Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label QGHCCaoXuanThuc13. Show all posts
Showing posts with label QGHCCaoXuanThuc13. Show all posts

Thursday, 16 May 2024

 BIẾT NGƯỜI, BIẾT TA…

 cao xuân thức

Kính dâng linh hồn Thầy Mẹ

Mùa Đông 2016 bắt đầu ngày 21 tháng 12; Trước đó vài ngày tiết trời trở lạnh, mưa nhẹ, gió Santa Ana trở về. Mãi tới hôm nay vẫn mưa và lạnh. Nhìn bầu trời man mác buồn, tôi bỗng nhớ lại hình bóng, dáng dấp, giọng nói của Thầy Mẹ tôi và quá khứ đời mình; Mới đây đã 74. Thầy Mẹ đã vắng nhà quá lâu: Mẹ từ 12/27/1972; Riêng lúc Thầy tôi ra đi ngày 05/19/1976, tôi còn ở trong ngục tù việt cộng. Nghe kể lại Thầy tôi nhắc tên sáu đứa con trai vào những ngày tháng cuối; trong khi tất cả còn trong ngục tù việt cộng. Chỉ có bà chị gái bên cạnh giường lúc Thầy tôi vĩnh viễn xa nhà. Thử hỏi còn nỗi buồn nào to lớn hơn nỗi buồn này? Còn nỗi đau nào đớn đau hơn? Mất cha, mất mẹ là vĩnh viễn mất đi. Buồn ơi là buồn! Đau ơi là đau! Nhanh quá đi thôi. Chưa làm được gì cho ra hồn.

Người viết không tham lam tự thuật hết mảnh đời của bản thân mà chỉ ghi sơ lược điều đã thấy, đã gặp và đã làm- còn sót lại đâu đó trong tiềm thức.

1-      ĐẸP LẮM CUỘC ĐỜI MỘT NÔNG DÂN: 1942-1954.

Sinh tháng 7 năm Nhâm Ngọ/1942 tại làng H.P. Quảng Bình Việt Nam; Trong một gia đình nông dân: Suốt ngày chân lấm tay bùn, và lợi tức phó thác cho thiên nhiên thời tiết; công việc hằng ngày như cày bừa, cắt cỏ. Đi nôm, đi xúc. Đào hang cua, hay mò bắt cua đồng. Không may thọc tay vào hang gặp phải rắn nước; sợ hết hồn vội rút tay ra, bỏ của chạy lấy người. Đến mùa gặt. Gặt lúa. Bó lại. Gánh về. Đem phơi. Đập lúa. Xay lúa. Giã gạo.

 

Vụ lúa xong. Đến vụ trồng khoai lang, khoai mì, và gieo bắp. Đây là món ăn dặm với cơm, nếu vụ lúa được mùa. Ngược lại, nếu vụ lúa mất mùa; Lang, mì, bắp sẽ lên ngôi thành món ăn chính mỗi ngày cho đến vụ lúa năm sau.

 

Mẹ tôi thêm cái nghề nuôi tằm, do đó còn phải lo hái lá dâu làm thức ăn cho tằm; Đến lúc tằm nhả tơ, lo thu hoạch tơ và dệt tơ đan áo; Được cái là tằm sau khi nhả hết tơ trở thành con nhộng, luộc hay chiên ăn rất ngon.

Thầy tôi thêm nghề “Thầy thuốc Bắc”. Sau này văn minh hơn gọi là” Bác sĩ Đông Y”. Mỗi lần khách tới, tôi phải chơi loanh quanh để khi, Thầy cần tôi đem nướng vài món thuốc như bạch truật, cam thảo…và quế…Tôi thích ăn lén vài miếng quế vì có vị cay cay và thơm…Dọc theo hiên nhà có đến cả chục khúc gỗ rỗng lòng nuôi ong, treo lủng lẳng và khi đến mùa thu hoạch mật, tôi được ăn những xác đã vắt hết mật.; Nhưng vẫn còn vị ngọt. Có một điều thật lạ cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu được; nhưng rất thích thú khi nó xảy ra lúc đó; Sự việc như thế này: Mỗi khi thấy đàn ong bay qua nhà, Thầy tôi kêu to: có ong, có ong…lập tức cả nhà mỗi người cầm hai cái chén ăn cơm hay nắp nồi cà cà vào nhau và cứ thế làm liên tục; từ từ đàn ong sà xuống và tụ lại trên một cành cây nào đó. Thầy tôi bắc thang leo lên tìm con ong chúa và bắt nó cột vào bọng ong treo sẵn bên cạnh: Từ từ các cô chú ong khác chui vào. Và bọng ong này sẽ được di dời vào hiên nhà.

 

Ngày loay hoay ngoài đồng ruộng, đêm lo tới giếng làng múc nước và gánh về cho ngày mai v.v… Cứ thế mà xoay vần cho tới khi lên giường đi ngủ: Không mộng mị, không mất ngủ, không đi tiểu tiện đêm … Không cần thuốc cao máu, cao đường, cao cholesterol, nhức mỏi hay thuốc ngủ …Đúng là trời sinh voi sinh cỏ…Càng đi gặp bác sĩ càng sinh nhiều thứ bịnh như thời nay? Có vài người nói với tôi như thế.

 

Tình yêu trai gái thường nảy nở những đêm đến nhà hàng xóm giúp nhau đạp lúa, xay lúa…Hay qua mai mối. Không có cái cảnh anh đứng chờ em khi tan trường về; hay mời em đi ăn, đi xi nê; Xin cho anh số điện thoại; hay ta quen nhau đêm noel năm nào…như trong một vài nhạc bản. Tôi còn nhớ lúc đó đã gần 9 hay 10 tuổi, đi chăn bò, chăn trâu gặp ngày nắng gắt cả đám trai lẫn gái tuột hết áo quần ào nhảy xuống suối tắm tỉnh bơ. Nay ở Mỹ, mấy đứa cháu trai lẫn gái mới lên hai lên ba, khi cha mẹ hay ông bà cởi áo quần chúng đem vào phòng tắm đã mắc cỡ và lớn hơn tí nữa là chúng chỉ cho thay áo quần nơi riêng tư. Té ra càng văn minh càng rắc rối.

 

2-      VIỆT MINH CHỦ TRƯƠNG: THÀ GIẾT LẦM - HƠN THA LẦM:

Khoảng năm 1949-1950: Việt Minh tấn công vào làng khi giáo dân cả làng đang tham dự Lễ Giao Thừa Tết Nguyên Đán.

 

Nó bao vây nhà thờ. Nội bất xuất; ngoại bất nhập. Tôi và Mẹ tôi không đi lễ đêm; nên không bị kẹt trong nhà thờ. Thế nên chứng kiến được cảnh đi hôi của, của “bộ đội cụ hồ” và dân làng bên cạnh hùa theo ăn ké. Chúng tay cầm súng, cầm mác, tay cầm gậy dâm đâm thọc thọc từ ngoài vườn đến tận trong nhà để tìm kiếm của cải chôn giấu…Thật hao hao giống như cảnh 30/4/1975 tại Saigòn và các tỉnh thị miền Nam và miền Trung.

 

Thầy tôi và các anh lớn tuổi tan tác nhau kể từ đêm đó. Mạnh ai người đó thoát thân để chạy vào vùng Quốc Gia kiểm soát. May mà tất cả vượt thoát an toàn. Còn lại Mẹ tôi và tôi, côi cút với nhau suốt nhiều năm sau đó.

 

Mẹ tôi với tấm thân nhỏ thó nhưng lo toan mọi thứ từ trong ra ngoài; Thương Mẹ quá. Tuy còn nhỏ tôi trốn Mẹ đi lên giếng Làng múc và gánh nước về dùng hằng ngày. Mẹ nhìn tôi và hỏi” Sao con gánh được?” Con phải nghỉ nhiều lần trên đường. Mẹ ngoảnh mặt đi hướng khác. Dường như Bà khóc vì thương tôi. Kể từ đó ngoài việc nấu cơm quét dọn và hái dâu nuôi tằm tôi có thêm công việc gánh nước. Nấu cơm lúc đó khi nào cạn nước, phải xới cơm lên và phần trên cũng phải độn khoai lang khô hay khoai mì. Lý do: Đến bữa ăn, trên mâm cơm có cơm độn như thế; mới khỏi bị cán bộ cụ hồ hạch hỏi đủ điều và có thể bị đấu tố vì cho là còn chôn giấu của cải mới ăn cơm trắng. Nếu lâu lâu mua được thịt cá, Mẹ bảo phải để phía trong đừng dọn lên mâm. Dĩ nhiên phần cơm trắng phía dưới nồi cũng phải để phía trong. Quả thật chuyên khó tin mà có thật dưới thời sống với Việt Minh/Việt Cộng.

    

Thế rồi khoảng năm 1953-1954, một hôm mẹ tôi nói nhỏ; Sáng sớm mai Mẹ đem con vào gặp Thầy và các anh con. Hôm sau giữa đêm khuya, hai mẹ con âm thầm rời nhà xuống bến ghe. Vừa rạng sáng từ xa xa đã thấy Quãng Khê. Súng nổ và người chèo đò cho ghe cập vào. Cả ghe bị bắt. Ở tù trong nhà dân vài ba tháng. Trong thời gian đó mỗi lần máy bay bà già Pháp lên; chúng tôi phải chạy ra vườn chui vào mấy cái nấm mộ ngụy trang; Chỉ chui ra khi không còn tiếng ù ù từ máy bay.

Vào một buổi trưa, du kích tới bảo mẹ con tôi ra về. Hai mẹ con đi bộ qua nhiều cánh đồng về nhà. May mà nhà vẫn cửa đóng then gài chưa có chủ mới.  Sau lần vượt thoát thứ nhất thất bại. Bẵng đi một thời gian, mẹ con lại ra đi trong đêm tối lần thứ hai. Thành công. Lúc đó tôi còn nhỏ lắm nhưng đủ để nhớ những sự kiện mà lúc đó tôi coi rất dửng dưng. Thật nó ghê gớm đến rùng mình khi viết những dòng này: Kinh nghiệm qua vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và thật nhiều vụ lẻ tẻ đây đó trên 4 vùng chiến thuật mà tôi đã chứng kiến khi tôi phục vụ thời Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều lương dân chết oan ức bởi cộng sản chủ trương: ”Thà giết lầm mười người còn hơn tha lầm một người!!!”  

3-      NGÀY NAY HỌC TẬP - NGÀY MAI GIÚP ĐỜI: 20/07/1954 -30/4/1975.

-          Hiệp định Genève 20/07/1954: Mẹ con vừa vào tỉnh lỵ Đồng Hới khoảng đầu năm 1954: Lại khăn gói di cư vào Nam qua đường bộ từ Đồng Hới vượt cầu Hiền Lương tới Đông Hà, Quảng Trị.

-          Vài tuần sau từ Đông Hà vào tạm trú trong thành nội Huế ngay bên cạnh sông Hương. Tôi còn nhớ ở đó có nhiều căn nhà có súng đại bác đúc bằng đồng đen và nhà không có xây tường xung quanh.

-          Ở đây một thời gian, đoàn người được xe lửa chở từ Huế vào Đà Nẵng. Đây là lần đầu tiên được ngồi trên xe lửa. Không khác chi anh Mường anh Mán về thành như Việt Minh về Hà Nội 1954 và như Việt Cộng từ Bắc vào Nam 1975.

-          Tạm trú trong khuôn viên nhà thờ Chánh Tòa Đà Nẵng một thời gian; chúng tôi lên Tàu chiến Pháp vào Nha Trang khoảng cuối năm 1954 đầu năm 1955. Tàu neo ngoài khơi bãi biển Nha Trang khoảng giữa Bộ Tư Lịnh Quân Khu II và TTHL Hải Quân ở Nha Trang.

Từ đó tôi nhập học trường Thánh Tâm tại ngã Sáu Nhà Thờ Đá., trường Nam Nam Tiểu học Nha Trang lớp Nhì và lớp Nhất; Trung Học Võ Tánh từ Đệ Thất tới Đệ Nhất B (1957-1964). Tôi có rất nhiều kỷ niệm tại Nha Trang. Tôi gặp nhiều vị thầy Cô đáng kính tại ba trường vừa nêu: Cô Ngâm dạy Lớp Nhì, Thầy Khải dạy Lớp Nhất (Nam Tiểu học Nha Trang), Thầy Tuệ dạy Sử, Thầy Minh dạy Lý Hóa, Thầy Liễm dạy Toán (Cả ba Thầy dạy Đệ Nhất Võ Tánh) và Thầy Điểm, Giám Thị và nhiều nhiều nữa…Kỳ thi day go và tiết kiệm được nhiều tiền cho gia đình là thi đậu vào Lớp Đệ Thất Trường Công lập Trung Học Võ Tánh niên khóa 1957-1958.

-          Sau Nha Trang vào Sài gòn. Năm đầu vừa ghi danh học Trường Luật để chuẩn bị thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Đại học Khoa Học để chuẩn bị thi vào trường kỹ sư Phú Thọ ngành Công Chánh.

 

Cuối cùng quyết định vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh vì chịu ảnh hưởng, hình ảnh oai vệ của ông Tỉnh Trưởng Khánh hòa năm cuối lớp Nhất khi lên lãnh phần thưởng danh dự do ông ta trao. Tôi còn nhớ Tỉnh Trưởng tên là Nguyễn Trân.

 

Suốt thời gian ba năm tại Học Viện: Học trình mỗi năm đầy đủ 12 tháng, không nghỉ Hè. Năm thứ nhất học tại Học Viện. Năm thứ hai đi thực tập tại địa phương. Năm thứ ba trở về Học Viện: Học lý thuyết, chọn đề tài làm luận án; và tùy theo đề tài đã chọn, sinh viên về các Bộ Phủ liên quan vừa thực tập vừa thu thập tài liệu để hoàn thành luận án đã chọn. Điểm luận án chiếm hệ số khá cao khi tốt nghiệp. Tôi chọn “Hệ Thống Các Trường Tư Thục Tại Việt Nam” do Giáo sư Tạ Văn Tài đỡ đầu. Tiếc thay Ông bị động viên đi Thủ Đức. Luận văn của tôi do một vị giáo sư khác đọc. Tất nhiên bị bất lợi.

 

Sau khi tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh; Tổng Nha Công Vụ đến chủ tọa buổi chọn nhiệm sở phục vụ. Một danh sách dài các nhiệm sở có nhu cầu và một danh sách sinh viên tốt nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp hạng cao nhất chọn trước và tiếp tục cho đến sinh viên cuối cùng. Tôi chọn một cơ quan tại Trung Ương và về trình diện cuối năm 1968…Vài tháng sau, đầu năm 1969 tham dự khóa 2/69 trừơng Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức. Trước khi vào Thủ Đức, sinh viên sĩ quan phải qua 6 tuần hay 8 tuần huấn nhục tại trung tâm huấn luyện tân binh ở Quang Trung. Tại đây tôi sợ nhất là Bò Hỏa Lực, chà láng và ngày nào cũng Cá Mối Dưa Leo làm chuẩn trong khẩu phần ăn. Ở Quân trường Thủ đức tôi sợ nhất là tập thể dục chạy vòng quanh Vũ Đình Trường. Chạy muốn tắt hơi. Cũng có sinh viên bị kiệt sức té xuống, chứ không phải nói đùa. Thích nhất lúc ra thực tập ngoài bãI tập, lén mua chè, mua nước…

 

Cực ơi là cực, nhất là những lúc ra tuyến ứng chiến đêm quanh trường gặp trời mưa. Nằm trong Ụ phòng thủ mà nước cứ rơi tí tách vào mình…. Cuối cùng cũng tốt nghiệp với lon chuẩn úy. Kiến thức hấp thụ được từ quân trường Thủ Đức và từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh góp phần rất lớn cho sự thành công sau này khi va chạm thực tế trong cuộc sống đời thường ở Việt Nam và cả ở Mỹ.

 

Đó là” TỰ TIN”: Chìa khóa mở được tất cả cánh cửa, nếu muốn.

 

Tôi tự đánh gía con người của tôi là kết tinh của khí thiêng sông núi từ những dãy núi trùng điệp, những con sông bao quanh làng, những cánh đồng lúa bao la ở hai hướng đông tây; Và cũng được kết tụ nền văn hóa, văn minh đa dạng tại thành thị thông qua chương trình giảng huấn từ những ngôi trường các cấp ở Nha Trang và Sài Gòn. Xuất phát từ gia đình nông dân, nguồn gốc của dân tộc và nhân bản. Trưởng thành từ các ngôi trường ở thành thị, nguồn gốc của khai phóng. Như vậy tôi đã được hấp thụ một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng ngay từ đầu đời. Và quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá.

 

4-      GIẶC TỪ BẮC VÔ NAM; 30/04/1975 - 1984: Thế rồi cộng sản ngoài Bắc phản bội những cam kết Hòa Ước Paris 1973 xua quân đánh cướp Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Từ đó một số quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào vượt thoát ra khỏi nước. Tuyệt đại bộ phận kẹt lại. Quân Cán Chính bị tù tội. Đồng bào bị lưu đày đi vùng gọi là kinh tế mới nhưng thực chất là loại trại tù trá hình.

 

Một thảm họa đã bắt đầu bao trùm cả Miền Bắc từ 1954 và như con siêu vi trùng ung thư lan rộng xuống Miền Nam 1975, khiến cả nước trở thành con bịnh ung thư. Việt Nam chết dần chết mòn bởi siêu vi trùng ung thư Bắc Kinh và Việt cộng.

 

Những con bò vàng, ruồi xanh, như những con đĩa khát máu từ Bắc tràn vào nhân danh “Giải Phóng” phân tán khắp hang cùng ngõ hẽm, vơ vét tài sản, của cải, khí tài, qúy kim, vàng bạc không chừa một thứ gì; đưa về Bắc chia chác nhau giữa những đảng viên cao cấp trong cái gọi là Bộ Chính trị và Trung Ương Đảng. Mặc kệ cho “bộ đội cụ hồ “xác còn trải dài trên đường mòn hồ chí minh tới rừng sâu kênh lệch khắp 4 Vùng chiến thuật của Miền Nam Việt Nam.

 

Phần tôi lúc đó tay trắng lại hoàn trắng tay. Bèn lên xích lô “đổi mồ hôi kiếm bát cơm” cho mình và gia đình.

 

Không bao lâu sau cũng bị lùa vào trại tù tập trung. Lao động khổ sai bắt đầu từ 1975 đến 1982. Ngày ra khỏi trại tù thật không dám ngoảnh đầu nhìn lại. Vừa đi vừa chạy một phần cho sớm gặp lại vợ con, phần kia sợ “Nó” đổi ý bắt lại!!!

 

Ra khỏi “trại tù nhỏ “gặp phải “trại tù lớn hơn” tại địa phương Phường Khóm.

 

Suy đi nghĩ lại: Vượt biên là con đường duy nhất. Nhưng vàng không có; dù chỉ một tí ti ti như hạt cát. Làm sao đây? Khôn không bằng may; Chó ngáp phải ruồi!!! Số là: Một hôm vừa đạp xích lô về nghe vợ nói nhỏ “Cháu Đống từ Mỹ gửi cho bốn chỉ vàng và ngày mai có người đến nhà giao”. Đúng là được tin vui giữa mùa tuyệt vọng. Bên cạnh đó nhờ tiết kiệm từ tiền đạp xích lô và bán nước mát ở Chợ lớn, nên chúng tôi mua thêm được một chỉ. Tạm thời như ổn. Người ta vượt biên nhiều lượng; nhưng tôi chỉ cần năm chỉ. Chuyện lạ bốn phương!!!?

 

Ông bà nói” Họa vô đơn chí, phước bất trùng lai”. Nhưng tôi lại gặp một điều may kế tiếp. Có người móc ngoặc tôi vượt biên với hai điều kiện: Làm thuyền trưởng, và phải có hộ khẩu ở Sài Gòn/ TP HCM. Vì giấy tờ làm thuyền trưởng phải được Sở giao Thông Vận Tải cấp. Muốn thế phải có hộ khẩu. Thật tình cả hai điều kiện đều rất khó khăn với tôi. Nhưng tôi vẫn gật đầu chấp nhận. Đối với việc xin nhập hộ khẩu tại Sài Gòn/tphcm lúc đó quá khó với dân thường chứ đừng nói chi đến” Hạng Tù nguy hiểm” mà giấy tha ghi rõ “Đương sự không được cư ngụ trong Thành phố…” Thế nhưng tôi có hộ khẩu nhờ một đồng nghiệp trước 1975 giúp. Đúng là ở hiền gặp lành. Còn điều kiện làm thuyền trưởng cũng lắm gian nan; Vì tôi gốc dân hành chánh, không biết tí gì về kỹ thuật hải hành…Làm sao đây?

 

Một liều ba bảy cũng liều. Nhu cầu vượt biên để thoát ra khỏi trại tù lớn, thôi thúc tôi phải mưu sinh thoát hiểm. Không còn người bạn hải quân nào ở lại; tôi bèn đạp xích lô ra đường Lê Lợi và dọc theo những đường bày bán sách báo cũ; Tìm mua tất cả sách liên quan tới ngành hàng hải. May quá! Tôi vớ được cuốn tựa đề” Kỷ Thật Đi Biển”. Bản dịch từ một tác giả nước ngoài. Về nhà nằm đọc rất kỹ. Những điều trong sách cộng với kiến thức thụ huấn từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức về mưu sinh thoát hiểm, về địa hình, cách nhìn sao trời: Sao Mai, Sao Hôm, cách nhìn mây trên bầu trời, kể cả chim bay từ hướng nào đến hướng nào, cách xem địa bàn, chấm tọa độ, đo tốc độ Tàu chạy. Đó là nhiệm vụ thuyền trưởng bất đắc dĩ như tôi. Còn lái Tàu có tài công, sửa Tàu có thợ máy… Nhờ thế tôi rất tự tin khi đem Tàu ra khơi đúng vào thời gian tháng 12 năm 1984 lúc đài khí tượng loan báo: biển động cấp 11 hay 12. Tôi nghĩ chỉ có thời gian biển động mới hy vọng an toàn hơn vì không ai nghĩ - kể cả công an đường sông, công an đường biển- có thằng điên nào dám vượt biên lúc đó.

 

Tôi còn nhớ trước khi vượt qua khỏi cửa biển Vũng Tàu, bác tài công hỏi tôi: Cho Tàu chạy bên trái hay bên phải. Tôi thoáng nghĩ, bên trái sẽ dễ bị nhận diện vì tương đối gần bờ biển Vũng Tàu đang có Tàu công an đường biển đậu và rất gần với các Tàu nước ngoài đang đậu, đèn sáng như ban ngày chờ được hướng dẫn vào cảng Sài Gòn. Còn bên phải xa xa trong bờ là chiếc Tàu sắt của công an đường biển, nổi tiếng ông thần bắt vượt biên. Nếu lái về bên phải tức là phải đổi hướng chệch về phải; gây nghi ngờ, nếu có kẻ địch đang quan sát. Tôi quyết định cứ cho Tàu chạy bên trái; Không được đổi hướng, không giảm hay tăng tốc độ và cứ hướng về phía trước.

 

Qua được cửa tử này coi như may mắn lắm. Nhưng ra ngoài khơi, gió lớn, con Tàu đu đưa như chiếc lá hay cái võng nằm. Khi sóng lớn đưa Tàu lên cao chót vót như đang trên đỉnh đồi nhìn xuống xung quanh nước đen ngòm: Khi đến chu kỳ Tàu bị sóng hạ xuống, Tàu nằm sâu xuống như trong thung lũng và xung quanh nước biển cao bao vây. Cứ thế mà con Tàu trồi lên tụt xuống gần cả ngày đầu tiên từ lúc ra khỏi cửa biển Vũng Tàu. Qua một đêm đến rạng sáng hôm sau, biển bỗng dưng yên lắng như trên mặt hồ. Gặp Tàu buôn to lớn. Nó nhìn qua ống dòm và bỏ đi. Tàu cứ thế chạy thêm một ngày nữa và qua đêm thứ hai, rạng sáng ngày thứ ba, tôi thấy chim biển bay trên trời…

 

Rồi xa xa hình như có hòn đảo. Tôi dặn anh em quan sát thật kỹ xem có cờ VC hay không? Vì tôi e sợ có thể là Côn đảo. Cuối cùng đó là đảo Pula Laut của Indonesia. Đây là hòn đảo nhỏ nhất của Indo. gần Việt Nam nhất: Mục tiêu chúng tôi đã chấm trên bản đồ. Những bà con dưới hầm Tàu được từ từ cho lên phía trên sàn Tàu. Nỗi vui mừng hiện rõ trên nét mặt, ánh mắt của mọi người.

Quả đúng là đi tìm sự sống trong sự chết.

 

Bất ngờ là yếu tố căn bản trong binh pháp đề thành công. Và nhờ áp dụng yếu tố bất ngờ đã đem đến thành công. Tới được Ga Lăng/ Indonesia và đến Mỹ 1985 với căn cước tị nạn Cộng Sản Việt Nam. Đời tôi là một chuỗi dài vượt biên… Và thề không bao giờ trở lại cho đến khi không còn cờ máu trên mảnh đất hình chữ S thân thương.

 

5-      CUỘC CHIẾN MỚI TẠI MỸ TỪ 1985:

Tôi gọi là cuộc chiến mới vì tôi vẫn quan niệm trong thế giới tư bản rất ư là tự do nên muốn sống còn, phải biết tự lực mưu sinh. Trong quân trường Thủ Đức tôi có học bài Mưu Sinh Thoát Hiểm. Tôi nghĩ như thế và áp dụng vào thực địa tại Mỹ. Luật đào thải rất thực tế tại đây. Lười biếng, lừa lọc, lấy đầu heo nấu cháo, nịnh trên đạp dưới, mượn hoa cúng Phật, không thể tồn tại và vươn lên.

 

Thế cho nên phải nghe, phải hiểu, phải viết, và nói được tiếng bản xứ là điều kiện tiên quyết, là điều kiện ắt có và đủ để tồn tại và vươn lên làm người tại xứ sở tạm dung này. Phải vừa đi học vừa đi làm. Dù lúc mới đến Mỹ 1985; lương giờ chỉ có $3.50/giờ. (Chưa khấu trừ/deduction gì cả). Vậy cũng đủ để nuôi bản thân và cứ vài tháng gửi một thùng quà về nuôi vợ con ở Việt Nam. Nghĩ lại không khác gì lúc làm một nông dân thời thơ ấu, mỗi sáng sớm ngồi trên lưng trâu lững thững ra đồng; Thời nay hằng ngày “lái xe đi cày” kiếm tiền trả nợ áo cơm. Chỉ đổi mới từ con trâu ra chiếc xe hơi!!!

 

Suy nghĩ như thế và quyết chí thực hiện.

 

Tôi đã làm tại hãng điện tử Hitachi ở Anaheim, Hãng Tiện ở Santa Ana, Bịnh viện điên ở Costa Mesa, Sở Xã Hội County Los Angeles và cùng thời gian làm tại Los Angeles từ 1989-2011, tôi ghé học Real Estate Courses ở El Camino College, Torrance; Và hành nghề địa ốc bán thời gian từ 1991; Và full time từ 2012 cho tới nay sau khi nghỉ hưu 2011.

 

Nhìn lại chặng đường đã qua; quả thật ba chìm bảy nổi chín long đong. Cứ mỗi lần té xuống thật đau; Gượng dậy. Đứng lên. Tiếp tục đi về phía trước. Chưa một lần ngưng nghỉ. Ngưng nghỉ đồng nghĩa với đầu hàng.

 

Cũng thế; Cuộc chiến chống chế độ hung tàn, bất nhân bất nghĩa, ác với dân, hèn với giặc hiện đang do đảng cộng sản Việt nam giành độc quyền lãnh đạo, vẫn đang tiếp tục không ngưng nghỉ cho đến thắng lợi cuối cùng; Dù phải kéo dài tới thế hệ con cháu chúng ta. Có như thế chúng ta mới bảo vệ được những giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng; Đó là bảo vệ được Việt Nam

 

Thật vậy, Tổ Tiên mình nói:

” Cái nhà là nhà của ta

Ông Cố Ông Cha lập ra,

Các con hãy gìn giữ lấy,

Muôn năm với nước non nhà”

 Và:

“Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,

Một lòng thờ Mẹ, kính Cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con’’

 

Kính chúc bình an và ấm no đến với mọi gia đình, mọi người và đặc biệt đồng bào thân thương ở Việt nam.

 

cao xuân thức, mùa Đông 2016.

Saturday, 7 October 2023

 CÁM ƠN Ý KIẾN "ĐỂ CHO YÊN ỔN" TẬP THỂ QGHC CHÚNG TA CỦA BÁC CAO XUÂN THỨC KHÓA 13- TUY RẰNG AI CŨNG NHẬN THẤY HCMD ĐÃ DÙNG BIỆN PHÁP RẤT "MÁNH" TRONG VỤ PHẠM THÀNH CHÂU- CÔNG VIỆC VẠCH MẶT, LOẠI TRỪ CÁC GIA NÔ VC TẠI HẢI NGOẠI CŨNG VÔ CÙNG QUAN TRỌNG VÀ RẤT CỤ THỂ GÓP PHẦN THỰC TIỄN TRONG CÔNG VIỆC CHỐNG CỘNG CHUNG CỦA CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN CHÂN CHÁNH./-TCL/Mt68

____________________

Tom Cao

Kính thưa quý vị giáo sư và đồng môn,
Theo như bản tin được phổ biến, không có chức vụ trưởng ban báo chí trong BCH của Hội CSV/QGHC Miền Đông.
Tôi đề nghị quý đồng môn xếp hồ sơ về vụ việc của cái gọi là chức vụ trưởng ban báo chí của phản dồ PTC; để cho yên ổn trong đại gia đình QGHC của chúng ta.
Còn biết bao điều quan trọng hơn chúng ta cần phải làm để vô hiệu hoá tà quyền Hà Nội; tuyệt đối không mắc mưu bọn tà quyền của bè lũ Hán nguỵ như Trọng Lú và hàng ngàn lâu la của hắn.
Thân kính cảm ơn tất cả từ giáo sư đến quý đồng môn thân yêu.
Trân trọng 
Cao Xuân Thức 
Đốc sự Hành Chánh hạng 3.( Từ năm 1974). Khóa 13.

Friday, 6 October 2023

 Ý KIẾN CHÂN CHÁNH CỦA TOM CAO

to mevohuynhtrieuRosepeternguyen,
Tom Cao tcaomls@gmail.com
to:mauthan68hue@gmail.com
cc:vohuynhtrieu@yahoo.com,
Rosepeternguyen@gmail.com,
quanle0108@yahoo.com,
thangdtruong@yahoo.com,
lehuuem@aol.com,
Hoa.nguyen@juno.com,
huonghoah@gmail.com
Tôi không có thời gian để đọc quyển sách này ngay từ đầu khi Ông đến giới thiệu và ra mắt sách tại Nam California hồi xưa.
Ông Trị ra mắt sách tại Việt Nam dưới thời bọn tà quyền cộng sản Hà Nội đối với tôi cũng không có ý nghĩa gì. Chỉ là để thoã mãn tuổi già hay gọi là tuổi vàng. Không thể lấy cớ này mà HCMD bao che cho hành vi phản đồ của phạm thành châu.
Nếu suy nghĩ như thế để rồi HCMD im lặng như hến mà không bãi nhiệm chức vụ trưởng ban báo chí của phạm thành châu là Hội CSV QGHC Miền Đông đã xóa bỏ lằn ranh Quốc-Cộng, là phản bội xương máu của Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, là xúc phạm sự hy sinh của anh chị em cựu sinh viên Quốc gia Hành Chánh đã vị quốc vong thân.
Ai đã bao che làm điều này chính là tội đồ của lịch sử.
Thân ái chúc sức khỏe và an vui 🤩.
Cao Xuân Thức 

Thursday, 7 September 2023

 Mt68 TRÂN TRỌNG CHUYỂN TIẾP LỜI PHÚC ĐÁP CHÂN THÀNH CỦA ANH TOM CAO ĐẾN ĐỒNG MÔN TỰ NHẬN "HÀNH KHẤT HÈN ÚC CHÂU"- XIN LỖI RIÊNG ANH TOM CAO VÌ THẤY ANH VẪN XUẤT HIỆN MẶN MÀ CÓ CẢ TRẦN BẠCH THU & BÙI ĐẮC DANH- Mt68 ĐÃ CHUYỂN MỌI TÀI LIỆU CHUNG QUA EMAIL CỦA ANH SÁU NGUYỄN (saunguyen66@gmail.com) VÀ HIỆN CÒN NẰM Y NGUYÊN TRONG "SENT" - KHI CẦN CHÚNG TÔI SẼ CÔNG KHAI HÓA TOÀN BỘ BỞI VÌ TỪ MẤY CHỤC NĂM QUA Mt68 CHƯA HỀ PHỊA BẤT CỨ MỘT SỰ KIỆN HAY VẤN ĐỀ GÌ ĐÃ XẢY RA CHO CÁ NHÂN HAY TẬP THỂ QGHC./-TCL/Mt68

______________

Sáu Nguyễn ’s email address

Inbox

Thưa Diễn Đàn Mậu thân 68
Quý diễn đàn nên trực tiếp liên lạc với anh 
Sáu Nguyễn theo địa chỉ email riêng của 
đồng môn Sáu Nguyễn.
Rất tiếc tôi không thể giúp vì từ vài 
năm nay giữa chúng tôi đã mất liên lạc 
với nhau. 
Xin thành thật cáo lỗi.
Cao Xuân Thức 

Wednesday, 6 September 2023

 CÓ MỘT TIN NHẮN TỪ ÚC CHÂU:

"Nhờ Mt68 nhắn tin tới Anh Cao Xuân Thức, Khóa 13- Nếu có thể hỏi giùm tại sao Anh Sáu Nguyễn, Cali. hô hào anh chị em gởi địa chỉ Email cá nhân vào Email Group của anh để nhận được mọi tin tức, thông tin của Tập Thể QGHC nói chung. Nhưng mấy ngày nay (theo tin trên Mt68) cho biết Anh Sáu Nguyễn đã ém nhẹm mọi thông tin mà Mt68 nhờ anh chuyển như anh đã làm từ trước tới nay, không thấy ngăn cấm hay kiểm duyệt bất cứ môt thông tin nào, bất luận là của ai trong tập thể QGHC. Có phải anh Sáu Nguyễn đã tự động KIỂM DUYỆT hay ai cho phép anh làm việc nầy ???? 

Xin Mt68 cứ đăng và xin miễn nêu danh tánh như quí anh đã hứa chánh thức- Hay cứ đề Một tên hành khất hèn" OK! ...

***Mt68: Anh không hèn đâu anh !!! Nếu anh hèn thiệt tình thì không khi nào anh dám  tự xưng mình là "HÈN"- Ngược lại anh must be là một người có thừa CAN ĐẢM đấy Anh!!!Thân mến./-tcl/Mt68

_________________________


On Thu, Sep 7, 2023 at 6:57 AM Tom Cao <tcaomls@gmail.com> wrote:

Kính Ông PT
Tôi nghĩ HDQT và BCH hội CSV/QGHC miền Đông chỉ có một lựa chọn; Đó là cách chức vụ trưởng ban báo chí của PTC.
Nếu hắn còn chút ít liêm sĩ và biết tôn trọng ACE trong Hội QGHC miền Đông nói riêng và danh dự tập thể Hành Chánh nói chung thì nên tự quyết định xin từ chức cho yên ổn cả làng!!!
Đó là thiển nghĩ của cá nhân tôi.
Vì tôi yêu dân tôi, tôi yêu tập thể QGHC và chúng tôi không bao giờ đầu hàng Việt cộng, Việt Gian và tay sai.
Thân kính
Cao Xuân Thức

 Mt68: MẤY HÔM NAY CÓ BÁC TRẦN NHỰT THĂNG, BÁC LÊ VĂN TƯ VÀ CHẮC CÒN NHIỀU BÁC KHÁC "CHƯA THẤY HẾT BẰNG CHỨNG" NÊN DÈ CHỪNG KHUYÊN LƠN NẦY NỌ - VÌ BẰNG CHỨNG ĐÃ KÉO DÀI TỪ KHOẢNG THÁNG 2/2023 - NÊN ĐÃ ĐĂNG TRÊN Mt68 GIÁN ĐOẠN THEO THỜI KHẮC XUẤT HIỆN CỦA TÀI LIỆU- CHÚNG TÔI LƯU GIỮ CHUNG TRONG MỘT LABEL CÓ TÊN LÀ "PhamThanhChauQGHC14" (Sidebar Mt68) - QUÝ BÁC BẤM VÀO LABEL NẦY TÀI LIỆU CÒN RẤT NHIỀU VÀ CÒN ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ.

KÈM THEO ĐÂY CHÚNG TÔI CHỈ ĐĂNG LẠI 3 TÀI LIỆU:

1/- THƯ MỜI CỦA BAN TỔ CHỨC RA MẮT SÁCH CÓ GHI TÊN PHẠM THÀNH CHÂU VÀ NGUYỄN MINH NỮU (CÙNG Ở VIRGINIA)

2/- THIỆP MỜI CỦA BTC QUÁN VĂN 95- CÓ CẢ HÌNH ẢNH PHẠM THÀNH CHÂU VÀ CÁC NHÀ VĂN/THƠ TRONG NƯỚC.

3/- NGUYÊN VĂN BÀI PHÁT BIỂU LÊNH LÁNG CỦA HOÀNG KIM OANH TRONG BUỔI RA MẤT SÁCH- CHÍNH PHẠM THÀNH CHÂU CÔNG KHAI CA NGỢI HẾT MÌNH.

4/- CÓ THÊM BẰNG CHỨNG SỐNG LÀ 2 ĐỒNG MÔN TRONG NƯỚC THAM DỰ VÀ THÔNG BÁO HẢI NGOẠI (XIN MIỄN NÊU TÊN).

QUÝ BÁC MUỐN BẰNG CHỨNG GÌ THÊM XIN CHO BIẾT TIẾP- XIN QUÝ BÁC TIẾP TAY PHỔ BIẾN TRUNG THỰC VÀ SÂU RỘNG ĐỂ TẬP THỂ QGHC KHÔNG HOÀI NGHI HAY PHÂN VÂN GÌ THÊM - EMAIL GROUP CỦA ANH SÁU NGUYỄN ĐÃ TRIỆT HẠ THÔNG TIN VỀ PHẠM THÀNH CHÂU./- Thân Kính - Trần Cao Lãnh/Mt68

__________________

Hoang Kim Oanh is with Gia Nguyễn and 34 others.

19 hrs

THƯ MỜI RA MẮT QUÁN VĂN SỐ 95
CHÂN DUNG VĂN HỌC: NHÀ VĂN PHẠM THÀNH CHÂU

Thưa quý bạn viết, bạn đọc và thân hữu Quán Văn gần xa,
Tập san Sáng tác-Tư liệu-Nghiên cứu Văn học Quán Văn số 95, số ra tháng 4-2023, giới thiệu tác phẩm và chân dung văn học NHÀ VĂN PHẠM THÀNH CHÂU, đặc biệt, mục thường xuyên với những ghi nhận về chuyến đi Huế-Đà Nẵng tháng 3, cùng sự góp mặt của các cây bút quen thuộc của QV sẽ ra mắt quý bạn đọc vào lúc:
- 9h sáng ngày Chủ nhật 16.4.2023
- Địa điểm: CAFE BA HIỀN 54 Nguyễn Văn Công, P3. Q Gò Vấp.
Mời bạn đến cùng nghe, trò chuyện, giao lưu, đặt câu hỏi…với tác giả PHẠM THÀNH CHÂU từ Virginia về dự, cũng như các tác giả QV khác.
Buổi ra mắt còn hân hạnh có sự hiện diện của nhà văn NGUYỄN MINH NỮU và phu nhân TRƯƠNG KIM MAI từ Virginia về sinh hoạt giao lưu cùng thân hữu QV.
Bật mí số này có bài viết đặc biệt của 3 tác giả lần đầu tiên góp bút cùng QV…

Thân mời các anh chị, các bạn quan tâm yêu thích cùng đến giao lưu và ủng hộ Quán Văn 95. (Xin chia sẻ rộng rãi đến ace và bạn đọc)
P/S: Tập San QV số 95 sẽ phát hành trực tiếp tại buổi ra mắt. Số lượng in có hạn, quý bạn nhanh tay nhen. Ở xa, có thể đặt mua, liên hệ cô Nguyễn Nhi Lan Hà, số DT: 0909281313
Nguyễn Nhi Lan Hà
Trân trọng,
Chủ biên NGUYÊN MINH
và Ban biên tập
Nguyenminh Nguyen Khánh Đoàn Văn
13.4.2023

=================

NHÀ VĂN QGHC 14 PHẠM THÀNH CHÂU RA MẮT SÁCH TẠI QUÁN VĂN TP HỒ CHÍ MINH VÀO NGÀY 16-4- 2023./-TC Lãnh

















***BÀI PHÁT BIỂU CỦA HOÀNG KIM OANH ĐỌC TẠI BUỔI RA MẮT
SÁCH CỦA PHẠM THÀNH CHÂU -NGÀY 16-4-2023 TẠI GÒ VẤP.

TUESDAY, JULY 25, 2023

 

Người con của phố Hội
mang tất cả tình yêu
quê hương và thân phận
gửi trong từng mảnh đời
 
 xì mà thánh thiện
trong lam lũ đắng cay
trong máu lệ nhọc nhằn
trong cuồng quay lịch sử…

Qua các anh chị văn nghệ sĩ Việt vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, tôi có duyên được gặp và đọc tác phẩm của nhà văn Phạm Thành Châu từ 2016. Một cái tên quen thuộc ở văn đàn hải ngoại với những truyện ngắn giản dị gần gũi đời thường (ông hóm hỉnh tự cho là chuyện tầm phào) mà tâm lý sâu sắc, kết thúc có hậu, được người đọc phổ thông nhiều bang Đông, Tây chuyền nhau đọc và yêu thích. Sinh ra ở Hội An cổ kính trầm mặc, nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn bó với Sài Gòn và Huế. Hai thành phố mà ông đã học tập và làm việc. Năng khiếu văn chương cũng đến với ông từ những ngày còn học ở trung học Trần Quý Cáp, Hội An. Thỉnh thoảng, ông viết bài gửi các báo và được chọn đăng, như một sự khích lệ ban đầu để ông hun đúc con đường văn chương sau này mà có lẽ thời ấy ông chưa hề nghĩ tới. Tốt nghiệp Đốc sự tại Học viện Quốc gia Hành Chánh Sài Gòn và ra trường nhận nhiệm sở ở Quảng Điền, Thừa Thiên. Xứ Huế và con người xứ Huế đã in đậm những dấu ấn khó phai trong nhiều truyện ngắn của ông. Sau 1975, nếm trải tận cùng những bể dâu lịch sử, 1991 ông định cư ở Hoa Kỳ cho đến nay. Nửa thế kỷ trôi qua trong dập dồn biến động của đất nước và dân tộc, xa lìa mảnh đất chôn nhau cắt rốn, từng ngày từng giờ hội nhập với một nền văn hoá khác, những trải nghiệm bản thân trong tháng năm đổi đời nghiệt ngã ấy tưởng đâu đã tách rời ông với quá khứ thành kẻ lạ. Song, từng bước tiếp cận 84 câu chuyện của ông trong 5 tập truyện ngắn Nhớ Huế (2008), Bức hoạ khoả thân (2009), Lý lẽ của trái tim (2013), Lời tỏ tình (2015), và Vô tình (2022) dường như những ký ức quê nhà vẫn chưa bao giờ lùi xa mà luôn hiện diện nhức nhối trong ông qua từng tên đất, tên làng, từng con phố, từng khuôn mặt, từng ánh mắt nụ cười đau đáu thiết thương. Truyện nào của ông cũng buồn... cũng có cái gì vừa xa vắng vừa lẻ loi vừa đau đớn, vừa căm phẫn vừa nhẫn nhịn... đến nhói lòng. Tuy tận cùng vẫn là cái tâm đẹp dịu dàng bao dung chung thuỷ đến cảm động. Cũng không dụng công quá nhiều vào những kỹ thuật phức tạp hay những triết thuyết xa xôi, khai thác thế mạnh có thể đọc một mạch của thể loại truyện ngắn, với lối kể chuyện tự nhiên hóm hỉnh có khi mộc mạc, có khi giễu nhại, Phạm Thành Châu khá thành công khi đi vào những lát cắt của hiện thực cuộc sống, của từng mảnh đời rời rạc, nhưng đặt tất cả vào bức tranh tổng thể người đọc có thể nhận ra cả một thế giới hồi ức chấn thương trong trái tim nhân hậu vô bờ.

“Phạm Thành Châu viết truyện theo nhịp hai. “Năm 1975 là cái mốc thời gian chính phân đôi đời người (nhân vật). Chân dung cuộc đời trong truyện ông được mô tả, được vẽ lại theo cách nhìn: nửa trước-nửa sau, nửa trong nước-nửa ngoài nước. Nửa này, nửa nọ. Phạm Thành Châu là nhạc trưởng thành thạo lối đánh đũa theo nhịp hai này” (Thượng Văn, trích Vô tình, tr.8). Đứng ở góc nhìn xã hội học sáng tác, cái mốc 1975 đó trở đi trở lại trong tâm thức các nhân vật truyện ngắn Phạm Thành Châu như một ám ảnh thường trực, hiển nhiên khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến dòng văn học chấn thương (Trauma in Literature) ra đời trên văn học thế giới từ sau tác phẩm Moses and Monotheism (Moses và Nhất thần luận) của Sigmund Freud về lịch sử của người Do Thái. “Sự tù đày và trở về, tuy là khởi điểm lịch sử của người Do Thái, nhưng thực sự chỉ tồn tại đối với họ thông qua kinh nghiệm chấn thương mà thôi” (Anna Gotlib,2021, Chấn thương và chuyện kể). Ông tổ phân tâm học Sigmund Freud cho rằng “chúng ta có thể bị chấn thương bởi một ý thức chứa đựng nhiều mâu thuẫn về thứ mà ông gọi là “uncanny” (cái bình thường quen thuộc bỗng trở thành xa lạ, bất thường và gây những khó chịu): cái hầu như có thể nhận diện, bị quên lãng hay kìm nén làm chúng ta sợ hãi” (Anna Gotlib,2021, sđd). Có thể hiểukhái niệm này nhằm chỉ những chấn thương tâm lý gây ra bởi các sự kiện thảm khốc do chiến tranh đạn bom chết chóc, do sự phản bội đổ vỡ trong tình yêu hoặc hôn nhân, bị lạm dụng tình dục hoặc có khi là những cú sốc văn hoá, những đổi thay của cuộc sống số hiện đại, v.v… Nói chung là những biến cố lớn lao trong đời người khó thể vượt qua hay quên lãng, thoả hiệp với thực tại. Văn học đương đại Việt Nam thế kỷ XX, sáng tác trong hay ngoài nước, đứng từ góc nhìn “bên này” hay “bên kia” phụ thuộc hoàn cảnh xuất thân, từ sau 1975 đều có những tác phẩm mang tiếng nói bi kịch chấn thương, những sang chấn tinh thần qua các số phận cá nhân trong lịch sử từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…

Truyện ngắn của Phạm Thành Châu luôn xen kẽ lồng ghép đồng hiện xoay chung quanh hai trục thời gian quá khứ và hiện tại. Trong truyện, thời gian hồi ức xen trong thực tại thường được đẩy lùi đến mức tối đa theo dòng cảm thức trở về của nhân vật: hồi tôi học tiểu học, 1954 (Bí mật của ông thầy Thọt), 1967 ở ấp Bàu Trai, Hậu Nghĩa (Pháo kích), 1972 (Một chuyện ma), 1973 (Lễ bỏ mả) 1983 (Thuý Kiều)…

Đó là tiếng nói những con người buộc phải bật khỏi cội rễ quá khứ nhưng chưa bao giờ hoà nhập được với hiện tại. Đó là những ước mơ hoài bão tương lai đang nở rộ thì “cái bình thường quen thuộc bỗng trở thành xa lạ, bất thường và gây những khó chịu”. 

Trong chiều sâu tâm thức là nỗi đau lưu lạc luôn khao khát trở về. 

Ngay cả khi đang ở không gian hiện tại là Virginia, nhân vật “Tôi” cũng nhớ về khung trời cũ cố hương xa lắc: Hội An (Phố Hội của tôi, Bí mật của thầy Thọt), Chợ Sịa, Quảng Điền (Mẹ và con, Thương con) Tân Định, Hiền Vương, Phan Thanh Giản (Thuý Kiều) hay Bảo Lộc, Lâm Đồng (Mùa thu ở Virginia). Đang ở Washington DC (Nắng chiều) mà nhớ cái hành lang trường Quốc Gia hành chánh mấy chục năm trước Dũng vẫn qua lại để…trồng cây si Nga. Từ bên kia đại dương cách nửa vòng trái đất mà nhân vật của Phạm Thành Châu vẫn đau đáu quay về chỉ để được ăn một tô cháo lòng của Phúc Lan ngày nào trong Buổi chiều ở thị trấn Sông Pha. 

Nhân vật trong truyện ngắn của Phạm Thành Châu qua điểm nhìn trần thuật của nhân vật “Tôi”, vừa là người kể chuyện, vừa là kẻ trong cuộc khiến các truyện của ông đậm đặc chất tự thuật. Cộng thêm nhiều chi tiết về cuộc đời tác giả được cố tình lặp đi lặp lại trong từng truyện qua giọng kể chậm rãi theo dòng hồi tưởng. Hồi ức tự thuật cũng là một đặc trưng tiêu biểu của dòng văn học chấn thương. “Tôi” hay Hùng, hay Điền, hay Dũng đều là những nhân vật của thế hệ mất mát sau chiến tranh bỗng trở thành kẻ cùng đinh, không tài sản, không địa vị, không tiền đồ, làm đủ nghề tay chân vặt vãnh, không nuôi nổi chính mình đến độ luôn mặc cảm, lánh xa những người thân yêu vì sợ trở thành gánh nặng của họ hay tự ti không còn xứng đáng với người yêu/người vợ cũ, lặng lẽ chôn quá khứ trong nỗi câm lặng nhọc nhằn. Tìm con làm nghẹn ngào người đọc khi người cha tự lập bàn thờ khóc con vì tưởng đứa con lưu lạc của mình đã chết. Cuối cùng ôm nhận tất cả những đứa trẻ mồ côi vốn là con đồng đội cũ: “Ba đây, Tí ơi! Đứa nào cũng là con ba cả. Các con về đây với ba” (tr. 34). Một số truyện cỏn là diễn ngôn của những con người bé nhỏ bị ràng buộc, đoạ đày, chịu đựng mọi lằn roi của số phận như “nó” trong Thuý Kiều đen đúa ngang tàngphải ăn mặc như con trai tự làm mình xấu xí để không ai dòm ngó trong cuộc đời đầu đường xó chợ vì bị lấy mất nhà, hay đáng thương như Hrao bé nhỏ, một cô bé dân tộc mới năm hay bảy tuổi đã bị bán làm vợ gã anh rể tàn bạo để lấy tiền tang ma cho cha. Em bị trói, bị đánh, bị bỏ đói vì không cho chạm vào người làm chuyện vợ-chồng trong Lễ bỏ mả. Ở hai nhân vật này người đọc không thể không rơi lệ cảm thương và xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn trong veo của em cho dẫu cuộc đời vùi dập lấm lem trong nghịch cảnh trớ trêu.

Ngoài những chấn thương do biến động kinh hoàng của chiến tranh và những hệ luỵ của chiến tranh ở trên, truyện ngắn Phạm Thành Châu cũng có nhiều truyện đề cập đến những diễn ngôn chấn thương về tình yêu- tình dục. Vẫn giọng tự thuật nhỏ nhẻ ấy ông kể về những mối tình câm, những lời ước hẹn bị dang dở, những mối tình học trò ngây thơ một đời thương nhớ. Một số truyện ông mạnh dạn đi vào những trải nghiệm giới tính của nhân vật nam cô đơn, mặc cảm không tự tin trước tình yêu và hôn nhân như nhân vật “tôi” trong Con gà chết đi xông hơi thử cho biết mà sợ người ta biết cái cù lần của mình chưa một lần bước vào chốn này, cả người căng cứng xấu hổ… Hay nhân vật bà Tư trong Chuyện nàng Tiên Dong tân thời. Tác giả khéo léo xây dựng tình tiết rất tự nhiên mà cũng rất thật về mấy chàng công nhân vô tư khoe của trước mắt bà khiến bà lên huyết áp phải đi ngay vô bệnh viện và kiện cái xí nghiệp Tàu làm ô nhiễm môi trường. Yếu tố tính dục được đề cập trong những mối quan hệ hôn nhân cũng rất nhẹ nhàng. Nhân vật luôn chừng mực, trân trọng nâng niu mối tình thơ mộng. Thật cảm động khi Điền đi đón Niệm - người bạn cách 30 năm trước ông từng ngỏ lời yêu- về khách sạn khi cô nói sợ ở một mình, đã ngắt lời thẳng thắn trấn an cô: “Anh thề sẽ giữ gìn cho em” như hơn 30 năm trước có lần ông đã nói với cô như thế để trấn an cô khi ông rủ cô đi cắm trại với các bạn trên Bảo Lộc, Lâm Đồng” (Nhớ Huế, tr14). Ôi, mẫu người này chắc chỉ còn trong truyện ngắn Phạm Thành Châu. Lớp trẻ sẽ không tin là ông cha nó từng xử sự với nhau như thế…Hoặc đa dạng hơn, ông mượn thi pháp huyền ảo pha màu huyền bí ma quái của Bồ Tùng Linh trong Bức hoạ khoả thân cũng khá thu hút người đọc tò mò đi đến kết truyện về bức tranh ma quái ấy. Liễu Chương Đài tuy nói về 3 cô gái bán bar, sỗ sàng, lém lỉnh nhưng cái trong veo trong tâm hồn họ vẫn làm anh thầy dạỵ kèm không khỏi ngậm ngùi cảm thương.

Cách kết cấu truyện nào cũng dẫn dắt người đọc đi từ những tình tiết thuận theo logic tâm lý thông thường của người đời nhưng rồi lại cho một kết thúc thật bất ngờ. Một kết thúc đẹp. Happy Ending. Tên truyện là Anh chàng họ Sở và đúng là hắn cũng trăng hoa bừa bãi nhưng có ai ngờ câu chuyện đã kết bằng một tình huống hoàn toàn bất ngờ: “Hắn” lấy người vợ hiện tại để có tiền mua thuốc thang chăm lo người vợ trước đang bệnh nằm liệt. Vậy thế nào là họ Sở? Kén chồng cho con, Nắng chiều, Buổi chiều ở thị trấn Sông Pha, Liễu Chương đài, Nhất Chi Mai… đều man mác cảm động những mối tình thuỷ chung hiếm hoi trong thời đại hôm nay. Bom đạn chiến tranh hay những nghiệt ngã giữa con người -con người có tàn bạo khủng khiếp đến đâu, tình yêu của những con người bị số phận cho gặp nhau, yêu nhau rồi trong vô tình của lịch sử lại đẩy họ xa nhau vẫn cứ lặng lẽ đi qua mọi giông bão, đợi chờ thương nhớ vượt qua cả cái chết, và họ đã gặp lại nhau, đã có lại nhau. Tuy chỉ là truyện ngắn nhưng dòng hồi ức trong nhiều truyện của Phạm Thành Châu còn có khả năng tái hiện những diễn tiến của cả một đời người. Lời tỏ tìnhBí mật của ông thầy Thọt, Nhất Chi Mai

Một đặc điểm đáng chú ý trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả Phạm Thành Châu mà tôi tạm gọi theo cảm nhận cá nhân là “thi pháp xù xì hoá” nhân vật. Các nhân vật nam cũng như nữ của ông hiện ra trong ngoại hình xấu xí, thô ráp, được gọi bằng những cái tên bình dân bình thường, những cái tên mang cả một quá khứ giang hồ, có khi gọi theo tiếng lóng: Tám, Năm, Ba Trợn, Năm Cụt, Tư Xập Xả…; họ xưng hô với nhau cũng dung tục, cộc cằn theo kiểu ngôn ngữ đường phố của những kẻ lây lất gầm cầu, đầu đường xó chợ, có khi pha  nghi kỵ dè chừng: mày-tao, tui-ông, tôi-hắn như một phản ứng lại cái xã hội nhiễu nhương tao tác. Có khi ông đổi sang giọng châm biếm giễu nhại tự trào trong Vợ tôi là nhà thông thái hay Tôi mơ làm nhà văn, Anh chàng họ Sở, Chua chát ngậm ngùi trong Lá số tử vi…Nhưng ẩn sau tất cả những điều xù xì xấu xí bên ngoài ấy, các nhân vật truyện ngắn Phạm Thành Châu lại tự thức tỉnh người đọc về ý thức nhân văn sâu sắc trong từng cử chỉ, hành động và cách ứng xử đầy ắp tình người. Tôi không sao quên anh chàng sinh viên năm thứ hai đã bán cả chiếc xe máy để có tiền chuộc em Hrao, giải thoát cảnh đoạ đày trong tay thằng anh rể-chồng độc ác mượn phong tục tập quán của bộ tộc ràng buộc tương lai em, cưới em làm vợ mà chưa có tiền nuôi, hẹn học xong sẽ cưới về ở chung. Thương sao, cuối cùng do bị lừa chồng đã chết mà Hrao nhịn ăn nhịn uống chết theo anh. Ấn tượng xù xì ấy còn được ngòi bút nhà văn dồn nén qua ngôn ngữ, cách ăn mặc, ăn nói của nhân vật “nó”. Hoàn cảnh bị đẩy ra đường hai mẹ con bán vé số, dắt mối sinh nhai. Bề ngoài “nó” ngang tàng, ăn mặc lôi thôi, ngôn ngữ đường phố, nhưng ẩn bên trong là tấm lòng đứa con có hiếu, sẵn sàng bán “cái ngàn vàng” để lấy mấy chỉ vàng phẫu thuật cho mẹ, trong khi nó ý thức vô cùng chuyện giữ gìn cái ngàn vàng ấy với bất kỳ ai. Câu kết đầy bất ngờ mà dễ thương nữ tính khác hẳn “nó” trước đây luôn phòng thủ dè chừng với nhân vật “tao” bán bánh mì là ân nhân cứu đói cho nó…khi biết ân nhân do sinh kế phải bỏ đi nơi khác ít lâu: ”Có thương em thiệt không?” Kết truyện dừng ở đó nhưng gấp sách lại lần này tôi không rơi lệ mà chợt ấm lòng khi nghĩ đến cảnh Ngọc- tên thật của “nó” rạng rỡ sánh vai cùng “tôi” chủ xe bánh mì thành một tổ ấm của yêu thương.

Vợ mua  một khởi đầu tưởng đơn thuần là thói đời hợm hĩnh qua chuyện mua bán của một lão Việt kiều sinh tật “trâu già gặm cỏ non” về Việt Nam kiếm vợ, cả thói hám lợi có vẻ đáng trách của người mẹ nhưng quá tâm lý thực tế với những người dân quê nghèo không chút tô son trát phấn màu mè che giấu, chấp nhận gả bán đứa con gái lớn cho Việt kiều để đổi căn nhà mặt phố và lũ con không còn ăn đói mặc rách, được học hành tử tế đàng hoàng… Đứa con gái chưa kịp lớn, như nụ hoa mới nhú đã trở thành vật hy sinh. Nhưng người đọc phải thật kiên nhẫn dõi theo từng tình tiết được kể theo diễn biến truyện, từ khi gặp lại, thấy cảnh nhà khốn khó của thằng bạn què học chung trường ngày xưa, một chút mánh khoé nhử lòng tham của con người để cưới được con nhỏ Quê, cưới được nó, đem nó qua Mỹ, chăm chút cho nó lẫn cung cấp gia đình nó mà không đòi hỏi bất cứ điều gì. Có lẽ Phạm Thành Châu đẩy câu chuyện đi quá xa hiện thực chăng? Làm gì có người bỏ cả chục ngàn đô mua vợ trẻ nào mà tâm thánh thiện đến thế! Kết thúc bất ngờ, sau bao năm trời cô Quê (bây giờ là Quế) cự tuyệt, một hôm lão uống rượu quá say, ngủ không còn biết trời trăng gì, “sáng hôm sau tỉnh dậy, lão giật mình thấy cô Quế nằm bên cạnh, một tay gác lên người lão, dụi đầu vào ngực lão. ngủ say”. Chất đẹp trong nhân vật Phạm Thành Châu gói trong vỏ xù xì của ngoại hình, của tính cách, của hành động, cử chỉ là vậy. Người đọc gấp sách lại chắc hẳn sẽ có những phút giây nhẹ lòng thư thái thở phào. Ừ, vậy mới công bằng.

Nhân vật của Phạm Thành Châu luôn giấu kín cái tâm, cái tình, cái đẹp trong phẩm cách con người đằng sau lớp vỏ xù xì ấy. Ai biết cả một biển trời xót xa thương cảm chất chứa bên trong mà tác giả dồn nén chỉ mở ra vào phút chót cho trái tim người đọc được chút ủi an “sau cơn mưa trời lại sáng”, thêm chút tin yêu vực dậy giữa khổ đau đi tiếp cuộc đời này…

Và những câu chuyện tình theo motif: ngày xưa ước hẹn/ trộm nhớ thầm thương- oái oăm-cách trở-lưu lạc/thất lạc-tái ngộ-xum vầy trong tác phẩm Phạm Thành Châu tuy ông nói nhân vật là có thật, nhưng ông đã hư cấu thêm thắt ở tình huống kết thúc truyện như truyện cổ tích ấy phải chăng cũng chính là một cách tự chữa lành những chấn thương mà hoàn cảnh lịch sử xã hội khiến họ bị đẩy vào tình thế tuởng chừng tuyệt vọng chỉ có thể tự giải thoát bằng cái chết.

Cái thi-pháp-xù-xì ấy phải chăng cũng là một cách tự bảo vệ mình trước những chấn thương nghiệt ngã, giông bão rình rập của đời? 

Anna Gotlib cho rằng “Chấn thương không phải là thứ virus để chữa chạy, không phải một câu chuyện để lãng quên, hay một nỗi buồn thẳm sâu cần phải được thay thế bằng một thứ lạc quan nông nổi. Những gì nó có thể làm là trở thành chất xúc tác cho nhiều câu chuyện khác nhau – những câu chuyện sâu sắc hơn về việc chúng ta là ai, chúng ta có giá trị như thế nào và làm sao chúng ta có thể sống “sau” chấn thương. Và những câu chuyện này không thuộc motif đi tìm hạnh phúc – chúng là câu chuyện về sự kiến tạo ý nghĩa, làm lại ý nghĩa.” (Anna Gotlib, 2021,“Trauma Unmakes the World of the Self. Can Stories Repair It?”). Vâng, diễn ngôn chấn thương trong truyện của Phạm Thành Châu và những giá trị nhân văn tác phẩm đem lại thật sự cũng là chất xúc tác để con người tự thức tự chữa lành sau những hồi ức chấn thương cá nhân-tập thể mà lịch sử đã xô đẩy chúng ta vào vòng xoáy hôm nay.

Viết, với Phạm Thành Châu như trở đi trở lại những hoài niệm thương nhớ đớn đau, như Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp chịu hình phạt phi lý suốt đời phải đẩy một khối đá lớn lên đỉnh núi, đứng nhìn khối đá lăn xuống chân núi, rồi phải hì hục đẩy lại hòn đá lên đỉnh, cứ như vậy, lặp đi lặp lại trong vô vọng và vô hạn. Phạm Thành Châu cũng vần lên lăn xuống cái tảng đá hồi ức mất mát tan tác vụn vỡ của từng phận đời sau 1975 mà không sao dứt được như một vết thương chưa bao giờ liền sẹo.

Viết, với Phạm Thành Châu cũng có nghĩa như một sự tự chữa lành những chấn thương quá lớn trong tâm hồn và thể xác không thể nào quên, không thể nào chấp nhận cái hiện thực nghiệt ngã chung riêng.

Viết, với Phạm Thành Châu, phải chăng cũng để làm vật chứng trước thời gian…

Sài Gòn, tháng 4.2023




dan nguyen

4:20 AM (2 hours ago)
to lengnamson@yahoo.comBinhKhieuhuuthieudvu@sbcglobal.netchuphungle@yahoo.com
Một trong những lý do mà chúng ta phải bỏ nước ra đi, chạy trốn Công sản và hậu qủa của cuộc chiến đau khổ ra sao thì dân Miền Nam ai cũng biết...
Đó là Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH đã qúa nhân đạo với bọn CS nằm vùng, bọn phản chiến, bài học còn đó, chẳng lẽ chúng ta vẫn còn "ngây thơ" như trước đây???
Nguyễn Kim Dần   ĐS8 - Canada

LE Van Tu

5:21 AM (1 hour ago)
to Nmh5475@aol.comledanngnamson@yahoo.comBinh
Về Đồng môn Phạm Thành Châu, xin đóng góp ít ý kiến :

1. Khác với Luật sư đoàn, Y sĩ đoàn hay một Hội có quy chế, các tổ chức đó có quy định các chuẫn mực tối thiểu mà một thành viên cần có nên họ có thể sử dụng biện pháp chế tài, còn các tổ chức cựu sinh viên QGHC cũng giống như Hội ái hữu (coi là tình đồng môn) nhưng khác hẳn là đều mặc nhận lập trường quốc gia chống cộng, uy tín của chúng ta đối với Cộng đồng gốc việt khắp nơi có được là nhờ lập trường này, vậy thành viên nào làm oen ố uy tín của tập thể thì các Tổ chức cựu sinh viên QGHC cần phải lên tiếng, nhưng bằng cách nào ?

2. Dùng từ « khai trừ » e không ổn, vậy dùng biện pháp gì ?

Thiển nghĩ các Hội nên công khai minh thị (có thể cả báo chí) là không tán thành lối hành xử của bạn PTC, đồng thời khẳng định lập trường quốc gia chống cộng của Tập thể, dĩ nhiên nếu PTC đang có vai trò nào trong BCH thì cần loại ra và thay thế.

3. Tuy nhiên trước khi có biện pháp nào, các hội cũng cần xác quyết sự thật, nêu rõ chứng tích thuyết phục (tránh theo những tin đồn suông).

4. Phụ thêm là chúng ta có nhiều Đồng môn sinh sống ở VN, họ phải tuân thủ pháp luật hiện hành ở trong xứ, nên chúng ta chỉ giới hạn vào quý Đồng môn gốc việt mà thôi (coi như không chấp nhận chế độ cộng sản –một biểu thị lập trường chống chế độ hiện nay).

Trân trọng,

lvt

____________


Tom Cao

10:34 AM (6 minutes ago)
to HNmehanhchanhmd

Kính thưa tất cả đồng môn QGHC 

Theo dõi tin tức trên Internet, chúng ta biết được việc bầu bán thành phần Ban Đại diện của một Hội csv QGHC là điều không ai quan tâm đến. Nhưng Hội Cựu sinh viên QGHC miền Đông đã và đang có vấn đề trong việc bầu cử Ban Đại diện vừa qua.
Vấn đề gì? Xin thưa đó là việc thành viên PTC được bầu làm trưởng ban báo chí của BCH Hội 
Lý do: Thành viên này đã về Việt Nam ra mắt sách mà anh ta đã viết.
Và đó là vấn đề bị cựu sinh viên QGHC phản đối, trong đó có tôi là Cao Xuân Thức.
Từ đây nãy sinh ra bất hòa.
Theo tôi có thể giải quyết vấn đề dễ dàng:
1- Thành viên PTC tự động rút lui khỏi trưởng ban báo chí Hội ; vì việc vác ngà voi có ai muốn mà anh PTC  bám víu làm gì ?  Do đó để Hội khỏi phải đau đầu, tốt nhất là người trong cuộc tự giải quyết.
2- Nếu không thì trách nhiệm để thu xếp cho êm đẹp là của hai anh chủ tịch: Chủ tịch Hội đồng Quản Trị Lê Hữu Em và chủ tịch Ban chấp hành Nguyễn Kim Hương Hoả .
Kính thưa hai anh chủ tịch 
Tôi không phải là thành viên của Hội nhưng tôi là một cựu sinh viên QGHC, và vì yêu tập thể QGHC nên tôi xin mạo muội nói ra như thế.
Có gì mạo phạm tôi xin lỗi nha 
Cao Xuân Thức 
Đốc sự hành Chánh hạng 3.

*(Mt68: Theo thiển nghĩ của chúng tôi Phạm Thành Châu rất khó tự giác, bởi vì PTC đã giải thích vấn đề ra mát sách theo chiều hướng khác. Khiến cho Hội Miền Đông tuyệt đối "tín nhiệm" ptc, theo anh TN Thăng cho biết thì Hội Miền Đông không có ai thắc mắc gì cả vì tin lời giải thích của ptc coi như không có gì " NGHIÊM TRỌNG" cả. Cho tới nay Hội M Đ đã chọn giải pháp NÍN THỞ QUA CẦU và PTC cũng đã mạnh tin KHÔNG AI LÀM GÌ ĐƯỢC hắn ta. Giải pháp Hội M Đ rút lại quyết định bổ nhiệm khó hy vọng và đáp số ptc tự động rút lui lại mờ mịt hơn !!!?./-tcl/Mt68)
___________