Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 26 July 2012

VỤ ÁN BÁO NGƯỜI VẸM
ĐÃ LÀM LỘ MẶT THÊM 1 TÊN TRỞ CỜ PHAN QUANG TUỆ (CON CỦA PHAN QUANG ĐÁN) 

Kính gửi ông Thẩm Phán Phan quang Tuệ,
Ông đứng trên phương diện luật học mà xét báo Người Việt nhưng chúng tôi, Cộng Đồng tị nạn VGCS ở hải ngoại, đa số là tù nhân và gia đình (vợ con)trong những trại tập trung lao động khổ sai từ Nam ra Bắc kể từ 1975-1995, có người 27-30 năm chưa được về, nhiều anh em bạn tù đã bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc.
Người bạn của tôi, khi xưa nằm trong khám Chí Hòa có hân hạnh "hầu hạ" cụ tù nhân đặc biệt, cựu Thủ tướng Phan huy Quát là thân sinh ra ông TP đấy. Khi nào có giờ rảnh và tự tay gõ được máy tính, tôi sẽ viết ít hàng về cụ cựu Thủ tướng mà người bạn tôi có hân hạnh được biết và kể cho tôi nghe.
Về tờ Người Việt, Cộng Đồng người Việt tị nạn VGCS bán nước cho Tàu,  chúng tôi rất khác với ông TP. CĐ chúng tôi, dù đã nhẫn nhịn rất nhiều lần, 9 bỏ làm 10,  rốt cuộc chỉ nhìn thấy những nhát chém hung bạo dã man độc ác do báo Người Việt dành cho chúng tôi từ hơn 30 năm nay trong khi chính chúng tôi là kẻ cưu mang, nuôi dưỡng báo Người Việt với hơn 60 nhân viên và với bộ mặt "ngon lành" như ngày nay. Đúng là một bọn ăn cháo đái bát, ăn cơm đập nồi!
Từ Tennessee qua Calif. năm 1978, tôi đã gặp anh Đỗ ngọc Yến khi anh ta bắt đầu làm tờ NV tại garage và sau đó tại một căn phố gần bên tiệm bánh Song Long. Nhiều buổi trưa đi ăn trưa với nhau, anh ĐNY biết tôi là Chủ bút Bán Nguyệt San Tinh Thần Nha Tuyên Úy CG/QLVNCH ở Sài gòn, có mời tôi cộng tác nhưng tôi đã có một công việc khác (Employment Specialist) lương hướng vững vàng để sponsor cho các con tôi đã vượt thoát đến Khao Y Đang và Galang, Indonnesia nên từ chối. Vả lại, tôi cũng biết ĐNY nhiều nên "kính nhi viễn chi"
khg dám cộng tác! Khi tôi nhìn thấy tấm ảnh ĐNY họp chung với Nguỳễn xuan Phong và Nguyễn tấn Dũng, tôi giật mình. Nếu tôi lơ là ắt vào rọ của ĐNY rồi. Năm 1980, tôi và ĐNY cùng nhau lên dự Đại Hội Liên đoàn CG VN tại Hoa Kỳ ở Mountain View, ăn chung cùng bàn, ngủ chung một phòng, tôi càng biết rõ ĐNY hơn. Tuy nhiên, chuyện khá dài, tôi sẽ kể sau. Và cũng bởi tôi biết rõ ĐNY như thế, biết cá tính anh ta chỉ biết có mình, tôi khg ngạc nhiên khi Cộng Đồng Việt tị nạn bị bán đứng! Mèo có bao giờ đổi khác thành ra một con "khg phải mèo" được đâu!
Tờ NV cứ đâm chúng tôi như vậy mãi, tức nước vỡ bờ, quá quắt lắm, lần này không ai chịu được nữa. Chính các BS, Nha sĩ, DS rất ít tranh luận cũng phải lên tiếng! 
Ông TP có thằng con, ông nuôi nấng nó hết mình, nay nó đột nhiên nghe những đứa ghét ông, vô cớ về chửi mắng ông. Ông nghĩ nó trẻ người non dạ, dại dột, nghe bọn điếm đàng, ông tha thứ cho nó.
Vài tháng sau nó lại gây sự với ông, nó tát vào mặt ông, ông đau lắm nhưng cũng cố nhịn cho xong. Dăm tháng nữa, nó lại uống rượu giả say, bới móc mả ông mả cha ông lên (tức là cụ cố, ông nội của nó) , gây sự rồi đá cho ông vài đá, bỏ đi.
Nếu có thằng con như thế, thưa ông TP Phan quang Tuệ, ông nhịn được không?
Giả sử ông nhịn được nó, đã 3, 4, 5, 6 lần nó hỗn láo du côn với ông như thế, dù tôi rất kém thông minh nhưng tôi khg nghĩ là hàng xóm sẽ khen ông tốt nhịn
mà có người nóng tính sẽ bảo: "You stupid hay You sick". Rồi ông
lấy chuyện nước mắt chảy xuôi, cha mẹ nào khg thương con ra giải thích à?
Tờ báo Người Việt, không phải là một lần này mà đã nhiều lần, dựng chuyện ra như tên Vũ quí Hạo Nhiên láo lếu, bảo rằng 60% người trong Cộng đồng này đồng ý treo cớ Máu thay vì cờ Vàng. Ai nghe thằng vô liêm sỉ này nói, người ta cũng sôi gan! Nhưng Giám đốc NV, cứ lờ cho nó làm, hay khuyến khích nó làm, cái đó phải gọi là toa rập hay gọi gì?Thiết nghĩ y thích cờ Máu như thế thì có ai cấm y về VN mà sống, đừng như những tên BS, Kỹ sư, Tiến sĩ, Nhà văn...ăn tiền già, housing, tiền bệnh, thương tật, welfare tại Hoa Kỳ và Âu châu, ngồi chửi bậy như những phường vô liêm sỉ trong khi vẫn đớp bơ thừa sữa cặn của Mỹ, Pháp. Rất nhiều tên tự xưng là trí thức, TS này, Cao học kia nhưng đang làm cái trò mất dạy đó mà không dám rời cái vú của con chó tư bản ra, e chết đói. Người có liêm sỉ, trên hết và trước hết, phải sống ngay thẳng. Đừng dối mình, lừa người như thế mà vì Hiến pháp các nước này, ban bố quyền được hưởng mọi thứ (tiền bạc để sống và các tự do, nhân quyền) cho mọi người ai cũng như ai, nên các tên vô liêm sỉ đó lợi dụng tối đa. Một thí dụ:
VGCS vào Saigon, tên già Á Nam Trần tuấn Khải - hưởng biết bao bổng lộc của người QG - tuyên bố rằng nhờ bác Hồ, ngày hôm nay tôi mới tính tôi được 1 tuổi. Y nịnh Cộng ngu xuẩn đến như thế, vậy khi Hồ chưa vào Saigon thì có lẽ y còn đang là 1 cái hạt bụi, chu du nơi đống phân chó, phân heo nào đó chứ chưa thành người! Y làm nhục cho cha mẹ mang nặng đẻ đau y. Tên già Vương hồng Sển cũng tương tự, nịnh bợ giặc Hồ hết mình. Ngay học giả Nguyễn hiến Lê, một tên thiên VGCS vô liêm sỉ, chửi người QG, chửi đạo Thiên Chúa giáo,  nhưng chưa bao giờ dám ra khỏi vùng Pháp và QG mà chỉ bám đít Pháp và QG để ăn bơ thừa sữa cặn kẻo chết đói. Dù nhìn thấy CS đổ năm 1991 nhưng khg bao giờ NHL dám nhận mình là sai như Nguyễn hữu Thọ, Dương quỳnh Hoa, Trương như Tảng, Lý quý Chung.... Học nhiều mà nhân cách quá hèn! Như vậy đâu có phải cứ học nhiều là giỏi và có tư cách đâu! Hàng trăm ngàn nông dân BV năm 1954 biết rõ là phải vào Nam, khg thể sống với giặc Hồ được! Họ khôn hơn rất nhiều bọn tự xưng là trí thức ở BV.
Xin lỗi, tôi nói lang bang quá. Tôi phải nhờ con cháu nội gõ chứ mấy hôm nay bệnh đi lại khg được, không gõ được, chỉ xin tiếp ông TP vài hàng gọi là như trên. Có sơ sót, xin miễn thứ. Kính chúc ông TP luôn sáng suốt "chí minh"để cầm cân nảy mực cho những bạch đinh dốt luật như chúng tôi. Chào ông.
26-7-2012

GS Trần Đình Ngọc
Cựu Dân biểu QHVNCH (1971-1975)




2012/7/26 Huynh Ha <huynhha66@yahoo.fr>

 

Xin phép trích 1 đoạn bài của Chương Trình Việt Nam Tân Dân ChủNguyen Viet Nam nguyenvietnamn@gmail.com 3- Chính Phủ QGVNLT gồm có những ai? Tổ chức ra sao? Quốc gia nào trên thế giới công nhận? Có hiến pháp, quốc hội, toà án, quân đội, lãnh thổ hay không?3-1- CPQGVNLT gồm tất cả những người Việt Nam bị CS cướp nước. Ai cũng có thể là Thủ Tướng, là Lãnh Đạo, là Đồng Nhiệm, là Trợ Thủ, khi được dân bầu lên. Vì hoàn cảnh tế nhị của một Quốc Gia Việt Nam có chủ quyền, bị liệt cường thế giới dùng làm võ đài tỉ thí chí mạng, đến nỗi mất nước vào tay CS Tầu năm 1975. CPQGVNLT đã tổ chức chính quyền một cách linh động, không cồng kềnh và hợp pháp, để tồn tại trong quốc gia Hoa Kỳ.3-2- Các Quốc Lão và Ba (3) Thế Hệ Tiêu biểu VN đã cố vấn cho CPQGVNLT thành lập một Quốc Gia mới, theo kiểu mẫu cách mạng Hoa Kỳ,  đã vượt ra khỏi não trạng cũ của chế độ quân chủ thời bấy giờ. Lúc đó Hoa Kỳ chưa được một quốc gia nào trên thế giới công nhận chính quyền của họ. Nhưng ngày nay Hoa Kỳ đã thành công trong việc tạo dựng một Quốc Gia và hiện là một cường quốc nhất nhì trên thế giới. Vì vậy, Hoa Kỳ tin và thông cảm cho Việt Nam trong sự Tái-Lập-Quốc rất tế nhị và khôn sáng của Chính Phủ QGVNLT. Đến nỗi liên tiếp ba đời Tổng Thống Hoa Kỳ, đã hậu thuẫn và bànquốc sự với Thủ Tướng CPGQVNLT, mà không cần thông qua Quốc Hội (5).3-3- Vì DÂN CHI PHỤ MẪU. Dân chính là cha mẹ của chính phủ, toà án và quân đội, nên Chính Phủ QGVNLT không áp đặt quyền bính lên dân. Nhưng chờ và nhờ chính người dân trong và ngoài nước bầu lên quốc hội, để lập Hiến Pháp Mới có quốc tế giám sát. Hiến pháp được dùng tạm thời thật ngắn gọn, bao gồm mục đích, cứu cánh, và đường lối của Chính Phủ QGVNLT là: Lấy Lại Đất Tổ - Không Làm Khổ Dân - Bỏ Cộng Còn Việt - Việt Không Giết Việt. (mời xem www.cuutuchinhtri.org)3-4- Chương Trình TDC khuyến khích CPQGVNLT giữ nguyên Quân đội Nhân dân Việt Cộng sau khi bỏ cộng. Các anh hùng bị CS lừa dối chinh chiến gian khổ này, vẫn được CPQGVNLT giữ quân số cấp bậc và đãi ngộ như cũ hoặc có thể hơn, vì giữ trọng nhiệm mới cho Quốc dân. Để quen với trọng nhiệm này, các Tướng Lãnh Chỉ Huy là các anh chị em “phản tỉnh” được CPQGVNLT chiêu hiền, đã có bí danh “Đạp mặt Hồ Chí Minh từ số LLĐT 1…đến LLĐT 3358...” tạm thời huấn luyện. Sau đó, lần lượt được ra nước ngoài học tập, để tiến thân trên đường binh nghiệp. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới sẽ có nhiệm vụ mới là làm nhiệm vụ cứu người trên không gian, trên biển và lòng đất sâu. Họ biết chống cháy, chống lũ lụt, chống tội ác, chứ không làm công cụ đàn áp dân chúng hay xâm lăng chiếm dân, cướp đất và biển của lân bang.3-5- CPQGVNLT có lãnh thổ. Người dân Việt bị CS cướp nước đã mua được nhà đất nơi mình cư ngụ, nay được gọi là “Land Lord” (Chúa đất), làm chủ bất động sản nhà đất trên khắp thế giới mà mặt trời không bao giờ lặn.4-  Đường lối? Chủ trương? Làm thế nào lật đổ CS?  Đường lối, chủ trương dựa vào cha mẹ là dân và các anh chị em ngành truyền thông chân chính, là đánh vào tử huyệt của CS (2-5-đến 2-9).4-1- Chuyện lật đổ hay giải thể nhà cầm quyền CS theo chủ trương tranh giành quyền bính là não trạng cũ, mà cả hai bên đều bị thương tổn, thì không thích hợp với Chương Trình Tân Dân Chủ. Trong kỷ nguyên mới không có bạo lực, khủng bố và chiến tranh. Chính Quyền nào hành xử phi pháp, mang tội diệt chủng con người, thì kẻ cầm quyền chịu hoàn toàn trách nhiệm trước công lý. Khốn khổ nhất là kẻ bị ra toà án quốc tế để lãnh án vào lúc tuổi già hết thời. Do đó, CPQGVNLT không chỉ dẹp bỏ tà quyền Việt Cộng, vì họ đã và đang hết thời, mà sẽ không để cho mầm mống tội ác và bất lương có cơ hội tồn tại.4-2- Giới truyền thông chân chính chắc chắn chọn vai trò làm lịch sử thay đổi bạo quyền CS tại VN,hơn là dại dột nhận chút ít quà lợi từ nhúm đầu xỏ tay sai Tầu Cộng hết thời này.5- Thời gian là khi nào? Bao lâu?5-1- Thay thế đảng VC cầm quyền nhanh hay chậm là do người Dân Việt. Quốc Dân Việt Nam muốn lúc nào, thì CPQGVNLT sẽ thay thế nhà cầm quyền Việt Cộng lúc đó. Hãy tụ họp chữ ký ủy thác cho CPQGVNLT thay mặt cho dân nói chuyện tại Đại Hội Đồng LHQ, càng nhiều càng tốt. Vừa mới đây Trúc Hồ và nhóm ông ấy đã làm một thí nghiệm vô tiền khoáng hậu để đo lòng dân bằng chữ ký thay cho lá phiếu. Nhưng tiếc rằng những đại diện đến xin gặp chính quyền Hoa Kỳ, có tài danh nhưng không có thế, không có chính danh và thời gian bang giao với Chính Phủ Hoa Kỳ như CPQGVNLT (5).6- Làm ở đâu?  Theo não trạng cũ, mọi người tưởng rằng ta phải giành giựt chủ quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ, Việt Nam, Tầu Cộng hay tại địa danh nào đó trên thế giới.  6-1- Thật ra địa điểm là ngay trong đầu óc của từng người và ai cũng có thể tự chủ và tự phát động. Ta làm việc cứu nước, cứu người từ trái tim ta. Tất cả việc làm vì yêu nước là từ trái tim chân chính không biết nói dối của chúng ta mà ra. Không thể dùng bạo lực để thay cường quyền và cũng chẳng thể chế ngự tội ác bằng bất lương. Không phải cha ông ta đã dạy và đã thành công bằng cách dùng CHÍ NHÂN THAY CƯỜNG BẠO, lấy DŨNG CHÍ THẮNG HUNG TÀN đó sao?     7- Ai ủng hộ? Tài chánh từ đâu, ai tài trợ?  Khi Chương Trình TDC được áp dụng thì mọi người phải ủng hộ và tài chánh đang do những con dân Việt Nam chân chính có khối óc thông sáng hiến dâng, là nguồn tài trợ gần như vô tận. Vả lại, ai còn có lương tâm, ai có trí tuệ, ai muốn tương lai bản thân, của gia đình mình, con cháu mình được an lành, hạnh phúc, thăng hoa, mà lại không muốn ủng hộ Chương Trình TDC ? Tự giúp mình trước rồi thì Trời sẽ giúp sau.7-1- Tự giúp mình là ủng hộ CPQGVNLT ra LHQ thay thế cho đầu não CS nắm chính quyền. Trời sẽ chúc phúc cho Chính Phủ giúp toàn dân Việt làm người chủ đích thực của đất nước VN.7-2- Ngay sau đó, tài nguyên Quốc Gia do cha ông ta để lại, sẽ là cuả chúng ta. Trước là trí tuệ quý giá nhất của con cháu ta, sau là tài nguyên thiên nhiên dầu khí tại Biển Việt Nam lớn hơn 70 lần của nước Kuwait thuộc về ta. Ta sẽ dùng nó vào mục đích tạo hòa bình và thịnh vượng cho toàn vùng Á Châu và Đông Nam Á Châu, khi tài nguyên đó vào tay Dân, không lọt vào tay những kẻ gian tham. Và với tài kinh bang tế thế của CPQGVNLT, biển VN sẽ tránh được sự tranh giành của kẻ cướp và bọn đồng loã, chắc chắn thoát được nạn binh lửa chết người.8- Ai được lợi ích từ Chương Trình Tân Dân Chủ?  Lúc CPQGVNLT có dịp thi hành Kinh Bang Tế Thế một cách công bằng và hữu hiệu:8-1- Dân Quân VN, Quân Trung Quốc, Lính Tráng quanh vùng tranh chấp có mối lợi trước tiên là giữ được sinh mạng của mình, tránh được cuộc chiến tranh chỉ có lính chết mà không có lãnh tụ chết, khi đi giành giựt dầu khí qúa lớn kia. Y như em bé, vội chộp một nắm kẹo quá lớn trong keo, không thể nào rút tay ra được. Hãy để CPQGVNLT phân chia, vì số kẹo đó qúa lớn.8-2- Các công ty dầu khí trên thế giới được thoát tội danh đồng loã cùng ăn cắp với Đảng CS cướp nước VN. Ngày nào CT/TDC và CPQGVNLT chưa về VN chấp chánh, thì ngày đó chưa có chính sách khoan hồng đại ân xá (amnesty) cho việc ăn cắp dầu khí của Việt Nam, và chưa thể thi hành luật cho đấu thầu công khai, công bằng, với mối lợi cùng khai thác lợi nhuận hợp pháp. Có khi hơn hẳn thủ đoạn khai thác lén lút với kẻ cướp bất chính là Việt Cộng và Tầu Cộng.9- Giải pháp: Sự duy trì Hòa Bình của lãnh đạo CPQGVNLT là giải pháp cho các vấn đề khủng hoảng quyền lực cùng chính danh và chủ quyền của Việt Nam. Liên Hiệp Quốc có muốn hoà bình tại Á Châu và Đông Nam Á Châu, vùng biển Nam Hải, để có thương lộ quốc tế an toàn và sự thông cảm chia sẻ mối lợi dầu khí của Việt Nam do CPQGVNLT chủ trương qua CT/TDC để tránh cuộc chiến tranh không cần thiết tại đó hay chăng?9-1- Xin đừng quên tính hợp pháp của CPQGVNLT, với sự nâng đỡ hành chánh của ba đời Tổng Thống Hoa Kỳ, cùng trí tuệ và tài năng kinh bang tế thế của Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Lâm Thời, là chìa khóa để mở các bế tắc hiện nay tại Thái Bình Dương, hóa giải cuộc diện đang căng thẳng tại biển Đông, tránh cho thế giới một cuộc chiến hủy diệt, tương tàn không cần thiết.Tóm lại: Chương Trình Tân Dân Chủ xuất phát từ Chính Khí Việt và lòng Nhân Đạo Việt, lấy TÌNH THƯƠNG làm nền tảng. Là tình thương thì tự có và tự xuất phát, không cần học hỏi. Chỉ cần diễn đạt cho thích hợp với thời gian, nơi chốn và tấm lòng của mỗi người. Con người, đặc biệt là người Việt Nam, một dân tộc duy nhất có từ “NHÂN ĐẠO”, vừa là lòng từ ái, cũng là ĐẠO SỐNG của con người. Nếu hiểu tình thương là hơi thở, là linh hồn của vạn vật, kể cả Tôn Giáo. Nếu không có tình thương thì Tôn Giáo cũng bị tự hủy diệt. Do đó, nhúm Cộng Sản dù có gian ngoa, xảo quyệt đến đâu, cũng không thể tồn tại, nếu không mượn và nương nhờ thời cơ ĐẠI XÁ nổi lên ngày nay của CPQGVNLT với CT/TDC.  Kính Thưa Đồng Bào!Kính Thưa Qúy Vị cùng các bạn Thanh Niên Việt Nam!Do lòng nhân đạo muốn giúp dân Việt thoát nạn chậm tiến và bần cùng, các nước văn minh đành chấp nhận tài trợ cho CSVN. Cùng lúc những tư bản hoạt đầu cũng tuôn vào để thủ lợi. Do đó, một vài nơi trong nuớc cũng được trùng tu, phát triển để nhiều biệt thự, cao ốc mọc lên, giúp cho bộ mặt của nhà cầm quyền CSVN thay đổi. Nhưng do không có đạo đức và thực chất dân tộc, nên đã đẻ ra tệ nạn bè phái, gian tham, ngu dốt và đầu óc nô lệ. Việt Cộng biến nước ta thành 1 lâu đài xây trên cát. Nhìn bề ngoài có vẻ phồn vinh nhưng chỉ là giả tạo. Thực chất thì giầu nghèo qúa cách biệt. Trong khi nợ nần của quốc gia ngày càng chồng chất, dân chúng vẫn cơ cực, lầm than và vẫn bị đầy đọa dưới hệ thống công an sắt đá, kìm kẹp bằng bắt bớ, đánh đập, gian cầm, kể cả sát hại.Thêm vào đó, Tầu Cộng đang thực hiện thủ đoạn “Lộng giả thành chân” để mong chiếm đoạt phần biển đất Hoàng Sa và Trường Sa, là một phần giang sơn của Việt Nam. Âm mưu này chỉ là một phần trong kế hoạch tầm gửi, muốn Hán hóa toàn cỏi Việt Nam, mà chúng đã nuôi mộng từ ngàn năm trước. Tập đoàn đầu xỏ CSVN hiện nay chỉ là một nhúm băng đảng gian tham, ngu dốt, thiếu ý thức tự chủ và đạo đức và truyền thống Dân Tộc. Chúng chỉ muốn tận tình vơ vét, cướp đất, cướp của, để khi nguy biến, sẽ trốn chạy, mang tài sản bôn tẩu ra nước ngoài.  Đương nhiên không thể nào có biện pháp ứng phó thích nghi với tình hình gian nan của đất nước hiện nay. Chúng đang dần đưa dân tộc VN vào tuyệt lộ chỉ còn hai (2) con đường để chọn lựa: Một (1) là nô lệ ngoại bang, hai (2) là lâm vào một (1) cuộc chiến hủy diệt, khiến cho dân chúng càng thêm điêu linh, thống khổ bội phần và họa diệt vong khó tránh.Nếu dân chúng không mạnh mẽ hỗ trợ CPQGVNLT mau chóng tiếp thu chính quyền. Thì những gánh nặng kinh tế do Việt Cộng chụp giật, vơ tận, vét cạn, nên thiếu nợ công hàng ngàn tỷ mỹ kim. Kể cả các chương trình viện trợ hay cho vay có thời hạn hoàn trả, là một hiểm họa đè lên bao thế hệ Việt Nam trong tương lai. Không kể việc chúng đang hủy hoại truyền thống đạo đức, văn hóa dân tộc, biến đất nước chúng ta thành nô lệ Tầu Cộng và trong tương lai, có thể nước Việt Nam ta sẽ biến mất trong thời gian tới, con cháu sẽ khóc hận và nguyền rủa muôn đời.Nay CPQGVNLT đang vâng theo ý Trời, thuận theo ý dân để CỨU QUỐC. Kính mong toàn dân Việt Nam nghiên cứu CT/TDC để khuôn cứu và tán trợ.   Kính chào Liên Hợp trong Hòa Bình và Thịnh VượngĐại An Năm Thứ Hai Mươi HaiCT/TDCCPQGVNLT Chú thích:(1)  Nước Việt ta là toàn thể một Quốc Gia gồm cả trăm bộ tộc sống hoà bình suốt cả Trường Giang (Sông Dương Tử) tới tận Biển Đông nhập vào Thái Bình Dương. [Trích văn hóa phẩm của người Việt yêu nước không CS (H-1)] (2) CPQGVNLT đúng nghiã như danh xưng, là do con cháu của tiền nhân Bách Việt từ 7 ngàn năm đến cận đại như Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Nhưng không phải là từ hai nền Cộng Hoà mà gần một thế kỷ nay đã bị dòi Tầu đẻ trứng vào (VN dân chủ cộng hòa và cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam VN (mặt trận giải phóng miền Nam) và nay gộp chung là cộng hoà xã hội chủ nghiã VN).(3) CPQGVNLT tuy thoát thai từ mẹ VNCH, cũng cờ vàng ba sọc đỏ tiêu biểu ba miền VN, tuy cùng huyết thống dòng tộc, cùng được hưởng quyền gia tộc, nhưng CPQGVNLT -cờ vàng ba sọc đỏ tiêu biểu ba thế hệ VN tự do, dân chủ, nhân quyền, là một Thực Thể có toàn quyền ngay sau khi lọt lòng mẹ VNCH. Ngày Chính Phủ Quốc Gia Lâm Thời chấp chánh là ngày toàn dân Việt Nam vui mừng vì Đệ I VNCH, Đệ II VNCH, VN Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã VN cáo chung đi vào lịch sử. (4) Tưởng nhớ anh chị em Tướng, Sĩ, Dân, Quân, Cán, Chính VNCH tuẫn tiết năm 1975.  Hình 1 

 

(5) Xin xem công hàm trao đổi giữa chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ QGVNLT trong www.cutuchinhtri.org. Chính Phủ của Tổng Thống Clinton cố tình chính thức bang giao với nhà cầm quyền Việt Cộng ngày 20-7-1995 tức sau CPQGVNLT rất xa. Mọi việc đã và đang làm của guồng máy cầm quyền VC chỉ là mâm cỗ làm sẵn cho Quốc dân VN xơi. 


--------------------------------------------------------------------------------
De : ChuyenBai Nguoi <nguoichuyenbai@gmail.com>
À : phonang@yahoogroups.com; thaoluan9@yahoogroups.com; PhungSuXaHoi@yahoogroups.com
Envoyé le : Jeudi 26 juillet 2012 19h12
Objet : [PhoNang] Fwd: TP Phan Quang Tuệ bênh vực báo Người Việt Cali?








---------- Forwarded message ----------
From:
Date: 2012/7/26
Subject: TP Phan Quang Tuệ bênh vực báo Người Việt Cali?
To:


Thưa quý vị Vào khoảng 22/7/2012, nhân kỷ niệm một năm báo Người Việt Minesota, Thẩm Phán Di Trú San Francisco ( Cali), ô Phan Quang Tuệ có bài nói chuyện về “Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí”.  LS Phan Quang Tuệ, con trai của Cố Thủ Tướng (hay Phó TT?) Phan Quang Đán. Ông trình bày khá đầy đủ về đề tài bao gồm lịch sử, diễn tiến của Tu Chính Án số 1.  Khi nói về cộng đồng người Việt hải ngoại, LS đưa ra 4 trường hợp tiêu biểu:  1-Việt  Nam Thời Báo-San Jose- 1984 đăng 2 bài phỏng vấn (LS Phan Quang Tuệ-Nguyễn Xuân Phong, Tòa Lãnh Sự cộng sản. Báo bị biểu tình trong 86 ngày và xuống dốc.   2- Houston 2012, Luật sư Hoàng Duy Hùng nộp đơn kiện cựu Đại Tá Trương Như Phùng đã phỉ báng ông qua những lời tố cáo LS Hùng đã thụt két công quỹ Fema, đã liên lạc với Toà Lãnh Sự Việt Nam tại Houston và đã làm ăn với Việt Cộng. Tin mới nhất cho biết vụ kiện đã được Toà Án bãi nại chiếu theo đạo luật Anti-Slap. 3- San Jose 2012, một số người đứng ra tổ chức mời ông Bùi Tín, cựu Đại Tá Cộng Sản, đã ly khai đảng Cộng Sản và từ năm 1990 là một nhà báo sống tại Paris, đến nói chuyện. Một số người Việt tổ chức biểu tình phản đối.  4- Tháng 7/2012, Báo Người Việt Cali, đăng một lá thư của một độc giả đã viết “..ngày 30 tháng 4 là ngày vui mừng của dân tộc và Việt Nam Cộng Hoà là bè lũ tay sai của giặc Mỹ”! Lập tức có phản ứng ngay từ các cá nhân, hội đoàn, và ngay cả các báo khác.  Trong phần cuối, LS Phan Quang Tuệ viết “ Không ai phủ nhận là cộng đồng người Việt được hưởng hoàn toàn và được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ hoàn toàn trong việc xử dụng quyền tự do ngôn luận. Vấn đề là có những cá nhân và tổ chức trong cộng đồng muốn xử dụng tự do ngôn luận của họ để dập tắt tự do ngôn luận của những ai không đồng chính kiến với họ. Đăng một bài phỏng vấn hay một lá thư có thể gây phẫn nộ cho độc giả. Sự phẫn nộ có thể được chia xẻ bởi rất nhiều người, và được xem là một sự phẫn nộ chính đáng. Câu hỏi cần được đặt ra là đây có phải là lý do chính đáng để kêu gọi tẩy chay tờ báo, làm áp lực đóng cửa toà báo. Và chúng ta có muốn tiếp tục theo con đường và áp dụng những biện pháp tương tự cho đến khi tất cả chúng ta chỉ còn những tờ báo đồng một tiếng nói, một luận điệu, một ngôn ngữ với một lời cảnh cáo: ai nói khác sẽ bị tận diệt!” Chúng tôi cảm ơn bài của LS Tuệ nhưng không đồng ý với câu viết trên của ông.  Chúng tôi nhận định rằng:  1-Cộng đồng người Việt hải ngoại không sử dụng quyền tự do báo chí để tấn công ai. Trong mọi trường hợp, cộng đồng hầu như toàn ở thế bị động. Nghĩa là cộng đồng chỉ phản ứng đối với một hành động “ không thể chấp nhận được” từ một ( cá nhân, tờ báo, tổ chức).  2- Có lẽ LS Phan Quang Tuệ đã bỏ qua yếu tố “vi phạm có chu kỳ, hành động được lập đi lập lại” của báo Người Việt Cali. Hành động “bỏ qua” này này tương tự LS Đỗ Thái Nhiên. Thật đáng tiếc cho 2 vị Luật Sư, nhất là LS Tuệ. Lý do, Ô Phan Quang Tuệ là giòng dõi của cụ Phan Quang Đán. Cuộc đời tranh đấu cách mạng của cụ Phan Quang Đán cần phải được con cháu đời sau gìn giữ, bảo vệ và noi theo.  3- Cộng đồng người Việt đã bỏ qua 3 lần chính thức và vài lần không chính thức khác cho báo Người Việt Cali. Do đó, hành vi kêu gọi tẩy chay báo Người Việt Cali là chính đáng. Không tẩy chay, báo Người Việt Cali sẽ có thể tiếp tục “ xin lỗi có chu kỳ” và coi cả cộng đồng là “ngu đần, khiếp nhược”.  4- Chúng tôi trân trọng sự lên tiếng sớm nhất của Tổng Hội Cựu TNCT do sự kêu gọi kịp thời của THT Nguyễn Trung Châu.  Chúng tôi trân trọng sự lên tiếng tiếp theo của các Hội đoàn cựu quân nhân ở Mỹ và Úc. 5- Tuy vậy lần này sự lên tiếng của giới được coi là trí thức, bao gồm quân, y, dược, nha là một điều mà cá nhân tôi nghĩ  rất đáng lưu ý. Lý do, giới trí thức vẫn bị xem như là giới “có vẻ trùm chăn” trong các sinh hoạt đấu tranh của cộng đồng. Lần này Quân Y, Dược, Nha đã đồng lòng.   Luật sư, cũng được coi là một nghề trí thức. Trí thức phải chứng tỏ khả năng hiểu biết của mình được sử dụng đúng chỗ. Luật sư phải chứng tỏ khả năng hùng biện của mình đúng việc.  Kết luận: 1-Chúng tôi cực lực phản đối những bài viết có tính cách bao che, bênh vực cho báo Người Việt Cali của vài cá nhân như Đỗ Thái Nhiên, Phan Quang Tuệ, Võ Long Triều..2-Chúng tôi kêu gọi cộng đồng người Việt hải ngoại chứng tỏ sức mạnh của một cộng đồng tị nạn cộng sản. Sức mạnh đó là sự bao dung (sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm vô tình lần thứ nhất) cương quyết rạch ròi (không bỏ qua cho những tái vi phạm),  xác định rõ lằn ranh quốc cộng và sẵn sàng có biện pháp đối với những kẻ có hành vi giống như (ăn cơm tị nạn và phản bội lý tưởng quốc gia). Sức mạnh này hoàn toàn nằm trong tay chúng ta. Không ai, không thế lực nào có thể tước bỏ.  Trân trọng Hoàng Ngọc An


Tài liệu vụ báo Người Việt Cali:
  
■Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia ĐL phản đối báo NV
■Tổng Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Úc Châu phản đối báo NV
■Đỗ Văn Phúc- Chúng tôi không nhận “quả tim hồng” của báo Người V iệt
■Nguyễn Quốc Đống, K.13 TVBQGVN-Ý kiến về vụ báo Người Việt Cali
■Tuyên cáo của Tổng Hội Cựu TNCT về vụ báo Người Việt Cali
■Lê Thanh- Từ báo Người Việt đến Hội Chứng Việt Nam Trong Cộng Ðồn g Chúng Ta
   Châu Đình An -Kẻ dễ dàng thỏa hiệp Hiệu ứng Pháp lý, Dân sự về việc nhật báo Người Việt phổ biến n hục mạ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”   Phan Huy Đạt báo NV đang vận động lập CT đưa người về VN giảng d ạy để đóng góp cho quê hương?    Hoàng Ngọc An- Mẹ ơi, “bonds” giấy báo Người Việt!     Thư Võ Long Triều gửi Phan Huy Đạt và Hội đồng Quản Trị báo Ngườ i Việt    Trúc Giang Minesota- nhận định về báo Người Việt Cali   Duyên Lãng Hà Tiến Nhất -Sự bất quá tam ( vụ báo Người Việt)    Hoàng Ngọc An-Mẹ ơi, báo Người Việt!     Bài tường thuật buổi họp báo của báo Người Việt về vụ NV đăng t hư độc giả mạ lỵ quân dân cán chính Việt Nam Công Hòa    Hoan hô Tổng Hội Cựu TNCT – Bài trả lời của Hoàng Dược Thảo về thư xin lỗi của báo NV    Hoàng Ngọc An -Kêu gọi tẩy chay báo Người Việt    Hoàng Dược Thào-Phải làm gì khi nhật báo Người Việt nhục mạ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”    Ngô Kỷ: Báo Người Việt tuyên truyền cho CSVN
  ================ Bài nói chuyện của Thẩm Phán  Phan Quang Tuệ tại Lễ Kỷ Niệm 1 năm Báo Người Việt Minesota   Kính thưa Quý Vị, Khi chọn đề tài Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí cho buổi nói chuyện hôm nay, tôi chỉ nhằm mục đích chọn một đề tài thích hợp với ý nghĩa nhân dịp kỷ niệm một năm phát hành báo Người Việt Minnesota và Ngày Truyền Thông Báo Chí Việt Nam tại Minnesota. Tôi không ngờ đã vô tình mở cánh cửa bước vào một vũ trụ bao la vô tận. Một biển cả mà càng đi tới, chân trời càng xa. Tôi xin giải thích tại sao tôi có cảm tưởng như vậy. 10 ngày trước đây tôi khởi sự ngồi xuống để soạn bài nói chuyện. Tôi vào Google và đánh hai chữ:”free speech”. Trên màn ảnh của máy computer hiện ra con số 63,100,000 tài liệu liên quan đến đề mục tôi muốn tìm hiểu. Con số tài liệu lớn lao này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề tự do ngôn luận và tự do báo chí. Năm 1993, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 3 tháng 5 hàng năm là ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới hầu cổ võ cho quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí trên toàn cầu. Thomas Jefferson, tác giả Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ công bố vào ngày 7 tháng 4, năm 1776 và là vị Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ, đã tuyên bố như sau:“The basis of our government being the opinion of the people, the very first object should be to keep that right; and were it left to me to decide whether we should have a government without newspapers, or newspapers without a government, I should not hesitate a moment to prefer the latter. But I should mean that every man should receive these papers and capbable of reading them.” “ Nền tảng của các chính quyền của chúng ta đặt trên lòng dân, vì thế quyền phát biểu phải là đối tượng được bảo vệ trên hết. Nếu phải chọn lựa giữa một chính quyền không có báo chí và một tình trạng báo chí không có chính quyền, tôi sẽ chọn tình trạng thứ hai. Nhưng tôi cần nói thêm là với điều kiện mọi người đều có cơ hội đọc báo và có đủ hiểu biết để đọc và hiểu các bài báo!” Và đó là lời phát biểu 236 năm trước đây của tác giả Bản Tuyên Ngôn Độc Lập! Câu tuyên bố của Thomas Jefferson chỉ nhằm nhấn mạnh đến vai trò không thể thiếu trong một xã hội không có báo chí, không ngờ lại đã xảy ra trong thực tế hơn hai trăm năm sau, không phải tại Hoa Kỳ, mà là tại một quốc gia ở Âu Châu!! Đó là Vương Quốc Bỉ. Thực vậy, sau ngày bầu cử Quốc Hội Bỉ vào tháng 6, 2010 đã không có một đảng phái nào hội đủ túc số để thành lập nội các. Các cuộc thương thuyết nhằm thành lập nội các giữa 11 đảng phái đã kéo dài từ tháng 6, 2010 cho đến khi đạt được thỏa hiệp và một nội các đã được thành lập ngày 5 tháng 12, 2011. Tổng cộng nước Bỉ và dân tộc Bỉ đã có một đời sống quốc gia 540 ngày mà không có một chính quyền. Nhưng tất cả các cơ quan báo chí, truyền thông, hệ thống Internet tại quốc gia này vẫn tiếp tục trong suốt thời gian gần hai năm đó!! Đời sống quốc gia, sinh hoạt hằng ngày của người dân, các phương tiện giao thông, chuyên chở công cộng vẫn tiếp tục trong vòng trật tự cho thấy tầm quan trọng của dân trí và ý thức trách nhiệm của người công dân Vương Quốc Bỉ.  Tuy tự do ngôn luận và tự do báo chí có một vị thế quan trọng như vậy trong đời sống con người, quyền tự do này lại không phải là một quyền sở hữu, gắn liền với con người như con người có tay và chân cùng các bộ phận khác! Tự do ngôn luận quan trọng vì con người là một con vật xã hội. Khi chúng ta sống một mình cô quạnh như Robinson Crusoe trên một hoang đảo chơi vơi giữa biển cả mênh mông xung quanh không có gì khác hơn là một cây dừa lẻ loi thì quyền tự do ngôn luận không cần thiết phải đặt ra. Theo cuộc kiểm kê dân số vào năm 2010 thì dân số Minnesota hơn 5,300,000 triệu người mà trong đó dân số người Việt có hơn 27,000 người, đứng hạng thứ 13 về dân số người Việt so với toàn quốc. Twin Cities, mà tôi thấy có quý vị địa phương dịch là Song Thành có dân số gần 2,500 người ở St.Paul và 2,000 người ở Minneapolis. Dẫu tỷ lệ dân số nhỏ so với dân số toàn tiểu bang, báo Việt ngữ vẫn là một nhu cầu cần thiết vừa để thông tin, vừa làm nhịp cầu liên lạc giữa cộng đồng người Việt, đồng thời nhằm nuôi dưỡng tiếng Việt, vốn là một nét đặc thù của văn hoá Việt Nam. Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí được xem là đệ tứ quyền trong hệ thống luật pháp Hoa Kỳ, sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy gọi là đệ tứ quyền nhưng tự do ngôn luận, tự do báo chí lại không được quy định trong 7 điều khoản chính của Hiến Pháp. Thực vậy tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định trong nửa phần thứ hai của Tu Chính Án Thứ Nhất của Hiến Pháp Hoa Kỳ: “Congress shall make no law…abridging the freedom of speech, or of the press…” “Quốc Hội sẽ không làm luật…hạn chế tự do ngôn luận, hay tự do báo chí” Chúng ta cần lưu ý đến kỹ thuật thảo hiến điêu luyện của những nhà lập hiến Hoa Kỳ mà các tài liệu lịch sử đều nhắc đến họ như là: the Framers of the Constitution, những con người đã gầy dựng nên nền móng khuôn khổ của Hiến Pháp. Phần lớn các bản Hiến Pháp của các quốc gia trên thế giới đều viết đại loại như: Quốc Gia công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Hay: Công Dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin theo qui định của pháp luật như điều 70 trong Hiến Pháp 1992 của Cộng Sản Việt Nam. Tu Chính Án thứ nhất của Hiến Pháp Hoa Kỳ qui định một cách rõ ràng và vắn tắt: Quốc Hội sẽ không làm luật…hạn chế tự do ngôn luận, và tự do báo chí. Kỹ thuật thảo hiến của các nhà lập hiến Hoa Kỳ 225 năm trước đây đưa đến hai hệ quả song hành: thứ nhất, xác nhận ý chí của nhà lập hiến không cho cơ quan lập pháp, nghĩa là Quốc Hội Liên Bang, quyền làm luật hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí. Thứ hai, đặt nguyên tắc căn bản cho việc giải thích tính cách hợp hiến đối với những văn kiện luật pháp hay lập qui, cho dầu trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến tự do ngôn luận, tự do báo chí.  Hệ thống công quyền của Hoa Kỳ được đặt trên nguyên tắc căn bản checks and balances, kiểm soát và cân bằng. Cả ba ngành luật pháp, hành pháp, tư pháp đều có mối liên hệ hỗ tương, ngành này kiểm soát ngành kia. Thí dụ Lập Pháp có quyền làm luật, biểu quyết ngân sách, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế. Hành Pháp có quyền đề nghị các dự luật, phủ quyết các đạo luật do lập pháp biểu quyết. Tư Pháp có quyền giải thích Hiến Pháp, tuyên bố tính cách hợp hiến hay không của các đạo luật của ngành lập pháp. Nhưng còn tự do ngôn luận, tự do báo chí vốn được xem như là đệ tứ quyền thì sao? Ngoài điều khoản công nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí trong Tu Chính Án Thứ Nhất, không có một giới hạn hiến định nào khác được trù liệu để giới hạn hay kiểm soát quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.  Một sử gia Anh Quốc, Lord Acton, trong thế kỷ 19 đã từng nói:”Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely”. Quyền hạn dễ đưa đến lạm dụng, và quyền hạn tuyệt đối sẽ đưa đến lạm dụng tuyệt đối.  Quyền lực, hay quyền hành, tự bản chất thực ra không hẳn đối ngịch với đời sống dân chủ. Vấn đề là làm sao để điều hành quyền lực như thế nào cho phù hợp với sinh hoạt dân chủ. Chúng ta đã thấy các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được giới hạn và kiểm soát hỗ tương như thế nào. Trong lãnh vực tư, chúng ta cũng thấy mối tương quan hỗ tương giữa các công ty sản xuất và nghiệp đoàn nhân công, và những giới hạn của cả hai bên bởi luật pháp và các cơ quan hành chánh. Nhưng còn tự do ngôn luận, tự do báo chí được công nhận trong Tu Chính Án Thứ Nhất thì sao?  Ai cũng đồng ý tự do báo chí là điều cần thiết cho tự do chính trị, và nơi đâu mà con người không được chuyển đạt, bày tỏ tư tưởng giữa con người với con người, nơi đó không có tự do. Nhưng nếu tự do này bị lạm dụng thì sao? Và phải chăng tự do bị lạm dụng sẽ đưa đến sự hủy diệt của tự do? Nhưng câu hỏi trên chính là vấn đề khó xử khi thảo luận về tự do ngôn luận, tự do báo chí. Và đâu là ranh giới phân biệt giữa những điều có thể chấp nhận và những điều không chấp nhận được mỗi khi hành xử quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Không ai có thể nghĩ rằng qua Tu Chính Án Thứ Nhất, những nhà thảo hiến có thể chủ trương rằng tất cả mọi người dân đều có quyền tự do phát biểu không giới hạn về bất cứ vấn đề gì theo ý muốn, bất cứ ở đâu và bất cứ vào lúc nào. Thí dụ, khai gian trước toà hay phổ biến tài liệu khích dục có được bảo vệ như là một phần của tự do ngôn luận hay không? Thí dụ viết bài đặt điều nói xấu người khác, phỉ báng (libel) hay phát biểu nói xấu gây thiệt hại cho người khác (mạ lỵ, slander) có phải là tự do ngôn luận được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ hay không?  Khi giải thích những vấn đề liên quan đến tự do ngôn luận và tự do báo chí, án lệ Toà Án thường đối chiếu quyền tự do ngôn luận với những quyền khác cần được bảo vệ trong một xã hội tự do dân chủ. Đó là những quyền như quyền được sống an toàn, quyền được bảo vệ trong đời sống riêng tư, quyền của những người khác trong một xã hội mà mọi người đều có quyền được đối xử bình đẳng. Khi mang đối chiếu với các quyền lợi khác, Toà Án thường đặt quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí vào một điạ vị ưu tiên, preferred position vì đây là hai quyền tự do căn bản cho đời sống dân chủ. Đặc biệt toà án có khuynh hướng bảo vệ tự do ngôn luận trong lãnh vực các phát biểu về những vấn đề chính trị. Trong lãnh vực này, phán quyết của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ án New York Times v. Sullivan (1964) là một án lệ căn bản trong lãnh vực tự do báo chí. Trong phán quyết này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán rằng giới chức chính quyền phải chứng minh là người chủ nhiệm hay chủ bút tờ báo đăng bài chỉ trích phải biết là điều chỉ trích không đúng với sự thật và người chủ nhiệm có ác ý (malice) khi đăng bài báo chỉ trích. Trách nhiệm dẫn chứng (burden of proof) này đặt một tiêu chuẩn quá cao khó cho các nguyên đơn có thể đạt được. Từ tiêu chuẩn áp dụng cho các giới chức chính quyền (government officials) lý luận của án lệ Sullivan đã dần dà nới rộng cho những người tuy không phải là giới chức chính quyền nhưng vì điạ vị và hoạt động của họ, được xem như là những khuôn mặt công cộng (public figures).  Ngoài tiêu chuẩn “preferred position”, vị trí ưu tiên, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ còn áp dụng 4 tiêu chuẩn khác cần phải chứng minh trước khi một đạo luật giới hạn tự do ngôn luận được công nhận là hợp hiến. Tiêu chuẩn thứ nhất, luật giới hạn tự do ngôn luận phải không là một luật nhằm mục đích ngăn chận trước, prior restraint. Điều này nhằm tránh tình trạng kiểm duyệt và tiêu chuẩn này được xem như là trách nhiệm dẫn chứng khó khăn nhất trong phạm vi luật pháp. Thứ hai, luật giới hạn tự do ngôn luận, tự do báo chí phải có nội dung vô tư, neutral. Thí dụ, nếu một thành phố ra quyết định cấm dán giấy quảng cáo trên các cột đèn, thì quyết định này phải nhằm cho tất cả các quảng cáo, không phải cho một loại quảng cáo nào đặc biệt. Thứ ba, điều giới hạn phải không quá bao quát, too vague, khiến cho ai cũng ngần ngại. Một đạo luật như vậy sẽ có thể gây một tác dụng mà án lệ gọi là chilling effect sẽ làm tất cả mọi người ngần ngại, chùn bước không dám hành xử quyền tự do ngôn luận. Tiêu chuẩn thứ tư là khi một đạo luật hay một nghị định đi quá xa trong mức giới hạn tự do ngôn luận thì đạo luật hay nghị định có thể bị xem là bất hợp hiến. Thí dụ tất cả mọi người đều có thể đồng ý là trật tự và an toàn lưu thông là cần thiết cho ích lợi chung. Nhưng khi một thành phố quyết định cấm hết tất cả mọi cuộc diễn hành hay biểu tình trên đường phố thì quyết định hành chánh này có thể bị xem là bất hợp pháp. Thành phố có thể giới hạn cuộc diễn hành vào một thời gian và trên một số đường phố thì giới hạn này có thể được xem là không vi phạm quyền tự do ngôn luận. Những tiến bộ trong kỹ thuật thông tin ngày nay, đặc biệt là Internet, cho thấy những khó khăn mà Toà Án gặp phải khi phân biệt thế nào là tự do ngôn luận khả chấp và tự do ngôn luận bất khả chấp. Khi Tu Chính Án Thứ Nhất ra đời 221 năm trưoóc đây nào đâu đã có Internet!! Ngày nay qua Internet, hệ thống liên mạng, tất cả mọi công dân bình thường đều có thể nhận được vô vàn tin tức trong đủ mọi lãnh vực và liên lạc hầu như ngay tức khắc với một số người hầu như không giới hạn mà không cần phải rời nhà của mình. Trong số lượng những tin tức thông tin này có cả những tài liệu, hình ảnh khiêu dâm, bạo hành rất có hại cho trẻ em. Năm 1995, Quốc Hội liên bang đã biểu quyết đạo luật Communications Decency Act, gọi tắt là CDA, xem việc xử dụng Internet để chuyển các tài liệu “indecent material”, xúc phạm công sĩ, là tội hình sự có thể bị phạt 2 năm tù và phạt vạ $250,000 Mỹ kim cho mỗi vi phạm. Đạo luật CDA đã bị Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ tuyên bố bất hợp hiến trong phán quyết Reno v. ACLU (American Civil Liberties Union), 521 U.S.844 ((1997). Phán quyết này được biểu quyết thuận bởi tất cả 9 thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, với thẩm phán John Paul Stevens là tác giả thảo ra phán quyết.   Reno v. ACLU là phán quyết quan trọng đầu tiên của Tối Cao Pháp Viện đối với những luật lệ quy định cách thức và nội dung các tài liệu gửi qua trên hệ thống Internet. Trong phán quyết này, TCPV đã phán đạo luật CDA bất hợp hiến vì đã không tôn trọng các tiêu chuẩn quá mơ hồ (too vague), nội dung không khách quan (content not neutral), vì đã gộp chung tài liệu khiêu dâm với những tài liệu thuộc loại khác dưới một danh xưng quá rộng “indicent material”, và sau cùng đã không tìm những biện pháp ít cực đoan hơn nhằm bảo vệ các trẻ em không được xem các tài liệu khiêu dâm.  Mặc dầu có phán quyết Reno v. ACLU, án lệ về tự do ngôn luận trong lãnh vực Internet vẫn chưa rõ ràng và TCPV và các toà án còn nằm ở giai đoạn dò dẫm trong lãnh vực mới mẻ này. Nói chung, luật lệ giới hạn quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí có thể được xếp vào 3 loại: giới hạn về nội dung, content restriction, giới hạn về nơi chốn, place restriction, và tự do ngôn luận có tính chất biểu tượng, symbolic speech. Cộng thêm vào đó là loại phát biểu gây nên mối nguy hiểm rõ ràng và tức khắc, clear and present danger.  Thí dụ giới hạn về nội dung là những tài liệu khiêu dâm. Giới hạn vì lời phát biểu có thể gây nên mối nguy cơ rõ ràng và tức khắc là trường hợp trong một rạp hát đông nghẹt có một người đứng lên hô to “cháy, cháy” tạo nên hỗn loạn. Giới hạn về biểu tượng, symbolic speech, như khi chống chiến tranh bằng cách đốt thẻ động viên.  US v. O’Brien, 391 U.S.367 (1968) là một phán quyết liên quan đến phong trào phản chiến. Trong phán quyết này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán rằng hành vi đốt thẻ động viên không phải là một hành vi có tính cách tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.Các mục quảng cáo trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh được xếp chung vào loại commercial speech. So với political speech được luật pháp bảo vệ nhiều thì commercial speech được bảo vệ ít hơn. Nói thế không có nghĩa là các mục quảng cáo không được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ. Nhưng nếu quảng cáo sai lạc, thổi phồng quá đáng, gây nên thiệt hại cho người tiêu thụ thì lại là vấn đề khác.  Bài nói chuyện của tôi sẽ thiếu sót nếu tôi không đề cập đến tự do ngôn luận trong công tư sở, hãng xưởng. Đa số chúng ta thường hay nói: tôi có quyền tự do của tôi khi phát biểu về vấn đề gì. Điều này đúng nhưng không đúng cho nơi làm việc, work place. Nguyên tắc chung là quyền tự do ngôn luận rất giới hạn tại nơi làm việc, nhất là khi nơi làm việc là một hãng xưởng hay công ty tư, không phải công sở. Mục đích của chủ nhân thâu nhận chúng ta vào làm việc là để làm việc, không phải để xử dụng tự do ngôn luận. Tu Chính Án Thứ Nhất quy định: Quốc Hội không làm luật … hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tu Chính Án này không hề quy định là chủ nhân không được sa thải một nhân viên khi nhân viên này nói quá nhiều, không chịu làm việc!  Tôi vừa trình bày cùng quý vị về tự do ngôn luận và tự do báo chí dưới khía cạnh hiến pháp, luật pháp, trong đời sống quốc gia. Bây giờ chúng ta thử xét vấn đề trong đời sống cộng đồng. Cộng đồng đây là Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ, không phải là cộng đồng người Việt tại Twin Cities Song Thành ở đây.  Theo cuộc kiểm tra dân số thực hiện năm 2010 vừa qua thì dân số người Việt tại Hoa Kỳ là 1,548,449 người, xếp hạng thứ tư trong dân số người Á Châu. Bốn thành phố có người Việt đông nhất là San Jose, Garden Grove, Westminster và Houston.  Tôi sẽ đơn cử 4 trường hợp liên quan đến quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí trong đời sống cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Bốn trường hợp này đều xảy ra tại 4 thành phố nói trên. Trường hợp đầu tiên là trường hợp tờ Thời Báo xuất bản ở San Jose, California. Vào khoảng đầu năm 1984, tờ Viêtnam, nhật báo đầu tiên của người Việt tại hải ngoại ra đời. Sau đó, người chủ báo tách ra làm tờ Thời Báo, phát hành 5 số một tuần, số báo ra cuối tuần có trên 80 trang. Năm 1986, số Xuân Thời Báo đang hai bài phỏng vấn xếp cạnh bên nhau, một bài phỏng vấn thẩm phán Phan Quang Tuệ, một người quốc gia, một bài phỏng vấn Nguyễn Xuân Phong, lãnh sự Cộng Sản tại San Francisco. Ngay lập tức có phản ứng chống đối tờ Thời Báo vì đã đăng bài phỏng vấn viên lãnh sự Cộng Sản. Các người chống đối tổ chức biểu tình 86 lần, kéo dài hơn 100 ngày. Ngày ngày họ kéo đến trước toà soạn tờ Thời Báo chửi rủa. Họ điện thoại đến toà báo chửi rủa. Họ làm áp lực với các thân chủ quảng cáo trên tờ Thời Báo chấm dứt quảng cáo. Họ đòi hỏi tờ báo phải công bố tên người ký giả đã phỏng vấn trực tiếp 2 nhân vật cho hai bài phỏng vấn. Tờ Thời Báo cho tới nay vẫn còn tồn tại nhưng không còn mạnh mẽ như trước.  Vụ thứ hai xảy ra gần đây, 2012  tại Houston, Texas. Luật sư Hoàng Duy Hùng nộp đơn kiện cựu Đại Tá Trương Như Phùng đã phỉ báng ông qua những lời tố cáo LS Hùng đã thụt két công quỹ Fema, đã liên lạc với Toà Lãnh Sự Việt Nam tại Houston và đã làm ăn với Việt Cộng. Tin mới nhất cho biết vụ kiện đã được Toà Án bãi nại chiếu theo đạo luật Anti-Slap. Anti-Slap là một đạo luật ở Texas và ở 26 tiểu bang khác cộng với vùng Hoa Thịnh Đốn nhằm mục đích giảm thiểu các vụ kiện về phỉ báng, mạ lỵ giữa các người tố cáo và các nhân vật có khuôn mặt công chúng (public figure).  Trường hợp thứ ba lại cũng xảy ra ở San Jose. Tháng Sáu vừa qua 2012, một số người đứng ra tổ chức mời ông Bùi Tín, cựu Đại Tá Cộng Sản, đã ly khai đảng Cộng Sản và từ năm 1990 là một nhà báo sống tại Paris, đến nói chuyện. Một số người Việt tổ chức biểu tình phản đối. Xem cuộc biểu tình trên YouTube, còn thấy một người đi dự buổi nói chuyện bị một người biểu tình nhổ nước miếng vào mặt. Trường hợp thứ tư là trường hợp mới nhất xẩy ra tại quận Cam vào đầu tháng 7 này. Báo Người Việt phát hành tại Westminster, đăng một lá thư của một độc giả đã viết “..ngày 30 tháng 4 là ngày vui mừng của dân tộc và Việt Nam Cộng Hoà là bè lũ tay sai của giặc Mỹ”! Lập tức có phản ứng ngay từ các cá nhân, hội đoàn, và ngay cả các báo khác. Chủ nhiệm của báo Người Việt quận Cam có thư xin lỗi ngay trên trang đầu, công nhận “đã phạm lỗi nặng nề nên xin lỗi toàn thể cộng đồng”. Thư xin lỗi cho biết tờ báo đã điều tra và cho nhân viên phụ trách chọn đăng bức thư độc giả nghỉ việc. Ban Điều Hành báo Người Việt Westminster đã tổ chức một cuộc tiếp xúc giữa Ban Điều Hành và đại diện cộng đồng để trình bày những biện pháp kỷ luật mà tờ bào đã áp dụng với những nhân viên trách nhiệm trong việc đăng lá thư nói trên.  Khi các nhà thảo hiến soạn thảo Tu Chính Án Thứ Nhất vào năm 1791, hơn 200 năm trước đây, họ nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người công dân đối với với nhà cầm quyền. Tu Chính Án nhằm đến chính quyền và quy định: Quốc Hội sẽ không làm luật hạn chế tự do ngôn luận và tự do báo chí. Các nhà thảo hiến đã xem chính quyền là nguồn gốc chính đe dọa quyền tự do báo chí.  Trong 4 trường hợp đơn cử, không có một trường hợp nào có sự can thiệp của chính quyền, dẫu cho là cấp liên bang, tiểu bang, quận hạt, hay thị xã, để giới hạn tự do ngôn luận, tự do báo chí của cộng đồng người Việt.  Không ai phủ nhận là cộng đồng người Việt được hưởng hoàn toàn và được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ hoàn toàn trong việc xử dụng quyền tự do ngôn luận. Vấn đề là có những cá nhân và tổ chức trong cộng đồng muốn xử dụng tự do ngôn luận của họ để dập tắt tự do ngôn luận của những ai không đồng chính kiến với họ. Đăng một bài phỏng vấn hay một lá thư có thể gây phẫn nộ cho độc giả. Sự phẫn nộ có thể được chia xẻ bởi rất nhiều người, và được xem là một sự phẫn nộ chính đáng. Câu hỏi cần được đặt ra là đây có phải là lý do chính đáng để kêu gọi tẩy chay tờ báo, làm áp lực đóng cửa toà báo. Và chúng ta có muốn tiếp tục theo con đường và áp dụng những biện pháp tương tự cho đến khi tất cả chúng ta chỉ còn những tờ báo đồng một tiếng nói, một luận điệu, một ngôn ngữ với một lời cảnh cáo: ai nói khác sẽ bị tận diệt!  Và nếu như thế thì lợi ích và mục tiêu chính đáng của Tu Chính Án Thứ Nhất có còn cần thiết nữa hay không? Ngày 3 tháng 5 năm 2012 vừa qua, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức mừng ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Ông Ban Ki-moon, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và bà Irina Bokova, Giám Đốc UNESCO đã ra một tuyên bố chung có đoạn như sau: Freedom of Expression is one of our most precious rights. It underpins every other freedom and provides a foundation for human dignity. Free, pluralistic and independent media is essential for its exercise.  Tự do ngôn luận là một trong những quyền quý báu nhất của chúng ta. Nó là căn bản cho các quyền tự do khác và đặt nền móng cho phẩm cách của con người. Tự do, đa dạng và độc lập của báo chí là điều tối cần thiết cho việc thực thi quyền tự do ngôn luận. Tôi xin mượn đoạn trên trong bản tuyên bố chung làm kết luận cho bài nói chuyện hôm nay. Xin cám ơn quý vị! 23/07/12



No comments:

Post a Comment