Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 2 November 2023

 

Vượt Biển Đến Úc

Th2 1, 2021 | Hành Trình Vượt Biển

Hồi Ký: Nguyễn Bá Nghiệp OAM* 

Cùng quý độc giả

Có nhiều cuộc vượt biên bằng ghe thuyền được viết và phổ biến trong suốt thời gian dài trên bốn mươi năm mà phần lớn trong những trường hợp đầy thương tâm và chết chóc trên biển cả. Trường hợp của nhóm chúng tôi gồm một tàu hoa tiêu (pilot boat) và một tàu đánh cá với tổng số chỉ có hai mươi lăm người mà phần lớn là cựu quân nhân hải quân VNCH và ngư phủ đã quen với nghề đi biển nhưng vẫn gặp những biến cố bất ngờ trên đường vượt biên. Mong rằng hồi ký này không ngoài mục đích để lại cho thế hệ sau những gì thế hệ đầu tiên đặt chân đến Úc châu ra sao? Vì sợ rằng tuổi già sẽ làm phai mờ trí nhớ có thể mất đi nhiều chi tiết . . .

1977 – 2020 : Bốn Mươi Ba Năm Nhìn Lại

Tôi sanh ngày mùng 9 tháng Giêng năm Kỷ Mão, quê quán làng Lai Hòa, Bạc Liêu. Ông nội là ông Hương Cả trong làng và cũng là nghị viên Hội Đồng Quản Hạt tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947 tôi lên tám, theo cha qua Nam Vang, Cao Miên. Cha tôi làm việc cho công ty S.I.D.I.T. của Pháp chuyên về xây cất và sửa chữa hoàng cung thời Vua Sihanouk. Tôi học trường Providence des Soeurs de Portieux rồi chuyển qua trường Miche thuộc Dòng Sư Huynh De  La Salle. Tôi gia nhập  đoàn Hướng Đạo Pháp có tên Groupe Guy De Larigaudie*, Scout de France 1ère Phnom Penh. Phần lớn đoàn sinh là con em của công chức người Pháp. Đoàn quán đặt trong khuôn viên Tòa Tổng giám Mục Phnom Penh. Một điều mà tôi học hỏi được trong phong trào Hướng Đạo là “ Đời Là Những Cuộc Phiêu Lưu được coi như là Trò Chơi Lớn”. Theo gương của Tráng Sinh Guy De Larigaudie mọi việc trên đời dù khó khăn cách mấy cũng nên coi như một trò chơi đầy thử thách và ta cần cố gắng hết sức để hoàn thành.

Năm 1956 tôi theo cha trở về Việt Nam và tiếp tục học trường Sư Huynh La Salle trước khi gia nhập Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1960.

Tháng 10 năm 1963 tôi được gửi đi Hoa kỳ tu nghiệp ngành hải hành (Radar Navigation) tại Tiểu bang California. Trường này trực thuộc trường chuyên nghiệp Hải quân Hoa Kỳ. Tại đây tôi học sử dụng và bảo trì Radar SPS6C là loại Radar tối tân, thường được gắn trên các chiến hạm hiện đại nhất của Hoa kỳ lúc bấy giờ, và thực tập trên các chiến hạm có ICC (Information Combat Centre/Trung tâm Hành quân (Biển).

Tháng 4-1975 tôi đang phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Duyên Hải, Cát Lở – Vũng Tàu. Vì hai con trai còn nhỏ đang gửi cho ông bà nội ở Gia Định nên vợ chồng tôi gấp rút chạy về Saigon, định sáng sớm hôm sau sẽ trở ra Vũng Tàu. Xui một nỗi khi trở ra đến Thủ Đức thì bị chặn lại, chúng tôi phải quay về Gia Định à thay vì vào bến Bạch Đằng thì lại dại dột ở lại vì nghe lời bác tôi, dìu dắt nhau xuống Vĩnh Long là nơi có nhà và vườn trái cây bên An Thành. Không dè lúc trước đây là nơi cộng sản nằm vùng. Đúng là mình tự đút đầu vào hang cọp mà không hay. Tôi bị nhốt vào khám lớn Vĩnh Long.  Hai tháng sau giữa đêm bị đưa đi tập trung chung với các thành phần hồi chánh và du học Hoa Kỳ, vì họ nghi ngờ là Xịa (CIA). Cùng chung số phận còn có một số đồn trưởng địa phương quân bị CS kết tội nợ máu với nhân dân.  Gần trăm người bị nhốt tại một đồn địa phương quân có tên là Ngã Tư Nhà Đài thuộc tỉnh Trà Vinh. Ban đêm ai cũng như ai, phải xỏ chân vào khoen chữ U; mỗi nhóm mười người xỏ chung một thanh sắt dài chừng sáu, bảy thước. Vì trước kia chung quanh đồn gài mìn và kẽm gai nhiều lớp (ngập nước) nên trâu đạp phải. Sáng ra quản giáo bắt một số tù tình nguyện, thường là những cựu đồn trưởng có nhiều kinh nghiệm về mìn bẫy đi gỡ.

Tháng tư 1976 có đợt thả cấp chuyên viên. Tôi may mắn được tha về Saigon, vào làm Công Ty Vận Tải Đường Sông với nhiệm vụ điều hành bảy đoàn tàu kéo đá clinker (đá làm xi măng) từ Kiên Lương về Xi măng Hà Tiên – Thủ Đức. Tôi lợi dụng chức vụ trưởng đoàn tàu  (lúc đó gọi là thuyền trưởng chỉ đạo) xin giấy phép trở về phòng hải đồ Hải quân xin các giang đồ và hải đồ cho công ty để trong tương lai sẽ huấn luyện các tài công đưa muối và gạo đi Phú Quốc. Tôi may mắn gặp lại anh bạn đồng nghiệp giám lộ nên anh lén cho tôi bản đồ tổng quát  (Navigation Charts Index) và một cặp thuớc Crass là thước đo hải đồ. Những hải đồ này chi tiết rất nhỏ nhưng có thể sử dụng tương đối tốt cho việc vượt biên về hướng Philipines, Singapore, Indonesia và Australia (cho toàn vùng Đông Nam Á).

Bàn làm việc trong công ty nằm bên lối đi vào văn phòng giám đốc nên khi chủ tàu đi vào thấy tôi đang soạn các hải đồ đã tìm cách đến nhà tôi gạ chuyện vượt biên. Tôi đồng ý với điều kiện vợ và hai con tôi phải được đi theo. Cũng nên nói là lúc đó nhà tôi đã gần ngày sanh nở. Chủ tàu nói ngày giờ khởi hành chỉ thông báo vào phút chót. Đó là điều kiện tiên quyết.

 

Ngày N

Tàu Hải Triều đưa đón hoa tiêu là loại tàu đi biển, thường dùng để đưa thuyền trưởng hoa tiêu địa phương ra đón các thương thuyền đang đậu ngoài khơi và lai dắt vào cảng. Tàu dài mười sáu thước, gắn máy Kabuta 3 lốc khá mạnh, có thể chạy trên 10-12 hải lý/giờ. Tàu có hải bàn từ và đủ đèn hải hành, kể cả đèn chớp tín hiệu để liên lạc các thương thuyền trước khi hoa tiêu dẫn tàu vào cảng. Tàu được sơn màu xám đậm nên ở xa dễ lầm là tàu hải quân.

Trước khi vượt biên chủ tàu cẩn thận rà lại từng tấm ván dưới lườn và đóng thêm đinh cho chắc. Phần tôi thì cứ đi làm về là tôi lo nghiên cứu từng đoạn đường tàu sẽ đi, tính toán mỗi đoạn bao nhiêu hải lý, mất bao nhiêu ngày giờ v.v. và học thuộc lòng từng đoạn. Cùng thời gian đó chủ tàu xin Công ty cấp lệnh công tác chở muối đi Phú Quốc cho các công ty quốc doanh sản xuất nước mắm tại Dương Đông.

 

Nhà thờ Fatima Bình Triệu

Con gái tôi chào đời tại nhà bảo sanh Bác sĩ Dưỡng gần đầu chợ Gia Định. Được ba tháng thì chủ tàu cho biết sẽ khởi hành và điểm hẹn là trước nhà thờ Fatima Bình Triệu. Khi gia đình tôi đến chỗ hẹn thì vợ con và các em của chủ tàu đã có mặt. Một lúc sau chủ tàu là anh Huỳnh Văn Đức lái xe camionnette hơ hải đến và nói là đã bị lộ nên tất cả đàn bà và trẻ con phải ở lại và chỉ có chủ tàu Huỳnh V. Đ., hai em T. và T cùng đứa cháu và tôi lên xe chạy thẳng ngang qua Bà Rịa đến cầu Cỏ May và lên tàu mở máy chạy. Lúc đó lòng tôi rối bời vì phải bỏ vợ con lại, nhứt là đứa con gái mới ba tháng tuổi nên khi tàu chạy qua Duyên đoàn 33 và cầu tàu Cát Lở, thay vì giữ tàu sát bên trái tôi lại cho tàu chạy giữa sông và hậu quả là tàu rướn lên cồn cát. Lúc đó khoảng hai giờ chiều và thủy triều đang ở mức thấp nhất. Tôi cho tàu loay hoay gần cả tiếng đồng hồ thì từ phía căn cứ Duyên đoàn 33 truớc kia một chiến đĩnh nổ máy sửa soạn chạy qua, không biết để cứu kéo tàu chúng tôi hay để xét hỏi gì đó. May mắn lúc đó thủy triều bắt đầu lớn, nước dâng cao nên tàu lùi lại dễ dàng và thoát khỏi cồn cát cho nên chiến đĩnh ngừng lại, để cho tàu chúng tôi ra biển.

Khi tàu qua hàng đáy Bãi Trước, tôi nhìn lại bãi biển Vũng Tàu, nơi có biệt thự PO 5 mà tôi có nhiều kỷ niệm khi còn phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải. Tôi cho tàu đổi hướng 180 độ về hướng Poulo Condor tức là Côn Sơn. Tôi nhìn ngọn hải đăng mờ dần, mờ dần mà lòng buồn tê tái. Ra đi mà phải bỏ lai vợ con, biết khi nào mới gặp lại.

Trên tàu còn có một người nữa cũng buồn như tôi vì cùng hoàn cảnh như tôi đó là em Trần văn T., em vợ của chủ tàu*. Sau khi qua khỏi hàng đáy bãi trước Vũng Tàu tôi lái thẳng ra khơi hướng 130 độ cho đến sáu giờ chiều thì đổi hướng 230 độ TN. Lúc này trời bắt đầu tối, tàu xuôi Nam mà lòng thương nhớ vợ con, không biết bao giờ gặp lại! Trời tối đen, chỉ có ngọn đèn màu xanh mờ trong phòng lái. Bỗng nhiên trước mặt có những ánh đèn bật sáng lòa từ lái đến mũi và hình dáng của loại tuần duyên hạm (loại WHEC) có chiều dài gần một trăm thước. Tôi vội vàng lái sang bên trái thì tàu chỉ cách chiến hạm không đầy hai trăm thước, cùng lúc tôi bật đèn hải hành thì biết con tàu nhỏ bé chỉ còn chút xíu nữa thì đụng vào phần lái của chiến hạm nầy, hậu quả không biết ra sao!

Gần sáng hôm sau tôi thấy đèn Côn Sơn bên trái và biết mình đã chạy đúng đường nên sáng hôm sau thay vì đổi hướng 270 độ đi về Phú Quốc như trong lịch trình công tác thì tôi lại chạy thẳng Mã Lai. (Sau nầy tôi được biết nếu tôi lái tàu theo hướng Phú Quốc thì trên tàu sẽ thanh toán tôi ngay).

Kuala Terengganu 

Khuya ngày 9 tháng 4, sau hai đêm và ba ngày chúng tôi thấy ánh đèn thành phố Terengganu, cho tới mờ sáng thì tàu tới nhiều hàng đáy chắn ngang trên lòng lạch vào sông của thành phố. Tàu phải tiến vào cửa sông rất chậm và sau đó cập vào cầu cảng. Ngay lúc đó đã có cảnh sát đứng chờ chúng tôi rồi. Anh cảnh sát trưởng cho biết chúng tôi không được phép đậu tại đây và phải đưa tàu về hướng Nam cách thành phố chừng vài giờ. Trước khi khởi hành anh ta còn xin cái đèn bấm quân đội mà tôi đang đeo bên mình. Sau ba giờ xuôi Nam, qua ống dòm tôi thấy một con tàu dài khoảng chừng ba mươi thước có tên là Roland phủ những tấm nylon đủ màu rách tét vì gió biển. Khi đến gần hơn thì mới thấy hàng trăm người chen lấn trên boong từ mũi đến sân sau lái, hàng trăm cánh tay vẫy vẫy như những cành lá trước gió bão. Thật là một cảnh tượng hãi hùng nên khi tàu còn cách năm trăm thước, tôi ngừng tàu lại và thấy trên tàu có nhiều người nhảy xuống biển và lội về hướng chúng tôi. Ccó hai người đẩy một cái phao, trên đó có một em bé. Tôi vội cho tàu đến vớt em bé và ba mẹ của em. Họ liền cho biết là đừng có đến gần tàu lớn này vì hàng trăm người sẽ ồ ạt chen lấn xuống, gây nguy hiểm. Vì vậy sau đó anh Đ. (chủ tàu) chỉ đồng ý vớt thêm những người bơi gần và vội vàng tăng tốc độ về hướng Nam. Kiểm điểm lại thì thấy có vợ chồng anh Nguyễn V. O., vợ là chị Nguyễn T. H. với đứa con gái tên Nguyễn T. T. chín tháng tuổi. Anh H. tự Ba Môn và anh Chín N. nguyên là Hạ sĩ quan Hải quân VNCH. Em Trần V. P. mười hai tuổi (không có thân nhân). Anh Huỳnh V. M. chủ tàu đánh cá. Ba sinh viên K., Đ., L. Nhìn lại thì thấy một tàu đánh cá phun khói chạy theo. Anh Mến vội cho hay đó là con tàu đánh cá của ảnh xuất phát từ sông Hộ Phòng, Gành Hào ra khơi đánh cá nhưng khi ra đến biển thì toàn thể thuyền viên đồng lòng vượt biên luôn. Anh không vui khi bỏ lại gia đình nên anh xin đi theo tàu Hải Triều thay vì ở trên tàu của anh. Theo anh O. thì sở dĩ có con tàu với nhiều người tỵ nạn chen chúc trên đó là do sau khi Saigon được “giải phóng” một số người đã vượt thoát qua ngã Mã Lai (Malaysia) nhưng vì chưa có chính sách tỵ nạn nên chính quyền địa phương không chấp nhận cho họ vào bờ. May mà có một vị Thượng Tọa ra tay cứu vớt bằng cách mướn một con tàu cho họ tạm trú và Hội Hồng Thập Tự giúp đỡ về lương thực thuốc men.

Con tàu đánh cá có tên Thành Nam, là con tàu có đóng hai con lươn đặc biệt để vượt sóng biển, chạy rất nhanh cho nên một lúc sau đã cặp bên hữu mạn tàu Hải Triều, trong đó có các anh Nguyễn V.H., Nguyễn V.H tự H. Lé, Đ., K., N., H., C. và còn một số anh em nữa mà tôi không còn nhớ tên. Họ xin được tháp tùng chúng tôi qua sự đồng ý của anh Đ. chủ tàu Hải Triều và anh N. chủ tàu Thành Nam vì tàu này còn rất ít nhiên liệu. Vì vậy khi gặp nơi nào có dân cư ngụ ven bờ biển thì qua sự đồng ý của anh Nám???, thuyền viên tàu Thành Nam lấy lưới mang theo trao đổi dầu cặn với cư dân gốc Triều Châu qua sự thông dịch của anh K. vì anh nói được tiếng Tiều. Và vì là tàu đánh cá nên mỗi khi cần thì thả lưới là có cá ăn hằng ngày không còn sợ đói. Vì trên tàu Hải Triều lúc này có đến năm người chuyên nghiệp có thể giữ tay lái nên tôi chia phiên cho mỗi người có trách nhiệm lái hai tiếng. Tôi với tư cách là thuyền trưởng có trách nhiệm chỉ dẫn hướng đi cho đoàn tàu đến Úc châu để xin tỵ nạn.

Trên đường đi về hướng Singapore đoàn tàu lướt qua đảo Tioman. Sau này khi làn sóng vượt biên đến mức cao điểm thì tại hải đảo hoang vắng nầy rất nhiều người bị hải tặc hãm hiếp và giết hại.

 

Ngang qua Singapore

Từ Terengganu đến Singapore chỉ có 450 km mà phải mất hết năm ngày và trước đây anh Nguyễn V. O. đã có vài lần cho tàu tỵ nạn chạy vào cửa biển của Singapore nhưng đều bị tàu hải cảnh ngăn chặn và kéo trở ra khơi nên khi tàu chúng tôi đến gần hàng phao thứ nhất có đèn chớp để vào lòng lạch hải cảng thì tôi cho tàu chạy thẳng hướng 185 độ để đến đảo Bintan thuộc hải phận Indonesia, cách Singapore khoảng 30 km.

 

Bintan – Gặp một sĩ quan Hải Quân Indonesia học cùng Trường Treasure Island

Từ Singapore tàu chạy thẳng quần đảo Bintan vì chủ tàu có ý định mua  thêm dầu để có đủ nhiên liệu đi đến Úc châu. Khi cập bến thì gặp cảnh sát và hải quân Indonesia xuống khám tàu, trong đó có một đại úy hải quân. Vị sĩ quan nầy có mang chiếc nhẫn đặc biệt có huy hiệu của trường Hải quân Mỹ mà trước đây tôi theo học. Khi biết ra vị sĩ quan nầy tỏ ra dễ dãi hơn, nhưng anh ra điều kiện phải tặng anh chiếc nhẫn vàng của anh Huỳnh Văn Đức rồi mới cho phép tàu Hải Triều và tàu Thành Nam mua dầu. Tất cả mọi người đều đồng lòng gom góp số vàng mang theo để việc mua dầu và gạo được dễ dàng. Trước khi khởi hành tôi xin họ một lá cờ Indonesia để treo nhưng sau khi tách bến chừng vài cây số thì canô cảnh sát rượt theo và đòi lại lá cờ. Ngày này là ngày 18 tháng tư, đoàn tàu tiếp tục xuôi Nam dọc bờ biển, cách bờ khoảng vài cây số. Ban đêm có lúc đoàn tàu vẫn tiếp tục chạy. Bên tả mạn là những giàn khoan dầu có những ống gas ban đêm ở xa trông như những ngọn núi lửa, khi đến gần mới biết là giàn khoan đang phun lửa đỏ rực.

 

JAKARTA

Ngày 23.4.1977, hai tàu tiến thẳng vào hải cảng và bỏ neo ngay trước dinh thự của vị quan chức hải cảng. Một lát sau cảnh sát hải cảng hùng hổ nhảy lên hai tàu chúng tôi và chất vấn tại sao! tại sao lại bỏ neo bừa bãi trong hải cảng như vậy? Sau cùng khi biết tàu tỵ nạn cần tiếp tế thêm dầu và thực phẩm để đi Úc châu thì chính quyền hải cảng giao cho một công ty người Hoa ngay trong đêm  tiếp tế những gì chúng tôi đã yêu cầu (rất tiếc tôi làm thất lạc tờ giấy nhận hàng, tên công ty và tên người đại diện công ty rất sốt sắng giúp đem xuống những thùng dầu hai trăm lít).. Khi trời hừng sáng thì canô của hải cảng thúc giục chúng tôi khởi hành và căn dặn là không nên ghé Đông Timor vì sẽ gặp nhiều nguy hiểm? Và họ khuyến cáo tàu chúng tôi quay trở về hướng Tây Bắc, vượt qua eo biển giữa Mã Lai và Indo. Sau khi coi lại hải đồ tôi thấy khá nguy hiểm vì đoạn hải trình tới Úc châu còn khá xa mà lại đi lộ trình Ấn Độ Dương sẽ gặp nhiều sóng gió hơn từ Nam Cực thì chịu sao nổi nên sau khi cano  hải cảng trở lại Jakarta,  tàu chúng tôi quay lại và tiếp tục hướng 100 độ Đông Nam. Sau hai ngày đêm tàu đến eo núi Myrgo gần thành phố Semarang. Xa xa chiếc tuần dương hạm chớp đèn và ra lệnh tàu chúng tôi chạy theo về hướng thành phố nhưng vì tàu không  bắt kịp nên sau đó chiến hạm dừng lại và cho tàu chúng tôi cập tả hạm. Hạm trưởng chỉ cho phép tôi với tư cách thuyền trưởng được phép lên boong và vào phòng ăn sĩ quan. Tại đây hàng chục sĩ quan đang ngồi quanh trung tá hạm trưởng. Vị hạm trưởng cho biết là chiến hạm được lệnh từ Jakarta theo dõi hải trình của chúng tôi mà ông thấy chúng tôi vẫn còn nằm trong vùng nầy. Tôi cho biết lý do là phần lớn đã liều mạng vượt biên, bỏ lại gia đình vợ con nên bây giờ phải thận trọng và sử dụng lộ trình bên trong Ấn độ dương. Nói xong tôi bật khóc. Thật là xấu hổ khi khóc trước các sĩ quan Hải quân nhưng đó không là tâm sự của riêng tôi khi sa cơ lỡ vận mà cũng là tâm tư của người đi biển. Hạm trưởng mời tôi và các sĩ quan uống tách trà và có lời an ủi và thông cảm cho kiếp người bôn ba hải hồ. Cách xử sự rất lịch lãm của người sĩ quan hải quân gây cho tôi cảm xúc dâng trào. Tôi định xin một tấm hải đồ chi tiết lộ trình đến Úc châu nhưng khi nhìn tấm hải đồ quá cũ của họ tôi từ bỏ ý định. Trước khi trở về tàu, hạm trưởng tặng hai hộp bánh biscuit ((loại bánh hải quân dùng khi say sóng không ăn được cơm nước), mỗi hộp 5 ký lô. Sau đó tàu chúng tôi vượt qua vịnh Myrgo và hướng về Semarang 110 độ Đông Nam.  Vì tàu chạy cận duyên nên khi nhìn bên phải cách bờ chừng năm trăm thước thấy những hàng dừa xanh tươi hấp dẫn quá, anh em bàn với nhau lấy xuồng chèo vào bờ hái dừa. Chủ tàu cùng hai anh trên tàu sắp bơi xuồng thì em Phúc xin đi theo. Khi lên bờ ngay vườn dừa, chất đầy dừa trên xuồng rồi thì anh em thấy một bầy dê nên sanh lòng tham, chạy bắt một chú dê con, tính đem xuống xuồng. Chủ dê xuất hiện và rượt nhóm trộm dê. Cháu Phúc quá sợ hãi nên bị vấp té và bị bỏ lại trên bờ trong khi ba người lớn bơi xuồng ra tàu. Sau khi biết chuyện anh Đ. và anh Đ. (biết chút Anh ngữ) đành phải trở vào bờ với hai anh chèo xuồng để tìm cách dàn xếp nhưng bây giờ sự việc không còn đơn giản nữa. Dân làng bắt luôn ba người lớn với cháu P. đưa lên thị trấn Jepara cách xa gần trăm cây số, cho đến chiều mới được đưa về. Anh Đ. cho biết chánh quyền sau khi biết nhóm trộm dê là người vượt biên tỵ nạn nên chỉ cảnh cáo rồi cho trở về tàu.

 

Ngày 26.4.  Bãi san hô giữa đảo Madura và thành phố Surabaya

Sau hai ngày hải hành dọc theo duyên hải bên tả mạn, sáng sớm 26.4 tàu hướng 175 độ Đông Nam và ở giữa hai hòn đảo có chiều rộng khoảng 3 km. Hải đồ không có ghi độ sâu nên tôi cho tàu vào giữa. Không ngờ bị lọt vào bãi san hô. Thật là một sai lầm đáng trách vì trước đó tôi đã thấy tất cả tàu thuyền chỉ chạy dọc hai bên mà không có chiếc nào chạy ở giữa. May mà nước đang lớn nên sau gần ba giờ tàu mới thoát khỏi bãi san hô nầy, suýt nữa là đắm, hết đến Úc. Tàu chạy đến chiều tối thì thả neo gần bờ. Đêm đến trên bờ có rất nhiều ánh đèn màu sáng chói. Sáng dậy thì bên ghe số 2 cho hay hồi hôm họ đã vào bờ và trên bờ có thành phố và rất đông người vui chơi. Sau này mới biết đó là Bali.

 

Giáp nối dòng nước giữa Thái Bình Dương  và Ấn Độ Dương 

Thái Bình Dương (Pacifique Ocean & Indian Ocean) và Ấn Độ Dương gặp nhau tại Lombok Strait. Hai dòng nước lớn gặp nhau tạo nên những xoáy nước rộng cả trăm thước, có thể cuốn hút những con tàu của như tàu của chúng tôi xoay như chong chóng. Chiếc Thanh Nam dẫn đầu và chiếc Hải Triều theo sau cách khoảng trăm thước. Chiếc Thanh Nam nhấp nhô, chót cột cờ với ngọn đèn lúc hiện lúc mất. Gió hú. Sóng gào.  May mà hai con tàu có đủ sức mạnh vượt thoát được cơn hiểm nguy và sang bên Ấn độ dương lúc xẩm tối sau gần nửa ngày trời vất vả với sóng gió ba đào. Rồi bỗng nhiên trước mặt nổi lên một vật đen tròn bằng cái nia. Tôi mặc dù rất mệt mỏi cũng cố gắng hết sức tàn chạy ra trước mũi tàu để quan sát cho rõ. Tôi cho thả trôi tàu vì sợ đụng đá ngầm. Thì ra là lưng của một con cá đuối khổng lồ đang chặn trước mũi tàu mà vì trời nhá nhem nên mình tưởng là đá ngầm. Trong lúc nhìn chung quanh để tìm đường tránh tôi thấy có những ánh đèn mờ mờ bên tả mạn. Qua ống dòm, tôi thấy có những khóm dừa nên không đắn đo chạy thẳng vào bờ, thì ra là hướng vào một cái vịnh nhỏ.

PLONGASO – Lombok

Trong đêm nhìn chung quanh vịnh bên tả mạn có ánh đèn của các xuồng đánh cá và những hàng dừa ẩn hiện. Sáng hôm sau nhìn chung quanh thấy toàn dừa là dừa và những nhà sàn mái lá. Tàu chúng tôi neo cách bờ cạn khoảng hai trăm thước. Trên bờ dân làng tụ tập đứng nhìn chúng tôi. Chủ tàu và tôi cùng lội vào bờ, nước sâu quá đầu gối. Chúng tôi tìm cách tiếp xúc với dân làng bằng Anh ngữ nhưng họ không nói một câu tiếng Anh nào hết. Chúng tôi đành chịu và trở về tàu. Vào trưa thì xuất hiện hai cảnh sát và một nhân viên quan thuế. Họ không lội mà được ba người thanh niên trai tráng cõng ra tàu của chúng tôi! Họ nói tiếng Anh và chúng tôi trình bày là sau khi nghỉ ngơi chúng tôi sẽ khởi hành đi Úc châu. Họ cho biết dân làng sẽ tổ chức một lễ cưới vào ngày hôm sau và chúng tôi được phép tham dự. Vì khi đến Jakarta, tàu chúng tôi được tiếp tế hai bao gạo trăm ký nên chúng tôi tặng họ mười ký gạo và một cục xà bông thơm mà chủ tàu cất giữ mấy tuần nay chưa xài tới. Thật là tội nghiệp cho cái cộng đồng nhỏ bé nầy, đám cưới chẳng có gì ngoài mười ký gạo để nấu cơm, một nồi cà ry cá và một nồi cary gà (chỉ có một con gà) kèm theo cây trái vườn nhà. Lễ cưới theo nghi thức Hồi giáo.

Ngày hôm sau chúng tôi đến thăm nhà Già làng. Ông nói tiếng Indo, chúng tôi nói tiếng Anh và không ai hiểu được ai. Vậy mà sau một vài giờ ra dấu và vẽ hình thì cả hai bên hiểu nhau rất tốt. Già làng cho biết theo kinh nghiệm của ông thì trong vòng năm bảy ngày nữa biển sẽ êm và chúng tôi sẽ ra đi an toàn. Ông để tay vào trái tim và nói “sodara” có nghĩa là tình bạn. Chúng tôi cũng được con cháu của ông đưa đi tắm suối. Phụ nữ thì tắm trên đầu nguồn và thích thú với miếng xà phòng thơm mà chủ tàu đã tặng. Còn chúng tôi và đám trai trẻ thì chỉ được tắm dưới nguồn giống như  phong tục của đồng bào Thượng bên Việt Nam mình. Sau khi tắm xong, trên đường về tàu, ngang qua cánh đồng lúa chín với nhiều hàng dừa nặng trĩu trái, tôi lại nhớ vợ nhớ con, nhất là đứa con gái mới vừa một tháng tuổi, lòng bồi hồi nên ngồi xuống gốc dừa. Lo buồn và mệt mỏi quá, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc ngủ bên tai tôi nghe văng vẳng tiếng hò ù ơ như tiếng hò của các thôn nữ quê tôi, làng Lai Hòa (Bạc Liêu) mùa gặt (ngày nay các nhà nghiên cứu Việt Nam và Indo đều cho rằng người Minangkabau ở khu vực Tây đảo Sumatra, là hậu duệ của người Việt di cư tới đảo khi Hai Bà Trưng bị nhà Hán đánh bại).

Giựt mình thức dậy thì vẫn nghe tiếng hò từ các cô thôn nữ Inđô sao mà giống Việt Nam quá! Vợ con bây giờ đang làm gì đây trong khi tôi lại xa quê hương ngồi thui thủi dưới bóng dừa!

Sau bảy ngày chờ cho biển êm chúng tôi được Già làng cho biết là thời gian thuận tiện cho chuyến vượt biển đến Úc châu qua Ấn dộ dương và lấy hướng 130 độ ĐN đến điểm cuối cùng là tọa độ hải cảng Frederick Harbour thuộc Tiểu bang Tây Úc.

 

Prince Frederick Harbour

Sau mấy ngày chờ cho biển êm, sáng ngày 4 tháng 5, tàu khởi hành hướng về Úc châu. Đây là chặng chót qua Ấn độ dương,  hướng  130 độ Đông Nam đến điểm cuối cùng là hải cảng Frederick Harbour thuộc Tiểu bang Tây Úc. Chiếc tàu Thành Nam đã khởi hành từ khuya. Sau này mới biết là khi tôi lên bờ tại Lombok thì có một vài anh bên tàu Thành Nam đã tìm ra được tấm hải đồ của tôi, trong đó tôi đã ghi hướng và thời gian của từng chặng hải hành (như việc tôi thường làm hồi còn phục vụ trên chiến hạm). Phần lớn các bạn trên tàu Thành Nam là ngư phủ, chịu đựng sóng gió rất giỏi, và có bạn C.. trình độ học vấn khá, biết cách sử dụng hải đồ nên họ muốn đi sớm và không lệ thuộc những quyết định của chúng tôi.

Sau chín ngày đêm tàu chúng tôi vượt một đoạn hải trình hơn một ngàn tám trăm cây số. Sóng êm biển lặng và vào những ngày cuối gần Úc châu có những cụm rong biển nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Anh H. thì thầm bên tai tôi “Trời thương tụi mình anh ơi! Nên ra dấu biển êm sóng lặng đó anh” Anh H. quê miền Trung theo cha hành nghề đánh cá khi còn nhỏ nên có nhiều kinh nghiệm về thời tiết khi đi biển. Tôi còn nhớ có những giòng hải lưu ngầm trong đó có giòng hải lưu chảy từ hướng nam dọc qua tây bắc Úc châu nên khi hải hành thay vì giữ hướng 130 độ thì tùy theo giòng nước và sức gió mà tăng thêm từ 3 đến 5 độ để giữ đúng hướng. Vào hoàng hôn ngày 13 tháng 5 chúng tôi nhìn thấy dãy núi Hann và Anderdon trong vùng quần đảo Bonaparte Archipelago và trong đêm thấy có một vài ánh đèn lấp loé. Sáng hôm sau, nhìn trên hải đồ, tọa độ nơi đến Úc châu là Prince Frederick Harbour (cảng Hoàng tử Frederick) mà tôi không thấy dấu vết tàu bè đâu hết! Chung quanh toàn là biển đảo, rất nhiều đảo mà không thấy phố xá hay người? May thay nhìn về hướng Bắc qua ống dòm thấy có một vật lạ giống như thủy phi cơ có lúc hai bên cánh xếp lại rồi bung ra nhưng khi lại gần mới nhận ra là tàu cào tôm. Mừng quá tôi vội viết ba chữ “WE SEEK ASYLUM“ có nghĩa là “chúng tôi xin tỵ nạn”. Sau đó thuyền trưởng của tàu cào tôm liên lạc với chiến hạm Hải Quân Hoàng gia Úc đang tuần tiễu trong vùng và ông ta gởi hai chục ký tôm tươi  và cho biết trên radar ông ta phát hiện có một chiếc tàu lạ nữa. Thì ra là chiếc tàu số hai đã đi trước chúng tôi bị chết máy được tàu cào tôm đưa đến đây. Cả hai tàu vượt biên ăn mừng với hai chục ký tôm khi đến Úc châu.

Đến giữa trưa thì tàu tuần duyên có tên HMS ADROIT 82 (loại Patrol Boat, dài khoảng 30 thước) cập hữu mạn tàu chúng tôi và gọi tôi với tư cách là thuyền trưởng sẽ đại diện hai tàu vượt biên để nói chuyện với hạm trưởng. Tôi đem theo tấm hải đồ, giấy chứng nhận được trả về nguyên quán cấp tại Vĩnh Long và thẻ căn cước quân nhân mà may mắn tôi còn giữ được. Thiếu tá Hạm trưởng tiếp tôi rất lịch sự khi tôi trình bày ý định xin tỵ nạn. Ông tỏ ý thông cảm việc chúng tôi buộc lòng phải bỏ lại vợ con rồi ông cho photocopy bản hải đồ và thẻ căn cước quân nhân của tôi và gởi bằng điện tuyến về cấp trên để hỏi ý kiến. Sau đó tôi còn được mời ăn cơm trưa và tặng một bịch thuốc (mười gói). Khi trở về tàu thì thấy tất cả anh em trên hai tàu đều trong thế ngồi hai hàng trên boong tàu và tất cả đều bị trói thúc ké. Thì ra theo luật bảo vệ biên giới biển, bất cứ ai xâm phạm hải phận đều bị cầm tù. Vị hạm trưởng chỉ tay lên đài chỉ huy của chiến hạm có vẽ nhiều hàng cờ của nhiều quốc gia như Indo. Đài Loan, Trung Hoa v.v. và cho biết chiến hạm đã bao nhiêu lần bắt giữ những tàu thuyền xâm nhập hải phận Úc châu.

Sáng hôm sau, trước chín giờ sáng tất cả được lệnh tập họp trước sân tàu Hải Triều và hướng về cột cờ mũi của chiến hạm để chào cờ. Sau đó, vị hạm trưởng trịnh trọng cho biết theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Di Trú ông Mac Kellar,  nhóm người vượt biên trên hai tàu vừa đến hải phận Úc châu được chấp nhận cư trú với tư cách tỵ nạn và hai tàu này phải khởi hành về hướng Nam để đến thị trấn Broome duyên hải tiểu bang Tây Úc.

 

Broome

Vì tàu số 2 bị hư máy nên chiến hạm Adroit kéo đi và khi khởi hành thì vận tốc của chiến hạm khá lớn nên mũi tàu số hai bị nhấc lên cao và phần lái có thể chìm nên cuối cùng tàu Hải Triều phải cho tàu số 2 cập hữu mạn để kéo theo và sửa chữa lại máy trong khi chiến hạm cử một thượng sĩ mang máy truyền tin qua tàu số 2 để kiểm soát và liên lạc với chiến hạm. Sau ba ngày hai đêm, sáng 15 tháng 5, đoàn tàu bỏ neo cách cầu tàu Broome gần năm trăm thước vì nước ròng không thể cập tại cầu tàu (pier). Canô đưa phái đoàn Bộ di trú từ thành phố Darwin đến, có thông dịch viên người Việt đi theo. Khi phái đoàn lên tàu Hải Triều, thông dịch viên thay mặt viên chức đại diện Bộ di trú đọc quyết định chấp thuận cho đoàn tỵ nạn gồm hai mươi lăm người, trong đó một phụ nữ và một bé gái chín tháng tuổi. Sau đó tất cả chúng tôi được đưa lên bờ. Có một nữ ký giả gặp tôi khi tôi vừa bước lên đầu cầu và sau khi hỏi danh tánh của tôi, cô ta hỏi là tôi có đem được gia đình đi theo không. Thay vì trả lời tôi không cầm được cảm xúc khi nhớ đến con gái ba tháng tuổi và hai đứa con trai phải bỏ lại, nhớ gương mặt thất thần của vợ tôi, tôi bật khóc nức nở. Lúc đó người nữ ký giả cũng bật khóc và ôm tôi với cử chỉ an ủi và vỗ về chan chứa tình người. Sau đó tôi được cho tạm trú tại trường Christian Brothers’ College do linh mục hiệu trưởng đón tiếp. May mà các học sinh đang nghỉ hè nên trường có thể tiếp đón nhóm tỵ nạn này. Trừ hai chủ tàu là anh Huỳnh V. Đ và anh M. chủ tàu đánh cá thì ở lại coi sóc tàu của họ cho tới khi giải quyết xong việc bán tàu cho người dân địa phương. Thật là ngỡ ngàng vì khí hậu ở đây giống Việt Nam, phần lớn đàn bà chỉ mặc quần ngắn và mặc yếm như phụ nữ Việt xưa. Sau đó, chúng tôi được giúp lập thủ tục di trú tạm thời và lãnh tiền an sinh xã hội, khoảng bảy mươi Úc kim. Thị trấn có một số cư dân người Úc gốc Nhật mà lúc ban đầu chúng tôi lầm tưởng họ là người Hoa. Họ chuyên nuôi hàu để lấy ngọc trai. Khi chúng tôi tạm trú tại trường trung học Công giáo Christian Brothers, họ rất thương, đặc biệt là cho cháu bé Thanh rất nhiều quần áo trẻ em. Những anh em trai trẻ giúp chúng tôi nơi ăn ở, bỏ quần áo cũ và mùng mền lại trên tàu và chiến hạm Hải quân Hoàng gia Úc đổ dầu đốt rồi quăng bỏ trên biển. Theo lời anh Đệ kể lại thì vào tối đầu tiên, sau hơn một tháng trên tàu, một số anh em không có thuốc lá nên rất thèm thuốc hút cho nên linh mục hiệu trưởng trường Christian Brothers dẫn họ ra phố xin thuốc lá của dân. Cư dân nơi đây rất tốt, không những họ cho thuốc lá mà còn gởi kẹo bánh cho em Phúc và bé Thanh.  Riêng tôi còn nhớ có một em cao lớn gốc người Nhật mà ban đầu tôi cứ tưởng là người gốc Trung hoa vì em mặc áo thun trước ngực có in chữ Trung Hoa, rất nhiệt tình, suốt cả buổi đem quần áo đi giặt và giúp các bà lo cơm nước cho chúng tôi. Bữa cơm đầu tiên có một nồi cơm, một nồi cà ri gà rất lớn và rau cải xào. Chúng tôi quen ăn cơm nhiều nên một loáng là hết cơm mà nồi cà ri thì còn phân nửa, báo hại nhà bếp phải vội nấu nồi cơm khác và họ phải phì cười về chuyện này. Ngày hôm sau chúng tôi được xe bus đưa ra phi trường để đi xuống thành phố Perth – WA cách đó cả ngàn cây số nữa. Trên đường ra phi trường có anh… chỉ trên bảng quảng cáo có hình anh ta và người bạn.

 

Perth – Graylands Hostel

Sáng ngày 17 tháng 5 năm 1977, khi đến phi trường Perth – WA, nhóm hai mươi lăm người chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào thiên đàng hạ giới. Một số anh em vì có lãnh tiền ngày hôm trước nên trên phi cơ đã mua bia uống say mèm. Khi chúng tôi lên xe bus để đến nơi tạm trú, anh tài xế đưa cho tôi tờ báo The West Australian – Perth ra ngày Thứ Ba 17 tháng 5 năm 1977 có phóng sự của ký giả Tim Nelson viết về cuộc vượt biên của hai mươi lăm người Việt đã đến Broome và sẽ đến Perth trong ngày và tạm trú tại Graylands Hostel. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn giữ tờ báo nầy.

Khu tạm trú (được xây cất vào năm 1918) có nhiều dãy phòng và mỗi phòng có thể nhận từ hai đến bốn người. Đồi núi như Đà Lạt, vào mùa đông thêm tiếng quạ kêu, chúng tôi nhớ đến vợ con còn bị bỏ lại tại quê nhà mà lòng quặn đau.

Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ mà đem lòng nhớ thương
Anh bạn Đệ trong nhóm vượt biên vừa đến tức cảnh nên viết những câu thơ như sau:

Đường vắng không tên của một buổi chiều thanh tịnh…để rồi nhớ mãi… Hoàng hôn buồn cảnh vật cũng lặng im… Mây lơ lửng rớt chìm trong nỗi nhớ…. Tình thắm thiết sao đành gieo bỡ ngỡ…. Tơ rã rời duyên nợ phủ rong rêu…

Đệ tự Diệp Hải Dung

Những ngày đầu hội Saint Vincent de Paul, hội Hồng Thập Tự (Red Cross) và hội Salvation Army đem quần áo đến phát cho chúng tôi. Loay hoay lo cho anh em chọn những bộ đồ vừa ý, cuối cùng không còn bộ nào cho tôi và tôi được đưa ra phố đến cửa hàng KMART mua cho hai bộ quần áo vừa vặn. Điều mà tôi không bao giờ quên là lúc đó người Úc rất thương và chăm sóc chu đáo nhóm “boat people”. Ngoài ra còn các anh chị trong nhóm Columbo như vợ chồng anh chị Hòa, vợ chồng anh chị Thanh-Hằng và anh Chu văn Hợp. Rất tiếc vì quá lâu nên tôi quên tên một số anh em, nhất là nhóm ký giả báo, đài muốn khai thác tin tức từ Việt Nam. Cuối cùng ban giám đốc Hostel không cho họ gặp chúng tôi nữa, lấy lý do chúng tôi bận học Anh ngữ.

Riêng cá nhân tôi, có linh mục Huỳnh San, lúc đó đang là chủng sinh Công giáo thuộc Tổng giáo phận Perth có đến gặp tôi. Tôi được biết thầy Huỳnh San là bào đệ của một sĩ quan cấp tá Hải quân VNCH khóa 10, từng chỉ huy một chiến hạm mà tôi có dịp phục vụ. Sau đó thầy cho biết là có một vị tướng thuộc Quân lực Hoàng gia Úc muốn biết tin tức về Hải quân VNCH sau khi nhận lệnh đầu hàng ! v.v. và có ý muốn biết tôi có thích gia nhập lại Hải quân Hoàng gia Úc không? Tôi cũng được văn phòng Bộ Di trú phỏng vấn và đề nghị được tạm thời làm thông dịch cho nhóm tỵ nạn trong khi chờ nhập khóa học thông dịch viên. Và văn phòng cũng xin tấm hải đồ mà tôi đã sử dụng để vượt biên. Trước khi tôi giao tấm hải đồ, thầy Huỳnh San muốn tôi lược thuật lại chuyến vượt biên từ Trenanu đến Úc. Từng chi tiết được ghi chép rõ ràng. Lúc đầu tôi cứ tưởng thầy muốn biết để làm tài liệu. Những năm 90 tôi gặp lại thầy (lúc này đã là linh mục) ở tiểu bang Victoria. Linh mục cho biết nhờ những chi tiết từ cuộc hải hành của nhóm chúng tôi mà sau đó chỉ vài tháng có nhiều chuyến tàu vượt biên ồ ạt đến Úc.

Adelaide

*OAM

Mỗi Úc quốc gia đều có một hệ thống huân chương để ghi nhận và tán thưởng thành quả xuất sắc của công dân. Úc nguyên là một thuộc địa của Nước Anh và tuy được độc lập từ năm 1901, Úc vẫn áp dụng hệ thống huân chương của Hoàng Triều Anh Quốc cho đến 1975, khi “The Order Of Australia” được thành lập. Trải qua nhiều giai đoạn thay đổi và điều chỉnh Huân chương “The Order of Australia” gồm 4 đẳng trật gọi tắt là AC, AO, AM và OAM.

Nguyễn Bá Nghiệp, định cư với tư cách là thuyền nhân tỵ nạn từ năm 1977 và  đã được Ông Lê Văn Hiếu, Toàn Quyền Nam Úc thay mặt Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị trong tư cách Nữ Vương Úc Đại Lợi trao tặng Huân chương The Order Of Australia trong năm 2016  về thành tích thiện nguyện. (trích Ngọc Hân, Đài VOA Washington DC).

Ngày nhận huân chương, vợ và các con tôi được phép đặc biệt có mặt đầy đủ để chứng kiến ngày danh dự của của một người chồng và cha đã vượt biển đến Úc châu bằng thuyền máy mà sau nầy có tên đặt biệt là “Boat People”.

Nguyễn Bá Nghiệp OAM*

No comments:

Post a Comment