Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label VCNVThaiKimLanGermany. Show all posts
Showing posts with label VCNVThaiKimLanGermany. Show all posts

Monday, 22 January 2024

 VC NẰM VÙNG (TÂY ĐỨC) THÁI KIM LAN BỢ VÁI TÊN THẦY TU TRẦN QUANG THUẬN DU HỌC ANH QUỐC- TRỞ VỀ NƯỚC CỞI BỎ SA DI LẤY VỢ, NẰM VÙNG CHO VIỆT CỘNG./-Mt68

________________

Trí Không Trần Quang Thuận (1930 – 2017)
Cuộc hành hương trên cõi thế 


Thái Kim Lan

 

Khi tôi lên lớp đệ lục trường Đồng Khánh, đã nghe tiếng đồn về một vị đệ tử, một sa di trẻ của thầy Linh Mụ, như ông bà tôi trong gia đình thường gọi cố Đại Lão HT Thích Đôn Hậu là Thầy, nổi tiếng thông minh và học giỏi, không những làu thông kinh pháp trong chốn sa môn, mà còn vượt bực ở trường môn. Cả gia đình tôi từ bà nội, ông bà ngoại và các bà cô tôi vốn rất sùng đạo Phật, tổ tiên theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, lập nghiệp gần chùa Linh Mụ, thường lấy vị đệ tử chùa Linh Mụ thời ấy ra làm gương cho chúng tôi, lớp trẻ nhỏ, với niềm tin và tự hào về thế hệ chân tu vừa giỏi đạo vừa sáng đời. Những lúc nghe như thế, bất giác thấy có niềm vui an lành như mỗi lần nghe tiếng chuông Linh Mụ ngân trong sương mai. Trên đường đi đến trường lắm khi thấy như tấm gương học giỏi đang chiếu từ đàng xa gọi chân bước tới. Chỉ nghe mà chưa thấy hình, mà chẳng cần thấy, chỉ cần nghe thôi để tin thêm vào bước chân của mình. Và lòng ngưỡng mộ đã chắc một hai!

Bởi đất thần kinh thế hệ chúng tôi đều mến chuộng người ham học, nên càng thích chia vui niềm tự hào đất nòi đất giống ươm mầm kẻ sĩ. Lại càng thêm háo hức ít lâu sau, khi nghe vị sa di ấy được học bổng nghiên cứu tại đất Phật Tích Lan (1952 ) sau khi tốt nghiệp Phật học đường Báo Quốc, rồi tiếp theo được học bổng đi Anh học và lấy bằng tiến sĩ trong vòng 3 năm (1959). Thuở ấy xuất ngoại du học mấy ai có được”diễm phúc” được đi, chỉ những người học sinh ưu tú, có năng khiếu đặc biệt trúng tuyển kỳ khảo hạch hoặc được chọn lựa đặc biệt mới được đi – mà gọi là diễm phúc cũng bởi đó là giấc mơ vươn xa học rộng thành nhân tài hữu ích của những kẻ đi học, rồi thành đạt xuôi chảy. Đứng xa nghe tin lại càng ngưỡng mộ người anh cả đầu đàn, đệ tử đắc ý của Thầy Linh Mụ.

Thế rồi lại một lần, tính ra không lâu sau khi vị ấy du học thành tài trở về, nghe bà tôi nói với mẹ, Thầy Linh Mụ mấy hôm buồn bã, mà cả khóc nữa – vị đại sư có tiếng cười sảng khoái nhất nổi tiếng vô úy trong tăng chúng, uy dũng trước mọi hiểm nghèo thử thách lại là vị nhiều nước mắt nhất, khi nghe người đệ tử đắc ý xin xả giới hoàn tục. Các bà tôi thở dài luyến tiếc và thương Thầy Linh Mụ. Thuở ấy tôi chưa có một định kiến ranh giới giữa tu và đời, nên vẫn giữ trong lòng sự ngưỡng mộ tấm gương học giỏi, dù vẩn lên loáng thoáng trong tiềm thức dấu hỏi tại sao, theo năm tháng mơ hồ còn nằm đó chưa có câu trả lời, rồi hầu như lãng quên vì những bận tâm khác.

Năm ấy, 1960, tôi vừa vào đại học và chỉ biết sách vở cho đến khi cuộc vận động Phật giáo 1963 xảy ra. Trí thức sinh viên Phật tử ủng hộ cuộc vận động phần đông vì thương chùa và các Thầy, các Ôn thân yếu thế cô trước nhà cầm quyền đầy thế lực thời bấy giờ, giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng thể làm ngơ. Cuộc vận động ban đầu tỉ như châu chấu đá xe! Tôi nhớ rất rõ, trong buổi tuyệt thực tình nguyện tại chùa Từ Đàm, cùng với anh em đã vui mừng biết mấy, khi nghe tin đạo hữu Trần Quang Thuận, vị sa di tôi ngưỡng mộ thời trung học, ở Saigon cũng tham gia ủng hộ tích cực cuộc vận động. Ba chữ Trần Quang Thuận lúc ấy đối với anh em sinh viên chúng tôi như tiếng chuông ngân vang lan tỏa trên những mái tóc phơi trần hầu như bốc khói dưới nắng chói chang của mặt trời tháng 5 ở Huế, đã như một khích lệ và tương trợ, thể như có bàn tay đưa ra nắm lấy bàn tay – mà chúng tôi, những sinh viên còn non nớt đang cần quá trong cuộc mạo hiểm lên tiếng phản đối chính quyền đương thời, trước nguy cơ có thể bị bắt giam như một số người đã bị bắt giữ.

Quả nhiên trong cuộc vận động Phật giáo đòi bình đẳng tôn giáo này, cái tên Trần Quang Thuận gắn kết thật khăng khít và được anh em sinh viên Phật tử luôn nhắc nhở, một phần mang hy vọng và sức mạnh của một trí thức dấn thân.

Trong thời gian diễn ra cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam cho quyền bình đẳng tôn giáo và chống lại nạn kỳ thị Phật Giáo của chính quyền Nhà Ngô năm 1963, Cố Cư Sĩ đã tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh bảo vệ Phật Giáo.

Ngày 11 tháng 6 năm 1963, trong lúc Cố Cư Sĩ đang bị chính quyền nhà Ngô quản thúc ở Thủ Đức, thì ở nhà phu nhân của Ông là nữ Phật tử Tôn Nữ Túy Thiện đã đồng ý cho mượn chiếc xe Austin A95 Westminster có bảng số DBA599 để chở Bồ Tát Thích Quảng Đức đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt thực hiện đại nguyện vị Pháp thiêu thân cúng dường chư Phật. Chiếc xe hiện vẫn còn trưng bày tại Chùa Linh Mụ để làm di sản lịch sử của Phật Giáo Việt Nam. (trích tiểu sử  Cư sĩ Tâm Đức Trần Quang Thuận 1930 – 2017).

Khi tôi rời nước lên đường du học năm 1965, đạo hữu TQT đã một phen giữ chức vụ Tổng trưởng Bộ Xã hội (1964) trong chính quyền mới (1964)  (xem ts TQT) và tiếp theo những chức vị nào nữa…  Mãi đến lúc ấy tôi vẫn chưa một lần gặp mặt vị cư sĩ để trao đổi một câu, ngoài việc chào hỏi từ xa.

Lần đầu tiên tôi gặp thật sự đạo hữu TQT mãi gần 50 năm sau, khi có dịp trở về Huế. Tôi được sư cô Thích nữ Diệu Trì mời lên dùng cơm chay tại chùa Phổ Hiền, một ngôi chùa nhỏ, thanh đạm do cô trụ trì, nhân có đạo hữu Trần Quang Thuận từ Hoa Kỳ về thăm lại Huế, với một số anh em sinh viên và học sinh, gia đình Phật tử ngày trước. Đạo hữu nhờ sư cô tổ chức buổi cơm chay thân mật với anh em Phật tử. Được mời lên một ngôi chùa nhỏ, thanh đạm, thay vì đến những nơi đình đám,  thật là một hạnh ngộ.

Tôi được sư cô xếp ngồi bên cạnh người anh cả, tấm gương hiếu học hiếu đạo của thời thiếu niên ngày nào. Không có sự hồi hộp hay thất vọng như có thể tưởng, chỉ có bình yên, ngồi lắng nghe người đạo hữu trò chuyện với anh chị em, tất cả nay đã ở tuổi quá niên, mái tóc không còn bốc khói mà đã muối tiêu hay bạc phơ. Chỉ duy, trong cái thường nhiên im lặng vô ngôn chìm sâu ở dưới những vấn đáp, nghe hơi thở, tiếng nói điềm đạm, sự bình an nơi tấm thân ngũ uẩn dung dị ấy, câu hỏi thoáng ra trong đầu thuở nào khi nghe chú Trần Quang Thuận xả giới bỗng nhiên tìm được câu trả lời.

Bộc phát nhất, cảm nhận ban đầu của tôi là người đạo hữu huynh trưởng ấy có xả giới đâu. Gương mặt hiền hòa, lời từ tốn và nụ cười nhẹ hững ấy, trong giây lát cho tôi thấy rõ chú bé TQT 12 tuổi ngày nào gặp Thầy Linh Mụ bèn lẽo đẽo đi theo, xin ăn chay, xin vô chùa tu tập, sáng sáng gióng hồi chuông Thiên Mụ. Từ đó rèn tâm đức theo Phật không ngừng nghỉ. Trực giác cho tôi thấy diện mục bản lai của con người ấy vẫn là một trong muôn vàn biến đổi. Lại ngộ hiểu hơn lý do nguyện xin xả giới, ngoài những lý do vô thường, có lẽ có một lý do đúng hơn với người con Phật trí thức ấy, không gì khác là tri thức phản tỉnh chân thật với chính mình. Chân thật trong sự thấy chính mình cũng vô thường, còn khiếm khuyết, không giữ giới được toàn diện, thì không ở được trong chùa, nhưng Phật thì vẫn giữ trong lòng và thực hiện một cuộc tu khác, làm thân cư sĩ, tự ý thức thà làm cư sĩ để nỗ lực hơn trên con đường tu tập, thành tâm với chính giới hạn của mình để vượt lên trên giới hạn của mình, hoàn thành  đạo đức dấn thân giữa  thế tục như một người bình thường, theo gương của Phật:

“Trong kinh sách Phật thuộc bất kỳ giáo phái nào, Đức Phật dạy Ngài chỉ là một người thường, nhờ tu hành chứng thành đạo quả mà giác ngộ thành Phật. Ngài không bao giờ cho mình là Chúa, là Thần. Giáo lý này nói lên một cách cụ thể tinh thần bình đẳng của Phật giáo. Ngài không dùng những câu chuyện thần thoại, những phép lạ kỳ bí để tôn vinh mình, nhất là tôn vinh, trang trí sau khi Ngài đã viên tịch…”. (TQT Về nguồn)

Làm một người bình thường để từng bước thể nghiệm giáo lý của Phật, tìm cách thực chứng những vấn nạn đặt ra cho mình và cho người đồng đạo, thực hành giới ngữ, chống lại sáo ngữ  là một trong những điều kiện đi trên con đường Bồ tát: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự:

Là con của Phật, thấm nhuần đạo lý tương duyên, chẳng lẽ những lời nguyện tha thiết, chí thành trước đấng Từ Tôn: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ… lấy kẻ chống nghịch làm bạn giao du, lấy oan ức làm đà tiến thủ… chỉ là sáo ngữ, chỉ thốt ra trong lúc cao hứng nhất thời?…

… làm đệ tử Phật, được nghe, được học đạo lý Tương Duyên, được khai thị Tâm Bồ-đề, được đi trên con đường Bồ-tát. Làm thế nào để chúng ta có thể duy trì tín tâm, trưởng dưỡng sơ tâm, vun xới Tâm Bồ-đề? Làm thế nào để chúng ta có thể kiện toàn hành trang cho cuộc hành trình trên Con Đường Bồ-tát? Làm thế nào để chúng ta có thể báo đáp công ơn Phật Tổ, các đấng tiền nhân? Làm thế nào để chúng ta có thể khế lý, khế cơ? Làm thế nào để chúng ta có thể thong dong đi trên con đường làng trong ánh sáng bình minh?

Cuộc tu tập khởi đầu bằng chí nguyện và tự nguyện rèn ý chí thực hành lời Phật dạy:

  1. Nguyện mỗi chúng ta là mỗi viên ngọc trong Lưới Đế Châu, luôn luôn nối liền nhau, yểm trợ nhau, sách tấn nhau trên đường tu đạo, hành đạo.

  2. Nguyện sung sướng tùy hỷ, mang vui cho chúng sinh, dù gian nan, dù có ai xúc phạm, vẫn hăng say trong sứ mạng.

  3. Nguyện làm thuyền, làm bè, bắc cầu vượt qua mọi chướng ngại. Nguyện làm tôi tớ giúp người thoát vòng ác đạo.

  4. Nguyện rừng núi gươm đao biến thành vườn hoa tráng lệ. Nguyện binh khí, đá lửa biến thành trận mưa hoa. Nguyện lữ hành lạc lối, may mắn gặp bạn đồng hành, cùng đi trên Đường Bồ-tát. Nhờ phước Phật vô biên, chúng sanh đều an lạc. Nguyện trở về thế gian, nỗ lực trừ thống khổ. Nguyện cho Ba Ngôi Báu, tồn tại mãi trên đời.

Từ khi bước chân ra khỏi nhà chùa, cư sĩ Trần Quang Thuận đã thực hành và chiêm nghiệm một cuộc hành trình mà đạo hữu gọi là một cuộc hành hương. Cõi ta bà chính là chuyến hành hương của đời người để khám phá đời không tuyệt vọng mà chính là hy vọng:

“Đời là một cuộc hành trình. Trong dòng sinh tử Ta Bà, chúng ta đã trải qua bao nhiêu số kiếp, bao nhiêu cuộc hành trình, bập bềnh trên sóng vô minh, tật đố, thị phi, đầy khổ não. Nhưng cuộc đời thật sự đáng chán như vậy sao? Người tu Tịnh Độ nhìn đời không những là cuộc hành trình mà còn là một chuyến hành hương. Ta Bà là chuyến hành hương.  Thế giới khổ đau là hy vọng chứ không phải tuyệt vọng.

…  Nói đến hành trình, hành hương là nói đến người tham gia, nói đến những đoạn đường đi qua. Người tham gia có kẻ đến trước, có kẻ đến sau, có hàng thanh niên sức khỏe dồi dào, có bậc phụ lão gần đất xa trời; những đoạn đường đi qua có nơi bằng phẳng, có chỗ gập ghềnh. Không vì thành phần tham gia khác nhau, không vì những đoạn đường khác nhau mà ta thối chuyển, mà không cố gắng vượt qua.

Cuộc sống, Duy Thức gọi là Hằng Chuyển Như Bộc Lưu, như dòng nước chảy, biến chuyển không ngừng. Chuyển biến nên không có tự ngã, không có gì để bám chặt vào. Đợt nước này qua đợt nước khác nối nhau chảy, biến thành dòng nước, nói lên sự liên tục và tương liên của nó. Hiện hữu nhưng không có tự ngã.  Trong cái hiện hữu ấy, chúng ta khổ, chúng ta bức xúc, nhưng cũng trong cái hiện hữu ấy chúng ta có dịp hoàn thành tâm nguyện, có dịp tiến tu. Trong cái thế giới cạnh tranh có những hùng tâm muốn kiến tạo một xã hội lý tưởng trên lập trường Lân Mẫn Hữu Tình… ”

88 năm trên cõi trần, tự thân đã trải qua 2 thế kỷ đầy biến chuyển không ngừng của lịch sử Phật giáo Việt Nam, tràn đầy niềm tin với phong trào chấn hưng Phật giáo trong những thập niên 30, 40, 50, nỗ lực trong Pháp nạn 1963, thử thách với khủng hoảng Phật giáo trong những thập niên 60, 70, gần 50 năm trải nghiệm thời mạt pháp, người cư sĩ trí thức đã luôn cố gắng đóng góp làm lành vết thương rạn nứt chính trong căn nhà Phật giáo, trong nước cũng như hải ngoại. Chứng kiến sự thù nghịch ngay chính trong căn nhà Việt Nam giữa các phe phái, đảng phái khác nhau, ở trong cũng như ngoài nước, tâm nguyện của anh không bao giờ bị dập tắt, khô héo niềm hy vọng, vẫn tràn đầy lạc quan trong lúc kêu gọi “Tứ chúng đồng tu, Thánh Phàm đồng cư độ”. Làm thế nào để chúng sinh trong cõi ta bà ngồi lại với nhau, như những dấu chấm nối kết với nhau. Mục đích ấy hình như vẫn còn ở đàng xa, và câu chuyện vẫn như mới bắt đầu bằng dấu hỏi.  Luôn luôn trên con đường ấy người cư sĩ tự đặt câu hỏi cho mình, lắm khi rất cô đơn, nhưng đầy hy vọng của luân lưu sóng vỗ:

“Phật Giáo có giúp cho họ nơi nương tựa ấy? Có giúp họ triển khai tinh thần đại từ bi, tinh thần “Ngũ Trược Ác Thế Thệ Tiên Nhập, Như Nhất Chúng Sinh Vị Thành Phật, Chung Bất Ư Thử Thủ Nê Hoàn?”

Và cố gắng bằng mọi phương tiện hoằng pháp với tâm tinh tấn góp phần kiến tạo một xã hội lý tưởng trên lập trường lân mẫn hữu tình. Lý tưởng còn ở đàng xa, nhưng quan trọng là người đã lên đường, đi tới… bằng tâm thành của một kẻ hành hương.

Hơn 70 năm làm người con Phật, Trần Quang Thuận luôn là kẻ hành hương về xứ Phật tìm Phật trong tâm, tìm Phật trong cõi ta bà, cư sĩ hành thâm trong từng bước để mài sáng viên ngọc Phật trong chính tự tính của mình mà không dừng lại dưới một mái chùa.  Người ấy vẫn còn đi… nhưng đã đến trong đi…

Ngày 1/1/2018 chúng tôi đến chùa Linh Mụ tụng kinh siêu độ cho anh, nơi khúc sông và núi vờn quanh, nơi sân chùa chú tiểu Trí Không từng quét lá. Sau buổi tụng, Thầy Trí Tựu cho thọ trai và đàm đạo. Bỗng lao xao khách thập phương trước cửa. Nhìn ra thấy từng đoàn du khách đang đến xem và chụp ảnh chiếc xe của đạo hữu Trần Quang Thuận thuở nào chở ngài Quảng Đức năm 1963. Chiếc xe như biểu tượng một cuộc hành trình vĩnh viễn… mà người còn lưu vết.

Tôi chợt nghĩ, hành giả vừa lên đường… thấp thoáng ngoài kia…

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thái Kim Lan 

Huế đông chí Đinh Dậu (tháng 1/2018)

Monday, 11 September 2023

THÁI KIM LAN LÀ TRÙM NẰM VÙNG HẢI NGOẠI LÀ ĐỨA ĐƯA EM NGÔ VŨ BÍCH DIỄM VỀ NƯỚC CHO VỊT CỘNG HẠ./-TCL/Mt68
______________
GS.TS Thái Kim Lan – ra đi để trở về 

 04/08/2022 

 Sau hơn 50 năm sống và làm việc ở Đức, GS.TS Thái Kim Lan chọn trở về quê hương xứ Huế theo tiếng gọi của con tim không chỉ vì nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ dòng sông Hương thơ mộng và dãy núi Kim Phụng tím biếc mờ sương chất chứa nhiều kỉ niệm, mà thẳm sâu hơn trong nỗi lòng đầy trăn trở của người nữ trí thức mang đậm cốt cách tâm hồn Huế ấy là trở về để được góp một chút sức mình cho công cuộc tìm kiếm, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Huế.

GS.TS Thái Kim Lan tâm sự rằng, thời trẻ lúc sang Tây du học, bà luôn có một khát khao đến cháy bỏng đó là học thành tài, cái sự học ấy không vì công danh sự nghiệp hay quyền cao chức trọng gì mà chỉ để giúp ích cho đất nước. Vì thế những năm tháng trên đất khách quê người bà đã dấn thân vào việc học để rồi trở thành một nữ giáo sư triết học người Việt đáng kính ngay chính trên quê hương của những triết gia lừng danh thế giới như Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Ludwig Andreas Feuerbach.... “Giờ nhìn lại cái hoài bão và lí tưởng ấy thấy nó như một sự mơ mộng của lứa tuổi thanh xuân, nhưng chính sự mơ mộng ấy là “thức ăn” nuôi dưỡng tinh thần học hỏi, lập thân và cống hiến của chúng tôi.”, GS Thái Kim Lan trải lòng.

GS.TS Thái Kim Lan, tên đầy đủ là Thái Thị Kim Lan, sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc của Huế xưa, có bà nội là người dạy học cho các cung nữ trong cung nhà Nguyễn. Ngoài sự ảnh hưởng gia phong và lễ giáo của gia đình, bản thân bà thuở thiếu thời cũng được theo học tại những ngôi trường nổi tiếng về giáo dục nhân cách và lễ nghi truyền thống của Huế như Quốc Học, Đồng Khánh, nên cái chất Huế trong con người bà vì thế càng thêm sâu đậm. Có lẽ vì thế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân đã từng nhận xét rằng: “Thái Kim Lan là một mẫu người tiêu biểu của phụ nữ Huế”. Còn học giả Bửu Ý thì nói rằng: “Thái Kim Lan là mẫu người phụ nữ hiện đại theo cách mới, tức là vẫn rất nền nếp và rất truyền thống”.



GS.TS Thái Kim Lan - chủ nhân của "Lan viên cố tích" và Bảo tàng gốm cổ sông Hương. Ảnh: Công Đạt
Sau nhiều năm sưu tầm và gìn giữ, GS Thái Kim Lan đã có được bộ sưu tập gần 5.000 hiện vật gốm quý hiếm được trục vớt từ dòng sông Hương. Ảnh: Công Đạt 
Lễ khai trương Bảo tàng gốm cổ sông Hương tại nhà vườn "Lan viên cố tích". Ảnh: Tư liệu của nhân vật
Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Nguyễn Kim Sơn thăm Bảo tàng gốm cổ sông Hương của GS Thái Kim Lan. Ảnh: Tư liệu của nhân vật
Ông Phan Ngọc Thọ (áo trắng), Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đến dự triển lãm gốm cổ "Câu chuyện những dòng sông" của GS Thái Kim Lan tại Tuần lễ Festival Huế mùa hạ 2022. Ảnh: Tư liệu của nhân vật
TS Phan Thanh Hải (ở giữa), GĐ Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế, thăm Bảo tàng gốm cổ sông Hương của GS Thái Kim Lan. Ảnh: Tư liệu của nhân vật
GS.TS Thái Kim Lan tiếp những người bạn đến từ Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID). Ảnh: Tư liệu của nhân vật

 Thái Kim Lan sang Đức du học năm 1965, sau đó bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về triết học rồi được giữ lại làm giáo sư giảng dạy triết học so sánh Đông-Tây tại trường Đại học Tổng hợp Ludwig Maximilian ở Munich, Đức hơn 30 năm.

Sau bao năm xa quê, những tưởng bản tính Đức mạnh mẽ sẽ khiến cho cái chất Huế vốn khoan dung, mềm mỏng trong con người bà dần phai nhạt nhưng không phải thế. Bởi bà từng nói rằng: “Khi ra đi tôi mang theo trong mình cả một gia tài văn hóa, không phải chỉ tà áo dài hay mái tóc thề của người con gái xứ Huế mà trong tâm khảm là cả một gia tài văn hóa Huế. Vì thế dù có ở trời Tây, ăn bơ sữa đến mấy thì cái gia tài ấy cũng không bao giờ phai mờ được.”.

Vì thế sau này khi có dịp nói chuyện với giới trẻ trong nước bà thường chia sẻ với họ rằng, người trẻ là những người dễ bị ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nên từ quê nhà bước ra thế giới rộng lớn phải biết làm gì để vững vàng trước thử thách của hội nhập, bởi chúng ta hội nhập với thế giới không nghĩa chúng ta phải đồng hóa với thế giới.

GS Thái Kim Lan – người phụ nữ mang đậm cốt cách và tinh thần Huế. Ảnh: Công Đạt
Một chút Tây hóa điệu đà của chiếc mũ rộng vành làm tôn thêm vẻ đẹp đậm chất Huế của GS Thái Kim Lan. Ảnh: Công Đạt
GS Thái Kim Lan tổ chức lễ thượng nêu ngày Tết theo nghi thức truyền thống Huế tại nhà vườn "Lan viên cố tích". Ảnh: Tư liệu của nhân vật
GS Thái Kim Lan và những người bạn yêu văn hóa Huế. Ảnh: Tư liệu của nhân vật
Một buổi giao lưu văn hóa và giới thiệu áo dài truyền thống Huế tại “Lan viên cố tích”. Ảnh: Tư liệu của nhân vật
GS Thái Kim Lan trao đổi những câu chuyện văn hóa thú vị với người bạn nước ngoài. Ảnh: Tư liệu của tác giả
Những người bạn Huế thưởng thức các món ăn truyền thống Huế do chính tay GS Thái Kim Lan làm đãi khách. Ảnh: Tư liệu của nhân vật 

 GS.TS Thái Kim Lan là một trong những trí thức Việt kiều đầu tiên đã trở về Việt Nam rất sớm sau chiến tranh. Bà về nước sáng lập hội hữu nghị Đức – Việt và kêu gọi đầu tư từ Đức ngay sau khi lệnh cấm vận Việt Nam được dỡ bỏ. Từ đó đến nay bà đi về nhiều lần với nhiều dự án ấp ủ lớn nhỏ khác nhau.

Năm 2001, GS.TS Thái Kim Lan về nước giúp Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định) phục dựng lại vở tuồng cổ "Lộ Địch" vốn đã bị mai một, thất truyền từ sau 1975. Đây là một vở tuồng kinh điển, là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử tuồng cổ Việt Nam lấy cảm hứng từ đề tài văn học Pháp và được coi là mẫu mực của việc chuyển biên một tác phẩm sân khấu Châu Âu sang sân khấu truyền thống Việt. Năm 2002, cũng chính nhờ GS.TS Thái Kim Lan, Nhà hát tuồng Đào Tấn đã đem vở kịch này sang Đức biểu diễn trong suốt 2 tuần liền và đã để lại tiếng vang lớn trong lòng công chúng Đức. Với những đóng góp ấy, năm 2005 GS.TS Thái Kim Lan được trao giải thưởng Đào Tấn vì đã có công bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.

Là một nhà khoa học am hiểu sâu rộng triết học, văn học Đức cũng như thấm nhuần tư tưởng văn hóa Việt, GS.TS Thái Kim Lan đã dịch nhiều tác phẩm văn học, triết học có giá trị của Đức sang tiếng Việt cũng như tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam sang tiếng Đức để tăng cường giao lưu văn hóa giữa hai nước.

Những năm gần đây, GS.TS Thái Kim Lan thường xuyên về Huế hơn và dành nhiều thời gian cho các công việc liên quan đến giảng dạy, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Huế. Hiện bà đang tham gia giảng dạy cho lớp thạc sĩ triết học tại Học viện Phật giáo Huế.

Tháng tư vừa qua, sau một thời gian dài ấp ủ và chuẩn bị, GS.TS Thái Kim Lan đã cho ra mắt Bảo tàng gốm cổ sông Hương ngay tại chính ngôi nhà vườn “Lan viên cố tích” của mình ở Huế. Đây là một bảo tàng đặc biệt sưu tầm và trưng bày gần 5.000 hiện vật gốm cổ được trục vớt từ chính dòng sông Hương quê hương của bà. Trong đó có những hiện vật quý có niên đại từ thời thời tiền Sa Huỳnh, tức cách nay khoảng 2.500 – 3.000 năm. Đây cũng là bảo tàng tư nhân đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Việt Nam chỉ trưng bày những hiện vật gốm cổ được tìm thấy từ một dòng sông. Nói về tâm nguyện lớn này, GS.TS Thái Kim Lan cho biết, ngày trước bà từng có ước mơ thành lập một trường đại học tư nhân nhưng không thành, nay lập được cái bảo tàng tư nhân này cũng có thể xem như là một “trường tiểu học” về lịch sử và văn hóa Việt Nam để làm nơi gửi gắm, trao truyền lại chút gì đó cho đời sau nên rất lấy làm tâm đắc và mãn nguyện.

Có lẽ vì những nỗi niềm sâu nặng với Huế yêu thương nên “Lan viên cố tích” giờ đây không chỉ đơn thuần là một bảo tàng mà còn là điểm hẹn văn hóa để chủ nhân của nó làm nơi đón tiếp, chia sẻ những câu chuyện, ý tưởng thú vị về văn hóa truyền thống với những người bạn yêu Huế đến từ khắp nơi./.

Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Công Đạt và Tư liệu của nhân vật