xuân Lộc gồm toàn bộ Sư đoàn 18 Bộ Binh/QLVNCH cùng các lực luợng của Địa Phưong Quân và Nghĩa Quân, duới quyền chỉ huy của Chuẩn tuớng Lê Minh Đảo, đã chống trả vô cùng mãnh liệt. Tất cả các mủi tấn công của quân Bắc Việt đều bị chận đứng. Riêng mủi chủ công của Sư đoàn 7 Bắc Việt đã lọt vào đuợc vào vài nơi trong thị xã nhung đả bị quân ta chận đánh quyết liệt và ngày hôm sau bị ta phản kích dữ dội, hai bên giành nhau từng căn nhà, từng mảng tuờng.

Liền khi đó Quân đoàn III cấp tốc tăng viện cho Xuân Lộc gồm Lữ đoàn 1 Nhảy Dù, Trung đoàn 8 thuộc Su đoàn 5 Bô Binh, Liên đoàn 2 Biệt Động Quân, vừa di tản từ Quân khu II về, và một bộ phận của Lữ đoàn 3 Thiết Kỵ, theo huớng quốc lộ 1 từ Biên Hòa tiến lên để giải tỏa áp lực địch.

Đặc biệt Không Quân Việt Nam cũng đa huy động tối đa để yểm trợ, và sự yểm trợ lần này rất là hữu hiệu, vì ngoài phi cơ chiến thuật, Không Quân Việt Nam đã sử dụng cả phi cơ vận tải C130 cải biến để chở những khung vỉ sắt chứa nhiều quả bom hạng nặng như bom Daisy Cutter 15.000 cân Anh, bom CBU-55, mà phía Hoa Kỳ thuờng sử dụng để phát quang làm bãi đáp trực thăng hay vị trí pháo binh, và nhiều phuy xăng JP4 dùng làm bom napalm. Máy bay bay trên cao độ 15.000 đến 20.000 bộ để tránh phòng không địch và đuợc điều khiển bằng vô tuyến cho roi đúng vào các mục tiêu ấn định. Có hai quả bom CBU-55 đã rơi trúng vào nơi đóng quân của Sư đoàn 341 CSBV, gây tổn thất nặng nề cho địch và làm cho tinh thần cán binh CSBV dao động mạnh vì tuởng là bom B52. Tuớng Cộng Sản Trần Văn Trà đích thân xuống mặt trận xem xét tình hình, thấy không chiếm đuợc Xuân Lộc nên bèn quay sang đánh vòng ngoài nhằm vào các đơn vị VNCH đang tăng viện về huớng Biên Hòa.

Nếu như lúc đó Hoa Kỳ chịu giúp miền Nam Việt Nam thêm một thời gian ngắn nữa để yểm trợ cho Quân lực VNCH chỉ bằng không lực mà thôi thì các sư đoàn CSBV sẽ bị tiêu diệt một cách dễ dàng, vì họ đã công khai xuất đầu lộ diện trở thành những mục tiêu rất tốt cho các pháo đài bay B52 và như thế, tình hình có thể đảo nguợc đuợc nhu đã xảy ra ở trận chiến Triều Tiên năm 1950.

Nhắc lại trận chiến Triều Tiên ngày 25 tháng 6 năm 1950 quân đội Cộng Sản Bắc Hàn do Trung Cộng yểm trợ đánh đuổi quân đội Đồng Minh mà chính yếu là Hoa Kỳ, chạy dài từ Bắc xuống Nam cho đến tận cùng bán đảo, chỉ còn giử đuợc phần đất vùng Pusan. Ngày 15 tháng 9 năm 1950 duới sự chỉ huy tài ba của Tuớng Douglas Mc. Arthur đã điều quân xuất thần cho đổ bộ ở Inchon, một bờ biển phía Tây ngang Hán Thành và cách vi tuyến 38 về phía Nam 100 dậm. Đây là một kế hoạch vô cùng tinh vi và táo bạo, đa đánh thẳng vào hậu phuơng địch, cắt đứt mọi đuờng tiếp tế luơng thực đạn duợc và đã làm cho các su đoàn của cộng quân đang tiến sâu về phía Nam hoàn toàn bị tê liệt, kiệt huệ và đưa đến kết quả 125.000 quân Cộng Sản Bắc Hàn phải ra đầu hàng.

Ngày 20 tháng 4, 1975 Su đoàn 18 Bộ Binh, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù, và lực luợng Tiểu khu Long Khánh rút khỏi Xuân Lộc theo liên tỉnh lộ 2 về Bà Rịa. Từ đây Sư đoàn 18 lên xe về Long Bình, còn Lữ đoàn 1 Nhảy Dù ra bảo vệ thị xã Vũng Tàu. Cuộc rút lui đã diễn ra êm thắm, tổn thất không đáng kể, riêng Đại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh truởng kiêm Tiểu khu truởng Tiểu khu Long Khánh trên đuờng rút lui đã bị thuơng, bị bắt và sau đó bị cầm tù ở Bắc Việt.

Ngày 22 tháng 4, 1975 Truờng Bộ Binh và Truờng Võ Bị đuợc lệnh di tản về Thủ Đức. Truờng Bộ Binh chỉ di tản một nửa quân số về Thủ Đức, còn một nửa quân số ở lại Long Thành để giử truờng chờ ngày trở lại.

Khi về đến Thủ Đức, Truờng nhận lại trách nhiệm phòng thủ Huấn khu Thủ Đức và đồng thời sẳn sàng các Tiểu đoàn SVSQ để về tăng cuờng bảo vệ Thủ đô.

Trong lúc này Trung tướng Nguyễn Bão Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Quân Huấn có chỉ định Đại tá Lộ Công Danh hiện đang là Liên đoàn truởng Liên đoàn SVSQ của Truờng Bộ Binh tạm thời thay thế Thiếu tuớng Lâm Quang Thơ làm Chỉ huy truởng Truờng Võ Bị Quốc Gia.

Đem 26 tháng 4, 1975, Cộng quân mở cuộc tấn công đại qui mô vào Huấn khu Long Thành, Truờng Bộ Binh ở Long Thành bị mất liên lạc, tôi và nguời mang máy truyền tin phải leo lên lầu nuớc thật cao ở trong Truờng Bộ Binh Thủ Đức để tìm cách liên lạc với Đại tá Lê Văn Phú hiện đang chỉ huy tại Truờng Bộ Binh Long Thành. Vì ông ra ngoài giao thông hào ở địa thế thấp nên máy truyền tin không liên lạc xa đuợc, nhung nhờ tôi leo lên cao nên bắt liên lạc lại đuợc với Truờng Bộ Binh ở Long Thành. Đại tá Phú cho biết hiện Cộng quân đang mở các cuộc tấn công rất là ác liệt nhung không chọc thủng nỗi phòng tuyến quá kiên cố của ta. Ông cung cho biết là Truờng Thiết Giáp vừa bị thất thủ, Đại tá Tám Chỉ huy truởng Truờng Thiết Giáp vừa mới qua hợp ở Truờng Bộ Binh, trên đuờng về ông đã bị Cộng quân phục kích và bị mất liên lạc vào khoảng 6 giờ chiều. Riêng Trung tâm Huấn luyện Yên Thế thì hoàn toàn bị mất liên lạc kể từ chiều hôm đó.

Sáng sớm hôm sau, tôi đi cùng với Đại tá Minh lên Biên Hòa để tìm phuơng cách chống đở cho nửa truờng còn lại ở Long Thành. Đuờng đi lúc đó vắng tanh, chúng tôi gặp Thiếu tá Hòa Quận truởng quận Thủ Đức đang lăng xăng điều động các lực luợng của chi khu, tôi có hỏi về tình hình trên lộ trình đi, thì ông ta khuyên không nên đi trong lúc này rất là nguy hiểm, vì hiện đang có đụng độ gần khu vực Chợ Đồn. Nhưng vì nóng lòng nửa truờng còn lại ở Long Thành nên chúng tôi quyết phải đi .

Khi tới Biên Hòa, thành phố thật vắng lặng nhu một thành phố chết. Chúng tôi chạy thẳng vô Bộ chỉ huy của Tiểu khu Biên Hòa, lúc đó chỉ còn gặp có Trung tá Thới, Tham muu truởng của Tiểu khu là còn đang làm việc. Buớc vào văn phòng ông, chúng tôi nhìn thấy một cảnh tuợng bấn loạn đang xảy ra, một mình ông phải vừa lo điều động các lực luợng của Tiểu khu đang chống trả kịch liệt với địch, đồng thời ông phải lo phuong tiện trực thăng để đi cấp cứu Trung tá Quận truởng quận Long Thành. Đêm qua, lực luợng Địa Phuơng Quân và Nghĩa Quân của chi khu Long Thành đã anh dũng chiến đấu chống trả quyết liệt, bắn cháy một số chiến xa địch, cầm cự cho đến sáng mới bị tràn ngập. Trung tá Quận truởng đã chạy thoát đuợc ra ngoài và dùng máy vô tuyến liên lạc về Tiểu khu xin cứu viện.

Vì tình trạng quá căng thẳng của Tiểu khu Biên Hòa và vì Trung tá Thới đang quá bận rộn, thấy không thuận tiện bàn thảo gì đuợc, nên chúng tôi phải rời bỏ Tiểu khu Biên Hòa để đi vô căn cứ Long Bình, nơi đặt Bộ chỉ huy của Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tại đây, tôi đuợc gặp lại các bạn bè cùng các niên truởng tay bắt mặt mừng kể lể mọi chuyện mà quên đi chiến trận đang gần kề. Mặc dù trong tình thế cực kỳ sôi động như vậy nhưng nói chung, Thủy Quân Lục Chiến vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, không hề nao núng, vẫn quyết tâm chận địch trên đầu dốc 47 của quốc lộ 15 và còn nhắn nhủ với Truờng Bộ Binh Long Thành là phải đồng tâm hiệp lực quyết ngăn chặn không cho nón cối dép râu buớc vô Sài Gòn.

Đại tá Minh cứ lấy làm tiếc là đang ở quân truờng gồm toàn những SVSQ đang thụ huấn nên không có khả năng chiến đấu như các đon vị tác chiến truớc đây. Nhớ lại thời hành quân sang Kampuchia, ông là chiến đoàn truởng, và tôi là sĩ quan hành quân, Chiến đoàn đặc nhiệm gồm có Trung đoàn 9 của Su đoàn 5 Bộ Binh, 1 Tiểu đoàn Biệt Động Quân và 1 Thiết đoàn Kỵ Binh. Chúng tôi đã tấn công vào tận sào huyệt của VC nằm sâu bên kia biên giới Việt Miên, quét sạch các mật khu an toàn của VC, tịch thu rất nhiều kho vũ khí, lương thực, đạn duợc của Cộng quân, đem lại nhiều chiến thắng vẻ vang cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi phối hợp cùng các đơn vị bạn và liên lạc chỉ thị rõ ràng cho Đại tá Phú xong, chúng tôi liền quay về Thủ Đức. Và trên đuờng trở về chúng tôi còn thấy rõ các ruơng mìn chất nổ đã đuợc đặt sẳn hai bên cầu sông Đồng Nai. Theo như kế hoạch đã định thì sau khi rút quân xong thì cầu Đồng Nai phải bị giật xập không cho thiết giáp và cơ giới của Cộng quân vuợt qua sông. Mà nếu Cộng quân có khả năng làm cầu nổi thì ta sẽ dùng phi cơ oanh tạc.

Truờng Thiết Giáp đã thất thủ, Trung tâm Huấn luyện Yên Thế đã mất liên lạc, quân Long Thành đã bị tràn ngập, giờ đây Truờng Bộ Binh Long Thành đuơng nhiên trở thành tiền đồn ngăn chặn địch mà Cộng quân quyết phải thanh toán cho bằng đuợc để tiến thẳng về Sài Gòn.

Trong đêm đó, 27 tháng 4, 1975, Cộng quân tấn công dữ dội quyết thanh toán cho bằng đuợc Truờng Bộ Binh Long Thành, nhung đã bị lực luợng phòng thủ của truờng chống trả quyết liệt. Mãi cho đến sáng thì Đại tá Phú cho biết là tình hình rất là nguy ngập không thể nào chống đở nỗi nữa vì Cộng quân quá đông, cho nên sau cùng ông đành phải ra lệnh cho rút lui theo như kế hoạch đã định.

Sau này, theo tài liệu của Cộng Sản Bắc Việt thì ngày 27 tháng 4, Sư đoàn 304/CSBV đã đụng độ dữ dội với các đơn vị Nam Việt Nam ở khu vực Nuớc Trong (Cộng quân gọi Huấn khu Long Thành là Khu vực Nuớc Trong). Sau khi chiếm đuợc Khu vực Nuớc Trong rồi, nhung khi tiến quân về huớng cầu Đồng Nai trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa, Sư đoàn 304/CSBV vẫn bị chận đánh và phải đợi đến ngày 29 mới chiếm đuợc cầu này.

Sáng ngày 30 tháng 4, 1975 vào lúc 8 giờ 30, Đại úy Hiếu, Tiểu đoàn truởng Tiểu đoàn 5/SVSQ/TBB đang chỉ huy phòng tuyến mặt xa lộ báo cáo là thấy đoàn xe thiết giáp và xe motolova của Cộng quân đang di chuyển trên xa lộ tiến về Sài Gòn. Tôi hết sức ngạc nhiên vì theo như kế hoạch đã định thì cầu Đồng Nai phải bị giật sập không cho thiết giáp và cơ giới của VC vuợt qua sông.

Tôi liền liên lạc báo cáo về Biệt khu Thủ Đô, trong lúc đó thì Trung tâm Hành quân/BKTĐ không ra lệnh dứt khoát mà chỉ nói là tùy nghi đon vị. Không một chút do dự, Đại tá Minh liền xác quyết trách nhiệm một cách rất rõ ràng là: “Bổn phận của chúng ta là quân đội là phải bảo vệ đất nuớc, thấy địch là đánh”. Tôi liền truyền lệnh của Đại tá Chỉ huy truởng đến các đơn vị, đồng thời gọi cho Hiếu chấm tọa độ và điều chỉnh để các khẩu đội súng cối 81 ly tác xạ chính xác vào mục tiêu. Đồng thời tôi gọi cho các pháo đội pháo binh 105 ly, 155 ly và 175 ly chuẩn bị sẳn sàng, đây là các loại pháo binh để yểm trợ tầm xa, mà Quân đoàn III gởi tạm ở đây. Nhung trong giờ phút quyết liệt này tôi dự trù sẽ sử dụng để bắn thẳng, trực xạ, súng 175 ly đuợc đặt trên thiết giáp nên dễ dàng di chuyển.

Bị sức kháng cự mạnh mẽ của Truờng Bộ Binh nên Cộng quân liền đổi huớng tấn công thẳng vào Truờng Bộ Binh. Một chiếc thiết giáp T54 ủi sập chuớng ngại vật ở cổng chính và chạy thẳng vào trong, vừa chạy vừa bắn phá loạn xạ. Trong khi đó thì súng đại liên ở cầu Bến Nọc mà VC vừa chiếm đuợc, bắn xối xả vào truờng ở phía cổng số 9 tức cổng sau của Truờng Bộ Binh.

Lúc đó súng nhỏ bên ta bắn trả dử dội tóe lửa vào chiếc chiến xa nhung không diệt đuợc nó. Tôi thấy rõ chiếc chiến xa khi nó tới gần, súng trên pháo tháp quay qua bắn sập Trung tâm Hành quân, vì trên nóc có nhiều cần ăng ten nên dễ nhận, Thiếu tá Lầu thuộc Truờng Tổng Quản Trị đang ở trong đó may mắn thoát nạn. Trong khi đó Đại tá Minh cùng bộ chỉ huy nhẹ đang ở cách đó không xa.

Khi chiến xa này chạy xuống tới cổng số 9 thì gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của các SVSQ do Thiếu tá Long chỉ huy giử mặt hậu của Truờng Bộ Binh nên quay đầu chạy nguợc lại.

Chúng tôi đã tìm cách kêu gọi đối phuơng ra đầu hàng nhưng không có kết quả. Sinh viên Si quan có thấy nguời lái chiến xa đứng lên duờng như có ý định đầu hàng nhung rồi lại ngồi xuống và lại bắn phá tiếp tục làm chết và bị thuơng một số chiến hữu trong đó có Thiếu tá Vuong Bá Thuận bị gãy chân, Trung tá Ông Nguyên Tuyền bị tử thương v.v…

Mặc dù chưa từng ra chiến trận nhung tinh thần chiến đấu của các Sinh viên Si quan rất là hào hùng anh dũng. Nhưng với súng truờng không thể nào hạ đuợc chiến xa, cho nên tôi gọi Đại úy Ngữ, Đại đội truởng ĐĐ663/ĐPQ là đơn vị bảo vệ trường dùng súng M72 để hạ chiếc chiến xa này. Khi nó chạy tới khỏi khu Tiếp tân đến gần miếu Tiên sư thì bị ĐĐ663 bắn đứt xích nằm tại chỗ, nhung súng trên pháo tháp vẫn còn quay bắn phá lung tung. Liền khi đó có một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1/SVSQ, đây là Tiểu đoàn của binh chủng Không Quân gởi sang học quân sự, đang ở phòng tuyến gần đó nhanh nhẹn bò ra leo lên pháo tháp và liệng một quả lựu đạn vào bên trong xe tiêu diệt hẳn. Đại úy Ngữ lục soát trong xe lấy đuợc ba khẩu súng còn đang bốc khói mang lên trình Đại tá Chỉ huy truởng và cho biết là họ đã bị khóa xích trong xe nên không thể nào ra đầu hàng đuợc.

Và liền sau đó không lâu vào khoảng 10 giờ 20 phút thì nghe Tổng thống Duơng Văn Minh tuyên bố ngung bắn chờ lệnh bàn giao. Sau đó Đại tá Minh ra lệnh cho tôi gọi cho các đơn vị ngung chiến đấu. Tất cả mọi nguời đều rơi nuớc mắt khi nghe tin này, Đại úy Trác òa lên khóc. Tôi vẫn còn nhớ lời Đại tá Minh nói lúc đó: “Nhiệm vụ của chúng ta là quân đội là phải tuân hành lệnh thuợng cấp, kêu đánh là đánh, kêu đầu hàng là đầu hàng”. Tôi bỏ về phòng thay đồ dân sự và lập tức lấy xe gắn máy phóng nhanh ra cổng, Đại úy Bão bên Liên đoàn Sinh viên đang đứng đâu gần đó liền nhảy lên theo. Chúng tôi vừa thoát ra khỏi cổng thì Cộng quân cũng vừa ập vô tới.

Khi chúng tôi ra đến xa lộ thì thấy đoàn xe thiết giáp và motolova của cộng quân đang từ từ tiến vô Sài Gòn mà không còn một lực luợng nào ngăn chặn nữa. Và vào lúc 11 giờ 30 phút chiếc chiến xa dẫn đầu cánh quân này đa tiến vô dinh Độc Lập trong lúc Tổng thống Duong Văn Minh cùng nội các cuối cùng đang rộng cửa đón chờ để làm lể bàn giao.

Nhưng ngay vừa khi vừa vô đến dinh Độc Lập thì Cộng quân liền hiện rõ nguyên hình là một đội quân xâm lăng từ miền Bắc vào, không có gì là Mặt trận Giải phóng miền Nam, do nhân dân miền Nam nỗi dậy, không có gì là hòa giải hòa hợp dân tộc, không có gì là để bàn giao. Họ liền bắt nhốt tất cả từ Tổng thống Duơng Văn Minh đến các Tổng Bộ truởng và bắt Phó Thủ tuớng Nguyễn Văn Hảo dẫn đến Kho bạc để tịch thâu 16 tấn vàng của Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam và cũng kể từ đó miền Nam đã thực sự mất vào tay Cộng Sản.

Để biết thêm chi tiết về những giờ phút cuối cùng của Truờng Bộ Binh sau khi quân CSBV vào tiếp thu Huấn khu Thủ Đức, tôi xin trích đoạn trả lời cuộc phỏng vấn với tạp chí Văn nghệ Tiền Phong, nhân kỷ niệm 25 năm ngày miền Nam Việt Nam lọt vào vòng thống trị của cộng sản, của Đại tá Trần Đức Minh, vị Chỉ huy truởng cuối cùng của Truờng Bộ Binh, ông đã tâm sự như sau:

………..Khoảng hơn một giờ sau khi im tiếng súng, đại diện một đơn vị Bắc Việt đến, Họ yêu cầu tôi thi hành lệnh của Tổng thống Duơng Văn Minh và Chuẩn tuớng Nguyễn Hữu Hạnh để bảo đảm không nổ súng nữa. Tôi giao cho họ số vũ khí bắt đuợc trên chiếc xe tăng bị bắn cháy và nói với họ lo chôn cất những nguời bị chết trong xe đó…

…..Trong khi nói chuyện, đại diện quân Bắc Việt yêu cầu tôi triệu tập Chỉ huy truởng của các Quân truờng trong Huấn khu Thủ Đức đến gặp họ. Tôi cho biết không thấy Huấn khu truởng cũng như những nguời có trách nhiệm khác đâu cả. Cuối cùng họ đành bảo tôi thay mặt Huấn khu bàn giao tất cả các trường hiện có ở Thủ Đức. Tôi cho lệnh tập họp ở Vũ đinh truờng, sau đó tuyên bố bàn giao Huấn khu Thủ Đức theo đúng chỉ thị của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sự việc diễn ra rất ngắn ngủi, chỉ có khoảng vài trăm nguời mặt mày ngơ ngác, bần thần. Rồi loáng một cái, chẳng còn ai mặc quân phục nữa. Sinh viên Si quan mặc đồ dân sự lủi thủi lê chân ra phía cổng chính. Tôi bùi ngùi nhìn theo tủi hổ …Chiều hôm đó đến luợt tôi trút bỏ quân phục và đuợc yêu cầu “nghi riêng” ở trên lầu của tư dinh Chỉ huy truởng, trong khi một Bộ chỉ huy quân Bắc Việt ở duới lầu. Đem đó tôi lên con sốt, trong lúc chập chờn nửa tỉnh nửa mê tôi đã khóc thật nhiều. Lúc này tôi mới thắm thía cảm nghiệm đuợc cái lẽ vô thuờng mà truớc kia tôi chỉ hiểu đuợc bằng lý trí…

Định mệnh đa bắt tôi đóng vai tuồng “hàng thần lơ láo”, và đây là điều tủi nhục nhất trong đời tôi. Cho đến khi viết những dòng này niềm tủi nhục ấy vẫn hằn sâu trong tâm khảm tôi, và hẳn rằng khôn khuây cho đến khi sang bên kia thế giới./.

Nguyễn Ngọc Thạch


Sunday, 12 February 2023

 Trường Bộ Binh Thủ Đức – một trong sáu trường đào tạo sĩ quan cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa trước 1975.



Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức hoặc Liên trường Võ khoa Thủ Đức hay còn gọi là Trường Bộ binh Thủ Đức (đầu tiên ở Thủ Đức, đến cuối năm 1973 thì chuyển đến Long Thành) là một trong sáu trường đào tạo sĩ quan cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cùng với Trường Võ bị Quốc gia, Đại học Chiến tranh Chính trị ở Đà Lạt, Trường Sĩ quan Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang. Trường Thủ Đức hoạt động từ năm 1951 đến năm 1975.

Không ảnh trường Bộ binh Thủ Đức năm 1966

Ngày 15 tháng 7 năm 1951 Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh kêu gọi tổng động viên: Thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Những người có bằng từ Cao đẳng Tiểu học trở lên sẽ nhập học khóa sĩ quan trừ bị.

Vào thời điểm này Chính phủ Quốc gia Việt Nam tổ chức 2 vị trí để thành lập Trường sĩ quan trừ bị: miền Bắc lập trường tại Nam Định gọi là Trường sĩ quan trừ bị Nam Định và miền Nam lập tại Thủ Đức gọi là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (trường Thủ Đức được xây dựng trên đồi Tăng Nhơn Phú, xã Linh Xuân Thôn, Quận Thủ Đức, Tỉnh Gia Định, Hiện nay là phân hiệu trường ĐH GTVT cơ sở 2). Cả hai trường đều tuyển sinh và khai giảng khóa học đầu tiên cùng thời gian: 1 tháng 10 năm 1951. Khóa 1 Nam Định mang tên Lê Lợi và khóa 1 Thủ Đức mang tên Lê Văn Duyệt.

Trường Bộ Binh Thủ Đức
Trường Bộ Binh Thủ Đức cũ, nay là ĐH Giao Thông Vận Tải – Cơ sở 2 trên đường Lê Văn Việt

Qua năm 1952, trường Nam Định được lệnh giải tán và sáp nhập vào với trường Thủ Đức. Cũng từ thời điểm này, thí sinh trên toàn Quốc gia nhập ngũ vào sĩ quan trừ bị đều vào học tại Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. 

Từ khóa 1 đến khóa 5, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý, trường hợp thi tốt nghiệp với số điểm thấp hơn quy định thì ra trường mang cấp bậc Chuẩn úy hoặc Trung sĩ (hạ sĩ quan). Thiếu úy sau 2 năm được đương nhiên thăng cấp Trung úy và Chuẩn úy sau 18 tháng được thăng cấp Thiếu úy.

Từ khóa 6, khóa sinh tốt nghiệp chỉ mang cấp bậc Chuẩn úy. Sĩ quan xuất thân từ khóa này trở về sau, không được áp dụng tiêu chuẩn lên cấp tướng. Cho nên, sau này chỉ thấy cấp cao nhất là cấp Đại tá (Ngoại trừ trường hợp được xét chuyển qua ngạch hiện dịch sẽ được hưởng quy chế lên tướng. Ngoài ra, các quân nhân xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và 4 khóa sĩ quan hiện dịch đặc biệt thụ huấn ở Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế các năm từ 1959-1963 cũng được hưởng quy chế này).

Đầu tháng 2 năm 1955, Trường gián đoạn tuyển sinh và đào tạo sĩ quan trừ bị do ảnh hưởng của Hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 trong điều khoản giảm trừ quân bị. Cuối tháng 2 năm 1957, Trường tái hoạt động và được cải danh thành Liên trường Võ khoa Thủ Đức.

Tháng 10 năm 1961, các trường Chuyên môn được tách ra khỏi Liên trường Võ khoa Thủ Đức (ngoại trừ 3 Trường Bộ binh, Thiết giáp và Thể dục Quân sự).

Năm 1962, phù hiệu của Liên trường Võ khoa Thủ đức gồm ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh và được ghi thêm phương châm Cư An Tư Nguy.

Phù hiệu của Liên trường Võ khoa Thủ Đức

Bốn chữ “Cư an tư nguy” – sống yên (không quên) lo nguy, được ghi thêm vào theo đề nghị của Đại-tá Lam Sơn trong thời gian ông làm Chỉ huy trưởng (1962). Câu này trích từ Hệ từ hạ của Khổng-tử:

“Nguy giả an kỳ vĩ giả dã

Vong giả bảo kỳ tồn giả dã

Loạn giã hữu kỳ trị giả dã

Thị cố quân-tử an nhi bất vong nguy,

tồn nhi bất vong vong

Tri nhi bất vong loạn

Thị dĩ nhân an nhi quốc gia khả bảo gia”

Nghĩa là:

“Người bị nguy là bởi cứ yên vui nơi ngôi phận mình

Bị mất là bởi chỉ tới cái hiện có

Bị loạn bởi tin cậy cái trị có sẵn,

Bởi thế, người quân-tử lúc sống yên không quên cái nguy,

còn không quên lúc mất

Khi thịnh-trị không quên cảnh loạn suy,

như vậy mới yên thân mà giữ được nước nhà”

Câu từ dài ấy được rút lại còn 8 chữ: “ Cư an lự nguy, xử trị tư loạn” và gọn hơn nữa, 4 chữ: “CƯ AN TƯ NGUY”

Ngày 1 tháng 8 năm 1963, Trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Năm 1964, Trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các cán bộ Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng (theo chương trình học, khi mãn khóa được cấp văn bằng tốt nghiệp Đại đội trưởng hoặc Bộ binh Cao cấp). Cũng kể từ năm này các thí sinh muốn trúng tuyển vào học sĩ quan trừ bị phải có văn bằng Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Ngày 1 tháng 7/ năm 1964 Trường được cải danh thành Trường Bộ binh Thủ Đức

Trường đào tạo từ khóa 1 (1951) đến khóa 27 theo thứ tự từng năm nhưng khi chiến cuộc leo thang, nhu cầu đòi hỏi nhiều sĩ quan khiến số khóa tăng lên từ 2 khóa mỗi năm. Kể từ năm 1968 trở đi thì mỗi khóa được gọi là “1/68”, “2/68”, “1/69”, “2/69″….

Trong khuôn viên Trường có một đài tưởng niệm gọi là Trung nghĩa Đài ghi bốn chữ “Tổ quốc ghi ơn.” Kể từ năm 1968 công việc đào tạo sĩ quan trừ bị của Trường Thủ Đức được bổ túc bởi Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, thường gọi là Trường Đồng Đế ở Nha Trang.


Bản đồ khu vực TRƯỜNG BỘ BINH THỦ ĐỨC năm 1970. Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức được xây dựng trên đồi Tăng Nhơn Phú, xã Linh Xuân Thôn, Q. Thủ Đức, Tỉnh Gia Định (khu vực ngày nay là Phường Tăng Nhơn Phú A, Q. Thủ Đức, nơi có trường ĐH Giao Thông Vận Tải Cơ sở 2).

Cuối năm 1973, Trường Bộ binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn khu Long Thành. Đến giữa tháng 4 năm 1975 lại di chuyển về Thủ Đức.

Trường Bộ binh Thủ Đức giải thể vào năm 1975, khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Trong thời gian hoạt động 1951-1975, Trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt.

Một số hình ảnh về Bộ Binh Thủ Đức khi ấy:

Thiệp chúc Tết của trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức

Nguyệt san Trường Bộ Binh Thủ Đức

Một số hình ảnh về tốt nghiệp của sinh viên Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức năm 1967:

Đoàn xe Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến dự lễ mãn khóa SV Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong ngày dự lễ tốt nghiệp trường bộ Binh Thủ Đức 
Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester. Bên trái là Đại tá Lâm Quang Thơ, chỉ huy trưởng trường BB Thủ Đức (4/1967-8/1969). Người đứng giữa là Đại tướng Cao Văn Viên (1921-2008), là một trong 5 người được phong hàm Đại tướng Quân lực VNCH. Ông cũng là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội trong thời gian lâu nhất (1965-1975).

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester.


Lễ mãn khóa SV Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester.

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester

Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester

Sân Vũ Đình Trường Bộ Binh Thủ Đức – ảnh của Co Rentmeester.

Các sinh viên sỹ quan thường gọi là Trung Nghĩa Đài, vị trí nằm ở cuối sân Vũ Đình Trường. Từ xa, phía sau lưng của đài là Câu lạc Bộ, phía bên trái là đường dẫn xuống doanh trại Tiểu Đoàn 2, phía bên phải là đường đi xuống Nhà bếp, Khu Gia Binh (Cán Bộ, Quân Nhân Cơ hữu của Trường), đường đi ra Cổng Sau (Cổng Số 9). Hình chụp các sinh viên sỹ quan gác Trung Nghĩa Đài có lẽ đang cử hành Lễ Mãn Khoá. Đêm trước ngày lễ tốt nghiệp, từ 6 giờ chiều cử hành Lễ Truy Điệu (khoảng 1 giờ) với sự tham dự của các sỹ quan Tham Mưu, Cán Bộ thuộc Trường cùng toàn bộ sinh viên sỹ quan khoá ra trường ngày mai.

Buổi lễ được cử hành rất trang trọng, đầy cảm xúc khi ánh dương vừa chợp tắt, trong buổi hoàng hôn nhập nhoạng sương chiều. Dưới ánh đuốc bập bùng (không thắp đèn) tiếng hô khẩu lệnh, hồi kèn rước Quốc Quân kỳ, Truy điệu tạo nên một không khí trang nghiêm đến … rợn người !

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1967

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1967

Một số hình ảnh về lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1971

Trung tướng Phạm Quốc Thuần, chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức đọc diễn văn tại Lễ tốt nghiệp ngày 4/12/1971

Ông Trần Thiện Khiêm tham dự lễ tốt nghiệp

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham dự lễ tốt nghiệp

Sinh viên Sĩ quan tuyên thệ trong buổi lễ tốt nghiệp ngày 4/12/1971

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1971

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1971

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1971

Lễ tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức năm 1971

Những Chỉ-huy-trưởng Việt Nam trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức
– Đại-tá Phạm Văn Cẩm
– Thiếu-tướng Lê Văn Nghiêm
– Thiếu-tướng Nguyễn Văn Chuân
– Thiếu-tướng Hồ Văn Tố
– Đại-tá Lam Sơn Phan Đình Thứ
– Trung-tướng Trần Ngọc Tám
– Thiếu-tướng Bùi Hữu Nhơn
– Trung-tướng Trần Văn Trung
– Trung-tướng Phạm Quốc Thuần
– Thiếu-tướng Lâm Quang Thơ
– Trung-tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
– Trung-tướng Nguyễn Văn Minh
– Đại-tá Trần Đức Minh


CÁC GIAI-ĐOẠN HUẤN-LUYỆN
Chương-trình huấn-luyện quân-sự tại Thủ Đức nhằm đào-tạo sĩ-quan chỉ-huy trung-đội, gồm:
– Bộ binh căn-bản (18 tuần): vũ khí cá-nhân, cá nhân chiến-đấu, đội hình tác-chiến, . . .
– Bộ-binh trung-cấp (28 tuần): Vũ-khí cộng-đồng như đại-liên, súng cối 60 ly, 81 ly, súng phóng hỏa-tiễn; vượt sông, chiến-thuật, bản đồ, la-bàn, pháo-binh, chiến-tranh-chính-trị, quân-pháp, . . .


THÀNH-QUẢ CỦA TRƯỜNG BỘ-BINH THỦ-ĐỨC
Theo niên giám của trường, trong 25 năm, các trường sĩ-quan trừ-bị đã đào tạo khoảng 55,000 sĩ-quan, trong đó khoảng 15.000 nguời biệt-phái về các ngành chuyên môn (hầu hết là giáo chức)./-

Thursday, 25 February 2021

  MƯA TRÊN PONCHO

  Lê-văn-Phúc  
 
Bất cứ ai đã một thời ca bài “Ta đi tòng quân” đều không thể nào quên được đời lính. Trong đời lính, dù là lính già hay lính trẻ đều mặc bộ đồ trận, vui buồn theo tiếng kèn đồng đếm nhịp thời gian. Và một trong những món hành trang cần thiết thân yêu của người lính ngoài cây súng nhân tình, phải kể đến thành phần quân trang, quân dụng này: Ấy là chiếc Poncho. Nhà binh gọi là “Pông Xô”.



Về hình thức, nó lớn bằng chiếc chiếu, mầu xanh cứt ngựa, làm bằng vải pha nylon gọi là vải ngụy trang, bốn cạnh chung quanh có lỗ, có khuy bấm bằng sắt.Chính giữa có một cái lỗ chui đầu làm thành cái mũ che, có giây buộc đàng hoàng.

Về nội dung, Poncho có công dụng chính là làm cái áo đi mưa. Khi trời bắt đầu nổi cơn mưa gió, người lính chỉ việc mở chiếc Poncho ra chui đầu vào giữa, đội nón là xong. Phần còn lại của Poncho nó lùng tùng xòe quanh cổ, quanh vai, quanh người che chở từ súng đạn đến ba-lô rất ư kín đáo an toàn.

Nó dản dị đơn sơ như thế nhưng công dụng thì lại vô cùng đa diện. Đến ngay người sáng chế ra nó cũng không thể nào ngờ rằng Poncho được dùng trong nhiều việc như thế.

Với chiếc áo đi mưa nhà binh – Poncho - mắc vào cành cây có thể làm chỗ che nắng che mưa khi canh gác một mình. Với hai chiếc Poncho ghép lại có thể thành một lều cho hai quân nhân tá túc. Với 4, 6 hoặc 8, 10 Poncho, dùng cọc dã chiến nối lại cho dài, dùng giây ghép Poncho cho kín là có một lều cho cấp tiểu đội, nom rất tư cách.
Khi quân ta sang sông trong một chiều hành quân, Poncho có công dụng như phép lạ. Nếu không có chuyến đò vĩ tuyến chuyển quân, nếu không có giây đu bắc ngang dòng nước ngược, nếu không có chiếc cầu khỉ, cầu treo... thì nhất định người chiến sĩ phải dùng đến chiếc Poncho làm phao di chuyển.

Mở rộng chiếc Poncho ra, túm chặt lỗ chui đầu lại, bao nhiêu ba lô đạn dược tập trung vào đó. Xong bỏ vài cành cây khô cho cồng kềnh, gấp Poncho lại theo kỹ thuật nhà binh làm sao cho kín mít, nước không lọt, thắt giây xong là Poncho chẳng khác gì một chiếc phao. Thả Poncho xuống nước, gác súng trên Poncho, người lính ôm cái phao cá nhân tà tà sang sông rất là đẹp mắt.

Ngoài công dụng che nắng che mưa, làm phao nổi, lều cá nhân, lều tập thể, Poncho còn dùng làm chiếu, làm nệm, có khi làm võng.

Trong các trại gia binh, anh em ở dưới mái nhà tôn nóng như lò bánh mì thì lại có sáng kiến dùng Poncho làm trần làm vách cho vợ con đỡ được đôi ba phần nắng nôi gió máy.

Còn các cấp chỉ huy ở nhà gạch mái ngói không cần đến Poncho làm trần nhưng nhiều vị có sáng kiến lấy Poncho may thành chiếc bạt phủ xe nhà cho khỏi bụi bậm, đỡ trầy nước sơn.

Những nhà dân giả, nhà binh, nhà quê thiếu ống máng hứng nước mưa thì Poncho là cái phễu vĩ đại, hết sẩy!
Poncho cũng lan tràn đến cả chợ búa. Từ xa trông cảnh chợ, xanh xanh một mầu cả trăm chiếc Poncho giăng mắc la liệt khắp nơi, nom tưởng như một tiểu đoàn đóng quân vậy. Lại gần mới thấy Poncho làm mái che cho hàng cá, hàng thịt, hàng rau, hàng quà, quán nhậu, hủ tíu bò viên, bún riêu bún ốc.

Poncho cũng di chuyển cùng chiều với các bạn đạp xích lô, kéo xe thồ, lái xích lô máy. Một chiéc Poncho thôi là đủ may chiếc áo mưa, vừa che đầu, che thân tới nữa người, gọn gàng và bền bỉ.

Poncho được chiếu cố tận tình như thế cho nên mức độ tiếp liệu dù cao, dù đúng hạn, dù mau lẹ vẫn không thỏa mãn được nhu cầu của quân đội và dân sự.

Các binh đoàn tiếp nhận xong, nhập kho, phân phối là Poncho đã chuẩn bị tan hàng. Một phần về đơn vị, một phần vào các khu dân sinh, chợ Kim Biên, chợ cũ, chợ Ông Tạ...
Tại các tỉnh, các quận, tình trạng Poncho cũng tương tự như rứa.
Poncho chẳng những phổ biến rộng rãi, đa dụng trong tình quân dân cá nước mà còn đóng một vai trò quan trọng tại các quân trường.

Ai đã một thời nhập trại Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức mà không nhớ nhung kỷ niệm quân trường những ngày gió mưa tầm tã. Buổi sáng tinh mơ tập họp trung đội, đại đội, tiểu đoàn mà nhằm ngày trời mây u ám gió cuốn tả tơi hoa lá thì anh em rất là một sự lục xục, lộn xộn, lạo xạo. Ai cũng nón sắt đội đầu Poncho chùm thân, đi đứng lù đù.

Khi anh em đi bãi về trong buổi chiều mưa, từng trung đội lạch bạch bùn đất, hàng ngũ trật tự nhưng không mấy chỉnh tề. Nếu có người yêu nào đó đứng chờ, tìm kiếm người tình giữa chốn ba quân thì có mà như đá vọng phu vẫn hoài công đứng đợi. Bởi cả trăm người lính xùm xụp Poncho trong hàng quân như thế, làm sao nhận ra được ai là người yêu của lính? Thế là hoa lạc giữa rừng gươm.


Nhưng bù vào những cái bất tiện như rứa, Poncho cũng có lúc trở thành một nguòi bạn tâm phúc, đắc dụng.
Vào những ngày nghỉ cuối tuần, quân trường nào cũng đầy ắp thân nhân bạn bè vào thăm tân binh, sinh viên sĩ quan. Ngoại trừ những ai được đi phép đặc biệt như chim sổ lồng, còn thì đa số nằm trong trại chờ người nhà đến thăm viếng.
Cái cảnh đồng bào ta lái xe nhà, đi xe đò, chạy Honda, Vespa, Lambretta, gắn máy đi thăm lính thật là ồn ào náo nhiệt.
Quà bánh thì nào là bánh mì, bánh bao, bánh ngọt, lạp xường xúc xích, cam táo chôm chôm ổi mận trái cóc, sữa Guigoz, Similac...Có người đem khăn mặt, bàn chải đánh răng, xà bông, thuốc lá,dầu cù là, dầu thơm...
Tất cả cho lính!

Rồi người ta kéo nhau tấp nập vào cổng trường, ghi tên lấy thẻ, qua trạm kiểm soát rồi là coi như thong thả tới địa điểm dành cho từng đơn vị.

Về phía lính thì cả tuần tập tành, “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, chỉ rình mong đến cuối tuần để được đón gia đình, bè bạn vào thăm viếng nên chuẩn bị rất ư là kỹ lưỡng. Có điều giống nhau, chả ai bảo ai, ai cũng cặp kè chiếc Poncho ra khu tiếp tân ngóng đợi thân nhân.

Thành phần thân nhân được phân định làm nhiều giới.
  • Giới cổ điển là các ông bô bà bô đi thăm con thì được ngay anh tân binh hay sinh viên sĩ quan mời các cụ vào câu lạc bộ nghỉ đỡ chân. Nếu câu lạc bọ hết chỗ thì mời hai cụ quá bộ ra cạnh quán, trải chiếc Poncho là tạm xong phần nghênh tiếp. Bố con, mẹ con rủ rỉ chuyện trò, ăn uống lai rai cho đến hết giờ thăm viếng.

  • Giới thứ nhì là giới bán cổ điển với bầu đoàn thê tử đi thăm chồng vào lính trễ. Giới này thường trải Poncho dưới tàng cây cao bóng mát hoặc ở trong các khu tiếp tân tập thể, vợ chồng con cái đìu íu, chuyện nhà chuyện cửa, chuyện con cái học hành, chuyện làm ăn buôn bán, chuyện hàng xóm láng tỏi, ồn ào như chợ Bến Thành hay chợ Cầu Ông Lãnh.

  • Giới thứ ba là giới độc thân, toàn đàn ông con trai đi thăm con trai mà thôi. Giới này thường tụ tập tại câu lạc bo nhậu nhẹt tán róc. Xong cái màn đó, các cậu lại rủ nhau ra lề đường, ngồi trên Poncho ngắm các em gái hậu phương đi thăm chiến sĩ, với lời bàn Mao Tôn Cương rất ác liệt.

  • Giới thứ tư là giới cô đơn, gồm những anh không có người nhà đến thăm, ôm chiếc Poncho đi lòng vòng khắp khu tiếp tân, ngong ngóng một chuyện gì như thể sắp xẩy ra mà lại mơ hồ như có như không mới khổ!

  • Giới thứ năm là giới chiến thuật mà mỗi người là một chiến thuật gia. Giới này thường chuẩn bị rất kỹ, nghiên cứu địa hình địa vật và lựa chọn điểm đóng quân thật sớm. Thông thường, các vị trí này cách xa khu tiếp tân, xa các khu ồn ào nhiều kẻ qua người lại. Họ lựa chọn chỗ vắng vẻ kín đáo, có tí mô đất, có tí cành cây để giăng chiếc Poncho hững hờ lơ lửng. Tuy chiếc Poncho nom ra vẻ lụp xụp, thiếu mỹ thuật thật đấy nhưng lại chứa đựng tất cả những gì gọi là nghệ thuật tinh vi và khoa học hiện đại. Giới chiến thuật này thường có đối tượng là người yêu của lính!

Khi những chiếc Poncho xanh mầu lá cây rừng rải rác vô trật tự họp lại mí nhau thành một chiến tuyến thì dưới những mái Poncho là những cặp tình nhân đang tỉ tê quyến luyến, thề non hẹn biển...
Thời gian lặng lẽ một dòng tưởng chừng buồn tênh mà hóa ra sống động, vùn vụt như ma đuổi. Cho đến khi lá hoa về chiều, lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa, các đôi lứa lại càng quyến luyến xoắn xuýt lấy nhau như sam, như chẳng muốn rời.


Nhất là vào những buổi chiều có ttí gió mưa thì lại càng làm cho lòng người thêm mưa gió.
Mây trời hạ thấp, những giọt mưa nho nhỏ rơi đều trên Poncho trong làn gió thoảng, đủ làm cho Poncho hạ thấp xuống một chút xíu nữa, như che gió che mưa cho cặp tình nhân tạm quên đi thế giới bên ngoài.
Chỉ thấy những mái Poncho lay động, bập bềnh, ngả nghiêng vội vã, trong khi ngoài kia tiếng kèn thu quân đang dục giã liên hồi...
Cuộc hẹn hò nào rồi cũng chia xa.

Giới chiến thuật là đơn vị giải tán thành phần cơ hữu sau cùng, vơ vội ôm quàng chiếc Poncho ù té chạy về doanh trại.
Để rồi người lính quân trường lại có những ngày chờ ngày đợi ngày mong. Mong sao cho chóng đến cuói tuần, cặp kè chiếc Poncho với nỗi lòng nao nức, rạo rực thương yêu của tuổi hoa niên thời chinh chiến.
Như thế, quả nhiên chiếc Poncho đa dụng đa năng cho cả hai phía quân dân. Nó lại còn là một biểu tượng của đồng lõa, cho đời vẫn còn mầu hồng, còn một chút gì gọi chút dễ thương.
Và rõ ràng cụ thể nhất, nó chính là kỷ vật cho em.

Nghĩ thế, một hôm nhớ về quân trường cũ, kẻ này gặp một cựu nữ sinh hoa khôi, mới khẽ hỏi xem nàng nghĩ thế nào về chiếc Poncho đối với tuổi trẻ ngày xưa?
Người đẹp bỗng nhiên má đỏ hồng hồng, mắt sáng trong trong, thỏ thẻ đáp rằng:
- Poncho! Poncho! Ồ, thật là kỳ diệu...
 
Lê-văn-Phúc