Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.
Showing posts with label ThuaThienHue. Show all posts
Showing posts with label ThuaThienHue. Show all posts

Monday, 10 June 2019

"NHẤT HUẾ NHÌ SỊA"
(viết tặng những ai sinh ra lớn lên từ Sịa)
Sịa- Cái tên nghe lạ lạ quen quen, quen tai với những ai đã sinh trưởng ở vùng núi Ngự sông Hương, ít nhất là qua câu phương ngôn chẳng biết xuất hiện từ bao giờ “NHẤT HUẾ, NHÌ SỊA”, nhưng lại lạ lẫm với những ai lần đầu nghe đến, nhiều người mới nghe lần đầu có lẽ không khỏi bật cười; riêng với những ai muốn tìm hiểu tại sao cái vùng đất này lại mang cái tên ấy, và tại sao chỉ xếp thứ 2 sau Huế mà thôi…cũng rất khó để có câu trả lời thỏa đáng.
Sịa cách Huế chưa đầy 15 km đường chim bay về hướng Tây Bắc và cách phá Tam Giang khoảng 3km về hướng Đông Nam. Ngày nay, từ Huế đã có thêm nhiều con đường khác nhau để về Sịa, gần nhất có lẽ là đi theo hướng Cửa Hậu; một con đường truyền thống qua phố cổ Bao Vinh nay đã ít người đi…
Sịa là gì, tại sao lại có tên gọi ấy ??? 
Theo một bài viết của nhà nghiên cứu Phan Thuận An: “Sịa có thể là một địa danh độc âm đặc biệt ở vùng Thừa Thiên Huế…, từ Shia (cá) thành Sịa. Còn nhà nghiên cứu Ngô Thời Đôn thì cho rằng địa danh Sịa được sử sách ghi chép vào năm 1690 dưới thời các vua Nguyễn, nhằm vào niên hiệu Chánh Hòa thời vua Lê Hy Tông….Một số văn bản Hán Nôm được viết vào đầu thế kỷ XIX ghi rằng ngày xưa đây là “Vịnh Sịa” tức là cánh đồng nước lợ từ phá Tam Giang ăn sâu vào đất liền…"
Sịa ngày xưa - vẫn còn mang dáng dấp nhiều của một vùng phố cổ với nhiều nhà lợp ngói kiểu cũ do Hoa kiều thiết lập vào các thế kỷ trước, có nghĩa là Sịa mang phong cách phố xá rất sớm so với các huyện lỵ khác trong tỉnh. Giao lưu buôn bán cũng khá thuận tiện bởi từ đây theo đường thủy, đường bộ cũng tương đối thuận tiện, vả lại đây cũng là vùng lắm tôm, nhiều cá, các loại thủy hải sản cung ứng đủ 4 mùa…Và nghe nhiều người kể lại cái chi Huế có thì Sịa cũng có…Cũng có lẽ vì sự quần cư, đông vui, trù phú, phồn thịnh một thời như thế nên người ta thường nói “Nhất Huế, nhì Sịa”, nghĩ cũng không sai. 
Có lẽ Sịa là tiếng Việt cổ, là chữ Nôm xưa đã được ký âm bằng nhiều cách khác nhau, chứ không phải được việt hóa từ tiếng Tây hoặc thổ ngữ nào như nhiều người nghi ngờ từ lâu nay.”
Sịa ngày nay đã đổi thay nhiều, nhà cửa mọc lên san sát, đường sá được mở rộng theo hướng giãn ra vùng đầm phá Tam Giang, nếu ai lâu ngày không về thì chắc chắn sẽ rất ngạc nhiên khi trở lại vùng đất này…Nhưng có lẽ “nhì Sịa”, xếp thứ hai sau Huế trên một phương diện nào đó thì không còn đúng trong thời điểm hiện nay, nhưng xét về yếu tố văn hóa, lịch sử thì câu nói trên vẫn luôn đúng…
Dù sao vẫn cứ tự hào bởi vùng đất này được nhiều người biết đến qua câu ca “Nhất Huế, nhì Sịa” một thời!!!
(Trích từ FB của TP)
LỊCH SỬ THỪA THIÊN-HUẾ
Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có vị trí khá quan trọng. Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy, con người đã sinh sống trên mảnh đất này trong khoảng thời gian từ trên dưới 4.000 năm đến 5.000 năm. Trong đó, các di vật như rìu đá, đồ gốm tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Đưng (Hương Chữ, Hương Trà) có niên đại  cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (huyện A Lưới), Phong Thu (Phong Điền) có niên đại trên dưới 5.000 năm.
Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền nền văn hóa Sa Huỳnh được tìm thấy lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng (La Chữ, Hương Trà) đã cho thấy chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn của nền văn hóa này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà) vào năm 1988. cùng với nền văn hóa Sa Huỳnh, các nhà khoa học còn tìm thấy những vết tích chứng tỏ sự hiện diện của nền văn hóa Đông Sơn ở Thừa Thiên Huế. Minh chứng là chiếc trống đồng loại 1 đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Điền năm 1994. Đây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt Cổ.
Theo các tư liệu xưa, từ hàng nghìn  năm trước, Thừa Thiên Huế đã từng là địa bàn cư trí của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau. Tương truyền vào thời kỳ hình thành Nhà nước Văn Lang - Ân Lạc, Thừa Thiên Huế là một vùng đất của bộ Việt Thường. Tới đầu thời kỳ Bắc thuộc, vùng đất này thuộc Tượng Quận. Năm 116 trước công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938), Đại Việt giành được độc lập. Trải qua nhiều thế kỷ phát triển, Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Đông với nền văn hóa của các cư dân bản địa. Với lời sấm truyền "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải Hoành Sơn, có thể yên thân muôn đời), năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hóa, khởi đầu cơ nghiệp của các chúa Nguyễn.
Từ đây, quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân gắn liền với sự nghiệp của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sau 3 thế kỷ từ khi trở về với Đại Việt, Thuận Hóa là vùng chiến tuyến tranh giành quyền lực giữa Đàng Trong và Đàng ngoài, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành những trung tâm dân cư sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là tòa thành phòng thủ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi đến năm 1636, khi chúa Nguyễn Phú Lan dời phủ đến Kim Long, quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này mới được bắt đầu. Hơn nữa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi và đổi tên thành Phú Xuân (ở vị trí tây man trong kinh thành Huế hiện nay), tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong. Tuy có lúc, Phủ Chúa dời ra Bác Vọng (1712-1723), nhưng khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân và dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc đông nam kinh thành Huế hiện nay.
Sự nguy nga bề thế của thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Đôn mô tả trong "Phủ biên tạp lục" năm 1776 và trong "Đại Nam nhất thống chí" với tư cách là đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà, Phú Xuân là thủ phủ của xứ Đàng Trong (1687-1774), rồi trở thành kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều vua Quang Trung (1788-1801) và cuối cùng là kinh đô nước Việt Nam trong gần 1,5 thế kỷ dưới triều nhà Nguyễn (1802-1945), Phú Xuân - Huế, Thừa Thiên Huế đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa nghệ thuật quan trọng của đất nước từ những thời kỳ lịch sử ấy./-