Thởi Luận. - Ngày 6 tháng 11, 2023
ông Nguyễn Văn Ngân, cựu Phụ tá đặc
biệt về chính trị Tổng thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu đã từ trần đột ngột
ngày 1 tháng 11, 2023 do bệnh tim tại
bệnh viện Lakewood, Nam California,
hưởng thọ 88 tuổi.
Sự nghiệp của ông thời Đệ Nhị
Cộng Hòa là phụ tá Tổng thống đặc trách
các cơ quan dân cử như Thượng Hạ Viện,
Tối Cao Pháp Viện và Giám sát viện.
Công việc hầu hết diễn ra trong hậu
trường nhưng rất quan trọng và được
Tổng thống Thiệu trọng nể. Nhiều sự
kiện thời đệ nhị Cộng hòa nếu ông không
nói ra thì mai sau có thể sẽ không ai biết
hoặc biết lõm bõm nếu không nói là có
thể sai lầm.
Thế nhưng xuất thân của ông ra sao,
ít người biết vì ông chỉ mang cấp Đại úy
khi từ trường Quân Cảnh được chọn về
làm chuyên viên của Ủy ban Lãnh đạo
quốc gia. Lại có tin đổn ông là “cộng sản
nằm vùng” tại Dinh Độc lập như Huỳnh
Văn Trọng.
Thực sự thì ông đã sống tại Liên
Khu IV trong thời kháng chiến chống
Pháp 1945-1955 (gồm các tỉnh Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và phân khu
Bình Trị Thiên). Ông gia nhập bộ đội
Việt Minh từ lúc còn rất trẻ, cùng đơn vị
và một khóa sĩ quan Quân Chính với nhà
văn Phùng Quán (Nhân Văn Giai phẩm),
trong các năm 1949, 50, 51.
Nhưng năm 1952 Ông bị cộng sản
cầm tù cùng một số trí thức Liên Khu IV
dưới tội danh “gián điệp Pháp”. Đây là
thời kỳ đảng Lao Động đã ra công khai
và đang chuẩn bị công cuộc cải cách
ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức sẽ được
phát động cuối năm 1953. Ông được
phóng thích do Hiệp định Genève cuối
tháng 10, 1954.
Tại Mỹ, trước khi nghỉ làm việc vì
tuổi đã cao, hai ông bà mở tiệm dry clean
ở thành phố Norwark. Ông bà chia phiên
trông tiệm nên chỉ có một người vừa làm
chủ vừa làm thợ. Mỗi lần tôi đến thăm
ông, khi bước vô cửa tiệm thì có tiếng
chuông báo ông biết để ông từ phía sau
tiệm bước ra gặp bạn hữu hoặc tiếp thân
chủ, đa số là phụ nữ mang tới giao cho
ông những túi đựng quần áo dơ. Khi đó
ông phải soát xét tình trạng từng món đồ
hầu kịp thời báo cho khách biết để tránh
sự than phiền, khiếu nại hay bắt đền khi
họ tới lấy đồ đã giặt xong. Tôi đã đứng
xem ông Ngân làm công việc này và ngạc
nhiên tự hỏi ông học nghề này từ bao giờ
và sao ông không đeo khẩu trang, đeo
găng tay khi tiếp xúc với những áo quần
của khách mang tới giặt vốn đã nhét vô
bao nhiều ngày nên đã bốc mùi khiến tôi
chỉ đúng xa và xem thôi mà đã muốn
nhăn mặt. .
Nhìn cung cách ông làm việc cần cù
như một người tỵ nạn bình thường, mấy
ai biết con người đó đã một thời tạo ra
những ông to bà lớn biểu tượng cho sân
khấu chính trường của Miền Nam Việt
Nam.
Gặp ông nhiều năm nay, tôi cũng
ngạc nhiên là dù cho thời gian lặng lẽ trôi
qua nhưng sức khỏe của ông vẫn phong
độ, cử chỉ nhanh nhẹn hơn hẳn những
người thuộc lớp tuổi của ông. Theo bà
Ngân thì mới đây, ông đã một mình sơn
lại cả trong và ngoài căn nhà ông bà và 4
người con trưởng thành đang ở.
Ngày 2 tháng 11, 2023 khi được tin
ông mất, chúng tôi lên thăm thì bà Ngân
vừa nhạt nhòa nước mắt vừa nói về ông
với vẻ ngạc nhiên tại sao ông lại ra đi quá
đột ngột chỉ sau một đêm vô bệnh viện
như thế. Bà cũng nói hàng ngày ông tập
thể dục rất đều đặn như bơi lội tại hồ bơi
của khu chung cư và đi bộ. Bà đưa chúng
tôi ra vườn sau, chỉ cho xem kia là cây
hồng mềm mà ông vửa leo lên cưa cụt
những cành cào sau khi đã hái hàng trăm
trái, đây là ông trồng cây ăn trái, nhiều
nhất là cây măng cầu. Bà chỉ một cây
măng cầu mà ông vửa mới trồng được vài
hôm và tính hôm nay mới bón phân vào
gốc.
Chúng tôi không cầm được nước
mắt khi bà vừa khóc vừa nói : “Mấy hôm
trước ông nói vời tôi, sinh nhật này, anh
sẽ đưa em ra tiệm ăn. Thế mà đến sinh
nhật tôi, ngày 1 tháng 11 thì ông đã bỏ tôi
mà đi rồi”.
Những khi nói chuyện với ông, tôi
không khỏi kinh ngạc vì ông có một trí
nhớ phải nói là phi thường… Cho nên
những năm gần đây, mỗi năm tôi đều xin
ông một cuộc phỏng vấn hoặc ông viết
cho tờ Giai Phẩm Xuân Thời Luận ít
chuyện về những năm tháng cũ mà ông là
một kho sử liệu tiềm ẩn vô giá.
Dưới đây là những đoạn tóm lược
từ nhiều bài viết về hồi ức chặng đời
trước khi bước vô Dinh Độc lập của ông
đã đăng trên Thời Luận:
Tôi sinh trưởng ở thành phố Vinh
và lớn lên ở đây. Lúc ở tiểu học, tôi học ở
trường Cao xuân Dục và chị tôi học ở
trường Nguyễn trường Tộ; hết bậc tiểu
học, chúng tôi vào quốc học Vinh ( bấy
giờ gọi là trường Nguyễn công Trứ).
Trường quốc học Vinh thành lập
năm 1920, sau quốc học Huế (Khải Định)
24 năm. Học sinh khóa đầu tiên có một
số nhân vật như Đặng thái Mai, Tôn
quang Phiệt, Phạm Thiều. . ., tiếp theo là
Nguyễn Xiển, Hoàng xuân Hãn, Hoàng
xuân Mãn, Hoàng xuân Nhị. . ., các lớp
sau nữa có Nguyễn quang Trình, Phạm
biểu Tâm, Hoàng đình Cầu, Đặng văn
Sung, TuBi, TuRơ. . . TuBi là bạn học
cùng đại tướng Cao Văn Viên lúc ở
Collège de Pavie – Vientiane và sau nầy
là lảnh tụ Mèo trong cuộc chiến chống
Pathet Lào và Cộng sản Việt Nam. Có
thể nói trường quốc học Vinh là cái nôi
của đảng Tân Việt (1925), tiền thân của
Đông Dương Cộng sản đảng (1930). Trần
Phú, Hà huy Tập là những Tổng bí thư
đầu tiên của Đông dương cộng sản đảng,
nguyên là các sáng lập viên của đảng Tân
Việt và là giáo viên trường tiểu học Pháp
Việt Cao xuân Dục.
Năm 1945, 1946 tôi vừa vào Quốc
học Vinh, chịu ảnh hưởng của những
người thân trong gia đình, của Khởi
Nghĩa Yên Báy, của Tự Lực Văn Đoàn
nên rất phục các lãnh tụ như Nguyễn
tường Tam, Vũ hồng Khanh, Nguyễn hải
Thần… và thấy hình ảnh họ rất oai hùng:
Nguyễn tường Tam đi họp chính phủ
trong bộ đồ kaki thẳng nếp, tay dài, mang
ghệt, để râu mũi bắt chước lãnh tụ Quốc
xã Hitler (mặc dầu Hitler đã tự sát, phát
xít Đức tan tành), cụ Nguyễn hải Thần
mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn bệ vệ trong xe
du lịch bóng loáng riễu phố Hà Nội
(trong khi dân chúng còn xấc bấc xang
bang vì nạn đói Ất Dậu), có cận vệ cầm
tiểu liên hai bên vè xe và cả trên mui xe
cũng có cận vệ nằm mọp ôm trung liên,
và Cáo Hồ khéo léo đóng kịch trong bộ
đồ kaki cụt cũ kỹ, nửa thầy nửa thợ với
đôi dép cao su lẹp xẹp, biểu tượng của
lớp người cùng khổ bị áp bức – nhưng
chính phủ liên hiệp chỉ tồn tại được vài
tháng.
Khi quân Tưởng rút lui khỏi miền
Bắc, các lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách
chạy theo thoát thân, thành phần còn lại
bị Việt Minh tận diệt hoặc chạy vào vùng
Pháp kiểm soát - đảng phái quốc gia tan
vỡ. Họ chỉ là những người vang bóng
một thời, những năm lưu lạc sang Trung
Hoa đã bị bật rễ khỏi quần chúng, chạy
theo các thế lực ngoại bang suy tàn và
phản động, hoàn toàn bị động và tụt hậu
trước các biến chuyển của thời cuộc.
Năm 1949, chưa đủ 15 tuổi và
đang học năm thứ 4 trung học, tôi tình
nguyện vào bộ đội, được tuyển lựa vào
một đơn vị đặc biệt qua một kỳ sát hạch
văn hoá cho toàn liên khu. Tôi biết việc
tôi vào bộ đội là điều cha tôi không bằng
lòng, lẽ giản dị là cha tôi không muốn tôi
chết cho một chế độ đã làm ông bại sản
và suýt vong mạng nên tôi đã nộp đơn dự
tuyển mà không cho cha tôi biết.
Tôi nghĩ không thể vì một trường
hợp riêng rẽ của cá nhân để trốn trách
nhiệm đối với tổ quốc, ngoài ra còn một
lý do phụ thúc đẩy tôi vào bộ đội là tôi
muốn xóa bỏ cái lý lịch con cái “Việt
gian phản động”, điều này không bao giờ
tôi nói ra để cha tôi phải đau lòng mặc
dầu ông hiểu tôi không bao giờ có ý
tưởng qui trách.
Tôi báo tin cho cha tôi khi nhận
được giấy báo trúng tuyển và lệnh trình
diện; trước sự việc đã rồi, cha tôi hoàn
toàn câm lặng.
Năm 1949, 50 tôi đi bộ đội đóng tại
Thanh Hóa. Cầu Bố bấy giờ là một thị
trấn sầm uất, sinh hoạt về đêm gọi là chợ
Cầu Bố, bán đủ các loại hàng ngoại từ
vùng tề đem vào: xe đạp Sterling, đồng
hồ Wyler, Printania, bút máy Parker,
Wearever, thuốc lá Cotab, Phillip Morris,
thuốc tây, bơ, sữa, hộp quẹt máy, đá lửa,
v..v.; cũng là nơi trà trộn đủ hạng người:
dân ăn chơi, đĩ điếm, buôn lậu, gián điệp,
công an, ...và công an được xem là “vua
Cầu Bố” muốn gì được nấy.
Trong thời kháng chiến chống Pháp,
thuốc phiện là nguồn kinh tài của Việt
Minh đưa vào vùng tề. Người cộng sản
đã từng nói: người Mỹ có bom nguyên tử
thì chúng tôi có thuốc phiện.
Đây là quân trường do tướng
Nguyễn Sơn thành lập, trực thuộc Bộ Tư
lệnh Liên Khu 4 và là quân trường duy
nhất trong quân đội bấy giờ nhằm đào tạo
dài hạn một lớp cán bộ đa năng, đa hiệu
trong đó yếu tố văn hoá được đặc biệt
chú trọng, các học viên tốt nghiệp phải
hoàn tất Tú tài 2 chương trình Hoàng
xuân Hãn là một trình độ khá cao đối với
xã hội bấy giờ.
Trong huấn thị ngày khai giảng 6
tháng 1, 1948 tướng Nguyễn Sơn nhấn
mạnh : “Việc dào tạo, rèn luyện đội ngũ
này thành công, sẽ cung cấp bổ sung
hàng loạt cán bộ nòng cốt tương lai cho
quân đội và cho các cơ quan Đảng và
Nhà nước sau này”. Đích thân ông tuyển
chọn cán bộ giảng huấn, hội họp cán bộ
cho huấn thị về tư tưởng chỉ đạo, phương
pháp giáo dục, huấn luyện và chính ông
trực tiếp giám sát.
Chính thời gian trong đơn vị này và
dưới sự lãnh đạo của tướng Nguyễn Sơn,
tôi đã được rèn luyện trở nên một người
lính có đủ tự tin và can đảm để sống một
cách trung thực và thẳng thắn, nguyên
nhân của “tư tưởng xét lại” đã đưa đến
quyết định xuất ngũ của tôi sau này. Một
bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời
của tôi.
Quyết định xuất ngũ của tôi đã làm
đồng đội ngạc nhiên vì tôi là sĩ quan trẻ
tuổi nhất trong đơn vị, luôn luôn giữ kỷ
luật và gương mẫu, được xem có nhiều
triển vọng. Tôi phải thuyết phục họ là tôi
muốn trở về đời sống dân sự để chuẩn bị
vào trường Y Khoa ở Việt Bắc rất cần
cho nhu cầu kháng chiến mà số người đủ
điều kiện không nhiều. Đây cũng là ý
nghĩ thực của tôi bấy giờ, muốn hay
không, tôi không thể phản bội kháng
chiến và những bạn bè đồng ngũ, không
phục vụ được ở chiến trường thì phục vụ
trong lãnh vực chuyên môn.
Ngày giải ngũ trở về đời sống dân
sự, tình cờ tôi thấy trong chồng thơ cũ
của cha tôi một bức thư của người bạn
cũ, người cán bộ phụ trách văn hóa vụ
trong đơn vị của tôi trước đây, gởi cho
cha tôi báo tin tôi đã chuyển qua trường
sĩ quan Quân chính. Bây giờ tôi mới hiểu
bao lâu nay cha tôi vẫn âm thầm sống
trong lo âu về ngày tôi sẽ đi trận và lý do
thực của việc cha tôi đích thân đưa chân
tôi trên cả trăm cây số đường bộ đến đơn
vị trình diện nhiều năm trước đây chỉ với
mục đích gởi gắm tôi cho người bạn cũ,
nhờ vào ảnh hưởng với tướng Nguyễn
Sơn hầu ngăn chặn việc tôi ra đơn vị
chiến đấu.
Ông là một nhà văn nên trong thơ
viết rất khéo, chỉ người trong cuộc mới
có thể hiểu, ông đã bầy tỏ sự bất lực của
mình đồng thời an ủi cha tôi một cách
chua chát : “… tôi không ngờ cháu N. có
số làm quan võ”. Việc chuyển qua trường
sĩ quan quân chính là do tôi tự nguyện vì
tôi nghĩ bổn phận của người lính là phải
ra trận. Tất cả thế hệ chúng tôi ngày đó là
như vậy – “chiến trường đi chẳng tiếc đời
xanh!” (Q.D.)
Người bạn của cha tôi là người của
chế độ cũ, được tướng Nguyễn Sơn che
chở. Ông kèm Pháp văn cho tướng
Nguyễn Sơn và trở thành người bạn
thân. Ngày còn ở đơn vị, cuối tuần sinh
họat tự do, tôi thường ghé thăm ông và
nhiều lần gặp tướng Nguyễn Sơn từ Khu
Bộ về, có cả Đinh văn Vinh là một cán
bộ văn hoá của đơn vị. Bộ ba nói chuyện
với nhau thâu đêm, trong đó chỉ có tướng
Nguyễn Sơn là cộng sản (Đinh văn Vinh
về sau là đảng viên cộng sản). Tôi thường
ở lại nghe họ trao đổi tư tưởng với nhau
về các đề tài khác nhau và xem đó là
những cơ hội học tập.
Bấy giờ chúng tôi đã có một số kiến
thức căn bản về khoa học chính trị, xã hội
nhờ đội ngũ giáo sư có trình độ cao và
thiện chí, chương trình triết của năm thứ
ba tú tài được khởi dạy từ năm thứ nhất
cùng triết học duy vật biện chứng, duy
vật sử quan.
Tôi không trả lời cha tôi về việc
cha tôi muốn cưới vợ cho tôi. Vài ngày
sau tôi nói với cha tôi là tôi sẽ đi Hà nội
để ghi danh vào đại học và để cha tôi
được yên tâm vì tình trạng tài chánh của
cha tôi đã kiệt quệ, tôi nói thêm là tôi sẽ
kiếm việc làm để có phương tiện đi học.
Cha tôi hòan tòan không bầy tỏ ý kiến,
mặc nhiên để tôi quyết định.
Đầu năm 1952, tôi từ chiến khu
Thừa Thiên xâm nhập vào thành phố Huế
dưới sự chiếm đóng của Pháp và chính
quyền quốc gia.
Tối hôm trước ngày ra đi, cha tôi
cho tôi một lượng vàng làm hành trang,
lượng vàng mẹ tôi đã để lại cho cha tôi
ngày mẹ tôi giã biệt cùng bầy con vào
vùng bị chiếm với sự ủy thác thay cha tôi
nuôi các con khôn lớn và thành đạt. Như
vậy có nghĩa là cha tôi đã thấy rõ ý đồ
thực sự của tôi nên đã vét hết tài sản còn
lại của ông đưa tôi phòng khi hữu sự phải
xử dụng và gián tiếp khuyến cáo tôi phải
cẩn trọng.
Năm 1952, cha tôi đã chứng kiến
cảnh công an bao vây, chĩa súng vào tôi,
đọc lệnh bắt giữ của Phó Giám đốc Công
an Liên khu 4, còng tay và dẫn đi. Hôm
ấy trên đường bị dẫn giải, tôi đau lòng
nghĩ đến nỗi đau của cha tôi phải chứng
kiến cảnh tượng trên nhiều hơn là nghĩ
đến thân phận của tôi lúc bấy giờ.
Năm 1952 tôi bị Công An Liên
Khu 4 bắt giữ dưới tội danh “gián điệp
Pháp”. Bấy giờ tôi là bộ đội giải ngũ và
đang sửa soạn vào trường y khoa ở Việt
Bắc. Trước đó một tuần lễ Công An đã
bắt giữ ông H.T.C., hiệu trưởng trường
cấp 3 duy nhất của Liên Khu 4 (trường
trung học Khải Định di tản ) là người đã
du học Pháp và Anh, có bằng Cử Nhân
văn chương, và một số giáo sư khác dưới
tội danh “nằm trong tổ chức dinh tê của
gián điệp Pháp”. Tất cả được công an dàn
dựng, xếp chung vào một nội vụ để
chứng minh phong trào dinh tê do Pháp
chủ động: xúi dục, tổ chức, hổ trợ và như
vậy có nghĩa là các phần tử dinh tê hay
toan tính dinh tê đều được Pháp móc nối
- đều là thành phần Việt gian, phản động.
Vụ bắt bớ này có tính cách khủng
bố nhằm chặn đứng phong trào dinh tê
của giới trí thức bỏ kháng chiến về thành
(vùng Pháp chiếm đóng) đang lan rộng
với cường độ gia tăng sau khi đảng cộng
sản ra công khai đầu 1951 dưới tên đảng
Lao Động Việt Nam. Phong trào dinh tê
chính do cộng sản mở cửa trước đó như
quả bóng chính trị cần được xì hơi và nay
đã đến lúc cần được đóng lại như một
trong các biện pháp chấn chỉnh, xiết chặt
nội bộ chuẩn bị cho công cuộc phát động
quần chúng thực hiện cải cách ruộng và
chỉnh đốn tổ chức vào cuối 1953. Họ cần
những con vật tế thần.
Người ký lệnh bắt giữ tôi là Trần
Việt Châu, Trưởng ty Công an Thừa
Thiên kiêm Phó Giám đốc Công an Liên
khu 4 gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và
Thừa Thiên, tên thật là Trần Văn Cháu,
đảng viên cộng sản, nguyên thư ký lục lộ
Huế trước năm 1945; là người đã tổ chức
các vụ ám sát Phó Thủ Hiến Hà Văn Lan
(cha của Đại Sứ Hà Vĩnh Phương thời đệ
I Cộng Hòa và chú ruột của Đại Tá Hà
Văn Lâu phân khu trưởng Bình Trị Thiên
thời kháng chiến chống Pháp), bác sĩ Bữu
Hiệp xứ ủy Đại Việt Trung Phần, nguyên
ủy viên Hội Đồng chấp chánh lâm thời
của Pháp; và là người đã ra lệnh xử tử
bạn học cùng trường Providence là Ngô
Hân, đảng viên Việt Nam Quốc Dân
Đảng, giáo sư trường trung học Khải
Định Huế.
Nguyên nhân dẫn đến cái chết của
giáo sư Ngô Hân sau này được đề cập
trong hồi ức của Tôn Nữ Ngọc Toản, học
sinh kháng chiến (Việt Minh) ở trường
Khải Định bấy giờ:
“...chúng tôi cũng không quên
những người làm nghề “trồng người”
nhưng lại bán học sinh cho giặc. Chúng
tôi còn nhớ đầu đề bài văn đệ nhất
chuyên khoa (năm thứ nhất bậc tú tài
chương trình Hoàng Xuân Hãn) của thầy
H. (Ngô Hân): “Sĩ khí của thanh niên
trong thời đại ngày nay”. Tuy nguyên tắc
hoạt động nội thành là phải “dấu mình”
nhưng vì thiếu kinh nghiệm và còn non
nớt nên nhiều bạn đã nổi máu anh hùng
cá nhân, hiếu thắng, để lộ mình qua giấy
trắng mực đen. Kết quả, một số bạn đã bị
phòng nhì (Pháp) và an ninh mời vào
khám. Trần Hậu bị địch thủ tiêu, Long bị
tra tấn đến chết đi sống lại, tôi (Ngọc
Toản) bị bắt ra tù bị trục xuất khỏi
Huế...”
Tôi ở tù về nhà được mươi hôm thì
cha tôi ngỏ ý cưới vợ cho tôi. Điều này
tôi chưa bao giờ nghĩ đến nên đã làm tôi
hết sức ngạc nhiên vì mặc dầu đã hai
mươi tuổi nhưng tôi chưa tự kiếm được
một đồng bạc, thời gian đi lính và ở tù thì
được nhà nước nuôi và gia đình trợ cấp,
nghề nghiệp chưa có, học hành dang dở,
hơn nữa chính cha tôi đã nuôi dạy chúng
tôi từ nhỏ là phải tự lập thân trước, nay
thân chưa lập mà cha tôi lại muốn tôi lấy
vợ.
Khi chúng tôi vừa lớn để có chút
hiểu biết, cha tôi đã nói rất rõ và lặp lại
nhiều lần là cha mẹ tôi không để lại tiền
bạc cho con cái mà chỉ giúp cho con cái
xây dựng một vốn trí thức ra đời không ai
có thể cướp đoạt được. Vốn trí thức ấy sẽ
giúp chúng tôi biết xử thế, giữ được nhân
phẩm, tự đứng vững trên chân mình
trong mọi tình huống xã hội. Cha mẹ tôi
không hề khuyên con cái làm giàu, làm
quan, không đề cập đến vấn đề nghề
nghiệp, vấn đề lập gia đình mặc nhiên
xem đó là những vấn đề do chúng tôi tự
quyết định sau khi đã có một căn bản
hiểu biết.
Cha tôi đã cụ thể hoá cái vốn trí
thức cho con cái, không phân biệt trai
hay gái, là phải tốt nghiệp đại học, đây là
một tiêu chuẩn khá cao dưới thời Pháp
thuộc mà hoàn cảnh và phương tiện
không dễ dàng để thực hiên với một bầy
con năm đứa. Gần như có một sự phân
công trong thực tế: cha mẹ tôi chỉ là
những người công chức bậc trung nên đã
phải cố gắng tận lực trong một số công
cuộc kinh doanh để có thể dành tiền, còn
chúng tôi có nhiệm vụ phải cố gắng học
tập để hoàn tất mục tiêu ấn định.
Trái với điều cha tôi nghĩ, tôi đã
không có một cuộc sống bình yên, phẳng
lặng mặc dầu tôi mong được làm một
người dân bình thường, được đối xử công
bằng và suốt đời cúi đầu nhìn xuống
những kẻ bất hạnh để tự an ủi; nhưng
“cây muốn lặng mà gió không ngừng”,
thấy việc phải làm thì làm, không hề tính
tóan hơn thiệt cho bản thân nên đã lãnh
nhiều hệ lụy. Đến nỗi nhiều khi tôi thắc
mắc tự hỏi tại sao qua nhiều biến cố tôi
vẫn còn có thể sống sót và cuộc sống là
một ân sủng hay chỉ là sự trừng phạt của
Thượng đế đối với con người? – Tôi vẫn
là đứa con không thay đổi ngày xưa của
cha tôi, dù thóat ly gia đình rất sớm và
vắng cha tôi, tôi vẫn luôn luôn ghi nhớ
những lời dạy bảo của ông: sống không
gian dối, không tơ hào của ai một đồng
xu nhỏ, lúc làm lính thì làm hết bổn phận
của người lính, lúc chỉ huy thì làm hết
nhiệm vụ của người chỉ huy, trong mọi
hòan cảnh cố gắng làm người lưong
thiện. Ngày còn nhỏ trong gia đình tôi ý
thức được con cái chỉ có quyền nhận
những gì cha mẹ cho, không có quyền
được đòi hỏi. Nhưng tôi không phải là
lọai người bất cứ ai cho gì cũng nhận,
cho gì cũng ăn, đưa gì cũng mặc! Điều đó
chỉ xẩy ra với cha mẹ tôi mà thôi.
Cuối tháng 11/1954, Hà nội vừa
được Việt Minh tiếp thu từ tay người
Pháp ngày 9 tháng 10 vừa rồi nhưng Hải
Phòng có thời hạn 300 ngày kể từ ngày
ngưng bắn để tập kết vào Nam. Tôi đã
không nói với cha tôi về ý định thực sự
của tôi vì điều đó chỉ làm cha tôi lo và có
thể gây nguy hiểm cho cha tôi. Tại địa
điểm học tập vào lúc nửa đêm trước ngày
phóng thích, cảnh vệ áp giải tôi đến một
ngôi nhà tranh biệt lập cuối xóm, khi đẩy
liếp vào tôi thấy một người đàn ông đã
lớn tuổi ngồi một mình sau cái bàn với
ngon đèn dầu, ông cho lệnh người cảnh
vệ đi ra ngoài và ra dấu cho tôi ngồi
xuống chiếc ghế độc nhất trước mặt.
Ông tự xưng tên họ, chức vụ và hỏi
tôi muốn chọn lựa hoặc trao trả vào miền
Nam hoăc ở lại miền Bắc theo quy ước
Genève 1954. Tôi trả lời tôi không làm
gián điệp cho Pháp nên không xin trao
trả.
Ông nói là đã đọc kỹ hồ sơ của tôi
và là lý do ông đến đây gặp tôi, ông hỏi
về dự tính tương lai của tôi, sẵn sàng giúp
đỡ nếu tôi cần và tôi có thể gặp ông bất
cứ lúc nào. Ông là một giới chức của
ngành an ninh. Khi được phóng thích về
nơi cha tôi cư trú, tôi vẫn còn phải chịu
sự quản chế của địa phương. Chính ông
là người đã chỉ thị cho Ty Công an Nghệ
An cấp thông hành cho tôi đi Hà Nội.
Cuối năm 1954, tôi ở tù về
“Tôi về đến nhà vào khoảng 10 giờ
đêm, giờ này ở nông thôn được xem là
khuya lắm rồi. Tất cả gia đình tôi đều
trong vùng tạm chiếm ngoại trừ cha tôi
và tôi. Cha tôi về ở đây sau khi tôi đi tù.
Nhờ chỉ dẫn trong thư của cha tôi nên tôi
đã tìm đúng chỗ.
Cha tôi đang ngồi ăn cơm trên cái
chõng tre ở chái bếp với ngọn đèn dầu lạc
, cái bóng đen ngòm in vào vách nứa làm
tăng thêm sự cô độc. Cha tôi ngạc nhiên
khi thấy tôi và gương mặt sửng sốt của
ông làm tôi chợt hiểu, vội móc túi áo đưa
tờ lệnh phóng thích. Vì không được báo
trước, lại về vào lúc đêm khuya nên cha
tôi ngờ tôi vượt ngục.
Cha tôi sau những ngày bị cộng sản
giam giữ, bị tra tấn, tự tử hụt, tù đầy, an
trí… gần như thụ động hoàn toàn trước
cuộc sống, chỉ cầu mong được chút an
phận. Gần ba năm về trước, tôi đã đưa
cha tôi đến lằn ranh vùng “no man’s
land” để đi thuyền vào vùng Pháp, thuyền
đã chờ sẵn dưới bến nhưng cha tôi quay
lui.
Trong gia đình tôi có nhiều người
thân là cán bộ hoặc cảm tình viên Việt
nam Quốc Dân Đảng. Một người cậu ruột
nguyên học sinh Quốc học Vinh cùng lớp
với Giáo sư Nguyễn quang Trình (Bộ
trưởng Giáo dục dưới thời Tông thống
Ngô đình Diệm), bạn thân cùng khóa
peloton của quân đội Pháp giữa thập niên
1930 với Hà văn Lâu (Phân khu trưởng
Bình Trị Thiên 1949, đại diện quân đội
Việt Minh tại Hội nghị Genève 1954, phó
trưởng đoàn Bắc Việt tại Hòa đàm Paris
1968 – 1973) mỗi lần từ Hà Nội về ghé
qua Vinh đều để lại hàng chồng báo Việt
Nam, Thiết Thực, Chính Nghĩa (báo của
Việt Nam Quốc Dân Đảng), tiếp khách
nơi phòng học của tôi, chửi Vẹm (Việt
Minh) một cách công khai, bất kể đối
tượng khách thuộc phe đảng nào.
Tôi ra đi vào buổi sáng trời còn mờ
tối để tránh bớt phần nào cái nắng gay gắt
ban ngày. Tôi còn 70 cây số đường bộ để
đến thành phố Vinh nhận thông hành đi
Hà Nội. Con đường trước mặt vô định :
hoặc tôi vượt thoát thành công, hoặc tôi
trở lại nhà tù, trong cả hai trường hợp tôi
sẽ không bao giờ trở lại chốn này.
Tháng 10/1954 tôi được phóng
thích do Hiệp định Genève 1954. Tháng
4/1955 tôi vượt tuyến. Vào Nam có thời
gian ngắn tôi đi dạy ở trường Quốc gia
Thượng mại.
Suốt đời cha mẹ tôi không có gì
riêng cho bản thân mà tất cả cho con cái
để đủ điều kiện ăn học đến nơi đến chốn.
Mẹ tôi kể từ ngày cha tôi đi tù đã một
mình cắn răng chịu đựng tất cả đắng cay,
tủi nhục, nhọc nhằn, thân cò mưa nắng
nuôi chồng tù đầy và nuôi bầy con hòan
tất bậc trung học là căn bản quyết định để
vào đại học sau đó.
Mẹ tôi sống được 58 năm, từ khi
hiểu biết tôi không hề thấy bà có giây
phút nào được nghỉ ngơi đúng nghĩa, đã
làm việc không ngừng cho đến ngày ngã
bệnh; chỉ có 6 tháng trên giường bệnh vật
vã với thần chết là thời gian bà thực sự
nghỉ ngơi. Mẹ tôi ra đi trong cô đơn, lạnh
lẽo, không có người con nào cạnh giường
lúc nhắm mắt.
Điều này đã khiến tôi rất đau lòng
khi tưởng nhớ đến mẹ tôi. Trong xã hội
cha mẹ tôi chỉ là những người công chức
bình thường nhưng đã ảnh hưởng sâu
đậm vào cuộc đời của tôi với gương hy
sinh, nghị lực, lương thiện không hề phai
mờ dẫu thời gian, tuổi tác và cảnh huống
đổi thay.
Cha mẹ tôi đã mất trước năm 1975,
lúc cha tôi còn sống và khi các con xong
tú tài vẫn khuyên phải xuất ngoại du học
và đừng trở về nước vì Miền Nam sớm
muộn cũng mất vào tay cộng sản. Tất cả
gia đình tôi không còn ai ở lại Việt Nam
sau 1975.
Thiết nghĩ cộng sản không cần gài
tình báo chiến lược vào miền Nam, cũng
không cần tấn công chiếm Phước Long
để thăm dò phản ứng Mỹ mà chỉ cần đọc
báo Mỹ hàng ngày, theo dõi thảo luận
Quốc hội Mỹ về cắt giảm viện trợ thì có
thể đếm được ngày kết thúc của Việt
Nam Cộng Hòa. Hiệp định Paris 1/73 là
văn kiện khai tử Việt Nam Cộng Hòa.
Miền Nam đã tồn tại đến 30/4/1975 là
một phép lạ. Phép lạ đó là sự hy sinh
không bờ bến của người dân, người lính
– những người ở đáy xã hội nhưng đã
đóng góp phần lớn lao nhất cho Tổ Quốc.
Chưa có một quốc gia nào trên thế giới
đã đòi hỏi người lính phải hy sinh nhiều
như người lính Việt Nam Cộng Hòa.
Người lính Việt Nam Cộng Hòa
nặng trung bình 45 kilô, mang trên lưng
súng đạn và hành trang cá nhân với trọng
lượng tương đương, đã đi không ngừng
nghỉ suốt cuộc trường chinh 30 năm. Họ
chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ
Quốc, đồng thời là tiền đồn chống cộng
của thế giới tự do. Như Richard Nixon đã
nhận định nếu không có miền Nam Việt
Nam ngăn chận ý đồ bành trướng của
Trung Cộng thì Á Châu ngày nay đã là
một lục địa khác hẳn.
Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc
nội chiến đồng thời là cuộc chiến ủy
nhiệm trong chiến tranh lạnh giữa tư bản
và cộng sản. Chúng ta những người quốc
gia có đủ khả năng tát cạn biển Hồ với
điều kiện các cửa sông Cửu Long đổ
nước vào biển Hồ phải được ngăn chận.
Hoa Kỳ không làm công việc ngăn chận,
ngược lại bằng hiệp ước Lào 1962 đã
biến miền Nam thành lòng chảo Điện
Biên Phủ để thu hút tiềm lực chiến tranh
của khối cộng sản – xử dụng miền Nam
làm chiến trường chính đối đầu với cộng
sản hầu bảo vệ những miền đất khác của
thế giới tự do; rồi người Mỹ đơn phương
tháo lui trao tất cả gánh nặng đó trên vai
người lính Việt Nam Cộng Hòa.
Kể từ đầu 1972, sau chuyến công du
Bắc Kinh của Nixon, người lính Việt
Nam Cộng Hòa hoàn toàn chiến đấu đơn
độc trên bộ. Với thời gian thi hành nghĩa
vụ quân sự vô hạn định, họ hy sinh tương
lai, hạnh phúc gia đình vợ con, chỉ có
một con đường đi thẳng từ trại nhập ngũ
số 3 đến nghĩa trang Biên Hòa. Hàng vạn
chiến binh cộng sản đào ngũ sang Việt
Nam Cộng Hòa nhưng không hề có hiện
tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa
đào ngũ sang cọng sản.
Sau hiệp định Paris 1/1973 viện trợ
Mỹ về kinh tế, quân sự bị cắt giảm đến
triệt tiêu, điều khoản một đổi một về
quân dụng trong hiệp định không được
người Mỹ thi hành, người lính Việt Nam
Cộng Hòa ra trận bụng đói, súng đạn
thiếu hụt, phải đem thân xác thay hỏa lực.
Họ đã chiến đấu đến giây phút cuối khi
không còn phương tiện chiến đấu và có
lệnh đầu hàng.
Chúng ta, những người quốc gia có
đủ những điều kiện chủ quan để thắng
trận chiến vì chúng ta có chính nghĩa và
vì chúng ta có những người dân, người
lính sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối
cùng nhưng chúng ta không còn ở vào
thời đại có thể dùng “tầm vông vọt
nhọn” để chống trả quân thù. Thượng tá
Tám Hà, một sỹ quan cấp sư đoàn của
cộng sản Bắc Việt hồi chánh, đã nói với
người bạn của tôi trước khi ông mất: “ Xã
hội miền Nam của các anh đẹp quá vì đầy
tình người”. Nghe câu nói tôi muốn
khóc. Có lẽ vì chúng tôi đã sống với cộng
sản, hơn nữa là những chiến binh đã cầm
súng ở bên kia nên nhận thức được đầy
đủ những giá trị tự do, nhân bản của xã
hội miền Nam, những hy sinh to lớn của
quân dân miền Nam để xây dựng và bảo
vệ trong bối cảnh vô cùng khó khăn của
chậm tiến, chiến tranh, và thân phận của
một dân tộc nhược tiểu.
Tang lễ cử hành trong 2 ngày: Thứ
Sáu 17-11-2023 từ 10 giờ 30 đến 7 giờ
tối; và Thứ Bảy 18-11-2023 từ 9 giờ đến
3 giờ chiều tại Peek Family Mortuary
Home, 7801 Bolsa Ave Westminster CA
92683. Liên lạc tang gia với Trưởng Nữ
Nguyễn Thị Lương Ngọc (714) 200-8089.
No comments:
Post a Comment