Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Văn Ngân nói gì về nhũng bí ẩn quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu?
Trần Phong Vũ thực hiện
Đôi lòi của ngưòỉ phỏng vấn:
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ chìa
khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đã
vĩnh viễn ra đi ngày 29-9-2001 không để lại một vết tích
nào, ít nữa là vể phía ông. Không hồi ký. Không di chúc
chính trị. Ông lặng lẽ trở về lòng đất mang theo một trời
tâm sự u uẩn của một nhà lãnh đạo từng được dư luận
đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá
khác nhau, đôi khỉ đối nghịch nhau. Một khuôn mặt thòi
cơ? Một kẻ tham quyển cô vị? Một lãnh tụ gan lỳ, nham
hiểm, nhiều thủ đoạn? Một ngưòi yêu nước cô đơn?
Một nhà lãnh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng...
sinh bất phùng thời?
Do một trùng họp tình cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ
trần, chúng tôi đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên
Phụ tá đặc biệt vể chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu
dưới thời Đệ Nhị cộng Hòa để thực hiện cuộc phỏng
vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006).
Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi
nhất trong sô những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông
Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn
mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “vòng trong” thì ông
là người đã nắm giữ nhiều quyển lực quan trọng trong
hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.
Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu
năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ tương
kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Phan
Huy Quát. Năm 1967, ông là đai diện của Trung tướng
Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch úy ban Lãnh đạo Quốc gia
trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ tại
HỘỈ đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua
vào dinh Độc lập.
Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc
bầu cử tháng 10-71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng
thống với điểu 10 khoản 7 đưa đến tình trạng độc cử.
Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01-
74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống.
Ông là ngưòi trách nhiệm điểu họp các cơ chế hiến
định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện... và có
ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này;
đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm
quyển của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính
quyển và quân đội.
Tháng 5-1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải
rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 01-75, ông từ Mỹ và Gia
nã đại vể nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ
lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do
sau khỉ TT Thiệu rời Việt nam đi Đài Loan tối ngày 25-4-
1975.
Trong cuộc phỏng vấn, chúng tôi được ông Ngân cho
xem một sô chứng liệu liên hệ và chúng tôi đã yêu cầu
được làm phóng ảnh văn kiện có thủ bút của Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu kèm theo phần kết thúc bài phỏng
vấn này.
Trần Phong Vũ - Ngày 25 Tháng Chín năm 2006.
Kỳ I — Những bí ẩn lịch sử được khai quật
• Vì sao, cho đên khi chêt, ông Thiệu vẫn không viêt hổi
ký?
• Ngoài cộng sản, ông Thiệu mang môi thù xương tủy
người Mỹ đến tận cuôỉ đời
• Vụ mât Quảng Trị năm 72 là một “ sabotage politic >> ?
• Vào lúc nào ông Thiệu nuôi ý định tự sát như một cách
chống trả cuối cùng?
Hỏi: Sau khỉ tổng thống Thiệu mất tháng 9 năm 2001
nhiều tài liệu được tiếp tục giải mật và nhiều hồi ký
chánh trị được xuất bản liên quan đến nội tình và cuộc
chiến Việt Nam vào giai đoạn ông cầm quyển. Ông là
một công sự viên thân cận và là phụ tá chánh trị của
tổng thống Thiệu, có thể giúp chúng tôi soi sáng một sô
vấn để liên hệ?
Đáp: Tôi chỉ có thể trả lòi cho ông những sự thực mà tôi
được biết trực tiếp hay gián tiếp bởi những công việc và
trách nhiệm được giao phó trong giai đoạn đó.
Điểu đáng tiếc là tổng thống Thiệu lúc còn sống đã hoàn
toàn ỉm lặng.
Hỏi: Theo ông biết thì vì lý do nào tổng thống Thiệu
không để lại hồi ký?
Đáp: Tôi có biết một sô sự việc.
Đầu năm 1983 tôi gặp ông Thiệu ở London. Ông kể cho
tôi việc bà Anna Chennault qua Đài Loan thăm ông sau
30/4/75. Năm 1968, bà Anna Chennault là thành viên
trong nhóm vận động tranh cử của tổng thống Nixon đã
gặp ông Thiệu nhiều lần tại Sài Gòn và quyết định của
ông Thiệu không gởi phái đoàn dự hòa đàm Paris đã giúp
Nỉxon tháng cử Humphrey với một tỉ lệ xít xao vào cuối
năm đó. Cũng cần nói rõ ở đây là quyết định của ông
Thiệu không gỏi phái đoàn dự hòa đàm không phải vì
Nỉxon như nhiều nhân vật chính trị đã suy diễn bởi hệ
quả của nó mà vì những bất đồng giữa Việt Nam cộng
Hoà (VNCH) và chính quyển lohnson chưa được giải
quyết trong đó có vai trò của Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam (MTGPMN) tại hòa đàm. Ông Thiệu thuộc loại
người ăn chác mặc bển, rất cẩn trọng và tỉnh thần trách
nhiệm không cho phép ông đem sinh mạng đất nước vào
canh xì phé đổi chác những hứa hẹn thiếu cụ thể. về
việc bà Chennault qua thăm ông Thiệu tại Đài Loan, ông
nói: “Người Mỹ đâu có xuât tiền mua vế máy bay đi
thăm tôi, họ muôn thăm dò phản ứng của tôi vì năm 76
là năm bầu cử tổng thông Mỹ; bà Chennault nói với tôi :
"nêu tổng thông viêt hổi ký thì tôi đã có sẵn
publisher. . . Ông Thiệu nói và đồng thời khuyên tôi:
“Nêu mình còn muôn làm việc cho quôc gia thì không
nên vỉêt hồi ký, họ bỉêt tư tưởng của mình thì còn làm
việc sao được”.
Năm 1992, sau khỉ Đông Âu tan rã và Liên bang Xô-Viết
sụp đổ, tôi nói với ông Thiệu: Bây giờ tổng thống có thể
xúc tiến viết hồi ký. Ông đồng ý và yêu cầu tôi đóng góp
ý kỉen.
Thời gian sau đó tôi không còn liên lạc với ông nhưng
qua vài người thân cận với ông tôi biết ông đã bỏ ý định
viết hồi ký.
Tháng 7/2001 tôi nói chuyện điện thoại với ông vào lúc
ông vừa ở bệnh viện ra và đang thời kỳ vật lý trị liệu.
Ông cho tôi biết rõ về căn bệnh tỉm, giọng ông đã yếu
rất nhiều so với trước. Ngay sau đó tôi có để nghị với
một người bạn thân của gia đình ông là nên gợi ý với
ông Thiệu để lại di chúc chánh trị vì với căn bệnh tỉm
như ông nói thì có thể ra đi bất cứ lúc nào. sở dĩ tôi
không để cập thẳng vấn để với ông Thiệu vì đã lâu tôi
không có liên lạc với ông, đây là vấn để tế nhị có thể
tạo nên xúc động ở một ngưòi lớn tuổi và đang đau yếu.
Hỏi: : Khỉ ông nghĩ vể một di chúc chánh trị của ông
Thiệu chắc hẳn phải có lý do?
Đáp: Trong cuộc gặp gở ỞLondon đầu năm 1983, ông
Thiệu nói với tôi: “Tôi đã sông Ở đây (London) 8 năm
trong cay đắng... nhưng tôi đã học hỏi được rât nhiều,
nhiều hon là trong mười năm Ở chức vụ lãnh đạo quôc
gia, thật ra ngày đó mình đã không được “préparer”
trong chức vụ đó”.
Muốn hay không, ông đã là một nhân chứng quan trọng
vì đồng thời là một tác nhân. Giai đoạn ông lãnh đạo đất
nước có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, có nghĩa là
nhiều bí mật quốc gia đã không được chia sẻ, nhiều
quyết định liên quan đến vận mệnh đất nước mà động
cơ thực sự chưa bao giờ được tiết lộ. Giai đoạn của ông
tuy ngắn nhưng là giai đoạn bi thảm nhất trong lịch sử
dân tộc, với sự yểm trợ của cộng sản quốc tế và sự
tham chiến của ngưòi Mỹ, chưa bao giờ những người
Việt Nam lại chém giết nhau một cách tận tình như vậy.
Cuộc chiến tranh lạnh tuy đã chấm dứt nhưng vị trí địa
lý chánh trị Việt Nam không thay đổi, vẫn là nơi tranh
chấp giữa các siêu cường dưói hình thức này hay hình
thức khác và những bài học lịch sử trong giai đoạn ông
có một tầm mức quan trọng cho những thế hệ mai sau.
Hỏi: Dưói thời Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng như
Tổng thống Thiệu, sự lãnh đạo đểu có tính cách chuyên
hoạnh cá nhân. Điểu này có phải vĩ đầu óc độc tôn, tham
quyển cô vị của lãnh tụ như hiện tượng phổ quát trong
hầu hết các quốc gia chậm tiến?
Đáp: Tại miền Nam Việt Nam dưới thòi Tổng thống
Diệm và Tổng thống Thiệu có nhiều nguyên nhân đưa
đến tình trạng lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá
nhân: nền dân chủ phôi thai, sinh hoạt chính đảng yếu
kém, xã hội phân hóa, chiến tranh v.v. . . nhung một trong
những nguyên nhân chính có tính cách quyết định là
chính sách can thiệp của người Mỹ.
Người Mỹ đã thay thế nguời Pháp với chánh sách thực
dân mới. Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa
để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân
danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt Nam
trong việc thiết lập một tiền đồn chống cộng tại Đông
Nam Á của chủ thuyết Domỉno. Người Mỹ đến Việt
Nam không vì quyển lợi người Việt Nam mà vĩ quyển
lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xỉển dương
khỉ can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định
nghĩa trong quyển 10 của Mỹ, một thứ phó sản được
dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị,
thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô
chính phủ, nội loạn. . . để dễ bể khuynh loát và khỉ cần
thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lãnh tụ
quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.
Chánh sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã
được xử dụng như lưỡi gươm Damoclès. Trong khỉ viện
trợ của Nga-Tàu cho Bắc Việt nặng tính cách sản xuất
thì viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn
có tính cách tiêu thụ. Trong thời chiến Bắc Việt có khu
kỹ nghệ nặng gang thép Thái Nguyên và cục quân giới
của tướng Trần đại Nghĩa có khả năng cải tiến Sam 2
bằng cách ngăn chận hệ thống nhiễu sóng radar và đạt
tầm cao hạ máy bay B52 của Mỹ bấy giờ đươc xem là
loại máy bay bất khả xâm phạm có sức oanh tạc phá
hoại ghê góm - thì kỹ nghệ quốc phòng của miền Nam
Việt Nam là con sô không. Những dự án xây dựng cơ sở
đúc súng đạn, nhà máy lọc dầu, phân bón. . . từ thời tổng
thống Ngô Đình Diệm đểu bị người Mỹ ngăn chận. Đối
với một dân tộc, dù viện trợ có tính cách sản xuất, muốn
xử dụng hữu hiệu cũng đòi hỏi phải có tinh thần tự lực,
tự cường; huống hồ dân tộc đó vừa thoát khỏi ách đô hộ
trăm năm của thực dân Pháp, chính sách viện trợ hoàn
toàn có tính cách tiêu thụ chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý
chí để kháng và nô lệ hóa.
Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và
nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia
được viện trợ, chính quyển của quốc gia được viện trợ
bị xem là công cụ của ngoại bang, đã đẩy một sô quần
chúng đi về phía cộng sản và dưói mát thế giới Việt
Nam cộng Hòa đã bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân
chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất
chánh nghĩa.
Những khó khăn thực sự của ông Diệm và ông Thiệu
phát xuất từ chính sách can thiệp của ngưòỉ Mỹ, có thể
nói nếu giải quyết được những khó khăn nầy thì sẽ giải
quyết được 90% những khó khăn trong việc xây dựng
đất nước và chống cộng. Đổ đối phó với chánh sách hai
mặt của ngưòi Mỹ, ông Diệm và ông Thiệu bị dồn vào
thế lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, và như
một vòng luẩn quẩn không lối thoát, sự lảnh đạo có tính
cách chuyên hoạnh cá nhân đã làm mất hậu thuẫn rộng
rãi trong quần chúng.
Chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tô có tính
cách quyết định đã làm sụp đổ miền Nam Việt Nam.
Sau thế chiến thứ I, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thê
Truyền đã đưa ra một bản cáo trạng lên án thực dân
Pháp, thiết tưởng chế độ thực dân mới của Mỹ còn tàn
bạo gấp nhiều lần so với thực dân cũ vì sau 30/4/75 Việt
Nam cộng Hòa đã hoàn toàn bị xóa sổ trên bản đồ thế
giói.
Hỏi: Ông có đồng ý rằng chê độ đệ I và đệ II cộng hòa
cũng như ông Diệm và ông Thiệu đã được Hoa Kỳ yểm
trợ nếu không muốn nói là đã góp phần quyết định?
Đáp: Không ai phủ nhận điểu đó.
Cũng như chê độ miền Bắc với Hồ Chí Minh. Đó là hậu
quả đương nhiên của một thế gỉới lưỡng cực sau thế
chiến thứ hai mà Việt Nam là một điểm nóng trong cuộc
tranh chấp giữa tư bản và cộng sản.
Người ta có thể nói Hồ Chí Minh là công cụ của cộng
sản quốc tế nhưng ông Diệm và ông Thiệu trong thực tế
không phải là tay sai của Mỹ.
Hồ Chí Minh đã áp đặt chế độ cộng sản trên đất nước,
thay thế xiểng xích nô lệ thực dân, phong kiến bằng
xiểng xích cộng sản; sự dã man và tàn bạọ như thế nào
thì tất cả mọi ngưòi đểu biết. Và hậu quả di lụy của
tỉnh thần nô lệ đã khiến cho một dân tộc vốn giàu lòng
hy sinh, siêng năng, nhẫn nại, đã chiến thắng trong chiến
tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình - đất nước tụt
hậu trong đà tiến của nhân loại.
Kỳ II:
Những phát giác trong hậu trưòng chính trị Việt
Nam cộng Hòa
- Dân chúng nghĩ gì về đường lôi lãnh đạo của ông
Thiệu?
- Khi nào ông Thiệu mât tin tưởng vào những cam kêt
của Nixon?
- Mât Quảng Trị: một “sabotage politique” của Mỹ?
- Ông Thiệu có môi lo sợ người Mỹ sẽ hãm hại ông?
Hỏi: Dù sao ông Thiệu đã cầm quyển 10 năm từ 1965-
1975, -hòa đàm Paris kéo dài từ 1968 đến 1973- thời gian
đủ để tiên liệu và thực hiện những biện pháp cần thiết
hầu ứng phó với vấn để giải kết của Hoa Kỳ nhưng ông
Thiệu đã hoàn toàn thụ động. Theo ông, phải chăng tình
trạng này đã đóng góp vào sự sụp đô của miền Nam
ngày 30/4/75?
Đáp: Ông Thiệu thực sự cầm quyển qua cuộc bầu cử
tháng 9/1967. Trong khỉ quân đội Mỹ còn đô quân vào
Việt Nam thì ông Thiệu đã đưa vấn để giải quyết chiến
tranh như một trong ba vấn để căn bản của chương trình
tranh cử: Xây dựng dân chủ - Giải quyết chiến tranh -
cải tạo xã hội. Sau vụ Tết Mậu thân 1968, ông Thiệu là
người chủ động đưa ra để nghị Hoa Kỳ có thể thực hiện
việc rút quân từng giai đoạn trong mục tiêu tranh thủ
thời gian đổi lấy viện trợ kỉnh tế và quân sự vì ông hiểu
Việt Nam cộng Hòa sẽ không có tư thế tại hội nghị hòa
đàm nếu không chủ động trên chiến trường v.v... Nêu
cai trị là tiên liệu thì ông Thiệu là ngưòi có khả năng tiên
liệu nhưng ông không có khả năng để thay đổi được
chính sách của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu mà vị
thế địa lý chánh trị của miền Nam Việt Nam không còn
nằm trong quyển lọi ưu tiên của Mỹ, mặt khác, chúng ta
không còn ở vào thời đại có thể dùng “tầm vông vọt
nhọn” để chống trả với quân thù. Năm 1967 cùng với
việc tiếp tục đổ quân vào Việt Nam đại sứ Bunker đã
được tổng thống lohnson gởi sang Việt Nam với sứ
mạng thực hiện việc giải kết để rút quân. Khỉ Nỉxon
thắng cử 1968, đại sứ Bunker đã được yêu cầu lưu
nhiệm cho đến tháng 5/1973 sau khỉ Mỹ đã thực hiện
xong việc rút quân và lấy lại tù bỉnh. Chính sách của
đảng Dân Chủ và cộng Hòa Mỹ trong vấn để giải kết
chiến tranh Việt Nam hoàn toàn có tính cách nhất quán.
Nêu sau Hiệp Định Genève 1954, người Mỹ ủng hộ ông
Ngô Đình Diẹm iật đổ Bảo Đại để thiết lập nền đề I
cộng Hòa (1956 - 1963) như căn bản chánh trị để biện
minh cho nhân dân Hoa Kỳ và thế giới vể chính nghĩa
của sự can thiệp vào Việt Nam nhằm ngăn chận sự bành
trướng của cộng sản tại Đông Nam Á, thì năm 1967,
người Mỹ đã áp lực chánh quyển quân nhân phải khai
sinh nền đệ II cộng Hòa, thực hiện chánh quyển dân
chủ họp hiến, họp pháp để đưa Việt Nam cộng Hòa vào
bàn hội nghị và tạo bàn đạp cho Hoa Kỳ hòa đàm với
cộng sản để rút quân, lấy lại tù bỉnh, chấm dứt sự can
thiệp và để miền Nam cho các phe phái chính trị tự giải
quyết trên căn bản “dân tộc tự quyết”, điểu mà hai thập
niên trước đó Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận.
Hỏi: Ông nghĩ sao vể nỗi căm phẫn của đại đa sô quần
chúng đối vói ông Thiệu sau 30/4/75?
Đáp: Quần chúng đánh giá lãnh đạo qua sự thành bại, họ
có quyển căm phẫn vĩ họ là lóp người bị hy sinh nhiều
nhất cho đất nước cũng như phải gánh chịu những hậu
quả bỉ đát nhất sau 30/4/75 - nỗi căm phẫn của họ là
chính đáng; hon nữa người lãnh đạo cũng như thuyền
trưởng một con tàu, dù tàu chìm bởi bất cứ lý do gì thì
thuyền trưởng phải là ngưòi rời tàu sau cùng hoặc phải
chết theo tàu; mặt khác họ không ở cương vị để có thể
nhìn vào mặt trái của cuộc chiến - vừa có tính cách nội
chiến vừa có tính cách ủy-nhỉệm mà những yếu tô
quyết định hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của ngưòi quốc
gia.
Tôi nhớ vào khoảng 1990 ông Thiệu có buổi nói chuyện
với một sô đồng bào tại Westmỉnster, Calỉíornia, một
người đàn bà được một tổ chức chống đối sáp đặt đã
cầm mỉcro chửi bới ông Thiệu nặng nể. Ông Thiệu chỉ
trả lời: tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà.
Tôi hiểu sự ỉm lặng của ông, nỗi cô đơn và cay đáng
ông đã mang theo đến cuối đời. Ông Thiệu đã chết chác
hẳn không cần tôi biện hộ. Tôi cũng không làm công
việc biện hộ mà chỉ nói lên sự thực mà tôi biết - tôi
không có bổn phận tranh luận với bất cứ aỉ và cũng
không nhằm thuyết phục bất cứ người nào. Đối với tôi,
nói những điểu tốt mà người ta không có cũng tệ hại
như nói những điểu xấu mà người ta không phạm phải
vì tất cả đểu là dối trá - nhất là đối với những người có
đời sống công liên hệ đến vận mạng quần chúng thì còn
là vấn để trách nhiệm.
Ông Thiệu có những lỗi lầm trầm trọng trong vấn để
lãnh đạo quốc gia cũng như có những sai phạm cá nhân
ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo. Ông là một nhà chính trị
thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành
không thể tạo ông thành một kẻ tử đạo. Tuy nhiên đến
nay tôi vẫn nghĩ rằng nếu sự hy sinh có thể cứu vãn tình
thế thì ông sẽ không từ nan. Lần tôi gặp lại ông ở
Londres, ông nói như tâm sự: làm một ngưòi lính ra trận
và hy sinh là một hành động dũng cảm, nhưng làm sao có
thể sống sót để tiếp tục cuộc chiến đấu thì thật là khó.
Xét định một con người cần nhìn vào tổng thể và đặc
biệt là những giờ phút nghiêm trọng sinh mạng bị thử
thách. Không thể chỉ dùng những sự việc tiêu cực để
tổng quát hóa mà phải xét đến các mặt tích cực của cá
nhân đó. Tuy nhiên việc định công luận tội là công việc
của lịch sử sau này.
Hỏi: Nhiều hổi ký chánh trị nói rằng ông Thiệu luôn
luôn bị ám ảnh bởi việc người Mỹ thảm sát các ông
Diệm, Nhu nên thường thay đổi chỗ ngủ hàng đêm v.v...
Điểu này có thực không, và nếu thực thì đã ảnh hưởng
như thế nào đến vấn để lãnh đạo?
Đáp: Hàng năm đến 1/11, ông Thiệu có xin thánh lễ cầu
hổn cho cô tổng thống Diệm và ông cô vấn Nhu tại dinh
Độc-Lập.
Ông Thiệu có kể cho tôi nhiều lần về sáng 2/11/63 sau
khỉ thanh toán mục tiêu dinh Gỉa-long, ông vể trình diện
BỘ Tổng -Tham- Mưu và sau đó có ra lệnh cho lính mở
bửng thiết vận xa để chào thỉ hài ô.ô. Diệm, Nhu trước
khỉ vể nhà.
Tôi thường qua chỗ ở của ông Thiệu để làm việc những
khỉ ông không qua văn phòng và có khỉ làm việc trong
phòng ngủ khỉ ông bị đau, tôi không thấy dấu hiệu thay
đổi chỗ ngủ hàng đêm như đồn đại sau này. Có những
biện pháp an ninh lúc ông đi ra ngoài, chẳng hạn mặc áo
chán đạn, hoặc cái podỉum ông đứng nói chuyện ngoài
bằng gỗ nhưng trong có tấm thép chán đạn, những biện
pháp an ninh đặc biệt trong các cuộc diễn bỉnh v.v... Tôi
không để ý những chuyện này, đây là công việc của bộ
phận an ninh. Chỉ có điểu là những để phòng này nhằm
về phía Mỹ hơn là cộng sản.
Thực ra ông Thiệu đã sống trong sự đe dọa thường trực
của người Mỹ về đảo chánh và ám sát suốt thời gian từ
lúc cầm quyển 1967 đến lúc ròi Việt Nam đi Đài Loan
1975. Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó
tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong tĩnh trạng của người
làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ý ông Thiệu
vể trường họp Tổng Thống Magsaysay, Lý Thừa Vãn,
Ngô Đình Diệm..., ông Thiệu nói với tôi là ông không có
an ninh... Trong giai đoạn giải kết, quyển 10 của Hoa
Kỳ và của Việt Nam cộng Hòa tách rời đi đến đối
nghịch, trong khi đó quyển lọi của Hoa Kỳ và của cộng
sản xích lại gần nhau để đi đến thỏa hiệp chung. Nêu
cộng sản áp dụng chính sách vừa đánh vừa đàm vói Việt
Nam cộng Hòa và phối họp cuộc đấu tranh trên các mặt
trận chính trị, quân sự, ngoại giao... thì chính sách của
“đồng minh” Hoa Ky đối vồi “đồng minh” Việt Nam
cộng Hòa cũng tương tự: cà rốt và cây gậy đã được áp
dụng triệt để với ông Thiệu trên mọi bình diện để buộc
Việt Nam cộng Hòa phải chấp nhận đường lối thương
thuyết nhượng bộ cộng sản của Mỹ. Người Mỹ đã tiếp
tay vól cộng sản trong việc cổ võ, ủng hộ các phong trào
phản chiến, đòi hòa bình, hòa họp hòa giải dân tộc, lực
lượng thứ ba... mà thực chất là những tổ chức trá hình
của cộng sản nhằm phá vỡ thế họp hiến, họp pháp của
chê độ VNCH, và đã không ngần ngại đâm sau lưng
những người lính VNCH đang chiến đấu trong cái gọi là
chương trĩnh “Việt Nam hóa chiến tranh” để người Mỹ
rút quân. Ông Thiệu nói với tôi vụ sư đoàn 3 rút bỏ
Quảng- trị 1972 là một “sabotage polỉtỉque”.
Nixon đã viết thư cho ông Thiệu nhác đến ý đồ thanh
toán ông Thiệu của chính quyển lohnson vào năm 1968
và vụ đảo chánh 1/11/63 như một đe dọa trực tiếp nếu
ông Thiệu không tuân thủ những đòi hỏi của Mỹ. Vào
những tháng cuối trước khỉ ký HĐ Parỉs, ông Thiệu nuôi
ý định tự sát như một phương cách chống trả cuối cùng.
Vào lúc căng thẳng này chúng tôi đã triệu tập đại hội
nghị viên toàn quốc vể Sài Gòn, tuần hành vào dinh Độc
Lập cùng các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ lập trường “bốn
không” của ông. Tài liệu của đại sứ Bunker đã ghi nhận
ý định tự sát này của ông Thiệu qua một báo cáo của ông
Trần Thiện Khiêm ghi âm cuộc đối thoại giữa ô.ô.
Thiệu, Khiêm. Chính ý định tự sát này đã khiến ông
Thiệu “lì lợm” trước những đe dọa của Nỉxon và đã đưa
đến những nhượng bộ của Nỉxon bằng những cam kết
mật.
Mỗi lần nhớ đến ông Thiệu, thực sự tôi không nghĩ đến
những vinh quang bể ngoài của một Tổng Thống mà là
những chuỗi ngày khó khăn của đất nước, những áp lực
có tính cách quyết định ngày đó của Hoa Kỳ đã đè nặng
lên ông, ông đã chiến đấu như một ngưòi lính đơn độc
không vũ khí, bằng lòng dũng cảm và sinh mạng của
chính mình. Tôi không có đức tin tôn giáo nhung tôi vẫn
cầu mong cho ông, một tín đồ kỉ-tô-gỉáo, được bình an
và thanh thản nơi vĩnh hằng.
Hỏi: Có phải tổng thống Thiệu nói với ông là việc sư
đoàn 3 tháo chạy đã để lại “đại lộ kỉnh hoàng” và
Quảng-trị thất thủ vào tháng 5/72 là một “sabotage
polỉtỉque” của ngưòi Mỹ?
Đáp: Đúng như vậy. Hậu quả đã để lại hon 20 ngàn
thương vong trên “đại lộ kinh-hoàng.”
Hỏi: Ông Thiệu đã nói với ông trong bối cảnh nào?
Đáp: Ngày hôm Quảng-trị thất thủ. Hôm đó vào lúc xế
chiểu tôi đang họp trung ương đảng bộ Dân-Chủ tại lầu
nhà tráng trong khuôn viên dinh ĐỘc-Lập thì được điện
thoại của nhân viên văn phòng cho biết đại tá Đỗ Đức
Tâm, thuyết trình viên quân sự của Tổng-Thống đang có
mặt tại Văn Phòng của tôi để thuyết trình về tình hình
quân sự sau khi vừa thuyết trình cho Tổng-Thống xong.
Vì bận họp nên tôi yêu cầu đại tá Tâm gặp tôi tại lầu
nhà tráng đê thuyết trình cho tất cả cùng nghe. Sau phần
thuyết trình, tôi nhớ rõ câu hỏi sau cùng của nghị sĩ Trần
Trung- Dung, nguyên Phụ Tá BỘ Trưởng Quốc Phòng
của tổng thống Diệm: “...liệu chúng ta có giữ được
Quảng-trị không?” Đại tá Tâm: “...chắc chắn chúng ta
giữ được.” Chùng nửa giờ sau, điện thoại trên bàn họp
reo, tôi nhác máy, đầu dây là đại tá Tâm cho biết trung
tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn I vừa điện
trĩnh Tổng Thống là Quảng trị đã thất thủ trưa hôm nay.
Sự việc cho thấy là trung-tương Lãm không biết sư đoàn
3 rút bỏ Quảng-trị và như vậy là đã có một “sự cô bất
thường” xẩy ra nên tôi bỏ phòng họp đi gặp tổng thống
Thiệu ngay lúc đó. Tôi thấy ông rất bình tĩnh. Ông nhìn
tôi nói: tôi điện thoại gần như mỗi ngày cho ông Lãm vể
tình hình quân sự Quảng-trị, tối qua tôi còn nhác ông
Lãm phải coi chùng “thằng cộng sản” ngày 1/5, ông Lãm
bảo đảm vói tôi là không việc gì, thế mà như vậy. Ông
dằn mạnh: đây là một “sabotage polỉtỉque”.
Lúc bấy giờ chỉ có tôi và ông.
Những chuyện như vậy thuộc loại “cấm kỵ” không phải
có thể nói với bất cứ aỉ và không bao giờ ông nói khi có
sự hiện diện của người thứ ba. Đó là nguyên tác ngăn
cách ông vẫn thường áp dụng và cũng là cách để bảo
đảm sự an toàn cho chính ông. Trong trường họp này,
ông Thiệu là người duy nhất có đủ yếu tô chính trị để
thẩm định, vì ông là ngưòi trực tiếp chịu các áp lực của
Mỹ. Bấy giờ là tháng 5/1972, trong mật đàm Paris Mỹ và
cộng sản đã đạt được các thỏa thuận căn bản, chỉ còn
trở ngại vể phía ông Thiệu.
Gần đây tôi có đọc một chứng liệu của đại-sứ Bunker
thuật lại phiên họp tại dinh ĐỘc-Lập một ngày sau khỉ
Quảng-trị thất thủ giữa đại-sứ Bunker, tương Abrams và
tổng thống Thiệu. Ông Thiệu đã không hể quy trách cho
các giới chức quân sự Việt Nam, ông ỉm lặng một cách
khó hiểu và mãi đến phút cuối cùng “bật nói”: “...không
có lý do gì Quảng trị lại bị thất thủ, tương Giai phải
chịu trách nhiệm về việc này.”
Tướng Vũ văn Giai, Tư lệnh sư đoàn 3 giới tuyến, được
di tản bằng trực thăng của Mỹ, bỏ lại bỉnh sĩ và dân
chúng với “đại lộ kỉnh hoàng” - đã bị đưa ra Tòa án quân
sự, bị tước đoạt bỉnh quyển và ở tù.
Tổng thống Thiệu đã ra lệnh tái chiếm Quảng trị ngay
sau đó mặc dầu biết rằng Quảng trị sẽ thành một đống
gạch vụn, sẽ phải hy sinh những người lính thiện chiến
của những đơn vị thiện chiến nhất mà tổn thất khó có
thể bù đáp được trong thực tế bấy giờ - nhưng ông đã
phải quyết định như vậy, một quyết định chính trị để
chứng tỏ quyết tâm của quân dân miền Nam với thế
giói, với nhân dân Hoa-Kỳ, nhằm chống trả các thỏa
hiệp mật giữa cộng sản và Mỹ mà sau này được cụ thể
trong Hiệp Định Parỉs 1973.
Cũng tương tự như vậy, việc Trung cộng chiếm Hoàng
Sa vào đầu năm 1974 đã được sự thỏa thuận ngầm của
Mỹ để đặt cộng sản Hà NỘỈ sau này trước một “fait
accompli “.Ông Thiệu biết Hải Quân Việt Nam không đủ
sức đương đầu với hải quân Trung cộng và hạm đội 7
Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái
chiếm như một chứng liệu về chủ quyển lãnh thổ sau
này.
Bỏi chính sách hai mặt của Hoa Kỳ, nhiều áp lực nặng
nể riêng cá nhân ông phải chịu đựng không được chia sẻ
và trong nhiều trường họp ông phải đưa ra những quyết
định chuyên độc mà không thể giải thích với đổng bào
cùng chiến hữu của ông.
Hỏi: Nhận định của ông Thiệu về vụ sư đoàn 3 tháo
chạy có mâu thuẫn với các quyết định của người Mỹ
mở rộng chiến tranh qua các cuộc tấn công của
QLVNCH vào hậu cần của cộng sản tại Miên năm 1970
và hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào 1971 hay không?
Đáp: Không.
Các cuộc tấn công vào hậu cần cộng sản tại Miên 1970
và Hạ Lào 1971 chỉ có tính cách nhất thời nhằm mục
đích chính là dùng xương máu của quân đội VNCH để
mở rộng hành lang an toàn cho việc triệt thoái quân đội
Mỹ. '
Ông Thiệu miễn cưỡng phải chấp nhận mở cuộc hành
quân Lam Sơn 1971 vì Hạ Lào tiếp giáp với hậu phương
lớn Bắc Việt. Khỉ có dấu hiệu sa lầy ông đã ra lệnh cho
trung tướng Hoàng Xuân Lãm đưa ngay một đon vị vào
Tchepone “đái một bãi” (nguyên văn) và rút ra ngay lập
tức.
Cần lun ý là chương trình rút quân của Mỹ không phụ
thuộc vào khả năng thay thế của quân lực VNCH, và
chương trĩnh Việt Nam hóa thực chất chỉ nhằm yểm trợ
cho việc rút quân của Mỹ chứ không phải để VNCH có
đủ sức để kháng và tồn tại.
Hỏi: Sau này, nhiều người trong đó có những viên chức
chính phủ của ông Thiệu cho rằng ông Thiệu đã dựa vào
những cam kết mật của tổng thống Nỉxon nên đã chấp
nhận ký kết Hiệp Định Parỉs vì không hiểu rõ tổ chức
công quyển của Hoa Kỳ - thẩm quyển của hành pháp và
lập pháp. Như tiến sĩ Kỉssinger đã nhận định: đó chỉ là
những ý định của tổng thống Nỉxon, không có tính cách
cam kết quốc gia vì không có phê- chuẩn của quốc-hộỉ.
Đáp: Sự phán đoán như trên có tính cách phiến diện,
hoàn toàn lý thuyết, xa hẳn thực tại. Hiệp định Parỉs
không phải là văn kiện pháp lý phức tạp và chuyên biệt
đòi hỏi phải có những hiểu biết chuyên môn và kiến
thức đặc biệt -tựu trung chỉ có một vấn để mấu chốt
sinh tử là: Mỹ chấm dứt mọi sự can thiệp và quân đội
Bắc Việt ở lại miền Nam tại chỗ. Trong cuộc chiến
chống xâm lăng cộng sản Bắc Việt, xương máu quân
dân miền Nam là nỗ lực chính nhung mọi phương tiện
chiến đấu hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ nên VNCH trong
hòa đàm chỉ có vai trò hình thức.
Vào lúc bấy giờ ông Thiệu cũng hiểu như giải thích của
Kỉssỉnger sau này, nhung ông cũng hiểu rõ vị thế yếu
kém của VNCH và giói hạn cuối cùng mà ông có thể đòi
hỏi ở Nixon. Ông Thiệu có chủ định rõ ràng là mua thời
gian còn lại của nhiệm kỳ Nỉxon trong hoàn cảnh “còn
nước còn tát
Chúng ta cần nhớ rằng không hể có một hiệp ước Việt
Mỹ nào về việc Mỹ đổ quân và tham chiến ở Việt Nam
cũng như không có một văn kiện pháp lý nào về quy chê
trấn đóng của quân đội đồng minh trên lãnh thổ Việt
Nam bấy giờ. Những tiểu đoàn TQLC Mỹ đầu tiên đổ
bộ vào Đà Nang đầu năm 1965 dưói thời chính phủ
Phan Huy Quát, ông Thiệu là Tổng trưởng Quốc Phòng
kiêm Phó Thủ tướng; ông nói với tôi: tình hình bấy giờ
hơn hai phần ba lãnh thổ bị cộng sản ung thối, nếu quân
đội Mỹ không can thiệp kịp thì miền Nam mất.
Thời đệ I cộng Hòa, tổng thống Diệm muốn có một
hiệp ước hỗ-tương như ở Đại Hàn nhưng người Mỹ từ
chối. Các cô vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự
kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam.
Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản
hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị
thế có thể đặt điểu kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến
là đến, muốn đi là đi, hậu quả là vấn để đon phương rút
quân, Việt Nam hóa, Hiệp Định Parỉs... Tương quan Việt
Mỹ là một tương quan thực tế mà người Mỹ cô tình
không để bị ràng buộc vào những văn kiện pháp lý “giấy
tráng mực đen” như ở Triều tiên, Nhật bản, Âu châu là
những ncù Hoa Kỳ có mục tiêu dài hạn.
Hỏi: Đến bao giờ thì ông Thiệu mất tin tưởng vào các
cam kết mật của Nỉxon? Vụ ông Thiệu quyết định
không tái chiếm Phước Long vào đầu năm 1975 có phải
là một trác nghiệm về những cam kết mật hay không?
Đáp: Ngay sau cuộc gặp gỡ Thiệu - Nỉxon tại San
Clemente tháng 4/73. vể phương diện biểu kiến cuộc
gặp gỡ mang nhiều ý nghĩa tích cực như là một sự xác
nhận các cam kết mật, sự tiếp tục ủng hộ của Hoa Kỳ
vơi VNCH và đặc biệt với ông Thiệu, nhưng thực tế
hoàn toàn trái ngược. Cuộc gặp gỡ mặt đối mặt đã
khẳng định cho ông Thiệu thấy không còn hy vọng vào
các cam kết mật cũng như các viện trợ quân sự và kinh
tế đã được hứa hẹn trước đây. Đây là lý do và thòi điểm
quyết định việc tu chính hiến pháp: gia tăng nhiệm kỳ 3
tổng thống.
Cuộc độc cử 1971 đã làm sút giảm uy tín chính trị của
ông Thiệu; Hiệp Định Paris thừa nhận cho quân đội Bắc
Việt ở lại miền Nam, ngưng bán tại chỗ, chỉnh phủ liên
hiệp ba thành phần đã hoàn toàn xóa bỏ lập trường bốn
không của ông; người Mỹ đã hoàn tất việc rút quân và
lấy lại tù bỉnh; và nay là hiểm họa Hoa Kỳ bỏ roi...
khiến ông Thiệu bị lột truồng như câu chuyện ông vua
không quần áo (the emperor wỉthout any chothes) và hoàn
toàn tráng tay. Tư thế lãnh đạo của ông Thiệu bị đặt
trong hoàn cảnh thử thách nghiêm trọng và đây là lý do
thực sự của vụ tu chính hiến pháp đã không bao giờ
được tiết lộ. NỘỈ dung tu chính bấy giờ được giữ mật vì
phải chờ sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện
tháng 10/73 mới đủ túc sô thực hiện. Việc tu chính
không nhằm vào nhiệm kỳ 3 Tổng Thống mà mục đích
thực sự là bày tỏ sự tín nhiệm của dân chúng qua Quốc
Hội “để tái trang bị” tư thế lãnh đạo của ông Thiệu hầu
đối phó với tình thế mới. Dù muốn hay không sinh mạng
chính trị của ông Thiệu đã gán liền với sự còn mất của
chế độ và sau ông sẽ là trận hồng thủy. Trong cuộc gặp
các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ tu chính Hiến Pháp tại hội
trường khách sạn Majestỉc vào đêm trước hôm biểu
quyết, tôi có nói rõ: “đây không phải là hành động ủng
hộ cá nhân tổng thống Thiệu mà là hành động của mỗi
chúng ta để tự cứu”. Có thể họ hiểu là tình hĩnh nghiêm
trọng nhưng không biết là đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi và đất
nước đã ở trên bờ vực thẳm.
Nêu Kissỉnger đã tiên liệu thời gian có thể coi được
(decent ỉnterval) từ HĐ Paris 1/73 đến lúc miền Nam sụp
đổ là một năm rưỡi thì ông Thiệu đã tiên liệu một thời
gian ngắn hơn. Đầu năm 1974 cũng là lúc Quốc HỘỈ
biểu quyết tu chính Hiến Pháp, ông Thiệu nói tại Hội
đồng Tổng trưởng: “...các quan sát viên quốc tế rất ngạc
nhiên khi thấy chúng ta còn ngồi ở đây hôm nay, tất cả
đểu nghĩ rằng miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại
không quá sáu tháng sau HĐ Paris...” Như một người
chết đuối vớ bất cứ bèo bọt nào, ông ra lệnh mật cho BỘ
Tổng Tham Mưu kiểm thính điện đài các dàn khoan để
tìm hiểu trữ lượng dầu hỏa với hy vọng Mỹ sẽ không
bỏ rơi Việt Nam, ông nói: tôi sẽ làm bộ trưởng dầu hỏa
chứ không làm tổng thống. Ông chỉ thị cho chính phủ
tạo điểu kiện dễ dàng cho ngoại quốc đầu tư, ông nói
vơi tôi: bây giờ cho không để bọn nó vào (đầu tư) cũng
phải “cho không“.
Đối với cộng sản, cuộc tấn công chiếm Phước Long
đầu năm 1975 là một trác nghiệm về ý đồ tái can thiệp
của Mỹ được mệnh danh là đòn “trinh sát chiến lược”,
sau đó BỘ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Tây
Nguyên và tiếp theo là chiến dịch Hồ Chí Minh.
Đối với ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước
Long vì sẽ tổn thất rất nặng không thể bù đáp, có chiếm
lại cũng không giữ được, lực lượng trừ bị không còn và
phải bảo toàn lực lượng cho các cuộc tấn công sắp tới
của cộng sản.
Hỏi: Ngoài việc tu chính gia tăng ba nhiệm kỳ Tổng
Thống, còn có việc gia tăng thời hạn mỗi nhiệm kỳ từ 4
năm lên 5 năm. Lý do?
Đáp: Lý do được viện dẫn của tu chính là chương trình
kỉnh tế ngũ niên nhưng sự thực là chúng tôi muốn có
khoảng cách xa giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ và
Tổng Thống Việt Nam vì nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ
cũng 4 năm, và cứ 4 năm thì nước Mỹ lại bị một cơn sốt
chính trị ảnh hưởng nặng nể đến cuộc bầu cử Tổng
Thống Việt Nam. Đây không phải là mục tiêu chính của
tu chính Hiến Pháp nhưng nhân việc tu chính Hiến Pháp
thì chúng tôi bỏ vào luôn.
Hỏi: Ông Thiệu có tham khảo ý kiến của người Mỹ về
việc tu chính Hiến Pháp hay không?
Đáp: Không. Như tôi đã nói ở trên, nội dung tu chính
Hiến Pháp đã được quyết định ngay sau khỉ tổng thống
Thiệu ở San Clemente về nhưng được giữ mật cho đến
sau cuộc bầu cử bán phần TNV tháng 10/73. Đại sứ
Martin chỉ được tổng thống Thiệu thông báo sau khỉ dự
luật tu chính được đệ nạp tại Quốc hội tức là vào khởi
đầu giai đoạn công khai. Ông Thiệu nói với tôi: Ngày
hôm qua tôi có mời ông Martin vào đây (dinh Độc Lập)
để thông báo về việc chúng ta tu chính Hiến Pháp - tôi
nói với ông Martin là tôi nhận thấy có bổn phận phải
thông báo cho ông đại sứ vì Hoa Kỳ là đổng minh chính
yếu đã giúp đỡ chúng tôi trong cuộc chiến... Cụ Hương
được ông Thiệu thông báo vào lúc dự luật tu chính được
đưa cho các dân biểu, nghị sĩ đứng tên tác giả v.v... NỘỈ
vụ hoàn toàn được giữ mật cho đến giờ cuối.
Hỏi: Trong cuộc bầu cử tổng thống 1967 theo hồi ký
của cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ thì ông không
hể bị áp lực Hoa Kỳ mà vì sự đoàn kết của quân đội nên
đã tự ý nhường cho ông Thiệu làm ứng cử viên tổng
thống trong liên danh Thiệu Kỳ?
Đáp: Mọi người đểu biết quyển lực chính trị không
phải là vật được hiến tặng. Việc sáp nhập liên danh
Thiệu Kỳ là do quyết định của HỘỈ đồng quân lực được
triệu tập do “gợi ý” của Tòa Đại sứ Mỹ với nhận định
nếu hai ông Thiệu Kỳ tranh cử riêng rẽ thì có nguy cơ bị
thất bại trước liên danh Dương Văn Minh. Lúc bấy giờ
người Mỹ còn tăng quân tại Việt Nam nên muốn có một
chính quyển chống cộng. Mặt khác nếu liên danh Dương
Văn Minh đác cử sẽ là mối đe dọa trực tiếp đối vóỉ
quyển lọi của đa sô tướng lãnh trong HỘỈ đồng quân lực
bấy giờ nguyên là các sĩ quan trung cấp thời đảo chánh
1963 được nâng cấp rất nhanh do việc kéo bè kết đảng
dưói thời Nguyễn Khánh và đã ngoi lên nắm quyển lực
sau chỉnh lý 30/1/64, trong đó nhóm tướng Dương Văn
Minh bị hất ra khỏi chính trường. HỘỈ đổng tướng lãnh
đã họp nhiều phiên liên tiếp, ban đầu ở dinh Bạch Đằng,
về sau chuyển về BỘ Tổng Tham Mưu, cuối cùng đã đi
đến quyết định Thiệu Kỳ đứng chung một liên danh:
Trung tướng Thiệu là ứng cử viên tổng thống của liên
danh vì ông có cấp bậc ? cao nhất trong quân đội và đang
giữ chức vụ Chủ tịch Uy Ban Lãnh đạo Quốc gia tức
Quốc trưởng. Tôi được điện thoại của trung tướng
Thiệu từ BỘ Tổng Tham Mưu để điểu chỉnh hồ sơ tranh
cử Thiệu - Kỳ, lúc đó chỉ còn 12 giờ là hết han ghi danh
theo luật định tính đến nửa đêm cùng ngày. Uy ban Lãnh
đạo Quốc gia đã gởi Quốc hội một văn thư yêu cầu
không chấp đơn ứng cử của liên danh Dương Văn Minh
vì lý do an ninh quốc gia. Liên danh này về sau đã bị
Quốc HỘỈ bác đơn vì ứng cử viên Phó Tổng Thống Trần
Ngọc Liễng mang song tịch (Việt và Pháp).
Liên danh Thiệu - Kỳ đã đác cử với một tỷ lệ thấp
34.8% tổng sô cử tri đi bầu và Quốc Hội đã họp thức
hóa với 58 phiếu thuận/ 43 phiếu chống. Cụ Phan Khác
sủu đã từ chức chủ tịch Quốc Hội để phản đối việc
họp thức hóa.
Cần phải nói đây là cuộc bầu cử ngay thẳng hay ít nữa
sự gian lận nếu có đã không ảnh hưởng đến kết quả
chung cuộc. Như lòi thú nhận của ông Kỳ sau này là ông
không có lọi ích gì để gian lận cho ông Thiệu, sở dĩ sô
phiếu họp thức hóa sự đắc cử của liên danh Thiệu - Kỳ
thấp vì một sô đông dân biểu bị thất cử trong cuộc bầu
Thượng nghị viện, một sô thuộc phe nhóm ông Kỳ, một
sô có liên danh tranh cử Tổng Thống V.V.. đã bỏ phiếu
chống lại việc họp thức hóa với ý đồ “xóa bài làm
lạỉ“.Đỉểu này phản ảnh bản chất vô trách nhiệm của đối
lập trong sinh hoạt chính trị miền Nam “không ăn được
thì đạp đổ“, bất kể đến sự an nguy của chế độ và quyển
lọi của quảng đại quần chúng.
Hỏi: Khỉ ra tranh cử Tổng thống đối đầu với ông Kỳ,
ông Thiệu có hy vọng đác cử không?
Đáp: Ông Thiệu hoàn toàn không có khả năng đác cử.
Lúc ông Thiệu yêu cầu tôi làm đại diện cho liên danh
Nguyễn Văn Thiệu - Trình Quốc Khánh, tôi nói: tôi có
thể làm việc này nhưng liên danh không có khả năng
tháng cử, Trung tương nên chọn ngưòi có tên tuổi để
làm bàn đạp chính trị sau này... Tôi đưa tên một sô thành
viên trong Hội đồng Dân Quân và Quốc hội Lập hiến.
Ông nói: Anh thử đi mời xem. Kết quả, tất cả đểu từ
chối, có người còn chỉ trích nặng nể cá nhân ông Thiệu...
Tôi phản ảnh cho ông Thiệu, ông chỉ nói: “tôi đã nói anh
giúp tôi, đi mời làm gì mất thì giờ. Tôi nói thật với anh
dù không ai ủng hộ tôi hết, tôi một phiếu, vợ tôi một
phiếu, con tôi một phiếu, tôi vẫn ra...” Còn cái ông đã
chỉ trích gần như mạt sát ông Thiệu thì sau này ông ta và
đảng của ông ta đã lãnh tiền nhiều nhất của ông Thiệu
cùng các đặc quyển khác.
Chánh văn phòng đặc biệt của ông Thiệu là thiếu tá Võ
Văn Cầm (cấp bậc sau cùng là đại tá) nhờ tôi tìm giùm
một sĩ quan bị động viên có văn bằng kiến trúc sư. Tôi
hỏi: giờ này đem kiến trúc sư về làm gì? Anh ta cười,
giọng khôi hài: ... thì trong quỹ còn một triệu để xây cho
“Ổng” (ông Thiệu) cái nhà mát ở Vũng Tàu đi câu cá, thua
rồi thì đi câu chứ còn làm gì nữa? Tôi giói thiệu kiến
trúc sư Lê Tấn Chuyên bấy giờ đang biệt phái ở BỘ Xây
dựng Nông thôn của tướng Tháng. Anh ta là người đã vẽ
dấu hiệu tranh cử của ông Thiệu (bản đổ Việt Nam trên
lá quốc kỳ) và quốc huy của Tổng Thống với hai con
rồng chầu nhau nhưng hai cái râu rồng vểnh lên vểnh
xuống là của ông Thiệu sửa lại. Ông Thiệu là người rất
tỉ mỉ và chỉ tiết ngay cả trong cung cách giải trí. Có hôm
làm việc trễ tôi ở lại ăn com trưa với ông, thấy một
mẩu giấy nhỏ của sở nội dịch để ở chỗ ông ngồi trình
về “lý lịch” khúc cá hồng nấu canh bữa đó: lấy từ
freezer một con cá câu được tại Côn-sơn, ngày... tháng...
cân nặng v.v... Điểu đặc biệt là mặc dầu rất chỉ tiết
trong công việc nhưng không bao giờ ông bị lạc ra khỏi
tổng thể. Kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên phàn nàn với tôi
họa đồ căn nhà mát bị ông sửa đi sửa lại hoài, tiền ít mà
đòi cái gì cũng tốt. Lê Tấn Chuyên là một trong hai kiến
trúc sư thiết kế bệnh viện Vĩ Dân của bà Thiệu, nay là
bệnh viện Thống nhất, lúc còn ở trung học hoạt động
học sinh kháng chiến bị Pháp bát giam, sau 1955 vì còn
liên hệ với tổ chức cũ nên bị quốc gia bát, sau 30/4/75
cùng gia đình vượt biên và chết trên biển.
Năm 1967, mục tiêu của ông Thiệu ra tranh cử đối đầu
vơi ông Kỳ không phải để tháng cử mà buộc ông Kỳ
hoặc phải tương nhượng (đứng chung) hoặc sẽ bị loại
trừ (thất cử).
Có một sự kiện đến nay chưa được tiết lộ là lúc bấy giờ
ông Thiệu đã liên kết với cụ Trần Văn Hương. Ông
Thiệu không có khả năng đác cử nhưng ông Thiệu có
khả năng loại trừ ông Kỳ có nghĩa là làm cho ông Kỳ bị
thất cử nếu không có sự sáp nhập chung, và liên danh có
nhiều triển vọng thắng cử sẽ là liên danh Trần Văn
Hương - Mai Thọ Truyền. Công việc của BỘ Tham mưu
tranh cử của ông Thiệu bấy giờ không phải là vận động
phiếu cho ông Thiệu mà là liên kết các lực lượng chống
đối ông Kỳ và cô lập ông Kỳ bằng một mặt trận chống
gian lận bầu cử, và ông Thiệu với tư thế của một quốc
trưởng và ngưòi cao cấp nhất quân đội bấy giờ sẽ kêu
gọi quân đội và các liên danh dân sự dồn phiếu cho liên
danh Trần Văn Hương tiến đến một chính quyển đoàn
kết quốc gia trong đó ông Thiệu sẽ giữ một vai trò then
chốt. Chính bắt nguồn từ nền tảng liên kết này mà cụ
Hương đã họp tác với ông Thiệu suốt thời gian đệ II
cộng Hòa trong chức vụ Thủ Tướng và Phó Tổng
Thống cho đến lúc chung cuộc.
Kỳ III
Bí ẩn trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 và sự
ra đòi của đảng dân chủ
- Tại sao Big Minh rút ỉui trong cuộc chạy đua vào dinh
Độc Lập năm 1971 ?
- Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Tháo, Phạm Xuân An là
ai?
- cô TT Diệm và ông Nhu biêt rõ vai trò của Phạm
Ngọc Thảo?
-Ai chịu trách nhiệm về cái chêt của Phạm Ngọc Thảo?
Hỏi: Trong vụ Việt cộng tấn công Chợ Lơn Mậu Thân
1968, trực thăng Mỹ trong một phi vụ yểm trợ đã bán
hỏa tiễn làm thiệt mạng một sô sĩ quan của BỘ Chỉ Huy
Hành Quân Việt Nam. Có dư luận cho rằng đây là một
toa rập giữa ông Thiệu và Hoa Kỳ nhằm thanh toán phe
nhóm ông Kỳ. Ông nghĩ sao về nguồn dư luận này?
Đáp: Đây chỉ là một vụ xạ kích lầm vì mặt trận Chợ
Lớn bấy giờ chuyển động hàng giờ, ta và địch “trộn
trấu“.Các sĩ quan tử thương là những sĩ quan trung cấp,
trong đó có một sô sĩ quan thuộc bộ phận kỉnh tài của
ông Kỳ nếu được xem là quan trọng. Tòa Đại sứ Mỹ đã
có thư xỉn lỗi.
Trong thực tế người Mỹ và ông Thiệu không cần phải
hành động như vậy, vì phe nhóm ông Kỳ chỉ là phe nhóm
quyển lợi, một khỉ ông Kỳ không còn quyển lực thì họ
sẽ tự động rã hàng. Tôi biết ông Thiệu là người có tự
trọng và tự ái quốc gia, không hèn hạ đến mức độ nhờ
bàn tay người Mỹ thanh toán người quốc gia. Tôi có thể
nêu ra trường họp cho thấy con người của ông Thiệu
trong tương quan với Mỹ: Năm 1967, trong việc Quốc
HỘỈ họp thức hóa sự đác cử của liên danh Thiệu - Kỳ,
các dân biểu đối lập và phe nhóm ông Kỳ muốn xóa bài
làm lại. Ban đầu ông Thiệu “ lì “ mặc cho Tòa Đại sứ
Mỹ phải lo liệu vì ông biết ngưòi Mỹ cần cuộc bầu cử
nầy như khởi đầu tiến trình đi đến thương thuyết với
cộng sản; nhưng sau thì Đại sứ Bunker yêu cầu ông
Thiệu tiếp tay, đặc biệt với phe nhóm ông Kỳ vĩ họ nại
cớ sợ ông Thiệu trả thù, thực ra thì họ muốn được đền
bù bằng tiền bạc, chức vụ và các quyển 10 khác. Ông
Thiệu chỉ thị cho tôi mở các cuộc tiếp xúc. Bấy giơ, ợ
ông Thiệu không có tiền, ông có thể hỏi đại sứ Bunker
nhưng ông đã không làm điểu đó. Một nhân viên trong
văn phòng ông Thiệu đã phải cho mượn bằng cách đem
vàng của ông ta đi cầm. Ông này nguyên là quận trưởng
Gò Vấp dưới thời Đệ Nhất cộng Hòa, không hiểu sao
ông ta có lại vàng khối (lỉngot) và trong các chứng liệu
để lại của đại sứ Bunker, ông cho biết chưa bao giờ ông
Thiệu yêu cầu được giúp đỡ riêng tư ngoại trừ một lần
ông yêu cầu giúp Phó Tổng Thống Trần Văn Hương qua
Mỹ để trị liệu tại bệnh viện Walter Reed. Cũng trong
suốt thời gian tôi làm việc với ông Thiệu không hể có
vấn để thủ tiêu các đối lập chính trị.
Hỏi: Trong hồi ký của Tương Kỳ cho rằng ông Thiệu đã
ra lệnh thủ tiêu Phạm Ngọc Thảo. Ông có biết gì vể
chuyện này hay không? Ông có ý kiến gì về nhân vật
Phạm Ngọc Thảo?
Đáp: Cái chết của Phạm Ngọc Thảo xảy ra năm 1965
dưói thời ông Thiệu làm chủ tịch UBLĐQG và ông Kỳ
làm chủ tịch UBHPTƯ! Phạm Ngọc Thảo đã bị bán
trọng thương trước khỉ cảnh sát Biên Hòa giải giao cho
nha an ninh quân đội nhưng vết thương không nguy
hiểm đến tính mạng và đương sự đã chết tại nha an ninh
quân đội vào khuya hôm đó. Lúc bấy giờ Trung Tá
Nguyễn Ngọc Loan, cánh tay mặt của tương Kỳ làm
giám đốc nha an ninh quân đội. Theo luật sô 1/UBLĐQG
thì quyển hành của úy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được
chuyển sang cho UBHPTir, ông Kỳ là một thủ tương
toàn quyển và ông Thiệu chỉ giữ vai trò quốc trưởng có
tính cách tượng trưng. Giả sử có sự yêu cầu của tương
Thiệu như ông Kỳ nói thì trung tá Loan chỉ có thể thỉ
hành khi có sự đồng ý của ông Kỳ.
Năm 1969 khỉ hành pháp chuyển hồ sơ vụ dân biểu Trần
Ngọc Châu liên hệ cộng sản sang quốc hội để truất
quyển và truy tố, tôi có lấy hồ sơ Phạm Ngọc Thảo để
nghiên cứu vì cả hai có nhiều điểm tương đồng: thành
phần tiểu tư sản, con cái quan lại, địa chủ, gia nhập vệ
quốc đoàn lúc khởi đầu kháng chiến, trở về thành tỉnh
trưởng Kiến Hòa v.v... Hồ sơ Phạm Ngọc Thảo chỉ ghi
lại các hoạt động thời kháng Pháp trước hiệp định
Genève 1954 và không có kết luận. Tôi có hỏi ông Thiệu
thì ông nói: anh cũng biêt Kiên Hòa là hang Ổ cộng sản
có bao giờ yên đâu, thê mà dưới thòi hai đứa (Châu,
Thảo) làm tỉnh trưởng tình hình “ êm ru, bà rù “.Thử hỏi
bọn nó là thân thánh hay sao?
Năm 1995, nhà nước cộng sản truy tặng Phạm Ngọc
Thảo danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
với quân hàm đại tá, trong bản tuyên dương công trạng
ghi rõ một sô thành tích đặc biệt: thòi gian làm tỉnh
trưởng Kiên Hòa đã tạo điều kiện cho các lực lượng
chính trị, võ trang phát trỉên, tạo đà cho phong trào đồng
khởi dành thắng lợi to lớn; và sau 1/11/63 đã chủ động,
đề xướng, thúc đẩy nhiều cuộc đảo chính, tạo mâu
thuẫn, nghi kỵ, triệt hạ lẫn nhau trong nội bộ ngụy, làm
cho tổ chức của địch suy yêu, lực lượng địch bị tiêu
hao...
Hỏi: Có dư luận nói rằng Phạm Ngọc Thảo thực tâm vể
với quốc gia, đã có mặt lúc quân đội sáp tấn công dinh
Gia Long sáng ngày 2 Tháng Mười Một, 1963, với mục
đích cứu ông Diệm theo lệnh của tưóng Trần Thiện
Khiêm?
Đáp: Việc Phạm Ngọc Thảo có mặt lúc quân đội tấn
công dinh Gia Long sáng ngày 2 Tháng Mười Một, 1963,
với ý đồ cứu Tổng Thống Diệm đã được xác nhận sau
này bởi một sô sĩ quan chỉ huy tại chỗ lúc đó. Nhưng nói
là do yêu cầu của tướng Trần Thiện Khiêm thì hoàn toàn
không đúng vĩ ông Khiêm đã biết Tổng Thống Diệm và
ông CÔ Vấn Nhu không còn trong dinh. Hoặc giả ông
Khiêm cô tình “mập mờ đánh lận con đen” trong trường
họp đảo chánh không thành thì lại là chuyện khác.
Một tài liệu sau này của Võ Văn Kiệt nhấn mạnh vai trò
của Phạm Ngọc Thảo không phải là điệp viên mà là cán
bộ chính trị có nhiệm vụ chiến lược được Lê Duẩn gài
lại miền Nam -một trong các nhiệm vụ này là ngăn cản
quân đội Mỹ trực chiến, được xem là nhiệm vụ hàng
dầu. Theo tôi, Tổng Thống Diệm và ông cô vấn Nhu
rất rõ vai trò của Phạm Ngọc Thảo, đã che chở và nuôi
dưỡng đường dây này, vĩ để tránh cuộc chiến mở rộng
sẽ đến một lúc hai miền Nam Bắc cần phải nói chuyện
với nhau. Miền Bắc đã có kỉnh nghiệm vể cuộc chiến
Cao Ly 1950-53 rất sợ quân đội Trung cộng đổ bộ vào
Việt Nam nếu xảy ra việc quân đội Mỹ trực chiến. Đây
là một cơ hội bỏ lỡ mà lịch sử sau này cần làm sáng tỏ.
Riêng về tương quan giữa Phạm Ngọc Thảo và Trần
Thiện Khiêm là một tương quan chặt chẽ khỏi đầu từ
cuối 1947 lúc ông Khiêm vừa mãn khóa sĩ quan với cấp
bậc chuẩn úy vì bất mãn đã trốn theo Việt Minh, và
Phạm Ngọc Thảo bấy giờ là trưởng phòng mật vụ Nam
BỘ do Lê Duẩn bí thư xứ ủy bổ nhiệm. Mặc dầu có
khoảng cách về cấp bậc trong quân đội, nhưng ông
Khiêm luôn xem ông Thảo là một “đàn anh” về mọi
phương diện. Dưói thời ông Diệm, Phạm Ngọc Thảo
không bao giờ được nắm bỉnh quyển và bị giám sát chặt
chẽ. Sau ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, sở dĩ Phạm
Ngọc Thảo có thể điểu động các đơn vị quân đội làm
đảo chính là do ủy nhiệm của ông Khiêm và nhân danh
ông Khiêm.
Hỏi: Trong trường họp nào Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn
Trọng, các điệp viên của cộng sản đã trở thành cô vấn
và phụ tá của Tổng Thống Thiệu?
Đáp: Người đưa Huỳnh Văn Trọng vào phủ tổng thống
là ông Tổng Thư Ký Phủ Tổng Thống Nguyễn Văn
Hướng, còn gọi là Mười Hương hay Mười Lễ nguyên là
cán bộ cao cấp Đại Việt, xứ trưởng sứ bộ Nam Việt.
Trước đấy ông Hướng là thành phần trong bộ tham mưu
tranh cử năm 1967 của liên danh Nguyễn Văn Thiệu -
Trình Quốc Khánh, đã liên hệ với nhóm chính trị của linh
mục Hoàng Quỳnh qua Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ
là những đại diện. Khỉ ông Thiệu đác cử tổng thống đã
bổ nhiệm ông Hướng vào chức vụ tổng thư ký phủ tổng
thống. Huỳnh Văn Trọng là phụ tá của tổng thư ký phủ
tổng thống tức phụ tá của ông Hướng chứ không phải là
phụ tá của Tổng Thống Thiệu. Tổ chức phủ tổng thống
lúc bấy giờ có hai hệ thống phụ tá:
- Phụ tá của tổng thống có danh xung “Phụ tá đặc biệt
tổng thống VNCH“ làm việc trực tiếp với tổng thống.
- Phụ tá của tổng thư ký phủ tổng thống, có danh xung
là “Phụ tá đặc trách”, trực thuộc văn phòng tổng thư ký,
gồm các ông Huỳnh Văn Trọng, Uông Ngọc Thạch,
Nguyễn Cao Thăng và Dương Đức Thụy.
Ke từ nội các Trần Thiện Khiêm (1969) văn phòng tổng
thư ký phủ tổng thống bị giải tán, hệ thống phụ tá đặc
trách không còn nữa, các ông Nguyễn Cao Thăng, Dương
Đức Thụy được bổ nhiệm làm phụ tá đặc biệt tổng
thống VNCH.'
Vũ Ngọc Nhạ chưa bao giờ là cô vấn của Tổng Thống
Thiệu. Không có văn kiện nào bổ nhiệm đương sự và
trong tổ chức Phủ Tổng Thống lúc bấy giờ không có
chức vụ này.
Hỏi: Ông nhận định thế nào về tầm mức quan trọng của
cán bộ tình báo chiến lược cộng sản nằm vùng trong
hàng ngũ quốc gia trước 1975?
Đáp: Các cán bộ tình báo chiến lược dù chui sâu vào
chính quyển miền Nam cũng rất khó tìm hiểu các bí mật
quốc gia có tầm mức chiến lược vĩ đây là lãnh vực
chuyên độc của người lãnh đạo quốc gia mà sô giới
chức tiếp cận rất hạn chế. Dưói thời Tổng Thống Diệm
cũng như Tổng Thống Thiệu, ngay hội đồng tổng
trưởng là cơ quan cao nhất của chính phủ cũng rất ít khỉ
thảo luận các vấn để chính trị có tính cách chiến lược vĩ
đây là lãnh vực cấm kỵ, liên quan đến mặt trái của chính
sách Mỹ.
Phần lớn các cán bộ tình báo chiến lược của cộng sản
nằm vùng trong hàng ngũ quốc gia đểu là cộng sự viên
của các cơ quan tình báo ngoại quốc, như Huỳnh Văn
Trọng nguyên là nhân viên phòng nhì Pháp và sau nầy là
nhân viên tòa đại sứ Mỹ, Phạm Ngọc Thảo làm việc cho
cơ quan tình báo Anh và CIA Mỹ, Phạm Xuân An liên hệ
vơi CIA từ thời Lansdale v.v... qua các môi trường tình
báo ngoại quốc, họ khai thác được các tin tức có tầm
mức chiến lược. Cơ quan tình báo Mỹ biết họ là điệp
viên cộng sản nhưng đã cô tình sử dụng vì nhu cầu các
mục tiêu dài hạn. Sau 30 Tháng Tư năm 1975, những cán
bộ tình báo này đã được cộng sản thăng cấp, mang nhiều
huy chương, danh hiệu anh hùng... nhưng không bao giờ
còn được tin dùng nữa.
Hỏi: Trong cuộc bầu cử tổng thống 1971, khỉ áp dụng
điểu 10 khoản 7 hạn chế các liên danh tranh cử, ông có
tiên liệu sẽ xảy ra độc cử cùng những hậu quả chính trị
tai hại của nó hay không? Cụ thể là uy tín chính trị của
Tổng Thống Thiệu bị giảm sút trong quần chúng, sự bất
mãn của dân chúng Hoa Kỳ đẩy mạnh phong trào phản
chiến và Quốc HỘỈ Hoa Kỳ cát giảm viện trợ v.v...
Đáp: Đây là một trường họp bất khả kháng, không còn
một sự lựa chọn nào khác. Cuộc bầu cử Tổng Thống
1971 đã vượt ra khỏi khuôn khổ hiến pháp 1967, được
tô chức dưói áp lực hòa đàm Parỉs. Trong các cuộc mật
đàm trước đó cộng sản luôn đòi hỏi Mỹ phải loại trừ
ông Thiệu như một diều kiện tiên quyết và Dương Văn
Minh là một lá bài của Mỹ và cộng sản để thực hiện
giải pháp liên hiệp thay thế ông Thiệu. Đây không còn là
vấn để cá nhân giữa các ông Thiệu, Kỳ, Minh, với sự
nhập cuộc của ông Minh, chúng tôi bát buộc phải biến
cuộc bầu cử Tổng Thống 1971 thành một cuộc trưng
cầu dân ý giữa hai lập trường (giải pháp) chính trị đối
nghịch: một bên là ông Thiệu đại diện cho những người
quốc gia chống cộng và bên kia là ông Dương Văn Minh
đại diện cho những ngưòi chấp nhận liên hiệp với cộng
sản. Cần lưu ý là trong các cuộc bầu cử, quốc gia và
cộng sản ở trong tình trạng “trộn trấu“ tại những vùng
mất an ninh. Điểu 10 khoản 7 chỉ có mục tiêu ngăn chận
sự chia phiếu về phía những người quốc gia chống
cộng. Nêu ông Minh đác cử, Hiến pháp 1967 và chế độ
hiện hữu đương nhiên bị xóa bỏ và miền Nam được “tự
nguyện” trao cho cộng sản Bắc Việt qua giải pháp liên
hiệp.
Ông Thiệu không hể có chủ trương độc cử. Ông chủ
trương thực hiện một cuộc bầu cử công bằng và ngay
thẳng với sự nhập cuộc của ông Dương Văn Minh mà
sự tháng cử sẽ giúp ông có một tư thế mạnh tại hòa đàm
Parỉs cũng như trong vấn để lãnh đạo đất nước. Điểu
mà cả cộng sản và Mỹ đều không muốn và đó là nguyên
nhân chính yếu đã đưa đến tĩnh trạng độc cử.
Hỏi: Khỉ rơi vào tình trạng độc cử, phản ứng ông Thiệu
như thê nào?
Đáp: Sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện cuối
năm 1970 với sự nhập cuộc của khối Phật Giáo Ân
Quang (liên danh Hoa Sen), chúng tôi đã có đủ yếu tô
chính trị để xét định khuynh hương cử tri trong cuộc bầu
cử Tổng Thống dự liệu vào tháng 10/1971. Trung tâm
điện toán BỘ Tổng Tham Mưu đã được sử dụng để thực
hiện các công việc phân tích, cho thấy trong cuộc đối
đầu nầy, ông Minh sẽ chiếm từ 40 đến 45% tổng sô cử
tri đi bầu và ông Thiệu sẽ đác cử với tỷ lệ từ 55 đến
60%. Chúng tôi đã trình bày đầy đủ các yếu tô cùng giải
pháp điểu 10 khoản 7 và các hậu quả của việc áp dụng
để ông Thiệu quyết định; hai trường họp dự liệu sẽ xẩy
ra;
- Trường họp lý tưởng: cuộc tranh cử gồm liên danh ông
Thiệu và liên danh ông Minh;
- Trường họp tệ hại có khả năng xảy ra là ông Minh sẽ
rút lui để đưa đến độc cử, tạo khủng hoảng chính trị.
Ông Thiệu không có một sự lựa chọn nào khác. Ông
Thiệu nói với tôi: nếu không phải là một quân nhân và
không có tỉnh thần trách nhiệm của một quân nhân thì tôi
sẽ không ra tranh cử. Trong một phiên họp gồm một sô
phụ tá và có sự hiện diện của ông Khiêm với những khó
khăn đã được tiên liệu, ông Thiệu tuyên bô mà không
giải thích lý do: có thể tôi chỉ ra tranh cử nếu có sự yêu
cầu của quân đội. Bấy giờ là đầu Tháng Giêng năm
1971, kế hoạch tranh cử và điểu 10 khoản 7 hoàn toàn
được giữ mật nên mọi ngưòi hiện diện đều cho rằng
ông Thiệu tung “hỏa mù” vì họ đểu nghĩ cuộc bầu cử sẽ
diễn tiến như thường lệ có nghĩa là liên danh chính
quyển đương nhiên đác cử và vì họ nghĩ rằng Hoa Kỳ
không thể nào bỏ rơi Việt Nam. Tháng 4/1971 dự luật
bầu cử với điểu 10 khoản 7 được một sô dân biểu đứng
tên tác giả đệ nạp tại Quốc HỘỈ như một sáng kiến từ
phía lập pháp. Sau khỉ luật bầu cử được ban hành, vói
sự đồng ý của ông Thiệu tôi đã tiếp xúc vói một lãnh tụ
chính đảng có cơ sở quần chúng tại miền Trung đứng ra
lập “liên danh đệm” với mục đích: nếu ông Minh nhập
cuộc thì liên danh nầy sẽ rút lui, nếu ông Minh rút lui thì
liên danh nầy sẽ tranh cử với liên danh của ông Thiệu -
mục đích để tránh độc cử. Nhưng câu chuyện không
thành.
Khỉ các ông Minh và Kỳ đểu rút lui, ông Thiệu đã triệu
tập hội đồng tương lãnh để hỏi ý kiến, gồm tổng
trưởng quốc phòng, tổng tham mưu trưởng, tư lệnh quân
đoàn và tất cả đểu bày tỏ sự ủng hộ ngoại trừ Tương
Cao Văn Viên không cho ý kiến. Điểu nầy không có
nghĩa là Tương Viên chống lại vụ độc cử; ông là một
quân nhân có kỷ luật và lập trường của ông là quân đội
không làm chính trị.
Là một trong những nhân vật của cuộc đảo chánh ngày
1/ Tháng Mười Một năm 1963, ông Thiệu hiểu hơn aỉ
hết là người Mỹ có thể dùng vụ “độc cử” như một lý cớ
để bấm nút đảo chánh khi cần thiết và những tương
lãnh đã bày tỏ sự ủng hộ ông trong vụ này không hẳn là
những người trung thành với ông. Ông đã nhắn nhủ với
họ: “đảo chánh quân sự là chuyện dễ, chỉ cân một tiêu
đoàn đê đánh vào Dinh Độc Lập nhưng xương máu
chiên sĩ phải dành cho công cuộc chông cộng, bảo vệ
đât nước, có gì không bằng lòng thì vào đây nói chuyện
với tôi, tôi sẵn sàng từ chức. ” Một mặt ông Thiệu mở
rộng cánh cửa đảo chánh để những kẻ có âm mưu thấy
rằng họ sẽ đánh vào “khoảng trống” nhưng mặt khác
ông có hệ thống theo dõi và ngăn chận chặt chẽ.
Bị rơi vào tình trạng độc cử, một lần nữa Tổng Thống
Thiệu lại bị lệ thuộc vào sự ủng hộ của quân đội hay
đúng hơn là một sô tướng lãnh nám bỉnh quyển và lệ
thuộc vào Hoa Kỳ, như trước đây trong cuộc bầu cử năm
1967 trong việc sáp nhập hai liên danh Thiệu - Kỳ;
những trói buộc nầy đã kiểm chế và giói hạn khả năng
lãnh đạo của ông trong khi đất nước đòi hỏi những biện
pháp cách mạng và triệt để.
Riêng cá nhân tôi, sau cuộc bầu cử tổng thống 1971, đã
xỉn ông Thiệu cho từ chức để ông tiện việc sáp xếp
nhân sự cho giai đoạn mới, nhưng ông yêu cầu tôi ở lại
giúp ông, và cũng ngay hôm đó ông ủy nhiệm tôi thành
lập đảng Dân Chủ là đảng cầm quyển.
Hỏi: Xỉn ông cho biết lý do thực sự của việc thành lập
đảng Dân Chủ?
Đáp: Sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện cuối
1970 và việc kết họp 6 chính đảng hoàn toàn thất bại,
ông Thiệu quyết định thành lập đảng cầm quyển nhưng
chỉ sau cuộc bầu cử Tổng Thống 1971 mới chính thức
công khai và phát triển trong quần chúng. Đảng Dân chủ
không nhằm tranh ghế dân biểu, nghị sĩ hay tổng thống
mà để đối phó với việc giải kết của ngưòỉ Mỹ; có một
sô mục tiêu cụ thể nhung không công bố:
- Hữu hiệu hóa guồng máy chính quyển.
- Đoàn ngũ hóa nhân dân.
Vì áp lực của Mỹ, đảng Dân Chủ đã ngừng hoạt động
một thời gian ngắn sau Hiệp Định Parỉs 1973. Các mục
tiêu không đạt được.
Riêng quân ủy đảng Dân Chủ trong giai đoạn đầu có
mục tiêu giới hạn nhằm ngăn chận đảo chánh và phản
đảo chánh. Đe tránh trường họp “gậy ông đập lưng ông”
như đảng cần Lao, nguyên tắc ngăn cách đã được triệt
để áp dụng giữa cá nhân, đon vị; các tướng lãnh và một
sô gỉới chức đặc biệt được tuyên thệ riêng biệt từng
người với Tổng Thống Thiệu...
Hỏi: Sau khỉ Tối Cao Pháp Viện niêm yết lần thứ nhất
danh sách các liên danh tranh cử gồm Nguyễn Văn Thiệu
và Dương Văn Minh thì ông Minh đã tuyên bô rút lui vì
nhận thấy cuộc bầu cử thiếu công bằng, có dấu hiệu
gian lận và ông đã công bô một tài liệu của Phủ Tổng
Thống phân phối cho các tỉnh trưởng vể việc nầy như
một bằng cớ buộc ông phải rút lui. Ông nghĩ sao vể sự
kiện này?
Đáp: Sự thực không phải như vậy. Tài liệu ông Dương
Văn Minh để cập là một tài liệu mật của Văn Phòng
chúng tôi. Trong tài liệu giải mật sau nầy của đại sứ
Bunker cho biết tài liệu này đã được gởi vể BỘ Ngoại
Giao Mỹ để phân tích và phúc trình tòa bạch ốc với kết
luận: ”không có dấu hiệu nào cho thấy ông Thiệu đưa ra
những chỉ thị để gian lận.”
Thực sự ông Dương Văn Minh đã bị buộc phải rút lui
dưói áp lực bộ tham mưu của ông ta do các dân biểu,
nghị sĩ thân cộng chi phối. Những dân biểu, nghị sĩ này
sinh hoạt chặt chẽ với thành ủy cộng sản Sài Gòn và đã
nhận chỉ thị từ phái đoàn cộng sản tại Parỉs, như đã
được xác nhận sau này, theo đó cộng sản muốn ông
Minh hoặc thay Thiệu - Kỳ đứng đầu một chính phủ liên
hiệp (liên hiệp được hiểu với MTGPMN chứ không
phải với những người quốc gia chống cộng), hoặc đứng
đầu cái gọi là lực lượng thứ ba do cộng sản dàn dựng.
Ông Minh không có sự chọn lựa nào khác là phải rút lui,
nếu không thì các dân biểu, nghị sĩ An Quang và cộng
sản đã ký giấy gỉới thiệu cho ông ra ứng cử cùng các
lực lượng chính trị liên hệ sẽ rút lại sự ủng hộ. vể phía
người Mỹ cũng không muốn ông Minh sẽ làm bàn đạp
để ông Thiệu thắng cử vì như thế sẽ gây bế tác tại hòa
đàm Parỉs. Mười năm sau gặp lại ông Thiệu, nhác lại
chuyện cũ cùng những nhận định tình hình ngày đó, ông
tái xác nhận: “Như anh đã bỉêt trước đó bọn cộng sản
luôn luôn đặt vân đề với Mỹ ỉà phải thay tôi kê cả biện
pháp ám sát, SỞ dĩ Mỹ không làm điều đó vì họ đang cần
tôi đê có sự an toàn cho họ rút quân trong các năm 1969,
70, 71. Cuối 1971 và cũng là sát với nhu cầu bầu cử
tổng thông Mỹ 1972, họ muôn thay tôi bằng ông Minh
qua cuộc bầu cử tháng 10 vì nêu ông Minh thắng cử thì
ông ta sẽ yêu câu Mỹ châm dứt mọi sự can thiệp và như
thê Mỹ sẽ bỏ rơi miền Nam một cách suông sẻ và chính
đáng mà không sợ bị lên án phản bội. ”
Như một quan sát viên ngoại quốc nhận định, bản chất
ông Dương Văn Minh là một ngưòi không quyết đoán
ngoại trừ một lần duy nhất là việc giết hai ông Diệm,
Nhu; quyết định tàn bạo nầy đã đẩy ông vào thế cô lập
đối với những người quốc gia chống cộng. Ông Thiệu
đã có thời gian làm tham mưu trưởng BỘ Tư Lệnh Hành
Quân dưói quyển ông Minh, nhác lại thời gian này ông
nói chưa bao giờ ông có một ngưòi chỉ huy tệ hại như
vậy: lười biếng, nhác nhón trong suy nghĩ và hoàn toàn
không khả năng. Ông Ngô Đình Nhu nhận xét về ông
Minh: “Có xác của một con voi và bộ óc của con ruồi”.
Không biết có phải vì lý do nầy mà ông Nhu đã bị cận
vệ của ông Minh là đại úy Nhung bán nhiều phát đạn và
đâm hon chục nhát dao găm. Tựu trung ông ta chỉ là con
rối của Mỹ và cộng sản.
Hỏi: Lãnh tụ chánh đảng miền Trung mà ông để cập
trong việc thiết lập “liên danh đệm” trong cuộc bầu cử
Tổng Thống 1971 có phải là ông Hà Thúc Ký thuộc Đại
Viẹt Cách Mạng?
Đáp: Đúng. Tôi đã nói chuyện trực tiếp với ông ta. Tôi
đã đưa ra các điểu kiện vể phía chúng tôi sẽ thực hiện:
về hồ sơ tranh cử, chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ 100
chữ ký nghị viên và đóng tiền ký quỹ theo luật định; sau
cuộc bầu cử, Đại Việt Cách Mạng sẽ tham dự chính phủ
trung ương; sẽ tham dự chính quyển địa phương tại các
nơi có cơ sở đảng; và chúng tôi sẽ giúp phát triển đảng
trên toàn quốc v.v...
Hỏi: Trong vấn để thiết lập “liên danh đệm” tại sao ông
Thiệu không chọn ông Nguyễn Ngọc Huy vẫn được dư
luận ngày đó xem là đối lập “cuội”?
Đáp: Lúc bấy giờ ông Thiệu đã có quyết định lập đảng
cầm quyển nhưng còn giữ kín và qua vấn để thiết lập
“liên danh đệm” chúng tôi muốn gấp rút tiến đến chế độ
lưỡng đảng. Ông Thiệu không tin tưởng vào lập trường
chống cộng của những người lãnh đạo Tân Đại Việt. Cụ
thể liên danh ứng cử Tổng Thống Trương Đình Dzu -
Trần Văn Chiêu năm 1967 thật sự là liên danh của đảng
Tân Đại Việt được thành lập do “gợi ý” của người Mỹ
để trắc nghiệm vể một giải pháp chính trị, với dấu hiệu
Bổ câu tráng, danh hiệu Hòa Bình, chủ trương thừa
nhận MTGPMN, tiến đến chính phủ liên hiệp... Trương
Đình Dzu là một phần tử hoạt động tích cực cho Việt
Minh thời gian chống Pháp trước 1955 và Trần Văn
Chiêu là một cán bộ cao cấp của Tân Đại Việt đồng thời
là một điệp viên của cộng sản trước 1975, liên danh đã
về nhĩ trong cuộc tranh cử với sự yểm trợ của Mỹ qua
cán bộ chiến dịch phượng hoàng và của cộng sản tại
những vùng mất an ninh. Các cuộc chính biến gây tình
trạng hỗn loạn từ ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963
đến 1965 đểu do các sĩ quan Tân Đại Việt chủ xương,
họ nôn nóng cưóp chính quyển bằng mọi giá nhưng là
những chuyên viên hái trái cây khi còn xanh. Lúc tôi phụ
trách quân ủy đảng Dân Chủ, ông Thiệu nói với tôi: bọn
sĩ quan Tân Đại Việt có nhiều “thằng” xứng đáng lên
tướng. Nhưng những người được xem là xứng đáng đã
không được lên tướng. Một trong những người nầy là
DHN thủ khoa khóa 5 Đà Lạt là khóa mà ông Thiệu làm
huấn luyện viên và đã cho rất nhiều sĩ quan của khóa
này lên tướng - một lý do thầm kín là sự hiện diện của
đương sự trong đoàn thiết vận xa đón Tổng Thống Diệm
và ông Nhu tại nhà thờ Cha Tam sáng ngày 2 Tháng
Mười Một năm 1963 đã được tướng Dương Văn Minh
ủy thác cùng đại úy Nguyễn Văn Nhung thỉ hành sứ
mạng thanh toán hai ông Diệm, Nhu.
Đảng Tân Đại Việt là đảng được ông Thiệu cung cấp
phương tiện tiền bạc rất nhiều vói hơn 15% đô, tỉnh, thị
trưởng toàn quốc trong đó có đô trưởng Sài Gòn . Ông
Thiệu nói với tôi: “Anh để thằng Nh. ở đó (đô trưởng
Saigon) để nó nuôi bọn Tân Đại Việt không thì mình
cũng phải nuôi.” Nhưng ông Thiệu không bao giờ để họ
chỉ huy các đơn vị quân đội hoặc giữ các trọng trách tại
trung ương.
Chính sách chia để trị của người Pháp đã để lại những
ảnh hưởng sâu đậm trong sinh hoạt chính trị miền Nam
thời hậu thuộc địa và cộng sản đã rất thâm độc khỉ thành
lập MTGPMN làm bình phong cho cuộc xâm lăng của
chúng.
Bằng sự liên kết với cụ Hương và thỏa hiệp với lực
lượng Tân Đại Việt, ông Thiệu đã hóa giải thế đứng của
tô chức liên trường và phong trào quốc gia cấp tiến.
Nguồn: nvbonphuong. THANKS - DV 2017
No comments:
Post a Comment