Hai
“nhà bác học chim trời”
Thứ Bảy, 13/07/2013
22:22
Người Việt chắc ai cũng vui khi nghe tin
Quỹ Simons (Simons Foundation) ở Mỹ vinh danh 13 nhà toán học, nhà khoa học lý
thuyết về máy tính và nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc, trong đó có GS Ngô Bảo Châu
và GS Đàm Thanh Sơn - mỗi người được tài trợ nửa triệu USD cho hoạt động nghiên
cứu trong 5 năm. Tác giả bài viết đi tìm câu trả lời cho sự kiện này
Năm 2009,
nhà bác học Freeman Dyson ở ĐH Princeton (Mỹ)
viết bài Birds and Frogs in trên tạp chí Notices of AMS (Ghi chú của Hội Toán
học Mỹ). Đầu đề bài viết có thể dịch thoát là: Chim trời và ếch giếng. Từ
“giếng” tôi muốn thêm vào khi dịch, là để chỉ cái giếng đất xưa ở làng quê ta,
mặt giếng rộng, bờ cỏ rậm rì bao quanh, là nơi sinh sống của loài ếch nhái, chứ
không phải cái giếng hẹp với thành cao, trát xi-măng như bây giờ.
F. Dyson đưa ra một nhận xét phổ quát: “Toán học trở nên
phong phú và mỹ lệ bởi vì những chú chim trời cho nó một cái nhìn rộng xa và
những chú ếch giếng cho nó một cái nhìn tinh tế. (…) Thật ngớ ngẩn khi nói chim
tốt hơn ếch vì chim nhìn xa hơn, hoặc ếch tốt hơn chim vì ếch nhìn tỉ mỉ hơn.
Thế giới của toán học thật rộng lớn và thẳm sâu, vậy nên chúng ta cần cả chim
lẫn ếch cùng làm việc bên nhau để khám phá cái thế giới ấy”.
GS Đàm Thanh
Sơn (bìa trái) và GS Lê Kim Ngọc cùng Ngô Bảo Châu. (Ảnh do các nhân vật cung
cấp)
Từ ví von của Freeman Dyson
Người viết
bài báo này thầm nghĩ rằng triết lý đó không chỉ đúng với toán học cũng như vật
lý lý thuyết - toán học trong vật lý mà còn đúng với các ngành khoa học khác,
kể cả khoa học xã hội và nhân văn; hay nói rộng ra, cả văn học và nghệ thuật.
Trong văn
học, từng có một số văn hào khắc họa những bức phù điêu hoành tráng như Lev
Tolstoy với mấy bộ tiểu thuyết - dòng sông (tiếng Pháp và tiếng Anh đều là
roman - fleuve) mênh mông như dòng sông lớn. Bên cạnh họ lại có một số văn hào
chuyên viết những thiên truyện ngắn trữ tình tinh tế hay mỉa mai chua chát, như
Anton Chekhov bên nước Nga hay Lỗ Tấn bên Trung Hoa. Cả 2 kiểu nhà văn đó đều
mang lại cho ta nhiều giá trị nhận thức và thẩm mỹ đặc sắc.
Nếu Ludwig
Beethoven sáng tác bản giao hưởng số 9 lộng lẫy dữ dội thì Frédéric Chopin lại
viết ra những khúc polonaise xinh xắn đượm buồn.
Trở lại
với lời ví von của F. Dyson, tôi muốn coi Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn là 2
“nhà bác học chim trời” người Việt. Các công trình của 2 anh rõ ràng đã mang
tới cho giới khoa học thế giới một cái nhìn bao quát, rộng xa.
Kỳ diệu Đàm Thanh Sơn
Do Đàm
Thanh Sơn chưa được dư luận trong nước biết tới nhiều so với Ngô Bảo Châu nên
tôi muốn giới thiệu anh Sơn trước. Hơn nữa, anh Sơn sinh năm 1969, anh Châu
sinh năm 1972.
Tháng
5-2010, tờ Physics Today, tạp chí của Hội Vật lý Mỹ, in 3 bài trong cùng 1 số,
ca ngợi công trình của nhóm KSS - một điều thật hiếm! Những tính toán lý thuyết
của GS Đàm Thanh Sơn và 2 tiến sĩ cộng sự đã được kiểm chứng bằng 2 thực nghiệm
ở 2 thái cực trái ngược nhau, 1 bên ở nhiệt độ cực lớn (hàng tỉ độ K, tại RHIC)
và bên kia ở nhiệt độ cực nhỏ (1 vài phần triệu độ K, tại ĐH Duke). Cả 2 thực
nghiệm đều quan sát được 1 dòng chảy gần như hoàn hảo và đo được độ nhớt của
nó. Độ nhớt ấy chỉ phụ thuộc vào 2 hằng số cơ bản là hằng số Planck và hằng số
Boltzmann.
GS Phạm
Xuân Yêm ở ĐH Paris 6, người có sách giáo khoa vật lý in ở Pháp và Mỹ, viết 1
bài dài về sự kiện này, nhận định: “Thật là một công trình phong phú, mang tính
phổ quát, đáp ứng được nhiều hệ thống vật lý rất khác biệt. Nó đòi hỏi các tác
giả phải có một kiến thức vừa sâu sắc vừa tổng thể, bao trùm nhiều ngành vật lý
và thấu triệt nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau để đặt đúng vấn đề và giải
thích thỏa đáng cũng như tiên đoán những hiện tượng mới mẻ quan sát, đo lường
được bởi thực nghiệm. Công trình của nhóm KSS mở đường cho một loạt nghiên cứu
về những địa hạt tưởng chừng không chút liên hệ với nhau (thủy động lực học, vũ
trụ học và vật lý thiên văn, siêu dây và hạt, siêu dẫn và vật lý chất đặc, chất
hạt nhân) nhưng mang một đặc tính chung, phổ quát và cơ bản”.
GS Yêm coi
kết quả đó là “kỳ diệu” và các tác giả đã sử dụng một cách thuần thục lý thuyết
siêu dây, nguyên lý toàn ảnh, lý thuyết lỗ đen lượng tử... GS-TSKH Nguyễn Văn
Liễn ở Viện Vật lý Việt Nam cũng cho rằng thành công lớn của nhóm này là đã đưa
ra 1 hằng số mới, chỉ phụ thuộc vào 2 hằng số cơ bản là hằng số Planck và hằng
số Boltzmann, nghĩa là rất tổng quát. GS Liễn viết: “Thế là 1 hệ thức tổng quát
đã ra đời! Trong vật lý, mỗi khi xuất hiện 1 hệ thức mà vế phải chỉ phụ thuộc
vào các hằng số cơ bản thì điều kỳ diệu rất có thể xảy ra. (…) Thành công của
nhóm KSS là kết quả của sự kết hợp tài tình các phương pháp tính toán phức tạp
trong lý thuyết trường lượng tử hiện đại...”.
Ngô Bảo Châu: Từ xuất sắc đến vĩ đại
Bây giờ,
tôi muốn nhắc đôi lời về anh Ngô Bảo Châu.
Hồi tháng
4-2004, anh và thầy Gérard Laumon công bố công trình 100 trang bằng tiếng Pháp:
Le lemme fondamental pour les groupes unitaires (Bổ đề cơ bản cho các nhóm
unita). Công trình ngay lập tức gây tiếng vang rộng khắp.
Năm 1987,
Langlands và cộng sự phỏng đoán về 1 tương ứng cho trường hàm trên trường phức,
về sau được gọi là Tương ứng Langlands hình học. Để chứng minh được sự tồn tại
của tương ứng đó, phải giải quyết 1 bài toán lớn mà lúc đầu Langlands chưa thấy
hết mức độ phức tạp nên mới gọi là… “Bổ đề cơ bản”. Thuật ngữ “bổ đề” thường
dùng để chỉ cái gì đó dễ chứng minh hay kết quả kỹ thuật giản đơn trên con
đường chứng minh 1 định lý đích thực.
Thế nhưng,
trong trường hợp này, “bổ đề cơ bản” lại gắn liền với giả thuyết quyết định của
Chương trình Langlands, một “bổ đề” khó đến mức suốt 30 năm, nhiều nhà toán học
hàng đầu - kể cả Langlands - ra sức lao vào chứng minh nhưng đều... thất bại
thảm thương!
Do đã có
kinh nghiệm trong việc nghiên cứu thành công Bổ đề cơ bản của Jacquet, Ngô Bảo
Châu mạnh dạn “đột kích” vào Bổ đề cơ bản của Langlands. Kết hợp với một số kết
quả mà G. Laumon đã đạt được trước đó, anh Châu hoàn thành chứng minh Bổ đề cơ
bản cho các nhóm unita.
Thế là một
vật cản lì lợm đã được gạt đi để tiến xa hơn trên con đường A. Wiles đã từng đi
qua khi ông chứng minh Giả thuyết Taniyama - Shimura. Ít lâu sau, chính R.
Langlands, tác giả Chương trình Langlands, mời GS Ngô Bảo Châu sang làm việc
dài hạn tại Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton, nơi thiên tài Albert Einstein
từng làm việc. Từ đấy, anh chỉ còn “một mình một ngựa” trên chặng đường dài mịt
mờ xa lắc!
Khi anh
bắt đầu viết luận án tiến sĩ, vấn đề Langlands đặt ra chẳng còn được ai quan
tâm nữa. Người ta coi đó là “vấn đề đã chết”. Mấy chục năm rồi mà chẳng ai làm
được, thì thôi, không làm nữa. Người ta liệt kê một bảng danh sách dài dằng dặc
các nhà toán học danh tiếng, trong 3 thập niên liên tiếp, đã “liều lĩnh thử
sức” với Bổ đề cơ bản và cuối cùng chuốc lấy “thất bại định mệnh”!
Họ gọi
những nhà toán học đáng kính ấy là “những liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì… Bổ đề
cơ bản”!
GS Ngô Bảo
Châu kể: Lúc anh đi phỏng vấn xin việc lần đầu ở Pháp, người ta hỏi anh làm cái
gì, anh bảo làm Bổ đề cơ bản, thì đến nửa hội đồng phỏng vấn phá ra cười, vì
nghe nó… ngớ ngẩn quá!
Lúc ấy,
không mấy ai còn tin rằng có thể giải quyết Bổ đề Langlands. Kể cả khi Ngô Bảo
Châu đến thăm ĐH Chicago năm 2001, rồi sang làm việc ở Viện Princeton năm 2007,
anh cũng chỉ mới có “âm mưu” giải quyết nó thôi, chứ không chắc mình làm được.
Có điều bao giờ anh cũng giữ trong mình niềm hy vọng.
Suy nghĩ
miệt mài, đến năm 2007, anh mới giải quyết được trọn vẹn Bổ đề cơ bản và nhờ
vậy, anh được trao Giải thưởng Oberwolfach ở Đức. Sau đó, anh nhận thêm Giải
thưởng Sophie Germain của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Rồi phải mất 1 năm nữa để
giới toán học quốc tế săm soi kết quả nghiên cứu của anh để cuối cùng thừa nhận
là… đúng!
Ngô Bảo
Châu không sớm thỏa mãn với cấp độ xuất sắc, dù là xuất sắc trên phạm vi toàn
cầu. Chính vì không dừng lại ở Giải thưởng Clay năm 32 tuổi mà anh mới đạt tới
cấp độ vĩ đại, đoạt Huy chương Fields vào năm 38 tuổi. Thành tựu toán học của
anh quả là vĩ đại! Chúng ta không ngại dùng từ “vĩ đại” khi mà sự thật đúng là
như vậy.
Anh thường
nói “15 năm cô đơn với Bổ đề cơ bản”, kể từ khi bắt đầu viết luận án tiến sĩ về
Bổ đề Jaquet (tương tự Bổ đề Langlands).
So với đời
người, “15 năm cô đơn” không phải là một quãng thời gian ngắn ngủi, dễ chịu...
Dẫn đầu thế giới về toán
“Theo tôi, với những gì anh
đã làm được về toán, nếu gọi Ngô Bảo Châu là thiên tài, cũng không quá lời.
Tôi ví thành công của anh là một trận Điện Biên Phủ, trận Điện Biên Phủ thứ
ba…” - GS Hoàng Tụy, nhà toán học “rất khó tính”, quả quyết. GS G. Laumon, người
thầy của Ngô Bảo Châu, cũng nhận xét: “Ngô Bảo Châu hiện đã đạt được đỉnh cao
trong nửa đầu sự nghiệp của anh ấy. Anh ấy hiện là người dẫn đầu, nhà lãnh
đạo toàn thế giới trong một lĩnh vực rộng lớn của toán học”.
GS Nguyễn Văn Hiệu đánh
giá: “Huy chương Fields là tột đỉnh vinh quang đối với một nhà khoa học ở bất
cứ nước nào. Việc GS Ngô Bảo Châu nhận được huy chương này là sự kiện lớn lao
nhất trong đời sống khoa học ở nước ta kể từ khi Việt
Tạp chí Time (Mỹ) xếp công
trình về Bổ đề cơ bản của Ngô Bảo Châu trong số 10 khám phá khoa học lớn nhất
của loài người trong năm 2009.
|
No comments:
Post a Comment