Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label TrieuHuynhVoDS6. Show all posts
Showing posts with label TrieuHuynhVoDS6. Show all posts

Friday, 28 November 2025

 Một vài cảm nghĩ về đất nước Việt Nam tôi.


Triệu huỳnh Võ

Khi bước vào tuổi 70 và hồi tưởng lại quá khứ, tôi cảm thấy con đường của
mình vừa đi qua dường như đã được vạch sẳn. Thật vậy, khi bước chân vào
Trường Phan thanh Giản tôi đã có ý định sau nầy sẽ theo đuổi nghề gỏ đầu
trẻ , nên sau khi đổ Tú tài toàn phần ban Toán tôi đã nộp đơn thi vào
Trường Ðại học sư phạm Ban Toán (Ðệ nhị cấp). Kết quả không đậu, nên tôi
mới xoay qua nộp đơn thi và đậu vào Trường Quốc gia Hành chánh định an
phận vởi nghề làm công chức theo kiểu sáng vác ô đi chiểu vác ô về. Tuy
đậu ra trường hạng cao và đáng lẽ có thể có quyền chọn nhiệm sở, nhưng vì
nhu cẩu công vụ lúc bấy giờ, một danh sách trích ngang từ trên xuống dưới
gồm hai mươi người được bổ nhiệm về một cơ quan an ninh trực thuộc Phủ
Tổng thống, và sau đó cơ duyên lại đưa đẩy tôi lần lượt thuyên chuyển đến
phục vụ cũng trong các cơ quan đầu não khác của chính phủ.
Bước khởi đầu có tính cách tiền định nẩy đã gắn chặt tôi vào với hàng ngũ
những người quốc gia chống Cộng sàn và từ đó đã trực tiếp gắn bó với tiến
trình sinh hoạt thăng trầm của nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hỏa.
Khi nền đệ nhị Cộng hòa sụp đổ,tôi bị đi tù cộng sản, được thả ra, sau đó
được đi định cư ở Mỹ, và tại đây, ngoài lo sinh kế vẫn còn có chút đóng góp
hạn chế nào đó cùng với những người Việt quốc gia đang mưu cầu một đất
nước Việt Nam không Cộng sản.
Những môn sinh với tôi ở trường Trung học Phan thanh Giản, các chiến hữu
đã từng phục vụ dưới thời đệ nhất va` đệ nhị Cộng hòa, mỗi người thử suy
nghiệm lại xem phải chăng phần lớn đều nhận thấy nghề nghiệp sau cùng
của mình không phải là mục tiêu chọn lựa lúc ban đầu. Phải chăng mỗi
người chúng ta đã được an bài một nhiệm vụ nào đó, dù có tầm thường đến
mức nào đi nữa, nhưng cũng được xem như là một mắc xích câú thành
guồng máy của quốc gia, đã bị gắn bó với sự sinh tồn của nó và đã dự phần
làm nên một trang sử đã qua của đất nước.
Khái niệm về nhiệm vụ an bài nầy dường như đã được củng cố thêm qua sự
xuất hiện của cụ Phan đình Phùng, dưới hình thức giáng cơ, tại trại tù Nam
Hà vào các năm 1980 trở đi. Vào thời gian tinh thần người tù bị xuống thấp
nhất, cụ Phan đình Phùng đã giáng cơ để cho họ đọc các bài thơ Ðường luật
loại thất ngôn tứ cú hay bát cú do cụ sang tác lấy bút hiệu là Tùng La. Các
bài thơ nầy thật tuyệt tác về niêm luật, có nội dung trấn an, khích lệ các tù
nhân rằng rồi ra họ sẽ được thả, có cơ duyên sẽ được đi ra nước ngoài, có cơ

duyên sẽ trở về nước. Về tình hình chung của đất nước, cụ có bài thơ tứ cú
sau:
Trì trì bộ bộ bộ trì trì,
Cử bộ thời lai hữu hỉ kỳ
Thiên phụ cao bồi tư hóa dục,
Thanh phân thiên tải tụng hòa vi.
Theo sự diễn giảng của anh em tù nhân ở trại Nam Hà lúc bấy giờ thì đại ý
cụ cho rằng:
Sự việc tiến triển một cách từ từ và chậm chạp,
Nhưng đến khi có chuyển động sẽ đem lại kết quả vui vẻ,
Cứ coi như đây là giai đoạn để nhận chịu sư bồi dưỡng và huấn nhục,
Sử xanh rồi đây vẫn được lưu truyền tưoi sáng.
Sư hiện hữu của cụ Phan đình Phùng, một vị anh hùng kháng Pháp đã hiển
thánh,bên cạnh những người tù ở trại Nam Hà, phải chăng là sự khẳng định
cái nhiệm vụ an bài vẫn chưa hết đối với cụ Phan đình Phùng, và vì thế hằng
đêm cụ đã đến với các người tù bằng các bài thơ để truyền niềm tin và hy
vọng về một ngày mai hãy còn sáng sủa của họ và một tương lai vẫn đầy hứa
hẹn của đất nước.
Nếu như đã sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, hoặc vào thời
gian đất nước bị chia cắt, thì việc tham gia phục vụ đất nước chống Cộng
sản, đến khi mất nước bị đi tù Cộng sản, rồi sống sót được thả ra và sau đó
được ra định cư ở nước ngoài v.v.. trong thời gian qua, đối với đa số, có vẻ
như là một vận số đã được an bài. Vậy còn đối với đất nước thì sao? Theo
thiển ý của riêng tôi, dường như đất nước cũng có cái vận mệnh của nó, đó
là vận nước.
Thật vậy, sự nghiệt ngã đã làm cho đất nước Việt Nam không bao giờ hưởng
được sự thái bình lâu dài đã bắt nguồn từ cái vị trí địa chính trị của nó trên
bản đồ chính trị của thế giới.
Chỉ ngay với việc nằm tiếp giáp biên giới về phía nam của nước láng giềng
khổng lồ Trung quốc luôn ôm mộng bành trướng đã làm cho đất nước trải
qua biết bao cuộc chiến tranh chống lại áp lực thống trị của người Tàu dưới
thời phong kiến.
Rồi tới thời cận đại, cũng vì địa thế thuận lợi, tiếp giáp với biển và nằm trên
trục giao thông thương mãi của các nước trong vùng Ðông nam châu Á, đất
nước lại trở thành mục tiêu dòm ngó của các cường quốc thực dân phương
Tây, và cuối cùng đành chịu sự cai trị của người Pháp.
Khi nước Nhật vùng dậy với mộng Ðại đông Á của họ, người Nhật đuổi
người Pháp đi nhưng lại thay Pháp chiếm đóng đất nước cũng vì vị trí có
tính cách chiến lược của Việt Nam, dưới con mắt của người Nhật, để họ
bành trướng xuống các nước khác trong khu vực.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt với sự thất trận của phe Trục phát
xít Nhật Ðức Ý, trong khi thực dân Anh chịu trả độc lập cho các thuộc đia cũ
của họ thì thực dân Pháp vẫn quay lại và muốn tiếp tục duy trì ảnh hưởng
của họ ở Việt Nam. Thế là cuộc chiến tranh ở Ðông dương lần thứ nhất đã
diễn ra (1946-1954), và vận hạn không may khác lại khởi diễn cho đất nước
cũng bắt đầu từ đây.
Hồ chí Minh, một đảng viên Cộng sản đệ tam quốc tế, liên hiệp với các đảng
phái người quốc gia phát động cuộc kháng chiến chống Pháp. Sư kiện đảng
Cộng sản Trung quốc kiểm soát được toàn thể lục địa Trung hơa vào năm
1949 đã gây một tai hoạ cho đất nước, bởi lẽ Cộng sản Trung quốc không
muốn người Pháp có mặt ở Ðông dương cản trở sự bành trướng của họ
xuống phiá nam nên họ đã chi viện tối đa cho Hồ chí Minh, thậm chí trực
tiếp chỉ đạo và trực tiếp tham chiến nữa.
Cụ Trần trung Dung, cựu Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng thời đệ nhất Cộng
hòa, lúc còn ở trại tù Nam Hà, đã cho biết tài liệu trong văn khố Pháp xác
nhận các chiến thắng lớn của Việt Minh ở Việt bắc, kể cả chiến thắng ở Ðiện
biên Phủ đều là chiến thắng của người Trung quốc. Lời xác quyết của cụ
Trần Trung Dung nói trên mới đây đã được minh chứng qua quyển sách:
Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung quốc viện trợ Việt
Nam (do nhà xuất bản Lịch sử Ðảng Trung quốc ấn hành ở Bắc kinh năm
2002, được GS sử học Phạm cao Dương điểm sách gửi cho đài BBC hồi
2/2009 ) Dưới đề mục “Tầm quan trọng của Trung quốc” có một đoạn nói
thẳng thừng rằng sau tháng 8/1950, với sự có mặt của hai phái đoàn Cố vấn
quân sự Trung quốc bên cạnh bộ chỉ huy tiền phương của Võ nguyên Giáp ở
Cao Bằng (một do Vi quốc Thanh và Ðặng vật Phàm cầm đầu từ Quảng Tây
và một do Trần Canh hướng dẫn từ Vân Nam ), thì “ Nó mở đầu cho một
giai đoạn mới trong lịch sử chiến tranh Ðông dương lần thứ nhất, trong đó
viện trợ của Trung quốc đóng vai trò quyết định. Sau thời điểm nầy quân đội
của tướng Giáp không còn chiến đấu trong vòng vây,không còn đánh du
kích nữa mà đã chuyển sang vận động chiến rồi sau đó là công kiên chiến để
đánh bại địch quân của họ,theo sách lược Mao trạch Ðông và kinh nghiêm
của quân đội nhân dân Trung quốc.”
Nếu như Việt Nam vốn đã được Cộng sản Trung quốc coi như cửa ngỏ để họ
bành trướng xuống phiá Nam, thì vào thời gian sau cuộc chiến tranh ở Triều
Tiên ngươi Mỹ đã có dụng ý sử dụng Việt Nam như là một tiền đồn để
chống lại sự bành trướng của khối Cộng sản xuống vùng Ðông Nam châu Á.
Thực tế cho thấy vào lúc Ðiện biên Phủ sắp thất thủ, người Pháp đã có yêu
cầu người Mỹ chi viện các máy bay đánh bom B29, tương tự như B52 về
sau nầy, để cứu nguy căn cứ na`y, nhưng người Mỹ không đáp ứng. Hậu quả
là Ðiện biên Phủ thất thủ đưa đến việc ký kết Hiệp định Genève 1954 chia
hai đất nước.
Như đã nói ở đoạn trên, việc Cộng sản Trung hoa thống trị toàn Hoa lục đã
là một tai họa cho đất nước, bỡi lẽ sự chi viện và sư tham gia trực tiếp của
họ sau đó vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã giúp cho đảng Cộng sản Việt
Nam giành được quyền lãnh đạo và dựng lên một chánh quyền cộng sản ở
miền Bắc. Hậu quả là kế tiếp những năm sau đó đất nước lại lâm vào một
cuộc chiến tranh ở Ðông dương lần thứ hai giữa người quốc gia và người
cộng sản kéo dài đến 30/4/1975, bỡi lẽ Cộng sản Bắc Việt lại phát động một
cuộc chiến tranh lấn chiếm miền Nam và người quốc gia ở miền Nam phải
mở cuộc chiến đấu để tự vệ.
Lúc bấy giờ, cộng sản Nga Tàu kết thành một khối, chưa bị rạn nứt lớn, chi
viện rất ồ ạt cho cộng sản Bắc Việt để lấn chiếm miền Nam. Trong khi
đó,nhất là sau cuộc chiến tranh ờ Triều Tiên, học thuyết đô mi nô của người
Mỹ  ở đông nam Á đã chọn Nam Việt Nam như là một tiền đồn ngăn chận
làn so’ng đỏ cộng sản tràn xuống các nước khác trong vùng, nên họ cũng đã
trở thành đồng minh cột trụ của nền đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng hòa.
Một bên là Khối cộng sản phát động chiến tranh bành trướng núp  dưới
chiêu bài “giải phóng dân tộc”, còn phiá thế giới tư do do nưóc Mỹ cầm đầu
thì chủ trương chống lại dựa vào “quyền dân tộc tự quyết”. Cuộc chiến tranh
VN lúc nầy có người cho là cuộc chiến tranh về ý thức hệ (giửa chủ nghiã
cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dân tộc), có người cho là cuộc Chiến tranh
Ủy nhiệm như tựa cuốn sách của Giáo sư Lê xuân Khoa.( một bên nhân
danh các nước trong khối thế giới tự do còn bên kia nhân danh các nước
trong khối cộng sản.)
Dù mang danh nghiã gì đi nữa thì đây vẫn là cuộc chiến tranh cốt nhục
tương tàn đã gây bao tang thương và chết chóc cho người Việt ở hai miền đầt
nước, mà theo thiển ý, cũng vì do vị trí điạ chính trị của đất nước Việt Nam
có giá trị chiến lược đối với ngưòi Mỹ và khối cộng sản Nga-Tàu vào lúc đó,
hay nói nôm na như tựa quyển sách của cựu đại sứ Bùi Diễm là tại vì đất
nước bị kẹt “Trong gọng kềm của lịch sử.”.
Giá trị của vị trí của Việt Nam trong vùng đối với người Mỹ thay đổi theo
thời gian. Vào đầu thập niên 70, ngưởi Mỹ đã nhận thức sức mạnh của phe
Cộng sản nằm trong thế nhất thống thành một khối của họ. (sách vở và báo
chí đã dùng cụm từ sino-soviet bloc để chỉ khối cộng sản Nga Tàu). Sách
lược chống cộng mới của người Mỹ đã chuyển hướng vào việc làm phân hoá
và phá vở thế nhất thống nầy.
Thế là ngưởi Mỹbèn đi đêm với Tàu cộng va`  đã đạt được Thông cáo chung
ở Thượng Hải vào năm 1972. Liền sau đó người Mỹ lại tiếp tục đi đêm với
Cộng sản Bắc Việt để rồi sau đó Hiệp định Paris được ký kết (27-1-73). Với
Thông cáo chung ở Thượng Hải, người Mỹ đã gây sự phân hóa giữa Nga và
Tàu. Với Hiệp đình Paris, người Mỹ đã đào sâu thêm sư phân hóa nầy khiến
họ trở thành thù địch.Bằng chứng là sau khi “người đồng minh Mỹ tháo
chạy” khỏi miền Nam, Cộng sản Bắc Việt liền xua quân đánh chiếm miền
Nam và sau khi thống nhất được Việt Nam thì họ quay lưng lại với người
Taù và ngã hẳn theo Cộng sản Nga. (Thực tế cho thấy từ sau đại hội lần thứ
ba của đảng ở Hà nội năm 1960,Cộng sàn Bắc Việt bắt đầu đã ngã theo và
nhận sự chi viện lớn của Cộng sản Nga rồi, vì lúc đó điều lệ đảng chủ trương
đi theo tư tưởng Mác Lê thay vì tư tưởng Mác Lê và tư tưởng của Mao trạch
Ðông như trong kỳ đại hội lần thứ hai của họ hổi năm 1950.Nhưng phải đợi
tới sau chiến thắng 30-4-75 thì họ mới ra mặt theo hẳn Cộng sản Nga)
Do đó,kể từ sau 1975 trở đi, Việt Nam trở thành mũi nhọn xung kích cho
cộng sản Nga trong khu vực, điển hình là sau khi ký được Hiệp ước hỗ
tương với Nga năm 1978, Cộng sản Việt Nam liền xua quân lật đổ chế độ
của Pol Pốt đi theo Tàu cộng ở Campuchia và chiếm đớng đất nước nầy, mở
đầu cho môt cuộc chiến tranh lần thứ ba ở Ðông dương kéo dài đến năm
1990. Lập tức, năm 1979, Tàu cộng mở cuộc tấn công đánh vào sáu tỉnh ở
miền Bắc mà họ nói là để dạy cho Việt nam một bài học.
Rõ ràng có phải vì vị trí của đất nước nằm trong vùng tranh chấp ảnh hưởng
của các nước lớn, khi thì làm tiền đồn, lúc làm lính xung kích, Việt Nam
luôn ở trong tình trạng chiến tranh triền miên suốt ba cuộc chiến tranh Ðông
dương nói trên khiến dất nước bị tàn phá, người Việt Nam bị hy sinh quá
nhiều, trong khi Thái Lan,vì có vị trí nước trái độn, chẳng những không có
chiến tranh mà còn được hưởng lợi của chiến tranh ở Việt nam để phát triển
đất nước của họ ?
Ðến khi nước Nga đổi mới và từ bỏ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng
sàn ở trong nước của họ, kéo theo sư sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ờ trong
khối các quốc gia cộng sản ở Ðông âu vào đầu thập niên 90, cấp lãnh đạo
cộng sản Việt nam lúc đó đã đặt quyền lợi đảng Cộng sản trên quyền lợi của
đất nước và dân tộc nên họ, thà mất nước chớ không đề mất đảng, vẫn bám
vào binh phong chủ nghĩa cộng sản để tiếp tục giữ độc quyền lãnh đạo và cai
trị đất nước. Và cũng từ đó họ quay lại bắt tay với Tàu cộng và chịu sự chi
phối của Tàu cộng một cách lộ liểu.( sau nầy,mỗi lần VN hop đại hội
Ðảng,Tàu cộng luôn gửi một phái đoàn hùng hậu sang VN,ngoài mặt nói là
để quan sát nhưng thực chất là để dàn dựng và sắp xếp nhân sự)
Khi ành hưởng của Nga trong vùng biển Nam Hải không còn và khi Việt
Nam nam trong quỹ đạo của Tàu cộng thì toàn vùng Ðông nam châu Á bên
dưới Việt Nam lại có nguy cơ bị cộng sản Tàu khống chế hay chi phối. Ðây
cũng là lúc Việt nam có một giá trị địa chính trị trở lại dưới con mắt của
người Mỹ,bởi lẽ Việt Nam là nước duy nhất trong vùng có khả năng và đã
từng có truyền thống đối đầu được với người Tàu. Sự quan tâm nầy của Mỹ
đã mở một cánh cửa để cho Việt Nam có cơ hội xích lại gần với Mỹvà thoát
ra khỏi ành hưởng của Tàu cộng.
Thực tế đã cho thấy từ sau năm 1990, từng bước người Mỹmở lại các quan
hệ và hợp tác tốt với cộng sản Việt Nam (như gần đây vẫn rút tên ViệtNam
khỏi danh sách các nước bị quan tâm về nhân quyền và tôn giáo mặc dủ họ
vẫn đàn áp tôn giáo và đối lập chính trị, như việc Mỹ sê huấn luyện cho
quân đội Việt nam v v.).
Chính đại sứ cộng sản VN tại Mỹ, Lê công Phụng, khi trả lởi cuộc phỏng
vấn của đài BBC, ngày 19-1-2009, về quan hệ của VN với Mỹ và Trung
quốc cũng đã công khai thừa nhận “VN nằm ở vị trí địa chính trị nhạy cảm,
sát cạnh Trung quốc, lại nằm trong vùng Ðông nam Á, cho nên cả hai đều
có nhu cầu tranh thủ VN.”(nguyên văn câu hỏi số 4 của đài BBC là “Hai
cưởng quốc kia, theo Ðại sứ,có lôi kéo VN hay không?”)
Kinh nghiệm của tie^`n nhân xưa nay vẫn nhắc nhở là nên chọn lấy nước ở xa
làm đồng minh hơn là kết thân với nước láng giềng gần, nhất là khi nước
láng giềng gần vốn đã có lịch sử lâu đời xâm lược và thống trị đất nước.
Ðiều nầy chưa hẳn có thế áp dụng vào Việt Nam lúc nầy, bởi lẽ tập đoàn lãnh
đạo ở VN trong quá khứ đã từng cho thấy họ đặt quyền lợi giai cấp thống trị

đảng của họ trên quyền lợi của đất nước ( lúc các nước Ðông âu thoát ly
khỏi Nga và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản), chưa kể là áp lực và sự chi phối của
Tàu cộng vào VN chưa lúc nào mạnh mẽ và thô bạo như lúc na`y.
Tiến trình để Việt nam có thể lột xác vả xích lại gần với Mỹ tới mức có thể
thoát ly được ảnh hưởng của Tàu cộng vẫn sẽ tuỳ thuộc vào sự chuyển động
xoay chiều mạnh mẽ củaVN vànỗ lực của Mỹ. 
Riêng về phiá VN, khả năng
nầy chỉ có thể xảy ra khi nào có sự thay đổi nhân sự trong giới lãnh đạo ở
đây.
Bình thường thì phải mất một thời gian tương đối dài đủ để cho tầng lớp trẻ,
hấp thụ nền giáo dục Âu Mỹ, lên thay thế lớp cũ ở vai trò lãnh đạo. Cho tới
lúc đó, khi không bị vướng mắc bởi ân nghĩa cũ trong các cuộc chiến tranh
vừa qua, không bị ra`ng buộc bởi quyển lợi phe nhóm và dây liên hệ chằn
chịt về gia đình ( giữa những người trong hàng ngũ lãnh đạo đương thời họ
còn có sự liên hệ qua lại chặt chẽ về gia đình với nhau nữa), lớp lãnh đạo
mới nầy có thể mới có đủ đãm lược làm cho đất nước xoay chiều và nương
vào thế của Mỹ để từ từ thoát ra khỏi sự khống chế của nước Tàu.
Khi đã tin rằng dường như mỗi cá nhân đều có vận số, và đất nước cũng có
vận nước của nó thì không thể không nghĩ tới những biến cố đột biến có thể
xuất hiện bất ngờ, làm đão lộn hay rút ngắn các diễn tiến bình thường của sự
việc, hoặc phá vở các thế thăng bằng đã có sẵn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng và  rộng lớn đang diễn ra ở Mỹ và các
nước Tây âu hiện nay phải chăng cũng có thể coi là một biến cố đột biến ?
Nó đã phát ra những chấn động dây chuyển tạo nên những cơn sống ngẩm
cực mạnh ở bên Á châu, đặc biệt là ở Tàu cộng.
Các nước tây âu vốn đã quen đối phó với các cuộc khủng hoảng loại nầy,
còn Ta`u cộng chỉ quen thuộc với việc sử dụng công cụ chuyên chính. Một
sự xáo trộn kinh tế và xã hội qui mô đang diển ra ở trong nước Tàu, qua hình
ảnh nổi bật của hơn 20 triệu lao động di dân thất nghiệp từ thánh thị kéo về
nông thôn, sẽ dẫn tới những hậu quả khó có thể lường trước. Một sự thay đổi
lớn, nếu có, ở trong nước Tàu cộng chắc chắn sẽ tác động ngay lên nước
VN.Trên mạng internet, đã có tác giả, sau khi đánh giá tình hình, đưa ra sự
ước đoán lạc quan về chu kỳ hết “cùng” tất phải “thông” cho đất nước
VN nhân sự đột biến nầy.
Dù sao, chủ nghĩa cộng sản đã bị khai tử từ lâu rồi, trào lưu tự do dân chủ đã
là một xu thế tất yếu của thời đại không thể đão ngược.Sinh lộ cho đất nước
VN trước sau gì cũng phải đi theo xu thế nầy. Thời gian xảy ra lâu hay mau
vẫn còn là một ẩn số, và nếu như tin vào vận số thì nó có thể xảy đến ở bất
cứ lúc nào vậy.
Triệu huỳnh Võ.
ÐS 6
Ngày 15 tháng 3 năm 2009

Saturday, 14 September 2024

 Viếng thăm lại thầy cũ sau nửa thế kỷ


Qua liên lạc với bạn Nguyễn văn Phước, được biết Giáo sư Nguyễn quang

Quýnh đang cư ngụ cùng một thành phố với anh ở Stockton, những môn

sinh ở Thủ phủ Sacramento sắp xếp một chuyến đi thăm thầy cũ vào thời

gian thuận tiện càng sớm càng tốt trong năm nay.

Được sự đồng ý và theo ngày giờ của GS Quýnh đề nghị, những anh em ở

Sacramento gồm Lâm văn Mẩn, Trần huỳnh Thanh, Nguyễn khắc Linh và

Triệu huỳnh Võ (đáng lẽ còn có thêm anh Nguyễn văn Tri nhưng giờ chót

kẹt phải đi soi ruột ở bịnh viện không đi kịp) đã khởi hành đi xuống

Stockton vào lúc 4 giờ chiều ngày Thứ Năm 26 tháng 3 năm 2009. Tất cả đi

chung một xe do anh Thanh lái.

Trên đường đi, anh em có dịp hàn huyên hỏi thăm nhau các bạn bè cũ, chưa

dứt chuyện thì đã đến nhà Phước rồi. Nhà của Phước nằm trong khu có

security gate, anh Võ xuống xe bấm mã số sau đó anh Phước đich thân lái xe

ra mở cổng và hướng dẫn anh em vào nhà anh. Tại đây, một lần nữa anh em

lại có dip tâm sự với nhau một lúc nữa rồi mới chịu lên xe của Phước để đi

đến nhà GS Quýnh.

Nhà của GS Quýnh chỉ cách nhà anh Phước năm phút lái xe. Đây là ngôi

nhà trệt không có lầu trong khu vực khá yên tĩnh, không cách xa lắm với khu

downtown. Anh Phước bấm chuông và chỉ vài giây sau là cửa mở. GS

Quýnh đích thân ra mở cửa và vui vẻ chào đón anh em. Trông thầy không

thay đổi gì lắm, cũng với khuôn mặt hiền hòa, cũng với cung cách chẫm rải

và từ tốn, thầy nói ngay là rất cảm động gặp lại các anh em hôm nay. Do yêu

cầu của anh Võ, thầy đã đứng ở bên ngoài cửa để chụp một tấm hỉnh chung

với anh em.

Bước vào bên trong đã có phu nhân của thầy đón chào niểm nở và mời anh

em ngồi tại phòng khách. Phòng khách nhà thầy trang trí thuần túy theo kiểu

bên nhà cũng các bức tranh cẩn ốc xa cừ, cũng tấm bản đồ Việt nam bằng

sơn mài treo giữa tường rất nổi bậc. Mỗi anh em lần lưọt tự giới thiệu và

được thầy bắt tay thân mật. Một lần nữa thầy nói với giọng xúc động là từ

ngày định cư ở Mỷ, đây là lần đầu tiên được gặp gở đông đảo anh em cựu

sinh viên. Anh Võ đã nói thêm đây là buổi thầy trò gặp gở sau một nửa thế

kỷ, từ 1959 đến 2009.

Anh Phước sau đó xin thầy vui lòng tiếp nhận quà mọn của anh em mang

theo gồm một bình cắm hoa bằng thủy tinh và một bức ảnh thầy chụp chung

với anh em Ban Hành chánh khoá 6 tại tiền đình Học viện QGHC, lúc trụ sở


còn đặt tại đường Alexandre de Rhode, bên cạnh Bộ Ngoại giao. Thầy đón

nhận quà với niềm xúc động mạnh hiện rõ trên nét mặt và nói thêm là qua

tới đây thầy đã mất hết các tấm hình cũ có liên quan tới Học viện rồi. Châm

chú nhìn vào bức ảnh đã chụp cách đây đúng 50 năm, thầy yêu cầu ai còn

nhớ tên mỗi người trong ảnh xin nhắc lại cho ông. Anh Võ đã chỉ từng anh

một với tên và nơi đinh cư hiện tại của mỗi người, luôn cà quí anh đã ra đi từ

trước năm 1975 và sau năm 1975. Anh Võ cũng không quên nhắc chính anh

Tiêu ngọc Ninh, hiện đang cư ngụ ở tiểu bang Oaklahoma, đã còn giữ và

cung câp bức ảnh quí báu nầy. Thầy có vẻ rất thích thú với bức ành nầy.

Qua trao đổi, được biết sau ngày qua Mỷ từ 1975, thầy đã định cư ở đây. Hai

ông bà cũng có nhiều con cái đã thành tài, nhưng chỉ có một cô con gái sống

cùng thành phố và cũng ở gần nhà và tới lui với hai ông bà thôi. Thầy cho

biết hiện thầy đã bước vào tuổi 87, nhưng vẫn còn lái xe được, và mỗi ngày

đều dành một tiếng đồng hồ để đi bộ. Phu nhân của thầy cũng còn linh hoạt,

khoẻ mạnh và rất hiếu khách, luôn miệng mời anh em dùng mức, kẹo ngọt

và nước trà do bà đích thân pha chế.

Điễm khác biệt đáng ghi nhận trong lần gặp gở nầy ở thầy là thầy ít cười nói

hơn, cử chỉ có vẻ chậm chạp hơn, anh em đặt câu hỏi để hỏi thăm thầy nhiều

hơn là thầy hỏi lại anh em. Anh Phước có cho biết là gần đây thầy đã bắt đầu

quên nhiều rồi. Nhưng mỗi anh em đều nói với nhau rằng không biết tới lúc

mình bằng tuổi của thầy có còn được như vậy không hay có thể còn tệ hơn là

khác.

Trong gần một tiếng đồng hồ tâm tình trao đổi giữa thầy trò với nhau, xen

lẫn với những mẫu chuyện thật chưa hề được tiết lộ trong các kỳ thi lên lớp

và thi ra trường tại Hoc viện do anh Linh kể lại, mỗi người dường như đã có

dip sống lại những giây phút kỷ niệm của 50 năm về trước, một trạng thái

tâm thần tươi trẻ, hồn nhiên một thuở nào.

Như để trở về với hiện tại, anh Phước cất tiếng nhắc anh em xin từ giả thầy

để thầy cô được nghỉ ngơi. Sau lời từ giả của anh em, thầy cô tiển chúng tôi

ra tận cửa. Khi tất cả đã lên xe và khi xe đã chuyển bánh, thầy vẫn còn đứng

ở bên cửa vẩy tay lưu luyến tiển chân anh em, một hình ảnh thật cảm động

và không thể quên.

Moi người lai quay về nhà anh Phước. Tại đây, anh Phước đã có chuẩn bị

các món nhậu từ trước. Anh em lại có dịp bù khú với biết bao câu chuyện

cũ, từ chuyện học ở Học viện, từ các cam go ở Trường Đồn đế, đến các

chuyện vui buồn lúc ra làm phó quận, phó tỉnh, lúc đi ở tù cộng sản v v..

Hết chuyện cũ rồi tới chuyện mới liên quan tới cuộc sống hiện tại của từng

anh em nào còn có thể liên lạc được. Câu chuyện trao đổi với nhau liên tục

gần như không thể chấm dứt.


Cuối cùng, anh Thanh nhắc nhở đã tới giờ phải chia tay với anh Phước, vì lái

xe ban đêm không an toàn lắm. Thế là anh em đành chia tay với anh Phước

và trở về lại Sacramento với một niềm hân hoan và vui mừng khó có thể

diễn tả trọn vẹn. Vui mừng vì đã có dip viếng thăm thầy cũ và thấy thầy cũ

vẫn còn minh mẫn và tráng kiện sau đúng 50 năm mới được gặp lại. Hân

hoan vì tìm lại được tình bạn gắn bó, và được dịp sống lại những giây phút

đồng cảnh học trò, đồng cảnh ở tù cộng sản, đồng cảnh sống của lứa tuổi

thất thập cổ lai hi.

Nhóm Khoá 6 và Khoá 7 Hoc viện QGHC tại

Sacramento và Stockton.

Wednesday, 13 September 2023

BÁC TRIỆU CHỈ CHI TIẾT TRONG PHẠM VI ĐÃ CÓ THỂ- TUY NHIÊN NẾU MUỐN CHÍNH XÁC VÀ THẬT ĐẦY ĐỦ CHẮC PHẢI CẦN CÓ SỰ GÓP MẶT CỦA NHIỀU CÁ NHÂN SỐT SẮNG NHƯ BÁC TÔN NHÀ TA.
Bác LÊ VĂN HỘI từng là Phó Tỉnh Kiên Giang, sau Bác Lê Văn Thêm - Bác Hội được Kiên Giang nhớ nhiều hơn cả vì Bác HỘI ĐÃ CÓ CÔNG TÁCH TỈNH LỴ RẠCH GIÁ THÀNH THỊ XÃ RẠCH GIÁ. Và Bác Lê Văn Hội là Phó Thị đầu tiên của THỊ XÃ RẠCH GIÁ. Bác Hội đã qua đời tại Melbourne Úc Châu hơn 10 năm trước. 
Kiên Giang còn có một người cần nhắc tên là NGUYỄN MINH BẠCH, ĐS 9- Từng là Phụ Tá HC cho đến 30-4-75. Anh BẠCH là một CỰU QGHC ĐƯỢC CẢ TRONG NGOÀI QGHC ĐỀU KÍNH MẾN- HẦU HẾT QGHC TẠI KIÊN GIANG ĐỀU ÂM THẦM BÌNH BẦU ANH NGUYỄN MINH BẠCH LÀM PHÓ TỈNH- Nhưng anh rất LƯỜI BIẾNG CHẠY BỘ ... đành nhường ghế cho đàn em ĐỖ THANH QUANG. Anh Bạch qua đời tại quê nhà Sa Đéc cách nay cũng trên 15 năm. Sau Bác Hội là tới Bác Lê Văn Rắc từ Cao Lãnh sang./-Mt68
___________________

Tue Ton
10:45 AM (23 minutes ago)

Đôi điểm về bài tường trình nhân sự QGHC cùa huynh trưởng Triệu Huỳnh Võ.
1. Dĩ nhiên không thể ghi rõ trường hợp đã quá vãng.
2. Định Tường, không thấy tên anh Hội phó tỉnh trưởng chừng 1962
3. Cựu dân biểu / phó quận Quảng Xuyên Gia Định Phạm Duy Tuế (dấu sắc), khóa tám.
4. Hoàng Trọng Can chứ không phải Nguyễn Trọng Can. Nếu có Nguyễn Trọng Can thì thiếu mất Hoàng Trọng Can. 
Hoàng Trọng Can phó thị Đà Lạt trong khi em ruột Hoàng Trọng Hàn làm hiệu trưởng trường tỉnh. HT Can là nhạc sĩ tác giả vài bài ca thuần túy Phật Giáo. Đã qua đời tại Texas chừng 4 năm nay.
5. Nếu Võ Quang Tuệ chỉ có một lần làm phó thị xã thì ở Thị xã Huế, chứ không phải Đà Nẵng. Nhiều nhân vật được kê nhiều lần theo nhiêm sở khác nhau.
5. Bản liệt kê chú ý đến hành chánh địa phương nhưng không thấy Hồ...Cường, đã làm phó tỉnh; hổn danh là Cường Cọp vì con ông Hồ Ứng Dần, phó tỉnh Thừa Thiên.

ttt

 CÁM ƠN ĐẠI HUYNH: GIẤY BÚT VẪN CÒN ĐÂY- BỤI THỜI GIAN CÓ PHÔI PHA NHƯNG VẪN THẤY ĐƯỢC TÊN NHAU LẪN TRONG BỤI MÙ THẾ SỰ CHIẾN CHINH./-Mt68

____________________

Những Đóng Góp Của Các Đốc Sự Cho Hai Nền Cộng Hòa

Triệu Huỳnh Võ, ĐS 6

LỜI MỞ ĐẦU.
Bài viết nầy đã dựa vào:
– Quyển Kỷ Yếu Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC) do Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC thực hiện vào tháng 7 năm 1999;
– Đặc san QGHC-Liên Bang Úc Châu 2006-2007;
– Quyển Kỷ Yếu ĐS 13: 48 Năm Nhìn Lại (1965-2012);
– Các cuộc tham khảo ý kiến với các đồng môn.
Nội dung bài viết chắc chắn còn nhiều điều sơ sót hoặc không chính xác, vì người viết chỉ trình bày sự đóng góp cho Nền Cộng Hòa của một số các Đốc Sự (ĐS), rất mong quí đồng môn vui lòng bổ khuyết.

Kể từ ngày được thành lập năm 1953 tính đến cuối năm 1973, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đã đào tạo được:

1635 sinh viên tốt nghiệp ban Đốc Sự từ Khóa Đà Lạt tới Khóa 19. Ngoài ra còn có 316 sinh viên chưa tốt nghiệp đang theo học các Khóa Đốc Sự 20, 21 và 22.

– 323 sinh viên tốt nghiệp ban Cao Học từ Khóa 1 đến Khóa 8 và 161 sinh viên đang theo học các khóa Cao Học 9 và 10.

– 527 sinh viên Tham Sự từ Khóa 1 đến Khóa 5.

– 189 sinh viên Tham Sự Sắc tộc.

Về sự đóng góp cho nền Cộng Hòa

Chỉ sau hai thập niên, kể từ ngày Học Viện được thành lập, những sinh viên xuất thân từ Học Viện đã lần lượt được bổ nhiệm giữ các chức vụ chỉ huy trung cấp, cao cấp và ngay cả đến các chức vụ chính trị trong toàn thể cơ cấu tổ chức công quyền của hai nền Cộng Hòa,từ cấp chính quyển địa phương lên cấp chính quyền trung ương.

Chính quyền địa phương:

Thông thường thì việc lãnh đạo ở địa phương, cấp Tỉnh Trưởng và Quận Trưởng sẽ do các Đốc sự đãm trách.Nhưng vỉ đất nước đang trong tình trạng chiến tranh chống cộng sản Bắc Việt xâm lược, nên nền hành chánh địa phương bị quân sự hóa.Các Đốc sự, ngoại trừ một vài trường hợp biệt lệ được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng hay Quận trưởng,đa số chỉ giữ chức vụ Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh (PTTHC),Phó Thị Trưởng (PThT),Phụ Tá Hành Chánh(PTHC) và Phó Quận Trưởng (PQT) Các sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đều nắm giữ các chức vụ Tỉnh Trưởng và Quận Trưởng.

1. Đô Thành Sài Gòn

Trước năm 1972, các cựu sinh viên tốt nghiệp Học Viện có lúc đã nắm giữ hầu hết các chức vụ Quận Trưởng Hành Chánh trong Đô Thành Sài Gòn.

– Quận Nhứt: Phạm văn Phỉ, ĐS4

– Quận Tư: Lê ngọc Diệp, ĐS9

– Quận Năm: Nguyễn văn Bon, ĐS (cựu giáo chức cải ngạch ĐS)

– Quận Sáu: Huỳnh kim Thoại, ĐS9

– Quận Bảy: Nguyễn văn Sang, ĐS7

– Quận Tám: Mai như Mạnh, ĐS3; Nguyễn xuân Du, ĐS12

– Quận Mười: Trần quang Trí, ĐS10

– Quận Mười Một: Lê hiếu Nghĩa, ĐS3

Kể từ sau Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, các sĩ quan trong Quân đội VNCH được bổ nhiệm làm Đặc Khu Trưởng kiêm Quận Trưởng ở 11 Quận trong Đô Thành, phụ trách chính yếu về an ninh, còn về hành chánh thì vẫn do các Đốc Sự đảm nhận trong vai trò Phó Quận Trưởng.

2. Các Tỉnh, Thị Xã

Giữ chức vụ Tỉnh Trưởng

Tỉnh Vĩnh Bình: Nguyễn đình Xướng, ĐS khóa Đà Lạt, thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Tỉnh Quảng Trị: Nguyễn trung Thoại, ĐS1, thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

Giữ chức vụ Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh (PTTHC), Phó Thị Trưởng (PThT), Phụ Tá Hành Chánh (PTHC), Quận Trưởng (QT) và Phó Quận Trưởng (PQT):

QUÂN KHU I
Tỉnh Quảng Trị

PTTHC: Bảo Lộc, ĐS3; Bùi Hoành, ĐS8; Bửu Uyển, ĐS11; Nguyễn ngọc Diệp, ĐS14.

– Quận Mai Lĩnh. PQT: Ngô văn Toại, ĐS13

– Quận Hải Lăng. PQT: Hứa thôi Sinh, ĐS13

– Quận Triệu Phong. PQT: Nguyễn văn Dân, ĐS18

Tỉnh Thừa Thiên

PTTHC: Bảo Lộc, ĐS3; Hồ văn Cường, ĐS11

– Quận Phú Vang. PQT: Phạm thành Châu, ĐS14

– Quận HươngTrà. PQT: Nguyễn thái Hùng, ĐS14

– Quận HươngThủy. PQT: Trần đình Sào, ĐS14

– Quận HươngĐiền. PQT: Nguyễn Trình, ĐS17A

– Quận PhongĐiền. PQT: Trương minh Hòa, ĐS17B

– Quận Vĩnh Lộc. PQT: Nguyễn đình Hào, ĐS17B

– Quận Phú Lộc. PQT: Cung trọng Thanh, ĐS17B

Thị Xã Huế

PThT: Trần đình Thương, ĐS 8 (bịVC giết vào Tết 68); Tôn thất Tùng, ĐS9; Trần bá Thuyết, ĐS11

– Quận 1. PQT: Nghiêm xuân Thuyết, ĐS19

– Quận (?). PQT: Hồ xuân Giu, ĐS13

Tỉnh Quảng Nam

PTTHC: Hồ đắc Chương, ĐS1; Nguyễn chí Thiệp, ĐS10; Lê thượng Uyên, ĐS10

PhTHC: Nguyễn văn Ảnh, ĐS14

– Quận Thường Đức. PQT: Trần đình Vinh, ĐS14; Trần thiện Ấn, ĐS17 B

– Quận Hiếu Đức. PQT: Phan thành Hùng, ĐS16; Nguyễn Phước, ĐS17B

– Quận Quế Sơn. PQT: Vũ ngọc Thúy, ĐS16

– Quận Điện Bàn. PQT: Huỳnh vĩnh Tài, ĐS 8 (hy sinh 65); Lê phước Ba, ĐS17 A

– Quận Đại Lộc. PQT: Dương đức Bản, ĐS17A

– Quận Hòa Vang. PQT: Nguyễn thanh Lương, ĐS17A

– Quận Duy Xuyên. PQT: Hoàng đình Thu, ĐS17B

– Quận (?). PQT: Huỳnh maiThân, ĐS13

– Quận (?). PQT: Nguyễn minh Chánh, ĐS16

Thị Xã Đà Nẵng

PThT Đà Nẵng: Nguyễn vĩnh An, ĐS8; Thái Lộc, ĐS8; Nguyễn khoa Tánh, ĐS8; Võ quang Tuệ, ĐS9

-Quận 2. PQT: Phạm phước Ngữ, ĐS17

-Quận 3. PQT: Nguyễn Phụng, ĐS 11; Nguyễn thế Sanh, CH 6.

-Quận (?). PQT: Trần xuân Thời, ĐS12; Dương mạnh Châu, ĐS14.

Tỉnh Quảng Tín

PTTHC: Hồ văn Hiển, ĐS1; Bủi trọng Tiêu, ĐS8; Lê tấn Nhiễu, ĐS7; Tôn thất Tùng, ĐS9; Vũ văn Long, ĐS7; Trần ngọc Thiệu, ĐS11

PTHC: Nguyễn thế Tạo, ĐS15

– Quận Tam Kỳ. PQT: Nguyễn xuân Châu, ĐS16

– Quận Hậu Đức. PQT: Thái công Phú, ĐS16 (đã mất); Nguyễn văn Quí, ĐS19

– Quận Tiên Phước. PQT: Võ văn Lượng, ĐS17A; Đổ văn Siêng, ĐS19

Tỉnh Quảng Ngãi

PTTHC: Trần huỳnh Châu, ĐS5 (đã mất); Thái Lộc, ĐS 8; Đào văn Bình, CH2; Nguyễn chí Vy, ĐS9, CH2

PTHC: Trần Thái, ĐS9

– Quận Nghĩa Hành. PQT: Võ quang Quán, ĐS11

– Quận Bình Sơn. PQT: Phạm công Bàng, ĐS8; Trần khánh Hồng, ĐS13; Nguyễn hưng Long, ĐS16

– Quận Sơn Tịnh. PQT: Tôn thất Bảo, ĐS9; Nguyễn hữu Pháp, ĐS13

– Quận Mộ Đức. PQT: Bùi Châu, ĐS14

– Quận Ba Tơ. PQT: Nguyễn văn Dũng, ĐS16

– Quận Minh Long. PQT: Lâm Phú, ĐS17A

– Quận Trà Bồng. PQT: Nguyễn mạnh Phúc, ĐS17A

– Quận Sơn Hà. PQT: Trương văn Anh, ĐS17B

– Quận Đức Phổ. PQT: Phạm Ru, ĐS19

QUÂN KHU II
Tỉnh Kontum

PTTHC: Bùi xuân Thích, ĐS6; Phạm gia Định, ĐS8; Đào ngọc Khoa, ĐS11; Trần bạch Thu, ĐS17B

– Quận Đakto. PQT: Lê xuân Sướng, ĐS8; Lê văn Minh, ĐS 10; Nguyễn Huệ, ĐS19

– Quận Kontum. PQT: Lâm thành Hổ, ĐS15; Nguyễn chí Thiện, ĐS19

– Quận (?). PQT: Nguyễn ngọc Quang, ĐS17A

Tỉnh Bình Định

PTTHC: Lê quang Quý, ĐS Đà Lat; Phạm hữu Độ, ĐS8; Bùi xuân Thích, ĐS 6.

PTHC: Tôn thất Tùng, ĐS9

– Quận An Nhơn.QT: Đại úyTrương văn Tuyên, ĐS 8

– Quận Tuy Phước. PQT: Diệp bửu Long, ĐS10

– Quận Phù Mỹ. PQT: Đoàn hữu Đức, ĐS13

– Quận Hoài Nhon. PQT: Nguyễn công Lượng, ĐS16; Nguyễn văn An, ĐS17A

– Quận An Túc. PQT: Lê viết Hồn, ĐS17A (hy sinh 1975)

– Quận Hoài Ân PQT: Hoàng trắc Thành, ĐS17A

-Quận Bình Khê PQT: Trần đình Mười, ĐS17B

– Quận Tam Quan.PQT: Đỗ việt Anh, ĐS19

Thị Xã Qui Nhơn

PThT: Bùi xuân Thích, ĐS6

– Quận Nhơn Định. PQT: Bùi thế Bạch, ĐS17B

– Quận Nhơn Bình. PQT: Bùi văn Khanh, ĐS17B

Tỉnh Pleiku

PTTHC: Trần công Hàm, ĐS7; Nguyễn phú Hữu, ĐS8; Đặng văn Thạnh, ĐS11

– Quận Phú Nhơn. PQT: Trần ngọc Cưởng, ĐS10; Trần ngọc Danh, ĐS17A

– Quận Lệ Trung. PQT: Ksor Đê, ĐS17A (đã mất); Trần thanh Thủy, ĐS17B

– Quận Thanh An. PQT: Nguyễn thanh Nhựt, ĐS17A

– Quận (?). PQT: Nguyễn đức Tuấn, ĐS13

Tỉnh Phú Bổn

PTTHC: Nguyễn văn Tiên, ĐS6; Vũ văn Long, ĐS7; Nguyễn kim Dần, ĐS8; Nguyễn hữu Để, ĐS13

-Quận Cheo Reo.PQT: Phạm xuân Huy, ĐS13

– Quận Phú Túc. PQT: Võ Hân, ĐS15; Lê quang Minh, ĐS17 A

– Quận Phú Thiện. PQT: Vương Lưu, ĐS17A

Tỉnh Phú Yên

PTTHC: Trần văn Bảng, ĐS2; Nguyễn tiến Hoàng, ĐS10; Nguyễn khắc Linh, ĐS7

-PTHC: Lê văn Thái, CH5

– Quận Hiếu Xương. PQT: Nguyễn thành Thu, ĐS12; Lâm minh Cương, ĐS13

– Quận Sông Cầu. PQT: Nguyễn viết Thu, ĐS12

– Quận Đông Xuân. PQT: Nguyễn văn Bửu, ĐS16

– Quận Tuy An. PQT: Ngô văn Hoàn, ĐS16

– Quận Sơn Hòa. PQT: Lê đình Lãm, ĐS8; Nguyễn thế Sang, ĐS16; Nguyễn duy Nhạc, ĐS17B

Tỉnh Darlac

PTTHC: Nguyễn ngọc Vỵ, ĐS6

– Quận Lạc Thiện. PQT: Lê hữu Em, ĐS10, CH1; Nguyễn xuân Kế, ĐS12; Võ đoàn Ba, ĐS17A

– Quận Buôn Hô. PQT: Trần văn Dũng, ĐS9, CH1; Huỳnh văn Phước, ĐS17B

– Quận (?). PQT: Phan tiến Dương, ĐS 12; Đàm xuân Ánh, ĐS13; Đỗ hữu Đông, ĐS15

Tỉnh Khánh Hòa

PTTHC: Trương đình Cát, ĐS1; Hoàng đình Giang, ĐS1; Hồ đình Chỉnh, ĐS2; Nguyễn linh Kính, ĐS Đà Lạt; Nguyễn công Hiệu, ĐS2; Nguyễn văn Sanh, ĐS8

PTHC (1975): Hồ quốc Văn, ĐS9

– Quận Cam Lâm. PQT: Bùi đình Phúc, ĐS3; Nguyễn đình Thụy, ĐS13.

– Quận Vĩnh Xương. PQT: Thái tăng Hoàng, ĐS10; Phạm khắc Cẩn, ĐS14

– Quận Vạn Ninh. PQT: Huỳnh văn Quế, ĐS14

– Quận Diên Khánh. PQT: Ngô đình Hoa, ĐS13; Ngô minh Sơn, ĐS14

– Quận Ninh Hòa. PQT: Diệp xuân Tân, ĐS8; Nguyễn kim Khánh, ĐS10; Lê phụng Chữ, ĐS11; Huỳnh viết Văn, ĐS9

Thị Xã Nha Trang

PThT: Nguyễn văn Đặng, ĐS8

-Quận II. PQT: Đỗ bá Cường, CH4

Thị Xã Cam Ranh

PThT: Lê hữu Phước, ĐS11

Tỉnh Quảng Đức

PTTHC: Nguyễn ngọc Vỵ, ĐS6; Nguyễn thế Chu, ĐS7

– Quận Đức Lập. PQT: Nguyễn thắng Hiền, ĐS15

– Quận Khiêm Đức. PQT: Nguyễn hữu Lễ, ĐS15; Trần ngọc Minh, ĐS16

– Quận Kiến Đức. PQT: Nguyễn tấn Ngoan, ĐS16

Tỉnh Tuyên Đức

PTTHC: Nguyễn hữu Kế, ĐS7 (đã mất); Hoàng trọng Can, ĐS1

PTTHC Thượng vụ: Yayu Sahao, Tham Sự Ban Cao Nguyên.

– Quận Đơn Dương. PQT: Ngô văn Toại, ĐS13

– Quận Lạc Dương. PQT: Hà hải Sơn, ĐS14

– Quận Đức Trọng. PQT: Lê kim Thành, ĐS14

Thị Xã Đà Lạt

PThT Đà Lạt: Nguyễn trọng Can, ĐS6; Phạm gia Định, ĐS8

Tỉnh Ninh Thuận

PTTHC: Hồ đình Phương, ĐS2; Nguyễn trung Thoại, ĐS1; Nguyễn hửu Kế, ĐS7; Nguyễn chu Hậu, ĐS2; Lê tấn Nhiễu, ĐS7

– Quận Thanh Hải. PQT: Phạm văn Đen, ĐS13

– Quận Bửu Sơn. PQT: Ngô đình Hoa, ĐS13

– Quận Sông Pha. PQT: Quảng Tài, ĐS17B

– Quận Du Long/Quận An Phước. PQT: Lê đình Thảo, ĐS 9, CH3

– Quận (?). PQT: Tôn thất Lưu, ĐS12

Tỉnh Lâm Đồng.

PTTHC: Lê duy Lai, ĐS8; Nguyễn văn Cường, ĐS11

-Quận Bảo Lộc. PQT: Đặng quốc Tuấn, ĐS10, CH2; Diệp thanh Sang, ĐS17A

Tỉnh Bình Thuận

PTTHC: Nguyễn văn Tiên, ĐS6; Phạm ngọc Cửu, ĐS11

PTHC: Nguyễn tấn Phát, ĐS11

– Quận Hàm Thuận. PQT: Hoàng văn Lợi, ĐS14

– Quận Thiện Giáo. PQT: Trương an Ninh, ĐS14

– Quận Tuy Phước. PQT: Hoàng Phương, ĐS14

– Quận Tuy Phong. PQT: Đinh trọng Chóng, ĐS17B

– Quận Phan Lý Chàm. PQT: Y a Pha. ĐS17A

QUÂN KHU III
Tỉnh Phước Long

PTTHC: Nguyễn tĩnh Thuật, ĐS Đà Lạt; Phạm thăng Chức, ĐS11 (đã mất); Đèo văn Ngày, Tham Sự Ban Cao Nguyên (bị sát hại 30-4-75)

PTHC: Lê thành Nghiêm, ĐS15

– Quận Bố Đức. PQT: Nguyễn ngọc Diệp, ĐS13

– Quận Đức Phổ. PQT: Đỗ văn Minh, ĐS16

– Quận Phước Bình. PQT: Đặng xuân Hùng, ĐS17A; Nguyễn hải Trí, CH4

– Quận (?). PQT: Hà vĩnh Tường, ĐS17A (hy sinh 74)

Tỉnh Long Khánh

PTTHC: Trương minh Nhuệ, ĐS6; Vũ văn Khuông, ĐS8 (đã mất); Vũ minh Ngọc, ĐS16

– Quận Định Quán. PQT: Đinh mạnh Sử, ĐS9; Nguyễn đăng Luận, ĐS12; Phạm đức Thạnh, ĐS17B

– Quận Kiêm Tân. PQT: Đinh văn Giáp, ĐS13

– Quận Xuân Lộc. PQT: Phạm đức Thạnh, ĐS17B

Tỉnh Bình Tuy

PTTHC: Trần thanh Sử, ĐS6; Nguyễn văn Tiết, ĐS9

PTHC: Lý kim Anh, CH5

– Quận Tánh Linh. PQT: Phan hạ Tùng, ĐS11; Đèo văn Tuấn, ĐS16

– Quận Hoài Đức. PQT: Nguyễn công xuân Lâm, ĐS12; Nguyễn Nhung, ĐS17B; Nguyễn văn Thiện, ĐS19

– Quận Hàm Tân. PQT: Nguyễn văn Phụng, ĐS14; Huỳnh huy Minh, ĐS19

Tỉnh Tây Ninh

PTTHC: Nguyễn công Minh, ĐS9

– Quận Phước Ninh. PQT: Dương văn Biên, ĐS10

– Quận Hiếu Thiện. PQT: Phạm minh Châu, ĐS13

– Quận Phú Khương. PQT: Lâm thành Hổ, ĐS15

– Quận Khiêm Hạnh. PQT: Hà minh Khải, ĐS16

– Quận Khiêm Tân. PQT: Hoa thế Nhân, CH5

Tỉnh Bình Long

PTHC: Nguyễn trọng Can, ĐS6; Lê Quế, ĐS7; Võ thành Hạng, ĐS7; Vũ minh Ngọc, ĐS16

– Quận An Lộc. PQT: Phạm văn Thắng, ĐS16

– Quận Chơn Thành. PQT: Trần tấn Mẫn, ĐS9, CH4; Trịnh nhạc Phi, ĐS17A

Tỉnh Bình Dương

PTTHC: Nguyễn văn Tiên, ĐS6; Võ tấn Vinh, ĐS8 (đã mất)

– Quận Phú Giáo. PQT: Nguyễn thế Cương, ĐS12

– Quận Phú Hòa. PQT: Nguyễn phước Huệ, ĐS17B

– Quận Bến Cát. PQT: Nguyễn văn Bính, ĐS14

– Quận Châu Thành. PQT: Phạm công Xuân, ĐS14

– Quận (?). PQT: Nguyễn cao Tuấn, ĐS12; Lê ngọc Hồ, ĐS 13

Tỉnh Biên Hòa

PTTHC: Đỗ thành Nhơn, ĐS1; Nguyễn đình Lang, ĐS4; Phạm công Đời, ĐS1; Trương văn Nam, ĐS Đà Lạt;

 Đặng văn Thạnh, ĐS11; Nguyễn thành Nhơn, ĐS6

– Quận Đức Tu (Châu Thành). PQT: Nguyễn văn Tám, ĐS7; Vũ viết An, ĐS13; Trần đình Phương, ĐS13

– Quận Công Thành. PQT: Cao văn Trí, ĐS9; Nguyễn Dũng, ĐS13

– Quận Tân Uyên. PQT: Nguyễn đình Đổ, ĐS11

– Quận Dĩ An. PQT: Phan khắc Thành. ĐS13

– Quận Long Thành. PQT: Thái quang Chung, ĐS12; Phạm kim Rương, ĐS11; Nguyễn trần Quý, CH4

– Quận Đức Trọng. PQT: Ngô văn Toại, ĐS13

Tỉnh Phước Tuy

PTTHC: Lâm hữu Trải, ĐS9; Nguyễn đình Phúc, ĐS11

– Quận Đất Đỏ. PQT: Nguyễn vĩnh Trinh, ĐS3 (tử nạn trước 75); Võ văn Hoàn, ĐS8; Vũ tuấn Thịnh, ĐS11

– Quận Long Điền. PQT: Nguyễn xuân Nghi, ĐS11

Thị Xã Vũng Tàu

PThT: Lê văn Toàn, ĐS7

Tỉnh Gia Định

PTTHC: Huỳnh đăng Giai, ĐS3; Nguyễn hữu Dậu, ĐS8

– Quận Cần Giờ. PQT: Lê văn Minh, ĐS10; Đoàn đình Minh, ĐS13

– Quận Nhà Bè. PQT: Nguyễn kimTùng, ĐS13

– Quận Quảng Xuyên. PQT: Phạm duy Tuệ, ĐS8

– Quận Hốc Môn. PQT: Huỳnh công Trị, ĐS9

– Quận Thủ Đức. PQT: Nguyễn khắc Quang, ĐS8

Tỉnh Hậu Nghĩa

PTTHC: Đổ đăng Tiến, ĐS8; Vũ văn Long, ĐS7; Nguyễn thái Nguyên, ĐS7

– Quận Đức Hòa. PQT: Nguyễn đức Cảnh, ĐS12; Ngô đình Thứ, ĐS13

– Quận Đức Huệ. PQT: Văn hiếu Nghĩa, ĐS14

– Quận Củ Chi. PQT: Huỳnh văn Thành, ĐS17A

Tỉnh Long An

PTTHC: Lê phú Nhạn, ĐS Khóa Đà Lạt; Nguyễn bá Cẩn, ĐS1

– Quận Bến Lức. PQT: Nguyễn mạnh Tùng, ĐS10

– Quận Tân Trụ. PQT: Đinh Hiếu, ĐS12, CH 6

– Quận Thủ Thừa. PQT: Nguyễn văn Đức, ĐS6; Huỳnh Minh, ĐS15

– Quận Rạch Kiến. PQT: Phạm công Bàng, ĐS9

– Quận Bình Phước. PQT: Lê văn Ngà, ĐS9

– Quận Cần Đước. PQT: Đinh minhThân, ĐS9

– Quận (?). PQT: Vũ thế Hùng, ĐS11

QUÂN KHU IV
Tỉnh Kiến Tường

PTTHC: Đặng huy Túc, ĐS7; Nguyễn khắc Lương, ĐS11; Đặng minh Đức, ĐS13; Lê văn Rắc, ĐS9

– Quận Kim Bình. PQT: Trần quốc Cần, ĐS10

– Quận Tuyên Bình. PQT: Phạm văn Thu, ĐS19

– Quận Tuyên Nhơn. PQT: Đinh sơn Huy, ĐS10, CH3; La văn Mẫn, ĐS17B

– Quận Kiến Bình. PQT: Trần Dũng, ĐS8 (hy sinh 64); Nguyễn ngọc Khôi, ĐS10

– Quận Châu Thành. PQT: Phạm trần Hào, ĐS15; Đỗ thái Hùng, ĐS16

Tỉnh Kiến Phong

PTTHC: Huỳnh thanh Tùng, ĐS9

– Quận Mỹ An. PQT:  Huỳnh ngọc Long, ĐS17A; Nguyễn tấn Hữu, ĐS19

– Quận Kiến Văn. PQT: Phạm hữu Nghĩa, ĐS16

– Quận Đồng Tiến. PQT: Nguyễn văn Tuấn, ĐS17 B

– Quận Thanh Bình. PQT: Nguyễn văn Gỏ, ĐS13

Tỉnh Định Tường

PTTHC: Nguyễn phước Sơn, ĐS8

– Quận Bến Tranh. PQT: Nguyễn kim Dần, ĐS8; Trương vĩnh Tiền, ĐS10

– Quận Giáo Đức. PQT: Nguyễn văn Cao, ĐS11

– Quận Sầm Giang. PQT: Nguyễn trung Lâu, ĐS12

– Quận Cái Bè. PQT: Nguyễn văn Ban, ĐS12

– Quận Cai Lậy. PQT: Lưu trường Ninh, ĐS8

– Quận Chợ Gạo. PQT: Phạm minh Châu, ĐS13; Trần khánh Hồng, ĐS13

Thị Xã Mỹ Tho

PThT: Lê vănThêm, ĐS 6; Võ văn Phận, CH 4

Tỉnh Gò Công

PTTHC: Nguyễn văn Hợp, ĐS5; Lê thiện Tùng, ĐS12

– Quận Hòa Lạc. PQT: Lê văn Quan, ĐS11

– Quận Hòa Tân. PQT: Nguyễn văn Phúc, ĐS11

– Quận Hòa Đồng. PQT: Đặng thanh Xuân, ĐS12; Trần hữu Đức, ĐS13

– Quận Hòa Tân. PQT: Lê văn Thúy, ĐS13

– Quận Hòa Bình. PQT: Nguyễn văn Luân, ĐS14

Tỉnh Kiến Hòa

PTTHC: Trần Huỳnh Châu, ĐS5 (đã mất); Đào văn Bình, CH2

– Quận Hương Mỹ. PQT: Đặng gia Thoại, ĐS10; Mã thành Nghĩa, ĐS17B

– Quận Ba Tri. PQT: Bùi đức Lứt, ĐS10

– Quận Trúc Giang. PQT: Lê tự Em, ĐS11

– Quận Phú Thạnh. PQT: Hồ kim Sơn, ĐS12

– Quận Đôn Nhơn. PQT: Nguyễn văn Út, ĐS9; Lê Hoàng Hải, ĐS13

– Quận Ba Tư. PQT: Trần văn Tuôi, ĐS17A

Tỉnh Vĩnh Long

PTTHC: Nguyễn sanh Tiền, ĐS7; Đặng văn Thạnh, ĐS11

– Quận Bình Minh. PQT: Đinh ngọc Bảo, ĐS11; Đinh sỹ Nghĩa, ĐS13

– Quận Trà Ôn. PQT: Mạch bạch Hà, ĐS12

– Quận Chợ Lách. PQT: Nguyễn văn Y, ĐS13

– Quận Minh Đức. PQT: Phạm xuân Nguyên, ĐS14

– Quận Tam Bình. PQT: Huỳnh anh Kiệt, CH 6

Tỉnh Vĩnh Bình

PTTHC: Lê vănThêm, ĐS6; Đoàn Ngô, ĐS7; Nguyễn tấn Phát, ĐS11; Trần văn Chi, ĐS11

– Quận Càng Long. PQT: Nguyễn quý Hùng, ĐS12; Trần khánh Hồng, ĐS13

– Quận Trà Cú. PQT: Hà anh Tuấn, ĐS12

– Quận Cầu Ngang. PQT: Lê thanh Đào, ĐS13; Nguyễn văn Sáu, ĐS17A

– Quận Long Toàn. PQT: Thạch ngoc Hoán, ĐS17B

– Quận Cầu Kè. PQT: Sơn Siunh, ĐS16

– Quận Châu Thành. PQT: Trần Ngọc, ĐS15; Phạm ngọc Thanh, ĐS17A

Tỉnh Sa Đéc

PTTHC: Đổ hữu Sâm, ĐS2; Trần huỳnh Thanh, ĐS6 (đã mất)

– Quận Đức Thịnh. PQT: Nguyễn phú Hùng, ĐS11

– Quận Đức Thành. PQT: Vũ thanh Phát, ĐS11

– Quận Đức Tôn.PQT: Lê đức Thuận, ĐS13

– Quận Đức Tân. PQT: Vũ đức Báu, CH5

– Quận (?). PQT: Võ thành Thật, ĐS11, CH6

Tỉnh Phong Dinh

PTTHC: Nguyễn Vịnh, ĐS 6; Trần huỳnh Thanh, ĐS 6 (đã mất)

PTHC: Trần văn Quá, ĐS17B

– Quận Cái Răng. QT: Nguyễn trung Trương, ĐS Đà Lạt.

– Quận Phong Phú. QT: Trần văn Minh, ĐS Đà Lạt (hy sinh tại đây)

– Quận Phong Phú. PQT: Lê quang Sang, ĐS10; Trần quý Hùng, CH2

– Quận Thuận Trung. PQT: Nguyễn văn Banh, ĐS13

– Quận Phong Thuận.PQT: Trần công Thái, ĐS13

– Quận Phong Điền. PQT: Ngô ngọc Trác, ĐS13; Bùi minh Nhựt, ĐS17B

– Quận Phụng Hiệp. PQT: Cao mỹ Nhơn, ĐS8

– Quận Châu Thành. PQT: Nguyễn tấn Hiếu, ĐS 12

Thị Xã Cần Thơ

PThT: Nguyễn văn Khánh, ĐS1; Hồ văn Diệp, ĐS8

– Quận 1. PQT: Hà duy Bàn, ĐS17B

– Quận 2. PQT: Võ trung Hải, ĐS11

Tỉnh An Giang

PTTHC: Trần văn Cảnh, ĐS11

– Quận Chợ Mới. PQT: Trần ngọc Lang, ĐS12

– Quận Huệ Đức. PQT: Đỗ công Thành, ĐS10

– Quận Thốt Nốt. PQT: Lê thế Vinh, ĐS12

– Quận Châu Thành. PQT: Nguyễn quốc Khánh, CH5

Tỉnh Châu Đốc

PTTHC: Nguyễn văn Nhi, ĐS3; Lê duy Lai, ĐS8

– Quận Tịnh Biên PQT: Vũ tiến Đạt, ĐS11, CH 8; Lê văn Tự, ĐS13.

– Quận Tri Tôn. PQT: Nguyễn hữu Trí, ĐS12

– Quận An Phú. PQT: Võ thành Văn, ĐS9.

– Quận Tân Châu. PQT: Vũ tiến Đạt, ĐS11, CH8

Tỉnh Kiên Giang

PTTHC: Phạm văn Minh, ĐS1; Lê vănThêm, ĐS6; Phạm văn Thành, ĐS8; Đỗ thanh Quang, ĐS11

– Quận Hà Tiên. PQT: Nguyễn minh Mẫn, ĐS11; Nguyễn văn Quảng, CH 5; Đào ngọc San, ĐS13

– Quận Kiên Tân. PQT: Trần hữu Thành, ĐS13

– Quận Kiên Lương. PQT: Nguyễn đức Nghiêm, ĐS14

– Quận Kiên Thành. PQT: Lâm hữu Xưa, ĐS14

– Quận Kiên Bình. PQT: Danh La, ĐS17A

– Quận Phú Quốc. PQT: Nguyễn minh Đức, ĐS17B

Đặc Khu Côn Sơn

PTHC: Tôn thất Sỹ, ĐS9 (hy sinh 30-4-75)

Tỉnh Chương Thiện

PTTHC: Lê vănThêm, ĐS6; Nguyễn khắc Linh, ĐS7; Diệp bửu Long, ĐS10

– Quận Kiên Long. PQT: Lâm quang Nhật, ĐS8 (hy sinh 4/64)

– Quận Kiên Hưng. PQT: Cao công Đắc, ĐS10; Phan thanh Thuần, ĐS16

– Quận Long Mỹ. PQT: Cung nhật Dương, ĐS12

– Quận Kiến Thiện.PQT: Lê trung Nghĩa, ĐS12

Tỉnh Ba Xuyên

PTTHC: Nguyễn hữu Kế, ĐS7(đã mất)

– Quận Hòa Tú. PQT: Phạm xuân Thành, ĐS16

– Quận Thạnh Trị. PQT: Trương văn Nghĩa, ĐS12

– Quận Kế Sách. PQT: Lê quí Đính, ĐS10, CH3; Nguyễn thành Tâm, ĐS12

– Quận Ngã Năm. PQT: Từ minh Chánh, ĐS13

– Quận Lịch Hội Thượng. PQT: Kim Jina, ĐS14

– Quận Mỹ Lợi. PQT: Trần đại Lượng, ĐS14

– Quận (?). PQT: Thái văn Khị, ĐS10; Mai văn Giỏi, ĐS11

Tỉnh Bạc Liêu

PTTHC: Hồ văn Diệp, ĐS8

-Quận Phước Long. PQT: Lê minh Thiện, ĐS13

Tỉnh An Xuyên

PTTHC: Đặng huy Túc, ĐS7; Lê quan Diêm, ĐS7; Nguyễn an Vương, ĐS8

PTHC: Vương kim Hổ, ĐS13

– Quận Năm Căn. PQT: Nguyễn an Bình, ĐS12; Văn thế Vĩnh, ĐS19

– Quận Mỹ Xuyên. PQT: Nguyễn kim Chi, ĐS13

– Quận Thới Bình. PQT: Phan thế Vinh, ĐS11; Huỳnh thảo Thuận, ĐS13

– Quận Hải Yến. PQT: Quách đình Châu, ĐS16

– Quận Sông Ông Đốc. PQT: Trần văn Đổ, ĐS19

– Quận Đầm Dơi. PQT: Khiếu hữu Hiển, ĐS8

Ngoài việc giữ vai trò lãnh đạo số 1 hoặc số 2 ở các Tỉnh, Thị Xã, và các Quận nêu trên, các cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC còn phụ trách các chức vụ chỉ huy như Quản Đốc Tu Nghiệp, Trưởng Ty, Trưởng Phòng trong các Tòa Hành Chánh, Tòa Thị Chánh, và các Quận trên toàn quốc.

Chính Quyền Trung Ương

Ngành Hành Pháp

1.Thủ Tướng Chính phủ: Nguyễn bá Cẩn, ĐS1

2.Các Phủ, Bộ trong Chính phủ:

-Phủ Thủ Tướng.Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng: Bửu Viên, ĐS1; Nguyễn long Châu, ĐS1

-Bộ Nội vụ. Tổng Trưởng: Bửu Viên, ĐS1

-Bộ Tài ChánhTổng Trưởng: Châu kim Nhân, ĐS2

-Bộ Lao ĐộngTổng Trưởng: Vũ Công, CH2

-Phụ Tá (PT) Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng: Nguyễn đình Liển, ĐS1 (đã mất); Triệu huỳnh Võ, ĐS6; Trương thới Lai, ĐS Đà Lạt (đã mất)   

PT Tổng Ủy Trưởng Công Vụ: GS. Lê công Truyền, Tiến sĩ Luật, ĐS2; GS. Trương hoàng Lem, Ph.D., ĐS4

-PT Tổng Trưởng Bộ Tài Chánh: GS Cao văn Hở, Ph.D, ĐS9, CH1

-PT Tổng Trưởng Bộ Thương Mại và Tiếp Tế: Nguyễn thanh Bạch, ĐS4

-PT Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng: Bửu Viên, ĐS1; Châu kim Nhân, ĐS2; Tôn thất Chước, ĐS Đà Lạt

-PT Tổng Trưởng Bộ Kế Hoạch: Nguyễn duy Phước, ĐS1(đã mất)

-PT Tổng Trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi: Triệu huỳnh Võ, ĐS6; Nguyễn quốc Thụy, ĐS5

-PT Tổng Trưởng Bộ Phát Triển Sắc Tộc: Châu văn Mổ, Tham Sự Ban Cao Nguyên 1

-Đổng Lý Văn Phòng (ĐLVP) Phủ Thủ Tướng: Trương thới Lai, ĐS Đà Lạt

ĐLVP Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên: Nguyễn xuân Huệ, ĐS1 (đã mất)

-Tổng Quản Trị Hành Chánh Phủ Tổng Thống: Nguyễn đình Xướng, ĐS Đà Lạt (đã mất)

-Tổng Thơ Ký (TTK) Phủ Phó Tổng Thống: Nguyễn văn Thành, ĐS11, CH 6

-TTK Phủ Thủ Tướng: Lý kim Huỳnh, ĐS3 (đã mất)

-TTK Bộ Nội Vụ: Trương văn Nam, ĐS Đà Lạt (đã mất); Lý thái Vượng, ĐS9; Trần huỳnh Châu, ĐS5(đã mất)

TTK Bộ Kế Hoạch: Nguyễn văn Trích, ĐS1 (đã mất)

-TTK Bộ Lao Động: Nguyễn xuân Hiệu, ĐS1

-TTK Bộ Y Tế: Bùi quang Ân, ĐS1

-TTK Bộ Cựu Chiến Binh:     Đặng ngọc Liệu, ĐS1

-TTK Bộ Phát Triển Nông Thôn: Nguyễn chu Hậu, ĐS2

-TTK Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi: Trần nhựt Thăng, ĐS10, CH2

-TTK Bộ Phát Triển Sắc Tộc: Touneh Hàn Thọ, ĐS12

-Tổng Giám Đốc (TGĐ) Ngân Khố: Lý Hoa, ĐS2 (đã mất)

-TGĐ Thuế Vụ: Nguyễn huy Hân, ĐS4; Phan nhựt Học, ĐS2

-TGĐ Công Vụ: Nguyễn xuân Liêm, ĐS Đà Lạt

-TGĐ Nha Ngân Hành Kế, Bộ Quốc Phòng: Châu kim Nhân, ĐS2; Nguyễn văn Sơn, ĐS Đà Lạt

-TGĐ Cơ Quan Tiếp Vận Trung Ương: Châu kim Nhân, ĐS2; Nguyễn đình Liễn, ĐS1

-PT TGĐ Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương: Nguyễn văn Thông, ĐS2; Bửu Thắng, ĐS3; Đổ hải Minh, ĐS7

-TGĐ Cơ Quan Tiếp Vận Hải Ngoại: Lê văn Kim, ĐS5

PT TGĐ Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp: Bùi quang Minh, ĐS2

-PT Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thực Phẩm Quốc Gia:       Đăng ngọc Vân, CH3

3.Các Cơ quan Ngoại Giao:

Các viên chức phục vụ trong ngành Ngoại Giao, nguyên là các Đốc Sự đã cải ngạch.

Các Tòa Đại Sứ

-Saudi Arabia. Đại Sứ: Nguyễn phước Đôn, ĐS1

-Tunisia. Đại Sứ: Nguyễn Hoàn, ĐS1

-Manilla. Đệ nhất Tham Vụ: Đổ hiếu Toàn, ĐS1

-Washington D.C. Đệ Nhất Tham Vụ: Nguyễn văn Phương, ĐS4; Đệ Nhị Tham Vụ: Vũ xuân Trang, ĐS3

-Rabat. Đệ Nhất Tham Vụ: Nguyễn đình Lang, ĐS1

– Phnom Penh. Đệ Nhất Tham Vụ: Đinh quang Thành, ĐS1

-Tòa Tổng Lãnh Sự Hồng Kông. Tổng Lãnh Sự: Vương hòa Đức, ĐS1; Lãnh Sự: Bùi văn Anh, ĐS2

4.Các Học Viện và Viện Đại Học

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

-Viện Trưởng: GS. Nguyễn quốc Trị, Ph.D., ĐS1Phó Viện Trưởng: GS Trương hoàng Lem, Ph.D, ĐS4

-Giáo sư, Giảng sư: Hoàng xuân Hào, Tiến sỉ Luật, ĐS; Cao văn Hở, Ph.D, CH1,Lê công Truyền,Tiến sĩ Luật,ĐS2;Trần anh Tuấn,Ph.D,CH1;Nguyễn minh Ty,Ph.D,CH1; Cao thị Lễ,Ph.D,ĐS10;Phan thanh Ngô,Ph.D,CH1.Diệp xuân Tân,MA,ĐS8

Viện Đại Học Cần Thơ.

-Khoa Trưởng Phân Khoa Luật: GS Nguyễn hữu Lành, Tiến sĩ Luật, ĐS4

Viện Đại Học Tiền Giang.

-Tổng Thơ Ký: Đặng thành Xuân, ĐS12

Viện Đại Học Sài Gòn.

-Tổng Thơ Ký: Lê ngọc Diệp, ĐS9;

Phân khoa Khoa Học:

-Tổng Thơ Ký: Nguyễn viết Đức, ĐS17B

Cũng cần nói thêm là trong các Phủ, Bộ, Tổng Nha ở trung ương, các chức vụ chỉ huy trung cấp ở hàng Giám Đốc, Chánh Sự Vụ, Trưởng Ty, Trưởng Phòng đa số đều do các cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC đảm trách, nhất là tại Bộ Nội Vụ và Bộ Tài Chánh, bởi vì Ban Hành Chánh và Ban Tài Chánh là hai ngành chính do các Khóa Đốc Sự đào tạo.

Bộ Dân Vận – Chiêu Hồi (DVCH), và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo (PĐUTUTB) cũng là hai cơ quan đã thu dụng một số lớn cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC để giữ các chức vụ chỉ huy trung cấp và cao cấp.

Cho đến năm 1975, có thể nói, những cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC gần như nắm giữ hầu hết các chức vụ Giám Đốc, Đại Diện DVCH ở các Quân Khu, Chánh Sự Vụ, Trưởng Ty, Trưởng Phòng v.v. trong Bộ DVCH.

Riêng đối với PĐUTUTB, vì là cơ quan mới được thành lập từ năm 1961, nên kể từ khóa 6 HVQGHC, tức từ năm 1962 trở đi, một danh sách trích ngang của mỗi khóa đã được bổ dụng về phục vụ tại đây. Do đó, những cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC cũng đã giữ nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng trong cơ quan này.

Giữ chức vụ Đặc Ủy Trưởng: Nguyễn phát Lộc, ĐS 3 (đã mất trong tù Cộng sản)

Giữ các Chức vụ trọng yếu khác: Nguyễn mộng Lương, ĐS2; Nguyễn thành Long, ĐS6; Phan công Tâm, ĐS7; Nguyễn minh Quân, ĐS6

Ngành Lập Pháp.

Thượng Nghị Viện.

-Nghị sĩ: Hoàng xuân Hào, ĐS4;        Lê châu Lộc, ĐS13

Hạ Nghị Viện.

-Chủ Tịch: Nguyễn bá Cẩn, ĐS1

-Tổng Thơ ký: Phạm duy Tuệ, ĐS8

-Dân biểu: Nguyễn văn Quí, ĐS6; Nguyễn văn Tiết, ĐS9, CH1; Trần văn Thung, ĐS10; Lê tấn Trạng, ĐS11; Nguyễn hữu Đức, ĐS 8; Vũ Công, CH2; Trương vị Trí, ĐS13; Trần đức Trọng, ĐS8.

 Giám Sát Viện

-Tổng Thơ Ký: Lê đình Lãm, ĐS8, CH2

-Giám Sát Viên: Phạm đình Hưng, ĐS3; Lê vănThêm, ĐS6

Với các thành quả của HVQGHC vừa được nêu trên, có thể nói,cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC đã có mặt trong hầu hết các cơ quan quyền lực điều hành đất nước từ trung ương đến địa phương cho đến ngày 30-4-1975. Đây là tầng lớp trí thức trẻ, được đào tạo để trở thành các viên chức chuyên nghiệp có tính đa năng, đa hiệu thích ứng với thực trạng của một đất nước vừa phải xây dựng và phát triển, vừa phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt.

Tại trung ương, tầng lớp này, một số ít đã bắt đầu nhập cuộc vào sinh hoạt chính trị của đất nước để trở thành Thủ Tướng Chính Phủ, Tổng Bộ Trưởng, Nghị Sĩ, Dân Biểu Quốc Hội, Nghị Viên Hội Đồng dân cử Tỉnh, Thị Xã. Căn bản hành chánh đã giúp họ bổ khuyết những điểm thiếu sót thường thấy về mặt nầy của các vị tham gia chính trị. Có nhận xét cho rằng người làm chính trị hoàn hảo là người vừa có kinh nghiệm về hành chánh và vừa có kinh nghiệm về chính trị. Trong vai trò Thủ Tướng hay Tổng Bộ Trưởng trong Chính Phủ, những cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC đương nhiên đã dự phần vào việc hoạch định các chủ trương và chính sách ở cấp bậc quốc gia.

Tại địa phương, trong hai thập niên ngắn vừa qua, hàng ngũ các cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC đã góp phần xây dựng và củng cố một nền hành chánh địa phương hữu hiệu và ổn định ở khắp bốn Vùng Chiến Thuật.Chính nhờ vào đó mà các chính sách và chương trình của Chính Phủ Trung ương đề ra đã được thi hành đúng mức. Để đạt được kết quả nêu trên, một số không nhỏ trong hàng ngũ này đã phải hy sinh vì công vụ.

Nếu như không xảy ra biến cố ngày 30-4-75, và nếu như chương trình dự trù đưa các Đốc Sự xuống giữ chức vụ Xã Trưởng trong toàn quốc được thực hiện, thì nền Hành Chánh địa phương của Việt Nam Cộng Hòa nhất định sẽ được củng cố và phát triển tới mức tuyệt hão. Chính khối nhân sự trẻ, đa năng và đa hiệu nằm ở hạ tầng cơ sở nầy sẽ quyết định sự thành công của các chương trình xây dựng và phát triển đất nước do thượng tầng Chính phủ trung ương hoạch định.

Từ đó, phải nói thêm là các nhà lãnh đạo quốc gia lúc bấy giờ đã có tầm nhìn chiến lược khi cho sáng lập ra hai cơ quan đào tạo và cung ứng hai nguồn nhân lực chuyên nghiệp trẻ cần thiết cho việc phát triển và bảo vệ đất nước trong thời chiến.Đó là HVQGHC và Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (VBQGĐL).Song hành với các bước thăng tiến của cấp chỉ huy hành chánh trẻ trong guồng máy nhà nước, các sĩ quan hiện dịch xuất thân từ Trường VBQGĐL cũng đã nhanh chóng nắm giữ các chức vụ chỉ huy cao cấp trong quân đội.Cho tới năm 1975, nền Hành Chánh và Quốc Phòng đang từng bước một được củng cố và góp phần quan trọng trong việc phát triển và bảo vệ đất nước.

Nếu nhìn về mặt lịch sử, có thể nói mỗi cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC, dù có mặt ở cấp chính phủ trung ương hay địa phương, đều đã đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc xây dựng và phát triển quốc gia. Vì thế, mỗi người trong tập thể cựu sinh viên HVQGHC chúng ta có quyền hãnh diện là đã, cùng với các Trường Đại Học chuyên môn khác và các cấp quân dân cán chính, dự phần vào việc viết lên trang sử của hai nền Cộng Hòa.

Triệu Huỳnh Võ, ĐS 6