THẰNG BÉ RUỘNG ĐỒNG.
*LHXung
Tôi sinh ra tại một xóm hoang vắng, có tên là Cai Giảng. Mãi
sau nầy khi biết đọc, biết viết tôi mới hiểu một cách đầy đủ về cái tên giấy tờ
và chữ nghĩa của nó là Ấp Cai Giảng, Xã Ninh Thạnh Lợi. Lúc nhỏ tôi chỉ biết giới
hạn tới chừng đó và khi lớn hơn một chút tôi để ý hay nghe Ba tôi nói vùng quê
tôi thuộc Tỉnh Rạch Giá. Và thỉnh thoảng Ba tôi cũng có nhắc Xã Ninh Thạnh Lợi
dưới thời Pháp thuộc cũng có khi lại nằm bên ranh giới Tỉnh Bạc Liêu.
Sau Hiệp Định Genève 1954, dưới thời Tân Chính Phủ VNCH thì
tôi bắt đầu nhớ rõ ràng chi tiết hơn về thứ cấp của tổ chức hành chánh mới như
sau : Ấp Cai Giảng, Xã Ninh Thạnh Lợi, Quận Kiên Long, Tỉnh Kiên Giang. Sự thống
thuộc như thế nầy chỉ kéo dài được mấy năm, cho đến khi Tỉnh Chương Thiện mà Tỉnh
Lỵ là Vị Thanh được thành lập thì Quận Kiên Long được đặt trực thuộc vào Tỉnh
Chương Thiện và ngày nay sau năm 1975 được thay đổi ranh giới hành chánh thuộc
Tỉnh Hậu Giang, Tỉnh Lỵ là Cần Thơ.
Cai Giảng nếu tính phỏng đoán theo đường chim bay thì cách Rạch
Giá, Tỉnh Lỵ Kiên Giang và cũng cách Cần Thơ, Tỉnh Lỵ Hậu Giang ngày nay, gần
như cùng một khoảng cách độ 70 cây số. Cai Giảng thì cách Vị Thanh độ 40 km, cách
Bạc Liêu chừng 50 km và cách Sóc Trăng độ chừng trong vòng 60 km thôi.
Cai Giảng coi như là ở ngay vị trí trung tâm của 3 quận lỵ
Ngan Dừa (Q. Kiến Thiện); Vĩnh Thuận (Q. Kiên Long) và Phước Long (Q. Phước
Long). Cả 3 quận nầy đều thuộc Chương Thiện khi xưa, nay không rõ, nó có còn
gom chung vào Tỉnh Hậu Giang hay không ?
Trước năm
1954, nguyên vùng tam giác Vĩnh Thuận, Ngan Dừa và Phước Long đều nằm trong khu
vực do Việt Minh hoàn toàn kiểm soát. Chúng ngăn cấm 100% không cho dân chúng ra
giao thiệp hay mua bán với những thị tứ thuộc quyền chính phủ Quốc Gia kiểm soát
như Chợ Rạch Giá, Chợ Bạc Liêu, Chợ Sóc Trăng, Chợ Cần Thơ. Dân chúng chỉ được
mua bán các nông phẩm hay hàng hóa sản xuất trong các vùng khống chế của Việt
Minh mà thôi. Việt Minh cấm ngặt không cho dân chúng tiếp xúc với thành thị bằng
cách xử tử hình những ai vi phạm lịnh cấm đó. Tuy vậy dân chúng cũng có người lén
lút đi ra thành để mua thuốc men, nhứt là trụ sinh để chữa các vết thương ung
thối; hoặc sắm sửa các thứ mà ở trong quê hoàn toàn không có. Những chuyến đi
như vậy được gọi bằng cái tên là “NHẢY DÙ”, tức là tùy theo phương tiện hay khả
năng mà cố mang chút ít nông sản như nếp, gạo, khô, mắm… ra chợ bán và mua về
như lưỡi cày, dầu lửa, đường cát, thuốc lá, cà phê, sữa bò v.v..
Thời đó nghe tin nay ở chỗ nầy, mai ở chỗ khác có người bị tử
hình vì tội nhảy dù thường lắm ! Nhưng chính mắt tôi chứng kiến hai vụ nhảy dù
bị tử hình đó là Ông Chín ở cách nhà tôi chẳng bao xa, ông nhảy dù ra Giá Rai gần
Bạc Liêu, khi về gần tới nhà thì bị Việt Minh phục kích bắn chết. Chúng chôn ông
Chín sơ sài nhưng chừa 2 tay ló lên mặt đất và mỗi bên chúng cột dính vào bàn
tay nửa bánh thuốc hút.
Còn Chú Út, nhà ở ngoài gần phía đầu xóm. Chú ấy nhảy dù bằng
đường sông, ban đêm âm thầm bơi xuồng ra Cái Bần, cách Giồng Riềng chừng non 20
km để mua đồ gia dụng nấu ăn như tôm khô, khô mực, cà hộp, mì sợi, kim châm, bắp
cải… chuẩn bị tiệc tùng đám cưới cho con thì bị Việt Minh bắt trên sông Cái
Chanh, cách nhà không đầy 10 km. Chúng chặt cả 2 bàn tay, 2 bàn chân của Chú Út
và để cho chú chết trên xuồng trôi tấp vào một bãi dừa nước hoang vắng. Mấy ngày
sau mới có người đi câu cá nhìn thấy và báo tin cho gia đình đem về chôn cất. Vì
nhà Chú Út cách trường học chẳng bao xa nên con nít bọn tôi có tò mò đến xem người
ta khiêng xác từ xuồng lên nhà, trông thật là hãi hùng, ghê rợn !
Tôi xin nói thêm một vài chi tiết về chuyện “Nhảy dù”, tức là
bí mật đi ra thành mua những thứ cần yếu về cho gia đình ở trong những vùng quê
do Việt Minh kiểm soát.
Những người mạo hiểm làm các chuyến nhảy dù là họ đã đánh đổi
cả mạng sống của họ để mua thuốc men hay dụng cụ dùng vào việc cày cấy, hoặc chút
thức ăn mà gia đình luôn ao ước. Như chút sữa hộp, chút đường phèn, chút tiêu, đá
lửa, chút gia vị mà ở trong vùng quê hoàn toàn thiếu thốn. Thường thì những người
bà con thân cận hay lối xóm tin cậy biết ai đó sắp đi nhảy dù thì họ thân tín căn
dặn mua giùm các món như nào là hộp quẹt máy, lưỡi dao cạo râu, cái bấm cắt móng
tay, kim máy hát, kim chỉ để may vá, lưỡi câu, nhợ câu, chỉ đan chài, đan lưới;
kẹp tóc, lược chải đầu, gương soi mặt bỏ túi là những thứ mà các phụ nữ trong
quê có nhu cầu nhiều nhứt v.v… Khi mua về được thì những người căn dặn sẽ mua lại
với giá có lời gấp đôi, gấp ba. Cho nên có thể vì lời quá nhiều nên khiến có người
dám phiêu lưu vượt bất trắc; có tính cách năm ăn, năm thua như thế.
Những người dự tính đi nhảy dù, phải âm thầm toan tính rất
nhiều ngày và phải đợi cơ hội thuận tiện mới có thể thực hiện những chuyến đi đầy
hiểm nguy chết người như thế. Họ chỉ đi một mình để giữ được sự kín đáo tới mức
tối đa. Tùy theo mùa khô hay mùa nước mà họ trang bị cho thích hợp; như mùa khô
thì họ mang theo NÓP (đệm bàng may lại thành cái túi để chui vào ngủ) và quảy vòng
gặt (dụng cụ gặt lúa) để giả dạng đi xa để gặt mướn. Trước tiên họ đi đến những
vùng tiếp giáp với khu vực do Quốc Gia kiểm soát, họ làm thuê ở đó một thời
gian rồi chờ lúc thuận tiện vào ban đêm sẽ lẻn qua khu Quốc Gia, đổi tiền cụ Hồ
ra tiền xanh (tiền QG) rồi mua sắm các món cần thiết, chỉ chừng đủ nặng và gọn
gàng để quảy tùy theo thể chất của mỗi
người.
Khi trở về họ phải đêm đi ngày nghỉ, trốn tránh ở những nhà
người quen dọc đường hay lẩn vào bụi rậm để chờ đêm tối đi tiếp. Không phải ai
cũng trót lọt và an toàn về với gia đình, để được nhìn thấy cả nhà vui mừng, nâng
niu từng món hàng mua được. Tỷ lệ thành công thường rất hiếm, còn đa số đều tiền
mất tật mang, bỏ của chạy lấy người. Và bị Việt Minh phục kích bắn chết là chuyện
không lạ gì đối với dân chúng trong quê thời buổi ấy.
Còn mùa nước thì người ta giả đò đi cấy mướn, mang theo nọc
cấy (dụng cụ cấy lúa), rồi cũng cùng một cách không khác gì mưu kế của những người
đi gặt mướn. Đôi khi họ dùng xuồng nhỏ để bơi trên những sông vắng hay túng thế
khi bị rượt đuổi họ có thể kéo xuồng đi
vào những mương rạch nhỏ, không cần nước sâu.
Thời trước những năm 1954, những chuyện đi nhảy dù gặp nạn
thương tâm là một đề tài rất gần gũi với dân chúng sống trong các vùng do Việt
Minh kiểm soát và là một đề tài bất tận; cho mãi đến thời VNCH thì chuyện nhảy
dù mới chấm dứt.
Quê tôi toàn là ruộng đồng, Cách Vĩnh Thuận, Ngan Dừa và Phước
Long chừng 10 km. Nhà tôi ở ngay cuối xóm khi tôi được sinh ra, nhưng mấy năm
sau gần tới năm 1954 thì gia đình tôi dời ra bên ngoài xóm, cách nhà cũ độ non
2 km thôi. Cất nhà ngay trên phần đất ở một góc thửa ruộng của gia đình tôi,
chung quanh thì đào mương, lên liếp trồng dừa, chuối, ổi, xoài, đu đủ và một vài
loại trái cây thông thường khác. Chung quanh nhà là khu vườn mới tạo dựng, có
diện tích chừng hơn 2 công cấy. (36m x 36m x 2)
Còn tất cả nhà trong xóm đều cất trên 2 bên bờ một con rạch
khá sâu, gọi là rạch Cai Giảng, như là cái đuôi của con sông Cái Chanh, lần hồi
với từng đoạn có những tên khác nhau dẫn ra nối liền với sông Cái Lớn chảy ra cửa
Biển Rạch Giá. Cả xóm tôi trước năm 1954, bây giờ tôi hình dung ra và đếm được
chỉ có chừng gần 100 nóc gia là cùng, quy tụ hai bên bờ một con rạch kéo dài chừng
hơn 2 km.
Ở giữa xóm có một ngôi trường, gọi là ngôi trường cho nó oai
một chút; thực ra nó chỉ là một căn nhà lá dột mưa từng chỗ, từng chỗ, chung
quanh có dừng lá bít kín phía sau và hai bên hông, còn phía trước thì chỉ dừng
lá kín lưng chừng phía dưới, chừa một khoảng trống độ hơn 1m phía trên để cho có
ánh sáng. Cả căn nhà là một phòng học, có để 2 cửa trống ra vào ở đầu và cuối.
Bên trong căn nhà thì có hai dãy bàn dài, mỗi bàn dài độ 3m; xếp theo chiều
ngang, ở giữa chừa một lối đi. Mỗi bên có 5, 6 bàn dài mà các chân bàn là những
cây tràm được đóng sâu xuống đất, bên trên thì lót ván, dùng để kê tập đọc và
viết; miếng cao, miếng thấp; không có một đoạn nào là bằng phẳng. Ghế ngồi cũng
là một băng dài, lót ván thấp xuống phía sau mỗi bàn dài.
Từ nhà tôi ở bên ngoài xóm, hướng về phía cuối nên mùa mưa
tôi và vài đứa bạn gần nhà phải lội sình bùn trên những bờ ruộng để đi vào xóm,
rồi mới đi dọc trước các sân nhà, nên tương đối bớt trơn trợt hơn. Mỗi ngày đi
và về 4 chuyến thật là vất vả; mà lúc nhỏ thấy đoạn đường hai, ba cây số đó
thật dài và xa hun hút, không như bây giờ mình đi 1 cây số có là bao xa đâu.
Hôm nào cũng có đứa trợt chân té ướt cả áo quần sách vở.
Những lúc như vậy phải ra sau trường cởi hết áo quần ra vắt cho ráo nước, rồi mặc
vào lớp, độ vài giờ thì hơi ấm trong người sẽ làm khô. Có đứa khá giả hơn thì
trong cặp, đan bằng lác hay bàng, có thêm chiếc quần cụt để phòng hờ.
Mùa khô thì đỡ khổ hơn, từ nhà tôi có thể băng đồng trống đi
thẳng vô phía sau trường học. Chỉ có một trở ngại duy nhứt là chúng tôi phải đứa
nầy vạch nhánh tre sang một bên cho đứa khác chui qua một lỗ trống của một hàng
rào tre gai bao bọc phía sau các căn nhà đều hướng mặt về phía con rạch và mỗi lần
tới chỗ chui qua hàng rào tre gai thường thì khó tránh khỏi đạp gai tre, có khi
chỗ gai đâm bị nhiễm trùng làm độc, sưng to, phải lê lết đi học thật là đau đớn.
Hay may mắn hơn thì chỉ bị gai móc vào áo quần, thường khi chỉ bị sướt da chảy
máu sơ sơ thôi.
Tôi nhớ thầy giáo đầu đời của tôi là Ông GiáoTòng, con trai
của Ông Thầy Ký Ninh mà dân trong xóm hay gọi như vậy. Nghe kể lại, Thầy Ký
Ninh là một người có học, làm công chức cho Tây ở thành phố; nhưng không biết vì
lý do gì Ông lại đem gia đình vào sống ở một nơi muỗi mồng, ruộng đồng hoang vu
mông quạnh nầy. Ông Bà Ký Ninh và cô con gái thì mở tiệm may tại gia và người
con trai lớn là Thầy Tòng thì dạy học cho xóm. Học sinh cuối tháng trả học phí bằng
tiền và bằng đủ thứ loại thực phẩm, gạo, cá, mắm … dừa khô, dừa tươi, khoai mì,
khoai lang, đậu xanh, đậu phọng, bí rợ, mật ong .v.v.. Nghĩa là nhà nào có gì
thì trả công tương tương với số tiền là mấy ngàn tiền HCM hay bao nhiêu đó mà tôi
đã quên ? Hình như tương đương 5 lít gạo thì phải ?!
Trường chỉ có một lớp học duy nhứt, tổng số hơn 30 đứa; nhưng
lại được chia ra làm tới ba, bốn cấp và được chia ra ngồi từng băng ghế riêng
biệt. Có 5, 6 đứa học đánh vần, học đồ chữ ; có nhóm thì làm toán cộng , trừ; và
nhóm cao hơn hết thì viết chánh tả, làm luận văn và làm toán nhơn, chia …
Hồi đó đi học 6 ngày, chỉ nghỉ ngày Chúa Nhựt thôi. Mỗi tuần
đặc biệt có một chiều Thứ Bảy, tụi tôi những đứa trên 10 tuổi phải TẬP QUÂN SỰ,
mỗi đứa phải đẽo một cây súng bằng cây, dùng dầu hắc hay lọ nồi trộn với dầu lửa
sơn cây súng bằng cây cho có vẻ giống như súng thiệt. Có một anh thuộc đội du kích
trong xóm đến dạy tụi tôi đi diễn hành 1,2,3… bên phải quay, đàng sau quay … Tụi
tôi chui xuống núp trong hầm sâu chừng ngang ngực, để làm bộ nhắm bắn Tây, coi
như chúng đang ngồi trên ghe để vào bố ráp xóm tôi. Tụi tôi được tập ném lựu đạn
nắn bằng đất sét; phải thi đua ném ra xa nhứt và trúng mục tiêu thì có bằng
khen của anh đội trưởng du kích. Lâu lâu tụi tôi phải chia làm hai phe Tây và
Việt Minh đánh nhau, những đứa èo uột thường phải đóng vai lính Tây để bị thua
và bị trói ké khá đau do mấy đứa nghịch ngợm trói thiệt tình.
Đại khái tôi theo học một lớp phổ thông chữ nghĩa có pha mùi
du kích như vậy chừng 3, 4 năm. Đến khi tôi và vài ba đứa nữa đã đạt đến trình độ
cao nhứt của lớp thì được Thầy Tòng phân công cho dạy lại mấy đứa khác mới nhập
học để tiếp tay cùng thầy.
Tôi là đứa học trò kỳ cựu của Thầy Tòng, vì tôi cứ đến học với
Thầy và về sau khi không còn ai là học trò đàn anh. Tôi được Thầy Tòng chỉ định
làm Trưởng lớp, thời đó chưa có dân chủ bầu bán gì cả và tôi cũng được coi như
một thầy giáo tý hon, làm đủ thứ chuyện giúp thầy chăm sóc các đứa học trò nhỏ
khác. Thời đó thầy Tòng hay giao cho tôi làm công việc chính là in các bài học
do thầy viết tay, chữ viết của thầy rất đẹp và bằng mực tím thật đậm cho dễ thấm
vào bột. Sau đó tôi nhồi bột gạo, không được khô quá, mà cũng không được ướt quá;
đem nhấn vào một khuôn hình chữ nhựt bằng cỡ tờ giấy in (độ ½ A 4); rồi in tờ mẫu
viết tay vào đó, chà nhẹ và đều, đợi một chút để mực tím thấm qua bột thành từng
chữ, từng hàng rất rõ ràng, gỡ nó ra. Sau đó lấy tờ giấy trắng đặt lên trên khuôn
bột, chà nhẹ để chữ trên bột in qua trang giấy in, rồi sau đó gỡ tờ giấy in ra đem
phơi khô, dùng kim may lại thành từng tập bài học phát cho học trò. Nếu in khéo
thì mỗi lần in có thể được hơn 10 tờ,
sau đó chữ trên bột đã lợt đi hay bị nhoè, không còn in thêm được nữa. Lúc
đó phải cạy bột ra nhồi lại để chuẩn bị trở lại từ đầu. Sau chừng 3 lần làm lại
như vậy thì bột đã quá dơ vì mực đã thấm vào nhiều quá. Không còn phân biệt được
chữ in nữa thì đành phải bỏ bột đó đi.
Tôi đọc lại các đọan trên đây, tôi thấy sao mình viết ra có
vẻ như là vùng tôi ở lúc nhỏ cũng bình yên như những làng mạc khác ? - Sự thật
vùng quê tôi thời chín năm chống Pháp phải hứng chịu nhiều hiểm nguy và đọa đày.
Thường xuyên, Việt Minh bắt dân chúng phải đi dân công ở những nơi xa; đào kinh
, đào mương để cho chúng di chuyển dễ dàng từ vùng nầy qua vùng khác. Nhứt là nạo
vét những đường nước cạn ăn thông vô rừng U-Minh, mà bìa rừng cách Vĩnh Thuận
chẳng bao xa. Thời Việt Minh khu nhà tôi chúng đặt thuộc về Huyện Hồng Vân của
Tỉnh Cà Mau.
Dân chúng tùy theo mùa, phải đi làm công tác đắp mô, phá đường,
làm CẢN để ngăn chặn không cho Pháp và Quốc Gia hành quân vào vùng do Việt Minh
kiểm soát mà chúng hay xưng là vùng giải phóng.
Tôi xin nói rõ một chút về CẢN, có lẽ đây là một danh từ chỉ
có những ai ở trong Hậu Giang và ở trong các khu Việt Minh mới biết danh từ nầy
là cái gì. Nó là một CHƯỚNG NGẠI VẬT được tạo ra ở một đoạn sông nào đó, bằng cách
đưa dân công đến đó đốn dừa, đốn tre, đốn cau … đem xuống cặm bít kín một khúc
sông làm cho tàu chiến của Pháp không thể chở quân đi ngang qua đó được. Như trên
đoạn sông Cái Chanh ngay tại Bến Luông là chỗ có chiếc cầu sắt mà Pháp xây cất để
dự định nối liến từ Gò Quao và Cầu Đúc Cái Sình (?) có thể đi bằng đường bộ thẳng
xuống Cà Mau. Nhưng Việt Minh đã giựt sập chiếc cầu nầy, chỉ còn có các cột đứng
trơ vơ và một nhịp gần bờ treo lơ lửng. Ngay tại đó Việt Minh đã làm một cản thật
lớn, bít kín cả mấy trăm thước, tốn hàng ngàn nhân công mỗi ngày, trong vài ba
tháng.
Việt Minh ra lịnh không được nuôi chó trong làng, để chúng
khỏi bị phát hiện khi chuyển quân ban đêm. Chúng cấm không được nuôi nhiều gà vịt;
có những gia đình nuôi hàng trăm con vịt Hãng để lấy trứng bán, đã bị Việt Minh
cho đập chết trắng cả một khoảng đồng mà chính tôi đã mục kích. Chúng làm như vậy
gọi là tiết kiệm lúa thóc để nuôi bộ đội. Nông dân phải nộp thuế nông nghiệp rất
là nặng, tới mùa phải tự mình chở lúa đi nạp cho Việt Minh xong xuôi, được cấp
giấy đã nộp thuế nông nghiệp xong mới được đem lúa về nhà.
Tôi còn nhớ mọi lời lẽ trao đổi trong nhà phải cẩn thận lựa
chọn và kín đáo vì sợ có người ngoài nghe được, đi báo cáo với Việt Minh thì có
thể lãnh lấy tai ương một cách bất ngờ. Thời đó nếu bị Việt Minh bắt bớ và trừng
phạt thì chỉ có bản án thủ tiêu hay chặt đầu là coi như duy nhứt. Chứ không
nghe nói bị giam giữ ở đâu lâu dài cả vào thời trước 1954.
Ngoài những lo sợ về Việt Minh ra, dân chúng sống trong vùng
do Việt Minh kiểm soát thì rất thường khi bị máy bay oanh tạc, bị đầm già (loại
DC3 như 2 cánh quạt của Air VN xưa) rải xăng đặc đốt rụi những khu nhà đông đảo,
bất kể có trụ sở Việt Minh ở đó hay không. Tôi có chứng kiến 2 lần máy bay rải
xăng đặc đốt xóm Cái Thum và xóm Tà Hông là 2 xóm có đông người Miên sinh sống
, một nằm về phía Nam và một ở phía Bắc, cách xóm tôi độ 1 giờ đi bộ, chừng không
đầy 5km. Từ xa nằm dưới hầm, tôi cố nhô lên ngó thấy máy bay đảo một vòng, xuống
thấp một chút thì thấy các thùng dầu đua nhau tuôn ra khỏi máy bay, nhào qua nhào
lại, phản chiếu ánh nắng thành nhiều chớp sáng … một chút sau là cả xóm chìm
trong biển lửa, khói đen bốc cao cả trăm thước … rồi máy bay rời địa điểm.
Chờ cho máy bay đi mất dạng, dân chúng mới dám ra khỏi các hầm núp. Đàn ông thanh
niên khoẻ mạnh, tự động cùng nhau chạy ráo riết đến tiếp cứu, chữa lửa, băng bó
cho những người bị thương … tự cứu chữa nếu bị phỏng nhẹ. Còn bị thương nặng thì
đành chờ chết, vì đâu có nhà thương cho dân chúng, chỉ có quân y viện lưu động
theo các chỗ dừng quân. Còn chở đi chợ thì chúng không cho và cũng không ai dám
nghĩ tới chuyện khó khăn ấy. Những lần xóm nào bị máy bay rải xăng đốt như vậy,
thương vong mươi người là chuyện thường. Những người chết là bị xăng cháy ngay
trên các hầm trú ẩn, vì khi nghe hơi máy bay là người ta đã tự động chạy ra các
hầm núp đào sẵn bên ngoài nhà, không cách xa lắm. Mấy ngày sau khi cháy, bọn
con nít tôi kéo nhau đến tìm lượm những ống chì, to gần bằng 2 ngón tay cái, có
nhiều lỗ như tàng ong chung quanh, nó chứa các ngòi kích hỏa và một ống xăng cực
nhạy bên trong, được cột vào mỗi quai của thùng xăng đặc. Thùng xăng đặc thì cũng
giống hệt như thùng chứa dầu lửa 20 lít. Các ống chì đó chúng tôi đem nấu lại để
làm chì câu cá, hay đổ vào các vỏ đạn và moi một lổ nhỏ để cà diêm quẹt vào đó,
rồi dùng đinh đóng vào, sẽ tạo ra tiếng nổ chát chúa như tiếng súng vậy.
Còn về chuyện máy bay oanh kích, dội bom thì xóm Cai Giảng của
tôi trong thời 9 năm kháng chiến có nhiều lần bị máy bay còng cọc xạ kích, nhưng
chỉ có một lần có bộ đội đến đóng quân cả tiểu đoàn; nghe Ba tôi nhắc lại bộ đội
nghỉ dưỡng quân, chia nhau ở nhà dân, có cả máy đèn và giăng dây vô tuyến điện
tùm lum. Hình như họ nghi bị do thám nên bộ đội vừa nhanh chóng rút đi trong đêm
tối thì sáng hôm sau máy bay tới oanh tạc và bỏ bom, ngày đó tới 2 lần. Dân chúng
bị đạn, bom chết 7 người và cả một gia đình 4 người đào hầm tránh máy bay ngay
trong nhà như một số người khác hay làm, bên dưới bộ ngựa bằng ván gõ thật dày.
Chẳng may nhà đó bị trúng ngay mục tiêu của một trái bom làm nát bấy, cả nhà bị
thiêu trụi. Bữa đó bọn tôi lượm được thật nhiều vỏ đạn to bằng ngón chân cái, hồi
nhỏ nghe nói 12 ly 7 gì đó ? – Có lẽ vì đạn to nên đã xuyên thấu bộ ván dày cả
tấc ở một nhà khác, mà rất may chỉ có một người trúng đạn nhẹ. Đó là trận thiệt
mạng nhiều nhứt do máy bay oanh kích, thả bom xuống xóm tôi.
Tôi hồi tưởng lại, sống trong vùng quê thời loạn ly, mọi người
có thể chết chóc một cách bất ngờ bởi tai họa chiến tranh. Đàn bà con gái sợ nhứt
là bị các toán quân lê dương, Ma róc hành quân với Tây, nó hay bắt đàn bà hãm
hiếp và thường giết luôn một cách dã man, không vướng bận luật lệ cần phải e ngại
tù tội gì cả. Lính Tây nó bắt bớ và giết hại dân chúng trong vùng Việt Minh y
như là người ta đi săn bắn thú vật vậy, chứ không có gì khác biệt khi chúng tìm
thấy có người ẩn trốn đâu đó. Ba tôi nói trong các toán quân cũng có Cò Đầu Đỏ
(Hiến Binh đội kết đỏ) đi theo; nhưng chỉ có 1, 2 người nên không kiểm soát hết
nổi.
Gia đình tôi, xóm tôi đã trải qua những năm tháng hãi hùng dưới
thời Viêt Minh và dưới bom đạn của Tây. Cho nên
có tin đồn chiến tranh sắp chấm dứt, ai cũng đều hân hoan vui mừng, có cảm
tưởng như mình HẾT CHẾT rồi. Từ nay mình sẽ được sống bình yên, không còn nghe
bom đạn, không phải sợ chết từng ngày.
Khi nghe tin có Hiệp Định Genève ký kết, thì tụi tôi cả lớp
hơn 30 đứa, đủ thứ trình độ như thế; được lịnh địa phương phải tạm ngưng học chữ,
chỉ học các bài ca của Việt Minh như Cánh Chim Hoà Bình, Tiểu Đoàn 307, Trận Tầm
Vu, Muỗi Rừng U-Minh … và nghe đọc các giấy tờ công văn, tin tức chiến thắng Điện
Biên Phủ, ký kết hiệp định ngưng chiến; có hôm được bộ đội tới cho cầm súng,
coi tháo ráp vũ khí … nghe kể chuyện đánh Tây, em bé tẩm xăng đốt kho đạn, chuyện
anh hùng La Văn Cầu …
Một buổi tối nọ có đoàn văn công của Khu 9 đến xóm giúp vui
và trước đó thì có một buổi họp dân trong xóm để nghe danh sách được địa phương
tuyển chọn đề nghị cho đi Tập Kết ra Bắc.
Trong thâm tâm của tôi, dự định sau khi những người đi tập kết
xong đâu đấy, tôi sẽ xin gia đình cho ra
Rạch Giá để học tiếp. Cho nên trong buổi họp đề nghị thiếu niên tập kết ra Bắc,
không có tên tôi thì tôi rất vui mừng. Nhưng tôi cũng bày tỏ những lời không
vui với đám bạn, con của các cán bộ kháng chiến để khỏi bị dòm ngó.
Đa số các bạn của tôi, khi đạt đến trình độ biết đọc, biết
viết, hầu hết đều thôi học. Chúng nó đều bị Việt Minh chiêu dụ thoát ly gia đình,
đầu tiên là đi xa để theo học Lớp Thiếu Sinh Quân di động, thay đổi vị trí theo
tình hình an ninh và chỉ thị của Khu 9 … và cuối cùng là đi theo Việt Minh luôn.
Đến năm 1954, sau Hiệp Định Genève tôi có gặp được vài đứa còn sống về thăm nhà
trước khi tập kết ra Bắc.
Riêng tôi độ hơn 2 tháng sau ngày đình chiến, có một người
Anh họ bên ngoại ghé lại nhà tôi vài hôm. Anh ấy thoát ly theo Việt Minh từ lâu
và anh ấy hay thỉnh thoảng có dịp đi công tác ngang qua nhà đều ghé thăm gia đình
tôi và thường hay trò chuyện với tôi thân thiết hơn cả so với các anh chị em của
tôi.
Lần nầy anh ghé qua nhà tôi để từ giã trước khi đi tập kết
ra Bắc, đồng thời anh cũng ngỏ ý với Bá Má tôi để xin đem tôi cùng đi với anh.
Ba tôi nghe xong, sau nầy Ba tôi kể lại; Ba tôi nói anh thử hỏi ý kiến của tôi
xem sao ? – Anh rủ tôi ra vườn tìm hái chuối và ổi chín cây. Tới năm đó thì đa
số cây trong vườn đã có trái, chỉ trừ dừa thì tối thiểu phải đủ chừng 7 năm mới
bắt đầu có lưỡi mèo (bông dừa). Ổi và chuối mà chín cây thì ăn ngọt vô cùng, mình
không thấy kịp là chim nó ăn sạch bách rất nhanh.
Anh nói anh được phép của tổ chức cho dẫn theo một thiếu niên
và anh đã nghĩ tới tôi, nên ghé nhà để hỏi ý tôi có chịu đi theo anh không ? –
Anh nói ra đó sẽ được gặp Cụ Hồ và sẽ được đi học đến 2 năm sau thì tổng tuyển
cử, thống nhứt đất nước thì sẽ được hồi hương.
Thật ra trong đầu tôi đã có câu trả lời “KHÔNG” rồi ! Nhưng
tôi ngại sợ làm anh không vui, nên tôi cứ ậm ừ một lúc sau tôi mới mở lời cám ơn
và năn nỉ anh cho tôi ở lại để được gần gũi với gia đình và anh cũng biết tôi là
cánh tay đắc lực giúp việc cho Má tôi hàng ngày, kể cả việc làm bếp và bánh trái.
Tôi không dám nói ý định thật sự của tôi đã có trong đầu là: Tôi sẽ xin gia đình
cho tôi ra Rạch Giá để đi học đàng hoàng trở lại. Anh cố nói thêm một vài điều
hấp dẫn khác như mình sẽ biết Hà Nội đẹp lắm, được nuôi nấng đầy đủ, chỉ chuyên
lo học hành mà không cần làm gì khác cả. Nhưng tôi vẫn cứ năn nỉ để được ở lại
với gia đình … Sau cùng anh cũng đành để tôi ở lại; nếu anh cương quyết thì thời
đó anh có thể nhờ địa phương làm áp lực bắt tôi phải đi theo anh thì cũng khó
thoát. Bởi vì tôi có những đứa bạn nó không chịu đi tập kết, nhưng Việt Minh đã
cho người tới khuyến dụ và ép buộc cha mẹ phải “động viên” (nói vô) để cho con
mình phải ra đi.
Về sau nầy, tôi cứ mãi suy nghĩ đến chuyện mình từ chối không
đi theo tập kết; vì nếu tôi không có quyết định chắc chắn để ra thành học lại
thì có thể tôi đã dễ xiêu lòng. Bởi thời đó dù là BỊ đi nhưng bao giờ Việt Minh
cũng tô vẽ thành ĐƯỢC ĐI là một vinh dự nếu được chọn ra gặp Cụ Hồ. Cho nên
trong tôi mãi cho đến bây giờ vẫn luôn cảm thấy là mình MAY MẮN và chọn lựa đúng,
chứ không thì đã trở thành một tên Việt Cộng nào đó rồi; và biết đâu đã banh xác
từ khuya, có đâu được sống đến ngày nay. Thật là đáng hú hồn cho tôi !!!
Mấy tháng cuối năm 1954, tôi thật là vui buồn lẫn lộn, cứ hết
đứa bạn nầy tới đứa khác tổ chức “liên hoan” để chia tay và hẹn 2 năm sau gặp lại.
Lúc đó tụi tôi cứ tin chắc là 2 năm sau sẽ đương nhiên lại gặp nhau chứ đâu ngờ,
chia tay lúc đó để rồi cho tới nay đã ngoài 6 bó mà tôi chưa được gặp lại đứa nào.
Chúng nó ăn uống chia tay xong là khăn gói lên đường ngay, được
đưa đi tập trung ở địa điểm Vĩnh Thuận để chờ từng đợt cho xuống tàu hả miệng đi
qua Cần Thơ hay xuống Cà Mau, từ đó chuyển qua tàu lớn của Liên Xô hay Ba Lan để
ra Bắc.
Tụi bạn đi hết rồi ! Việt Minh cũng biến đi đâu không còn thấy
một ai … những người theo Việt Minh có chức tước nầy nọ, có chút máu mặt, tuy
không đi ra Bắc tập kết thì họ cũng giở nhà dời đi đâu mất hết.
Gia đình và cả xóm không ai nói với ai hầu như tất cả đều bắt
tay sửa nhà, lợp nhà , dừng vách, đóng bàn ghế, đào đất làm vườn trồng cây ăn
trái, nuôi gia súc, mua trâu bò và dụng cụ nông nghiệp để chuẩn bị cho mùa màng.
Tôi luôn nhớ đến một khung cảnh thật vui tươi và nhộn nhịp
sau khi thi hành Hiệp Định Genève. Nhà nhà đều hân hoan, sang qua đầu năm 1955,
chỉ mới mấy tháng trôi qua không có bom đạn mà xóm Cai Giảng của tôi đã lột xác
một cách thấy rõ. Nhà cửa khang trang sạch sẽ. Con nít tới trường ăn mặc quần cụt
đen, áo trắng tươm tất hơn thời trước thấy rõ. Các con đường trong và ngoài xóm
cũng đã được tu bổ và dân chúng bắt đầu nung đất để trải sân nhà và những đoạn đường
trước mỗi nhà cho khô ráo vào mùa mưa.
Dân chúng đã không còn phải trốn tránh để đi chợ mua bán nữa,
bây giờ người ta rủ nhau đi từng đoàn ra chợ thật vui. Các cô trong xóm thấy bắt
đầu mặc những chiếc áo màu sặc sỡ thật khác lạ, mà trước kia chỉ có toàn một màu
đen. Có nhiều cô đã ra chợ uốn tóc, bịt răng vàng làm cho đời sống nông thôn,
quê mùa, dốt nát đổi thay thật là nhanh chóng.
Chúng tôi có thể đi ra ngoài đồng xa nhấp cá mãi tới chạng vạng,
hay vào mùa khô đi nôm cá tới khuya về nhà cũng không sao. Ban đêm nhìn ra ngoài
đồng thấy có nhiều người cầm đèn soi di chuyển, điều mà đã không bao giờ có khi
còn trong chiến tranh.
Mấy tháng cuối năm 1954 và đầu năm 1955, cộng chung được chừng
nửa năm; tôi hoàn toàn có được một thời gian thật là hạnh phúc với gia đình và
tràn ngập niềm vui thích với những ngày rong chơi thả diều, tát ao, bắt cá ở nhà
quê. Tụi tôi, con nít trong xóm sớm quên đi những đứa bạn đi tập kết, tụi tôi
như cùng một phe còn lại thuộc các gia đình không thân thiết với Việt Minh nên
dễ thông cảm, kề cận, gắn bó với nhau hơn. Tụi tôi đá banh nhiều khi cả ngày, bằng
những trái banh cao su thật mà tụi nhỏ
chúng tôi có thể gởi ra chợ mua thật dễ dàng. Không như từ trước chúng tôi chỉ đá
những trái banh cuộn tròn bằng rơm và dùng dây bẹ chuối quấn chặt xung quanh thành
trái banh giả tạo để đá.
Trường học đã được lợp lại, dừng vách mới mẻ hơn, bàn ghế cũng
được đóng lại gọn gàng và bằng phẳng hơn, bảng đen được sơn lại cẩn thận. Tôi
thỉnh thoảng cũng có đến giúp Thầy Tòng một vài việc, nhưng tôi không học ở đó
nữa. Tôi chuẩn bị để ra Rạch Giá học lại với trường ốc nghe nói rất là ngon lành
mà tôi luôn có ước mơ trong đầu.
Độ tháng 6 năm 1955 thì tôi được Ba tôi cho ra Rạch Sỏi, cách
Rạch Giá 7 km, ở trọ và giúp việc cho gia đình một người Cô Bà Con rất gần gũi
như ruột thịt với gia đình tôi.
Gia đình Cô tôi chuyên làm bánh bán hàng ngày tại chợ Rạch Sỏi,
tôi học làm đủ thứ chuyện. Nào là ngâm gạo, ngâm nếp , xay bột, nạo dừa; học cầm
dao, dùng bề sống dao gõ chỉ một lần vào vỏ dừa khô sao cho nó bể thẳng một đường
mới dễ nạo. Gói bánh ú, cột bánh tét, tráng bánh da lợn, chiên bánh tai yến, bánh
còng, bánh cam, ngào nếp làm xôi vị, chiên bánh tiêu, nắn bánh bao … Đó là công
việc buổi chiều và khuya ; đến khi bánh chín xong xuôi thì chỉ tiếp khuân ra chợ
cho Cô tôi bán. Sau đó tôi chuẩn bị đi học. Lúc mới ra chợ tôi chưa được vào học
trường công, vì chưa có giấy tờ khai sinh, phải đi làm giấy thế vì khai sinh và
phải chờ niên khóa mới.
Đầu tiên tôi theo học một trường tư bên chợ Căn Cứ, học trò được
chia ra từng lớp riêng biệt. Tôi được xếp vào lớp tư, nhưng trình độ toán của tôi
thì cao hơn, nhưng các bài học khác thì tôi kém hơn các đứa cùng lớp.
Tôi vừa làm việc giúp Cô tôi và tôi vừa học ráo riết, đọc sách
mượn của các đứa cùng lớp và nhiều sách sử ký, địa lý mà tôi chưa hề biết qua. Đến
khi vào được trường công cũng lớp 4, nhưng chẳng bao lâu sau tôi đều được xếp hạng
hàng tháng rất cao và tôi bắt đầu quen dần với cách thức học mới. Chưa đầy nửa
năm học, Cô Giáo đề nghị với Thầy Hiệu Trưởng cho tôi lên lớp 3. Tôi có cảm tưởng
thật sung sướng vì là lần đầu tôi được học trong một ngôi trường giống như
trong các bài học tả cảnh trường có tường gạch, mái ngói đỏ, tường vôi. Nhứt là
lớp học gồm toàn học sinh cùng một trình độ ngang nhau.
Mấy năm tiểu học của tôi ở Rạch Sỏi toàn là có kết quả hạng
cao, cuối năm đều được lãnh phần thưởng học vấn lẫn hạnh kiểm. Có lẽ vì tôi quá
xa lạ, quá nhút nhát so với con nít thành thị. Lần hồi tôi say mê đọc các sách
hoạt họa rất lôi cuốn và hấp dẫn. Từ từ các năm sau tôi mướn các tiểu thuyết của
Tự Lực Văn Đoàn đọc ngấu nghiến, sách gì cũng là mới mẻ đối với tôi. Vì suốt những
năm trong ruộng tôi chỉ đọc được những truyện như Thạch Sanh Lý Thông; Tấm Cám;
Phạm Công Cúc Hoa … và nghe trong nhà hay lối xóm kể truyện Tam Quốc Chí hoài,
riết rồi tôi cũng muốn thuộc luôn.
Một hai năm sau đó tôi còn về Cai Giảng sống với gia đình
trong thời gian nghỉ hè. Đến Hè năm 1957 thì tôi không được về thăm nhà nữa. Ba
tôi nói Việt Minh đã bắt đầu hoạt động trở lại, đã có những cuộc ám sát các viên
chức Xã Ấp của Quốc Gia. Ba tôi cho biết gia đình mình bị Việt Minh liệt vào thành
phần chơi với phe Quốc Gia. Hiện thì chúng chưa có làm gì nhưng không biết còn được
ở đó tới khi nào ? Cũng mùa Hè đó tôi có thằng bạn cùng ra Rạch Giá học như tôi,
nó về nhà nghỉ Hè bị Việt Minh bắt đi làm du kích và nó bị Quốc Gia hành quân
giết chết độ hơn 1 năm sau.
Hè năm 1957 là lần nghỉ Hè đầu tiên tôi ở lại Rạch Sỏi, ngày
thì cứ quanh quẩn làm mãi những chuyện quen thuộc giúp Cô tôi thật là nhàm chán.
Có bao nhiêu thời giờ riêng tôi đều đọc sách và làm hết các mẫu toán bài tập. Đọc
sách và làm toán hoài cũng chán, nhưng tôi không biết vui thú cái gì khác hơn,
không như ở ruộng nhà tôi có khối niềm vui và lợi ích cho gia đình. Tôi là đứa
trẻ luôn kiếm được cá và hái đủ thứ rau giúp cho Má tôi tạo ra những món ăn khá
tươm tất cho gia đình. Má tôi hay nói: Tôi có tay sát cá ! Còn Má tôi hô muốn có
rau gì ?- Năng bụp, rau dệu, rau muống đồng, rau má, bồn bồn, rau đắng, bông điên
điển, lá mồng tơi … tùy mùa tôi biết chỗ để tìm hái đem về giúp cho Má tôi khỏi
bận tâm như các bà mẹ khác. Tôi cột bánh cà bắp, bánh tét khá thành thạo ngay lúc
tôi còn ở nhà.
Ba tháng Hè năm đó, đêm tôi cứ nằm thao thức, nước mắt tuôn
tràn, thương nhớ gia đình, nhớ Ba Má tôi, anh chị em tôi. Hết nhớ từng người thân,
tôi lại không quên bạn bè vài đứa còn lại và nhớ khung cảnh nắng mưa của ruộng đồng.
Mỗi mùa mưa, nắng tôi và đám bạn đều có những nguồn vui háo hức với không khí
trong lành và thường 3 tháng Hè trôi qua thật nhanh. Không như những ngày dài mênh
mông ở chợ, tôi cứ mong cho thời gian chạy mau để sớm đến ngày tựu trường trở lại.
Ba tháng xa cách tuyệt vọng ấy, khiến cho tôi cảm thấy được
rằng: Gia đình tôi và những người trong quê khác, khi đã trưởng thành và sinh sống
với tất cả những gì thân quen hằng ngày, dù chỉ với một khung cảnh đơn sơ, túng
thiếu. Nhưng những thứ đạm bạc ấy đã ngấm sâu vào người, cho nên không dễ gì dứt
khoát quyết định bỏ ra đi đến một nơi khác thanh bình hơn. Chiến tranh và Việt
Minh, Việt Cộng đã ngày đêm tạo khó khăn và áp lực khủng bố luôn đè nặng lên người
dân quê, nhưng ít có ai thừa can đảm để nhứt quyết ra đi tìm an toàn cho gia đình.
Từ trước tôi cũng đã nhiều lần nói với Ba Má tôi sớm dời đi nơi khác, để không
gặp lại những âu lo thảm khốc, không biết sẽ kéo đến lúc nào ?
Nhưng gia đình tôi cứ nấn ná ở lại, hy vọng chuyện khó sẽ
qua đi và Ba Má tôi cứ than thở: Vườn tược, mồ mả Ông Bà để đó sao đành ! Chuyện
một sớm, một chiều bỏ quê, dời nhà đi nơi khác ở là điều hiếm thấy với những người
cả đời gắn bó với ruộng nương như gốc gác của gia đình tôi.
Từ đó tôi không trở về Cai Giảng nữa và gia đình tôi cũng đã
phải bất chợt rời khỏi nơi đó vào năm 1959 là năm Việt Cộng đã hoạt động và khủng
bố dân chúng giống hệt như những năm trước 1954. Và chính gia đình tôi bị Việt
Cộng trực tiếp đe dọa đến mạng sống, vì anh chị em tôi đều ra thành sinh sống.
Tôi xa cách với quê tôi, một xóm vắng thật hẻo lánh, chưa
bao giờ tôi đọc được một sách báo nào nói đến Cai Giảng quê mùa của tôi. Tôi cố
tìm trong sách địa lý tôi cũng chưa bao giờ đọc thấy cái tên Cai Giảng.
Trong đầu tôi; lúc nào, ở đâu, tôi cũng nhớ rõ in sâu từng hình
ảnh ngôi trường dã chiến èo uột của tôi, hàng tre gai cao lêu nghêu bao kín phía
sau xóm Cai Giảng. Cây cầu tre đong đưa bắt ngang con rạch, mỗi lần đi ngang
qua nó, lần nào cũng đều hồi hộp như nhau và lo sợ đến đổ mồ hôi. Mỗi khi nhớ về
quê cũ, tôi không quên từng dụng cụ để bắt cá từng mùa như đang hiện hữu ở ngay
trước mặt. Cắm câu, giăng câu, giăng lưới bén, nhấp cá, đi câu thược (loại cần
câu dài và chỉ câu có đến cả chục thước, quăng mồi đi thật xa rồi kéo từ từ như
con nhái đang lội trên nước, để cá tưởng thật đớp mồi là dính câu), thả mồi lội,
đặt lờ, đặt lọp, nôm cá, trễ tép, tát cá cạn, làm hầm bắt cá, gài bẫy cò ke … Mỗi
sáng đi nhổ câu, đến chỗ nào thấy cần câu bị nhổ đi mất là vui mừng rộn ràng
trong đầu … đi chung quanh để tìm cần câu cắm bị mất, vì cá to nó dính câu thì
nó vùng vẫy mạnh có thể nhổ luôn cần câu lôi đi. Trường hợp đó mà tìm thấy cần
câu lẫn trong lúa hay trong bãi cỏ thì thế nào lôi lên cũng có con cá thật to,
còn con cá đã sảy thì cứ tiếc hùi hụi, vì cứ tin nó là con cá quá to nên mới mạnh
đến nổi sứt lưỡi câu mà thoát được … lúc nào cũng có cảm xúc tràn đầy hào hứng,
một thú vui mà con nít thành thị không bao giờ có được.
Bây giờ tuổi
tôi đã ngoài 60, sống ở một phương trời xa xăm … tôi thấy tôi đã đi quá xa; đối
với tôi chưa bao giờ trở về Việt Nam một lần; thì chuyện được nhìn lại nơi chốn
chôn nhau của tôi là một điều ước mơ ngoài chuyện bình thường.
Tuy có tới 15
năm kể từ 1957, tôi chưa được đặt chân trở lại khu đất in dấu thật nhiều vết tích
tuổi thơ ruộng đồng của tôi một lần nào. Nhưng rồi tình cờ, sau Hiệp Định
Paris, đầu năm 1973 tôi có dịp từ trên trực thăng hạ xuống thật thấp để thấy
khu vườn nhà tôi đã xơ xác, tiêu điều, với một căn nhà ai đó trên nền cũ của tôi
trông thật hiu quạnh. Năm đó tôi có một bạn học là Phi Công trực thăng, anh ta đậu
trực thăng ở bãi đáp ngay trước Văn Phòng Quận KT, là nơi nhiệm sở mới của tôi
sau khi được biệt phái về. Anh nghe bạn bè cho biết tin tôi đang làm việc tại đây
nên vào thăm tôi. Hai đứa kể chuyện lung tung sau hơn 10 năm không gặp lại. Khi
xưa Anh ở Minh Lương, cách Rạch Sỏi không đầy 5 km; hai đứa hàng ngày hay đạp
xe ra Rạch Giá học suốt mấy năm trung học, nên rất thân quen nhau. Anh biết quê
tôi ở gần Ngan Dừa, anh nói Mầy có rảnh và dám bay với tao không ? Nếu có gan
thì đi với tao, tao sẽ bay tìm cho mầy thấy lại căn nhà cũ đó chơi. Hôm nay tao
khỏi trực ứng chiến, chỉ bay một phi vụ giao giấy tờ cho Chương Thiện thôi. Tao
sẽ bay lòng vòng ra ngoài lộ trình một chút không sao.
Một đề nghị nổi hứng bất ngờ, tuy có nhiều cái bất hợp pháp cho
vị trí của tôi và nguy hiểm nữa. Nhưng tôi háo hức, nô nức leo lên đại. Anh đưa
áo giáp cho tôi mặc, rồi liên lạc vô tuyến với những nơi nào đó và cất cánh
ngay. Anh bay dọc theo sông cái lớn cho an toàn, qua khỏi Gò Quao, rồi Cầu Đúc
Cái Sình, bay ngang Bà Đầm Thác Lác, qua khỏi Vị Thanh, bay lên tới Cầu Nàng
Mau. Từ đó anh đổi hướng bên phải để bay hơi ngược xuống Long Mỹ, thẳng vô Ngan
Dừa, rồi hơi lệch qua bên trái và chừng 15 phút sau là chúng tôi tới ngay bên
trên khu vườn nhà tôi. Tôi chỉ cho anh xuống hơi thấp, bay hai vòng nhỏ chung
quanh khu nhà tôi năm xưa và bay thêm một vòng lớn qua xóm Cai Giảng, lúc đó cảnh
vật đã thay đổi nhiều. Không phải chỉ có một chiếc cầu như lúc tôi còn nhỏ, mà
có đến 3, 4 cái; từ trên cao nhìn xuống như đã được xây cất bằng cây ván khá kiên
cố.
Trên suốt hơn 3 giờ đi và về, vì anh bay chỉ có một mình, người
phi công phụ đã lỏn về thăm nhà bên Chợ Mới; nên tôi được ngồi ghế bên cạnh, thỉnh
thoảng anh chỉ cho tôi những địa danh mà tôi đã có dịp theo gia đình đi qua các
nơi chốn đó. Nên bấy gìờ nhìn xuống tôi đã định được ngay, hơn nữa anh cũng đưa
tôi cầm một bản đồ để giúp tôi theo dõi không mấy khó khăn. Từng đoạn như tôi được
thấy lại giống y trong các phim thời sự, những con sông, những chiếc cầu lớn,
những kinh xáng thẳng tắp như bất biến , vẫn còn đó nguyên vẹn hình thù với tháng
năm. Dù vật đổi sao dời và con người thì ly tán khắp nơi vì chiến cuộc và nhiều
người trai trẻ cùng thời chúng tôi đã bỏ thây trên khắp các chiến trường. Tôi đã
có một ngày rất ngậm ngùi thương nhớ xa xăm. Sau năm 1975, tôi không nghe tin gì
về người bạn những năm trung học ấy. Rất mong anh được bình an sau cuộc đổi đời
ngập đầy bi hận, nghẹn ngào, tan nát, phân ly; nhiều nước mắt hơn những ngày còn
khói lửa binh đao. Cầu cho Anh hiện được an cư lạc nghiệp ở một nơi hiền hoà nào
đó của các xứ tự do!
Anh đáp xuống
Vị Thanh giao một thùng công văn gì đó có khóa cẩn thận, lấy thêm xăng, rồi cất
cánh về lại Rạch Giá. Bay hơn 1 giờ đồng hồ thì tới nơi. Đêm đó hai đứa đi ăn
nhậu cho tới khuya mà đầu óc tôi không xóa đi được cảnh tượng khu vườn nhà tôi
mà 15 năm trước đó chưa một lần thấy lại.
Tôi may mắn là vì mấy hôm đó anh được biệt phái cho Kiên Giang và một ngày trước
đó thì anh bay liên tiếp để vận chuyển quân ra vào U-Minh, Hiếu Lễ nên anh được
thay thế không bay tác chiến một ngày. Vì thế tôi đã có cơ hội duy nhứt một lần
lén tháp tùng được chuyến bay hi hữu về thăm lại chốn xưa bằng con mắt của một
cánh chim đại bàng.
Tôi viết lại những giòng nầy cho bạn bè thủa nhỏ một thời mộc
mạc thân yêu, và cũng cho chính tôi, để không quên một địa danh heo hút đồng khô,
cỏ cháy. Để nhớ mãi những kỷ niệm ruộng đồng của một thời tôi ngoi lên từ chốn
bom đạn, chiến tranh khói lửa dâng cao ngút trời. Sẽ không bao giờ nhạt nhòa
trong tâm trí của một kẻ ly hương, biệt xứ như tôi. Không mong còn có cơ may một
lần được bước đi trên những con đường tuy lầy lội, nhưng đầy quen thuộc, nhiều
kỷ niệm, nhung nhớ của một làng quê, nghèo nàn, hoang vắng, tả tơi, cách ngăn,
biệt lập vì xung đột mất còn của đôi bên. Cai Giảng, nó sẽ vĩnh viễn cô động những
dấu tích thân yêu sâu đậm mãi mãi còn vương vấn trong tôi. Chỉ có một chút hy vọng
còn le lói là Việt Cộng sẽ tan rã trước khi tuổi đời của tôi kết thúc. Để tôi được
tròn mơ ước trở về chốn cũ trong dầm dề nước mắt chia ly từ ngàn trùng xa cách,
sau vạn dặm bể dâu, với mấy mươi năm phân tranh vô vàn thê lương, tơi bời Quốc,
Cộng./-
* LHXung, Úc Châu – 7/2007.
No comments:
Post a Comment