Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 8 November 2023

Tóm Lược Những Hồi Ức Rời Của Ông Nguyễn Văn Ngân Cựu Phụ Tá
TT/VNCH.




Đỗ Tiến Đức

Thởi Luận. - Ngày 6 tháng 11, 2023

ông Nguyễn Văn Ngân, cựu Phụ tá đặc

biệt về chính trị Tổng thống VNCH

Nguyễn Văn Thiệu đã từ trần đột ngột

ngày 1 tháng 11, 2023 do bệnh tim tại

bệnh viện Lakewood, Nam California,

hưởng thọ 88 tuổi.

Sự nghiệp của ông thời Đệ Nhị

Cộng Hòa là phụ tá Tổng thống đặc trách

các cơ quan dân cử như Thượng Hạ Viện,

Tối Cao Pháp Viện và Giám sát viện.

Công việc hầu hết diễn ra trong hậu

trường nhưng rất quan trọng và được

Tổng thống Thiệu trọng nể. Nhiều sự

kiện thời đệ nhị Cộng hòa nếu ông không

nói ra thì mai sau có thể sẽ không ai biết

hoặc biết lõm bõm nếu không nói là có

thể sai lầm.

Thế nhưng xuất thân của ông ra sao,

ít người biết vì ông chỉ mang cấp Đại úy

khi từ trường Quân Cảnh được chọn về

làm chuyên viên của Ủy ban Lãnh đạo

quốc gia. Lại có tin đổn ông là “cộng sản

nằm vùng” tại Dinh Độc lập như Huỳnh

Văn Trọng.

Thực sự thì ông đã sống tại Liên

Khu IV trong thời kháng chiến chống

Pháp 1945-1955 (gồm các tỉnh Thanh


Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và phân khu

Bình Trị Thiên). Ông gia nhập bộ đội

Việt Minh từ lúc còn rất trẻ, cùng đơn vị

và một khóa sĩ quan Quân Chính với nhà

văn Phùng Quán (Nhân Văn Giai phẩm),

trong các năm 1949, 50, 51.

Nhưng năm 1952 Ông bị cộng sản

cầm tù cùng một số trí thức Liên Khu IV

dưới tội danh “gián điệp Pháp”. Đây là

thời kỳ đảng Lao Động đã ra công khai

và đang chuẩn bị công cuộc cải cách

ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức sẽ được

phát động cuối năm 1953. Ông được

phóng thích do Hiệp định Genève cuối

tháng 10, 1954.

Tại Mỹ, trước khi nghỉ làm việc vì

tuổi đã cao, hai ông bà mở tiệm dry clean

ở thành phố Norwark. Ông bà chia phiên

trông tiệm nên chỉ có một người vừa làm

chủ vừa làm thợ. Mỗi lần tôi đến thăm

ông, khi bước vô cửa tiệm thì có tiếng

chuông báo ông biết để ông từ phía sau

tiệm bước ra gặp bạn hữu hoặc tiếp thân

chủ, đa số là phụ nữ mang tới giao cho

ông những túi đựng quần áo dơ. Khi đó

ông phải soát xét tình trạng từng món đồ

hầu kịp thời báo cho khách biết để tránh

sự than phiền, khiếu nại hay bắt đền khi

họ tới lấy đồ đã giặt xong. Tôi đã đứng

xem ông Ngân làm công việc này và ngạc

nhiên tự hỏi ông học nghề này từ bao giờ

và sao ông không đeo khẩu trang, đeo

găng tay khi tiếp xúc với những áo quần

của khách mang tới giặt vốn đã nhét vô

bao nhiều ngày nên đã bốc mùi khiến tôi


chỉ đúng xa và xem thôi mà đã muốn

nhăn mặt. .

Nhìn cung cách ông làm việc cần cù

như một người tỵ nạn bình thường, mấy

ai biết con người đó đã một thời tạo ra

những ông to bà lớn biểu tượng cho sân

khấu chính trường của Miền Nam Việt

Nam.

Gặp ông nhiều năm nay, tôi cũng

ngạc nhiên là dù cho thời gian lặng lẽ trôi

qua nhưng sức khỏe của ông vẫn phong

độ, cử chỉ nhanh nhẹn hơn hẳn những

người thuộc lớp tuổi của ông. Theo bà

Ngân thì mới đây, ông đã một mình sơn

lại cả trong và ngoài căn nhà ông bà và 4

người con trưởng thành đang ở.

Ngày 2 tháng 11, 2023 khi được tin

ông mất, chúng tôi lên thăm thì bà Ngân

vừa nhạt nhòa nước mắt vừa nói về ông

với vẻ ngạc nhiên tại sao ông lại ra đi quá

đột ngột chỉ sau một đêm vô bệnh viện

như thế. Bà cũng nói hàng ngày ông tập

thể dục rất đều đặn như bơi lội tại hồ bơi

của khu chung cư và đi bộ. Bà đưa chúng

tôi ra vườn sau, chỉ cho xem kia là cây

hồng mềm mà ông vửa leo lên cưa cụt

những cành cào sau khi đã hái hàng trăm

trái, đây là ông trồng cây ăn trái, nhiều

nhất là cây măng cầu. Bà chỉ một cây

măng cầu mà ông vửa mới trồng được vài

hôm và tính hôm nay mới bón phân vào

gốc.

Chúng tôi không cầm được nước

mắt khi bà vừa khóc vừa nói : “Mấy hôm

trước ông nói vời tôi, sinh nhật này, anh


sẽ đưa em ra tiệm ăn. Thế mà đến sinh

nhật tôi, ngày 1 tháng 11 thì ông đã bỏ tôi

mà đi rồi”.

Những khi nói chuyện với ông, tôi

không khỏi kinh ngạc vì ông có một trí

nhớ phải nói là phi thường… Cho nên

những năm gần đây, mỗi năm tôi đều xin

ông một cuộc phỏng vấn hoặc ông viết

cho tờ Giai Phẩm Xuân Thời Luận ít

chuyện về những năm tháng cũ mà ông là

một kho sử liệu tiềm ẩn vô giá.

Dưới đây là những đoạn tóm lược

từ nhiều bài viết về hồi ức chặng đời

trước khi bước vô Dinh Độc lập của ông

đã đăng trên Thời Luận:

Tôi sinh trưởng ở thành phố Vinh

và lớn lên ở đây. Lúc ở tiểu học, tôi học ở

trường Cao xuân Dục và chị tôi học ở

trường Nguyễn trường Tộ; hết bậc tiểu

học, chúng tôi vào quốc học Vinh ( bấy

giờ gọi là trường Nguyễn công Trứ).

Trường quốc học Vinh thành lập

năm 1920, sau quốc học Huế (Khải Định)

24 năm. Học sinh khóa đầu tiên có một

số nhân vật như Đặng thái Mai, Tôn

quang Phiệt, Phạm Thiều. . ., tiếp theo là

Nguyễn Xiển, Hoàng xuân Hãn, Hoàng

xuân Mãn, Hoàng xuân Nhị. . ., các lớp

sau nữa có Nguyễn quang Trình, Phạm

biểu Tâm, Hoàng đình Cầu, Đặng văn

Sung, TuBi, TuRơ. . . TuBi là bạn học

cùng đại tướng Cao Văn Viên lúc ở

Collège de Pavie – Vientiane và sau nầy

là lảnh tụ Mèo trong cuộc chiến chống


Pathet Lào và Cộng sản Việt Nam. Có

thể nói trường quốc học Vinh là cái nôi

của đảng Tân Việt (1925), tiền thân của

Đông Dương Cộng sản đảng (1930). Trần

Phú, Hà huy Tập là những Tổng bí thư

đầu tiên của Đông dương cộng sản đảng,

nguyên là các sáng lập viên của đảng Tân

Việt và là giáo viên trường tiểu học Pháp

Việt Cao xuân Dục.

Năm 1945, 1946 tôi vừa vào Quốc

học Vinh, chịu ảnh hưởng của những

người thân trong gia đình, của Khởi

Nghĩa Yên Báy, của Tự Lực Văn Đoàn

nên rất phục các lãnh tụ như Nguyễn

tường Tam, Vũ hồng Khanh, Nguyễn hải

Thần… và thấy hình ảnh họ rất oai hùng:

Nguyễn tường Tam đi họp chính phủ

trong bộ đồ kaki thẳng nếp, tay dài, mang

ghệt, để râu mũi bắt chước lãnh tụ Quốc

xã Hitler (mặc dầu Hitler đã tự sát, phát

xít Đức tan tành), cụ Nguyễn hải Thần

mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn bệ vệ trong xe

du lịch bóng loáng riễu phố Hà Nội

(trong khi dân chúng còn xấc bấc xang

bang vì nạn đói Ất Dậu), có cận vệ cầm

tiểu liên hai bên vè xe và cả trên mui xe

cũng có cận vệ nằm mọp ôm trung liên,

và Cáo Hồ khéo léo đóng kịch trong bộ

đồ kaki cụt cũ kỹ, nửa thầy nửa thợ với

đôi dép cao su lẹp xẹp, biểu tượng của

lớp người cùng khổ bị áp bức – nhưng

chính phủ liên hiệp chỉ tồn tại được vài

tháng.

Khi quân Tưởng rút lui khỏi miền

Bắc, các lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách


chạy theo thoát thân, thành phần còn lại

bị Việt Minh tận diệt hoặc chạy vào vùng

Pháp kiểm soát - đảng phái quốc gia tan

vỡ. Họ chỉ là những người vang bóng

một thời, những năm lưu lạc sang Trung

Hoa đã bị bật rễ khỏi quần chúng, chạy

theo các thế lực ngoại bang suy tàn và

phản động, hoàn toàn bị động và tụt hậu

trước các biến chuyển của thời cuộc.

Năm 1949, chưa đủ 15 tuổi và

đang học năm thứ 4 trung học, tôi tình

nguyện vào bộ đội, được tuyển lựa vào

một đơn vị đặc biệt qua một kỳ sát hạch

văn hoá cho toàn liên khu. Tôi biết việc

tôi vào bộ đội là điều cha tôi không bằng

lòng, lẽ giản dị là cha tôi không muốn tôi

chết cho một chế độ đã làm ông bại sản

và suýt vong mạng nên tôi đã nộp đơn dự

tuyển mà không cho cha tôi biết.

Tôi nghĩ không thể vì một trường

hợp riêng rẽ của cá nhân để trốn trách

nhiệm đối với tổ quốc, ngoài ra còn một

lý do phụ thúc đẩy tôi vào bộ đội là tôi

muốn xóa bỏ cái lý lịch con cái “Việt

gian phản động”, điều này không bao giờ

tôi nói ra để cha tôi phải đau lòng mặc

dầu ông hiểu tôi không bao giờ có ý

tưởng qui trách.

Tôi báo tin cho cha tôi khi nhận

được giấy báo trúng tuyển và lệnh trình

diện; trước sự việc đã rồi, cha tôi hoàn

toàn câm lặng.

Năm 1949, 50 tôi đi bộ đội đóng tại

Thanh Hóa. Cầu Bố bấy giờ là một thị


trấn sầm uất, sinh hoạt về đêm gọi là chợ

Cầu Bố, bán đủ các loại hàng ngoại từ

vùng tề đem vào: xe đạp Sterling, đồng

hồ Wyler, Printania, bút máy Parker,

Wearever, thuốc lá Cotab, Phillip Morris,

thuốc tây, bơ, sữa, hộp quẹt máy, đá lửa,

v..v.; cũng là nơi trà trộn đủ hạng người:

dân ăn chơi, đĩ điếm, buôn lậu, gián điệp,

công an, ...và công an được xem là “vua

Cầu Bố” muốn gì được nấy.

Trong thời kháng chiến chống Pháp,

thuốc phiện là nguồn kinh tài của Việt

Minh đưa vào vùng tề. Người cộng sản

đã từng nói: người Mỹ có bom nguyên tử

thì chúng tôi có thuốc phiện.

Đây là quân trường do tướng

Nguyễn Sơn thành lập, trực thuộc Bộ Tư

lệnh Liên Khu 4 và là quân trường duy

nhất trong quân đội bấy giờ nhằm đào tạo

dài hạn một lớp cán bộ đa năng, đa hiệu

trong đó yếu tố văn hoá được đặc biệt

chú trọng, các học viên tốt nghiệp phải

hoàn tất Tú tài 2 chương trình Hoàng

xuân Hãn là một trình độ khá cao đối với

xã hội bấy giờ.

Trong huấn thị ngày khai giảng 6

tháng 1, 1948 tướng Nguyễn Sơn nhấn

mạnh : “Việc dào tạo, rèn luyện đội ngũ

này thành công, sẽ cung cấp bổ sung

hàng loạt cán bộ nòng cốt tương lai cho

quân đội và cho các cơ quan Đảng và

Nhà nước sau này”. Đích thân ông tuyển

chọn cán bộ giảng huấn, hội họp cán bộ

cho huấn thị về tư tưởng chỉ đạo, phương


pháp giáo dục, huấn luyện và chính ông

trực tiếp giám sát.

Chính thời gian trong đơn vị này và

dưới sự lãnh đạo của tướng Nguyễn Sơn,

tôi đã được rèn luyện trở nên một người

lính có đủ tự tin và can đảm để sống một

cách trung thực và thẳng thắn, nguyên

nhân của “tư tưởng xét lại” đã đưa đến

quyết định xuất ngũ của tôi sau này. Một

bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời

của tôi.

Quyết định xuất ngũ của tôi đã làm

đồng đội ngạc nhiên vì tôi là sĩ quan trẻ

tuổi nhất trong đơn vị, luôn luôn giữ kỷ

luật và gương mẫu, được xem có nhiều

triển vọng. Tôi phải thuyết phục họ là tôi

muốn trở về đời sống dân sự để chuẩn bị

vào trường Y Khoa ở Việt Bắc rất cần

cho nhu cầu kháng chiến mà số người đủ

điều kiện không nhiều. Đây cũng là ý

nghĩ thực của tôi bấy giờ, muốn hay

không, tôi không thể phản bội kháng

chiến và những bạn bè đồng ngũ, không

phục vụ được ở chiến trường thì phục vụ

trong lãnh vực chuyên môn.

Ngày giải ngũ trở về đời sống dân

sự, tình cờ tôi thấy trong chồng thơ cũ

của cha tôi một bức thư của người bạn

cũ, người cán bộ phụ trách văn hóa vụ

trong đơn vị của tôi trước đây, gởi cho

cha tôi báo tin tôi đã chuyển qua trường

sĩ quan Quân chính. Bây giờ tôi mới hiểu

bao lâu nay cha tôi vẫn âm thầm sống

trong lo âu về ngày tôi sẽ đi trận và lý do

thực của việc cha tôi đích thân đưa chân


tôi trên cả trăm cây số đường bộ đến đơn

vị trình diện nhiều năm trước đây chỉ với

mục đích gởi gắm tôi cho người bạn cũ,

nhờ vào ảnh hưởng với tướng Nguyễn

Sơn hầu ngăn chặn việc tôi ra đơn vị

chiến đấu.

Ông là một nhà văn nên trong thơ

viết rất khéo, chỉ người trong cuộc mới

có thể hiểu, ông đã bầy tỏ sự bất lực của

mình đồng thời an ủi cha tôi một cách

chua chát : “… tôi không ngờ cháu N. có

số làm quan võ”. Việc chuyển qua trường

sĩ quan quân chính là do tôi tự nguyện vì

tôi nghĩ bổn phận của người lính là phải

ra trận. Tất cả thế hệ chúng tôi ngày đó là

như vậy – “chiến trường đi chẳng tiếc đời

xanh!” (Q.D.)

Người bạn của cha tôi là người của

chế độ cũ, được tướng Nguyễn Sơn che

chở. Ông kèm Pháp văn cho tướng

Nguyễn Sơn và trở thành người bạn

thân. Ngày còn ở đơn vị, cuối tuần sinh

họat tự do, tôi thường ghé thăm ông và

nhiều lần gặp tướng Nguyễn Sơn từ Khu

Bộ về, có cả Đinh văn Vinh là một cán

bộ văn hoá của đơn vị. Bộ ba nói chuyện

với nhau thâu đêm, trong đó chỉ có tướng

Nguyễn Sơn là cộng sản (Đinh văn Vinh

về sau là đảng viên cộng sản). Tôi thường

ở lại nghe họ trao đổi tư tưởng với nhau

về các đề tài khác nhau và xem đó là

những cơ hội học tập.

Bấy giờ chúng tôi đã có một số kiến

thức căn bản về khoa học chính trị, xã hội

nhờ đội ngũ giáo sư có trình độ cao và


thiện chí, chương trình triết của năm thứ

ba tú tài được khởi dạy từ năm thứ nhất

cùng triết học duy vật biện chứng, duy

vật sử quan.

Tôi không trả lời cha tôi về việc

cha tôi muốn cưới vợ cho tôi. Vài ngày

sau tôi nói với cha tôi là tôi sẽ đi Hà nội

để ghi danh vào đại học và để cha tôi

được yên tâm vì tình trạng tài chánh của

cha tôi đã kiệt quệ, tôi nói thêm là tôi sẽ

kiếm việc làm để có phương tiện đi học.

Cha tôi hòan tòan không bầy tỏ ý kiến,

mặc nhiên để tôi quyết định.

Đầu năm 1952, tôi từ chiến khu

Thừa Thiên xâm nhập vào thành phố Huế

dưới sự chiếm đóng của Pháp và chính

quyền quốc gia.

Tối hôm trước ngày ra đi, cha tôi

cho tôi một lượng vàng làm hành trang,

lượng vàng mẹ tôi đã để lại cho cha tôi

ngày mẹ tôi giã biệt cùng bầy con vào

vùng bị chiếm với sự ủy thác thay cha tôi

nuôi các con khôn lớn và thành đạt. Như

vậy có nghĩa là cha tôi đã thấy rõ ý đồ

thực sự của tôi nên đã vét hết tài sản còn

lại của ông đưa tôi phòng khi hữu sự phải

xử dụng và gián tiếp khuyến cáo tôi phải

cẩn trọng.

Năm 1952, cha tôi đã chứng kiến

cảnh công an bao vây, chĩa súng vào tôi,

đọc lệnh bắt giữ của Phó Giám đốc Công

an Liên khu 4, còng tay và dẫn đi. Hôm

ấy trên đường bị dẫn giải, tôi đau lòng

nghĩ đến nỗi đau của cha tôi phải chứng


kiến cảnh tượng trên nhiều hơn là nghĩ

đến thân phận của tôi lúc bấy giờ.

Năm 1952 tôi bị Công An Liên

Khu 4 bắt giữ dưới tội danh “gián điệp

Pháp”. Bấy giờ tôi là bộ đội giải ngũ và

đang sửa soạn vào trường y khoa ở Việt

Bắc. Trước đó một tuần lễ Công An đã

bắt giữ ông H.T.C., hiệu trưởng trường

cấp 3 duy nhất của Liên Khu 4 (trường

trung học Khải Định di tản ) là người đã

du học Pháp và Anh, có bằng Cử Nhân

văn chương, và một số giáo sư khác dưới

tội danh “nằm trong tổ chức dinh tê của

gián điệp Pháp”. Tất cả được công an dàn

dựng, xếp chung vào một nội vụ để

chứng minh phong trào dinh tê do Pháp

chủ động: xúi dục, tổ chức, hổ trợ và như

vậy có nghĩa là các phần tử dinh tê hay

toan tính dinh tê đều được Pháp móc nối

- đều là thành phần Việt gian, phản động.

Vụ bắt bớ này có tính cách khủng

bố nhằm chặn đứng phong trào dinh tê

của giới trí thức bỏ kháng chiến về thành

(vùng Pháp chiếm đóng) đang lan rộng

với cường độ gia tăng sau khi đảng cộng

sản ra công khai đầu 1951 dưới tên đảng

Lao Động Việt Nam. Phong trào dinh tê

chính do cộng sản mở cửa trước đó như

quả bóng chính trị cần được xì hơi và nay

đã đến lúc cần được đóng lại như một

trong các biện pháp chấn chỉnh, xiết chặt

nội bộ chuẩn bị cho công cuộc phát động

quần chúng thực hiện cải cách ruộng và

chỉnh đốn tổ chức vào cuối 1953. Họ cần

những con vật tế thần.


Người ký lệnh bắt giữ tôi là Trần

Việt Châu, Trưởng ty Công an Thừa

Thiên kiêm Phó Giám đốc Công an Liên

khu 4 gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An,

Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và

Thừa Thiên, tên thật là Trần Văn Cháu,

đảng viên cộng sản, nguyên thư ký lục lộ

Huế trước năm 1945; là người đã tổ chức

các vụ ám sát Phó Thủ Hiến Hà Văn Lan

(cha của Đại Sứ Hà Vĩnh Phương thời đệ

I Cộng Hòa và chú ruột của Đại Tá Hà

Văn Lâu phân khu trưởng Bình Trị Thiên

thời kháng chiến chống Pháp), bác sĩ Bữu

Hiệp xứ ủy Đại Việt Trung Phần, nguyên

ủy viên Hội Đồng chấp chánh lâm thời

của Pháp; và là người đã ra lệnh xử tử

bạn học cùng trường Providence là Ngô

Hân, đảng viên Việt Nam Quốc Dân

Đảng, giáo sư trường trung học Khải

Định Huế.

Nguyên nhân dẫn đến cái chết của

giáo sư Ngô Hân sau này được đề cập

trong hồi ức của Tôn Nữ Ngọc Toản, học

sinh kháng chiến (Việt Minh) ở trường

Khải Định bấy giờ:

“...chúng tôi cũng không quên

những người làm nghề “trồng người”

nhưng lại bán học sinh cho giặc. Chúng

tôi còn nhớ đầu đề bài văn đệ nhất

chuyên khoa (năm thứ nhất bậc tú tài

chương trình Hoàng Xuân Hãn) của thầy

H. (Ngô Hân): “Sĩ khí của thanh niên

trong thời đại ngày nay”. Tuy nguyên tắc

hoạt động nội thành là phải “dấu mình”

nhưng vì thiếu kinh nghiệm và còn non

nớt nên nhiều bạn đã nổi máu anh hùng


cá nhân, hiếu thắng, để lộ mình qua giấy

trắng mực đen. Kết quả, một số bạn đã bị

phòng nhì (Pháp) và an ninh mời vào

khám. Trần Hậu bị địch thủ tiêu, Long bị

tra tấn đến chết đi sống lại, tôi (Ngọc

Toản) bị bắt ra tù bị trục xuất khỏi

Huế...”

Tôi ở tù về nhà được mươi hôm thì

cha tôi ngỏ ý cưới vợ cho tôi. Điều này

tôi chưa bao giờ nghĩ đến nên đã làm tôi

hết sức ngạc nhiên vì mặc dầu đã hai

mươi tuổi nhưng tôi chưa tự kiếm được

một đồng bạc, thời gian đi lính và ở tù thì

được nhà nước nuôi và gia đình trợ cấp,

nghề nghiệp chưa có, học hành dang dở,

hơn nữa chính cha tôi đã nuôi dạy chúng

tôi từ nhỏ là phải tự lập thân trước, nay

thân chưa lập mà cha tôi lại muốn tôi lấy

vợ.

Khi chúng tôi vừa lớn để có chút

hiểu biết, cha tôi đã nói rất rõ và lặp lại

nhiều lần là cha mẹ tôi không để lại tiền

bạc cho con cái mà chỉ giúp cho con cái

xây dựng một vốn trí thức ra đời không ai

có thể cướp đoạt được. Vốn trí thức ấy sẽ

giúp chúng tôi biết xử thế, giữ được nhân

phẩm, tự đứng vững trên chân mình

trong mọi tình huống xã hội. Cha mẹ tôi

không hề khuyên con cái làm giàu, làm

quan, không đề cập đến vấn đề nghề

nghiệp, vấn đề lập gia đình mặc nhiên

xem đó là những vấn đề do chúng tôi tự

quyết định sau khi đã có một căn bản

hiểu biết.


Cha tôi đã cụ thể hoá cái vốn trí

thức cho con cái, không phân biệt trai

hay gái, là phải tốt nghiệp đại học, đây là

một tiêu chuẩn khá cao dưới thời Pháp

thuộc mà hoàn cảnh và phương tiện

không dễ dàng để thực hiên với một bầy

con năm đứa. Gần như có một sự phân

công trong thực tế: cha mẹ tôi chỉ là

những người công chức bậc trung nên đã

phải cố gắng tận lực trong một số công

cuộc kinh doanh để có thể dành tiền, còn

chúng tôi có nhiệm vụ phải cố gắng học

tập để hoàn tất mục tiêu ấn định.

Trái với điều cha tôi nghĩ, tôi đã

không có một cuộc sống bình yên, phẳng

lặng mặc dầu tôi mong được làm một

người dân bình thường, được đối xử công

bằng và suốt đời cúi đầu nhìn xuống

những kẻ bất hạnh để tự an ủi; nhưng

“cây muốn lặng mà gió không ngừng”,

thấy việc phải làm thì làm, không hề tính

tóan hơn thiệt cho bản thân nên đã lãnh

nhiều hệ lụy. Đến nỗi nhiều khi tôi thắc

mắc tự hỏi tại sao qua nhiều biến cố tôi

vẫn còn có thể sống sót và cuộc sống là

một ân sủng hay chỉ là sự trừng phạt của

Thượng đế đối với con người? – Tôi vẫn

là đứa con không thay đổi ngày xưa của

cha tôi, dù thóat ly gia đình rất sớm và

vắng cha tôi, tôi vẫn luôn luôn ghi nhớ

những lời dạy bảo của ông: sống không

gian dối, không tơ hào của ai một đồng

xu nhỏ, lúc làm lính thì làm hết bổn phận

của người lính, lúc chỉ huy thì làm hết

nhiệm vụ của người chỉ huy, trong mọi

hòan cảnh cố gắng làm người lưong


thiện. Ngày còn nhỏ trong gia đình tôi ý

thức được con cái chỉ có quyền nhận

những gì cha mẹ cho, không có quyền

được đòi hỏi. Nhưng tôi không phải là

lọai người bất cứ ai cho gì cũng nhận,

cho gì cũng ăn, đưa gì cũng mặc! Điều đó

chỉ xẩy ra với cha mẹ tôi mà thôi.

Cuối tháng 11/1954, Hà nội vừa

được Việt Minh tiếp thu từ tay người

Pháp ngày 9 tháng 10 vừa rồi nhưng Hải

Phòng có thời hạn 300 ngày kể từ ngày

ngưng bắn để tập kết vào Nam. Tôi đã

không nói với cha tôi về ý định thực sự

của tôi vì điều đó chỉ làm cha tôi lo và có

thể gây nguy hiểm cho cha tôi. Tại địa

điểm học tập vào lúc nửa đêm trước ngày

phóng thích, cảnh vệ áp giải tôi đến một

ngôi nhà tranh biệt lập cuối xóm, khi đẩy

liếp vào tôi thấy một người đàn ông đã

lớn tuổi ngồi một mình sau cái bàn với

ngon đèn dầu, ông cho lệnh người cảnh

vệ đi ra ngoài và ra dấu cho tôi ngồi

xuống chiếc ghế độc nhất trước mặt.

Ông tự xưng tên họ, chức vụ và hỏi

tôi muốn chọn lựa hoặc trao trả vào miền

Nam hoăc ở lại miền Bắc theo quy ước

Genève 1954. Tôi trả lời tôi không làm

gián điệp cho Pháp nên không xin trao

trả.

Ông nói là đã đọc kỹ hồ sơ của tôi

và là lý do ông đến đây gặp tôi, ông hỏi

về dự tính tương lai của tôi, sẵn sàng giúp

đỡ nếu tôi cần và tôi có thể gặp ông bất

cứ lúc nào. Ông là một giới chức của

ngành an ninh. Khi được phóng thích về


nơi cha tôi cư trú, tôi vẫn còn phải chịu

sự quản chế của địa phương. Chính ông

là người đã chỉ thị cho Ty Công an Nghệ

An cấp thông hành cho tôi đi Hà Nội.

Cuối năm 1954, tôi ở tù về

“Tôi về đến nhà vào khoảng 10 giờ

đêm, giờ này ở nông thôn được xem là

khuya lắm rồi. Tất cả gia đình tôi đều

trong vùng tạm chiếm ngoại trừ cha tôi

và tôi. Cha tôi về ở đây sau khi tôi đi tù.

Nhờ chỉ dẫn trong thư của cha tôi nên tôi

đã tìm đúng chỗ.

Cha tôi đang ngồi ăn cơm trên cái

chõng tre ở chái bếp với ngọn đèn dầu lạc

, cái bóng đen ngòm in vào vách nứa làm

tăng thêm sự cô độc. Cha tôi ngạc nhiên

khi thấy tôi và gương mặt sửng sốt của

ông làm tôi chợt hiểu, vội móc túi áo đưa

tờ lệnh phóng thích. Vì không được báo

trước, lại về vào lúc đêm khuya nên cha

tôi ngờ tôi vượt ngục.

Cha tôi sau những ngày bị cộng sản

giam giữ, bị tra tấn, tự tử hụt, tù đầy, an

trí… gần như thụ động hoàn toàn trước

cuộc sống, chỉ cầu mong được chút an

phận. Gần ba năm về trước, tôi đã đưa

cha tôi đến lằn ranh vùng “no man’s

land” để đi thuyền vào vùng Pháp, thuyền

đã chờ sẵn dưới bến nhưng cha tôi quay

lui.

Trong gia đình tôi có nhiều người

thân là cán bộ hoặc cảm tình viên Việt

nam Quốc Dân Đảng. Một người cậu ruột

nguyên học sinh Quốc học Vinh cùng lớp


với Giáo sư Nguyễn quang Trình (Bộ

trưởng Giáo dục dưới thời Tông thống

Ngô đình Diệm), bạn thân cùng khóa

peloton của quân đội Pháp giữa thập niên

1930 với Hà văn Lâu (Phân khu trưởng

Bình Trị Thiên 1949, đại diện quân đội

Việt Minh tại Hội nghị Genève 1954, phó

trưởng đoàn Bắc Việt tại Hòa đàm Paris

1968 – 1973) mỗi lần từ Hà Nội về ghé

qua Vinh đều để lại hàng chồng báo Việt

Nam, Thiết Thực, Chính Nghĩa (báo của

Việt Nam Quốc Dân Đảng), tiếp khách

nơi phòng học của tôi, chửi Vẹm (Việt

Minh) một cách công khai, bất kể đối

tượng khách thuộc phe đảng nào.

Tôi ra đi vào buổi sáng trời còn mờ

tối để tránh bớt phần nào cái nắng gay gắt

ban ngày. Tôi còn 70 cây số đường bộ để

đến thành phố Vinh nhận thông hành đi

Hà Nội. Con đường trước mặt vô định :

hoặc tôi vượt thoát thành công, hoặc tôi

trở lại nhà tù, trong cả hai trường hợp tôi

sẽ không bao giờ trở lại chốn này.

Tháng 10/1954 tôi được phóng

thích do Hiệp định Genève 1954. Tháng

4/1955 tôi vượt tuyến. Vào Nam có thời

gian ngắn tôi đi dạy ở trường Quốc gia

Thượng mại.

Suốt đời cha mẹ tôi không có gì

riêng cho bản thân mà tất cả cho con cái

để đủ điều kiện ăn học đến nơi đến chốn.

Mẹ tôi kể từ ngày cha tôi đi tù đã một

mình cắn răng chịu đựng tất cả đắng cay,

tủi nhục, nhọc nhằn, thân cò mưa nắng

nuôi chồng tù đầy và nuôi bầy con hòan


tất bậc trung học là căn bản quyết định để

vào đại học sau đó.

Mẹ tôi sống được 58 năm, từ khi

hiểu biết tôi không hề thấy bà có giây

phút nào được nghỉ ngơi đúng nghĩa, đã

làm việc không ngừng cho đến ngày ngã

bệnh; chỉ có 6 tháng trên giường bệnh vật

vã với thần chết là thời gian bà thực sự

nghỉ ngơi. Mẹ tôi ra đi trong cô đơn, lạnh

lẽo, không có người con nào cạnh giường

lúc nhắm mắt.

Điều này đã khiến tôi rất đau lòng

khi tưởng nhớ đến mẹ tôi. Trong xã hội

cha mẹ tôi chỉ là những người công chức

bình thường nhưng đã ảnh hưởng sâu

đậm vào cuộc đời của tôi với gương hy

sinh, nghị lực, lương thiện không hề phai

mờ dẫu thời gian, tuổi tác và cảnh huống

đổi thay.

Cha mẹ tôi đã mất trước năm 1975,

lúc cha tôi còn sống và khi các con xong

tú tài vẫn khuyên phải xuất ngoại du học

và đừng trở về nước vì Miền Nam sớm

muộn cũng mất vào tay cộng sản. Tất cả

gia đình tôi không còn ai ở lại Việt Nam

sau 1975.

Thiết nghĩ cộng sản không cần gài

tình báo chiến lược vào miền Nam, cũng

không cần tấn công chiếm Phước Long

để thăm dò phản ứng Mỹ mà chỉ cần đọc

báo Mỹ hàng ngày, theo dõi thảo luận

Quốc hội Mỹ về cắt giảm viện trợ thì có

thể đếm được ngày kết thúc của Việt

Nam Cộng Hòa. Hiệp định Paris 1/73 là


văn kiện khai tử Việt Nam Cộng Hòa.

Miền Nam đã tồn tại đến 30/4/1975 là

một phép lạ. Phép lạ đó là sự hy sinh

không bờ bến của người dân, người lính

– những người ở đáy xã hội nhưng đã

đóng góp phần lớn lao nhất cho Tổ Quốc.

Chưa có một quốc gia nào trên thế giới

đã đòi hỏi người lính phải hy sinh nhiều

như người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa

nặng trung bình 45 kilô, mang trên lưng

súng đạn và hành trang cá nhân với trọng

lượng tương đương, đã đi không ngừng

nghỉ suốt cuộc trường chinh 30 năm. Họ

chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ

Quốc, đồng thời là tiền đồn chống cộng

của thế giới tự do. Như Richard Nixon đã

nhận định nếu không có miền Nam Việt

Nam ngăn chận ý đồ bành trướng của

Trung Cộng thì Á Châu ngày nay đã là

một lục địa khác hẳn.

Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc

nội chiến đồng thời là cuộc chiến ủy

nhiệm trong chiến tranh lạnh giữa tư bản

và cộng sản. Chúng ta những người quốc

gia có đủ khả năng tát cạn biển Hồ với

điều kiện các cửa sông Cửu Long đổ

nước vào biển Hồ phải được ngăn chận.

Hoa Kỳ không làm công việc ngăn chận,

ngược lại bằng hiệp ước Lào 1962 đã

biến miền Nam thành lòng chảo Điện

Biên Phủ để thu hút tiềm lực chiến tranh

của khối cộng sản – xử dụng miền Nam

làm chiến trường chính đối đầu với cộng

sản hầu bảo vệ những miền đất khác của

thế giới tự do; rồi người Mỹ đơn phương


tháo lui trao tất cả gánh nặng đó trên vai

người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Kể từ đầu 1972, sau chuyến công du

Bắc Kinh của Nixon, người lính Việt

Nam Cộng Hòa hoàn toàn chiến đấu đơn

độc trên bộ. Với thời gian thi hành nghĩa

vụ quân sự vô hạn định, họ hy sinh tương

lai, hạnh phúc gia đình vợ con, chỉ có

một con đường đi thẳng từ trại nhập ngũ

số 3 đến nghĩa trang Biên Hòa. Hàng vạn

chiến binh cộng sản đào ngũ sang Việt

Nam Cộng Hòa nhưng không hề có hiện

tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa

đào ngũ sang cọng sản.

Sau hiệp định Paris 1/1973 viện trợ

Mỹ về kinh tế, quân sự bị cắt giảm đến

triệt tiêu, điều khoản một đổi một về

quân dụng trong hiệp định không được

người Mỹ thi hành, người lính Việt Nam

Cộng Hòa ra trận bụng đói, súng đạn

thiếu hụt, phải đem thân xác thay hỏa lực.

Họ đã chiến đấu đến giây phút cuối khi

không còn phương tiện chiến đấu và có

lệnh đầu hàng.

Chúng ta, những người quốc gia có

đủ những điều kiện chủ quan để thắng

trận chiến vì chúng ta có chính nghĩa và

vì chúng ta có những người dân, người

lính sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối

cùng nhưng chúng ta không còn ở vào

thời đại có thể dùng “tầm vông vọt

nhọn” để chống trả quân thù. Thượng tá

Tám Hà, một sỹ quan cấp sư đoàn của

cộng sản Bắc Việt hồi chánh, đã nói với

người bạn của tôi trước khi ông mất: “ Xã


hội miền Nam của các anh đẹp quá vì đầy

tình người”. Nghe câu nói tôi muốn

khóc. Có lẽ vì chúng tôi đã sống với cộng

sản, hơn nữa là những chiến binh đã cầm

súng ở bên kia nên nhận thức được đầy

đủ những giá trị tự do, nhân bản của xã

hội miền Nam, những hy sinh to lớn của

quân dân miền Nam để xây dựng và bảo

vệ trong bối cảnh vô cùng khó khăn của

chậm tiến, chiến tranh, và thân phận của

một dân tộc nhược tiểu.

Tang lễ cử hành trong 2 ngày: Thứ

Sáu 17-11-2023 từ 10 giờ 30 đến 7 giờ

tối; và Thứ Bảy 18-11-2023 từ 9 giờ đến

3 giờ chiều tại Peek Family Mortuary

Home, 7801 Bolsa Ave Westminster CA

92683. Liên lạc tang gia với Trưởng Nữ

Nguyễn Thị Lương Ngọc (714) 200-8089.

No comments:

Post a Comment