Tiến sĩ Nguyễn võ Văn, ĐS5.
Sau ngày 30/4/1975 tại Việt Nam đã xuất hiện câu Ca dao:
“Đầu đường Đại tá vá xe,
Cuối đường Thiếu tá bán chè đậu xanh”
để
mô tả cảnh đổi đời oan nghiệt. Sau đây tôi xin kể câu chuyện có thật về
một vị Tiến sĩ Công pháp Quốc tế, sau 10 năm tù “cải tạo” đã ngồi lề
đường vá xe đạp để kiếm sống qua ngày. Đó là Tiến sĩ Nguyễn Võ Văn,
Thiếu tá Nha Quân pháp, Công tố viên toà án Quân sự mặt trận vùng 3
chiến thuật.
Ông Văn cũng là cựu sinh viên khoá Đốc sự 5 trường Quốc Gia Hành chánh Sài gòn.
Theo truyền thống gia đình Hành chánh, tôi xin được phép gọi ông Nguyễn Võ Văn (Đốc sự 5) bằng Anh, như tôi đã gọi ông Nguyễn Bá Cẫn (Đốc sự 1), cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hoà bằng Anh (vì ông yêu cầu các khoá đàn em phải gọi ông như vậy).
Anh Văn là người đồng hương Bến Tre với tôi. Ông nội của anh Văn là nhà cách mạng Nguyễn Quyền (1869–1941). Cụ Nguyễn Quyền cùng với cụ Lương văn Can sáng lập trường Đông Kinh nghĩa thục truyền bá tư tưởng yêu nước và tinh thần chống thực dân Pháp. Năm 1908 thực dân Pháp đóng cửa trường Đông Kinh và cụ Nguyễn Quyền bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), kết án khổ sai chung thân và bị đày ra Côn Đảo. Năm 1910, cụ được thả ra và bị “an trí” tại tỉnh Bến Tre cùng với một số chí sĩ khác như Dương Bá Trạc, Võ Hoành.
Tại đó, cụ Nguyễn Quyền làm nghề Đông y sĩ và mất năm 1941 hưởng thọ 72 tuổi. Hiện nay tên của cụ được đặt cho một con đường tại phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Con của cụ Nguyễn Quyền là ông Nguyễn Văn Hồng (ba của anh Văn) mở tiệm may hiệu Đại Đồng nằm trên đường Clémenceau (sau đổi tên là đường Lê Lợi. Nhưng người dân thường gọi là đường Giữa, vì nó đâm thẳng vào giữa nhà lồng Chợ Bến Tre).
Ông Nguyễn Văn Hồng có 2 người con: anh Văn là trưởng nam, và cô em gái tên Thu.
Sau
thế chiến thứ hai, năm 1946 Ba tôi xuống tỉnh Bến Tre lập nghiệp. Ông
mở tiệm chụp ảnh lấy tên là Viễn Lai, cũng nằm trên đường Clémenceau (Lê Lợi) đối
diện xeo xéo với tiệm may Đại Đồng. Anh Văn lớn hơn tôi 7 tuổi thuộc
lớp đàn anh, nên anh coi tôi như em út, với tình hàng xóm láng giềng.
Người
hiền lành, dễ thương, luôn dịu dàng nhỏ nhẹ, anh Văn lại học giỏi, đẹp
trai, là thần tượng của đám trẻ chúng tôi và của các cô gái đương thời.
Năm 1956 anh Văn đậu Tú tài toàn phần, anh có về quê nhà làm giáo sư dạy giờ tại trường Trung học Bến Tre. Năm đó. anh Văn dạy tôi môn Pháp văn. Do vậy, ở trường tôi gọi là thầy Văn, về nhà thì gọi bằng anh.
Anh Văn chỉ dạy có bốn năm tháng rồi trở lên Sài gòn để theo học khoá Đốc sự 5 Quốc gia Hành chánh.
Trong thời gian 3 năm học Quốc gia Hành chánh (lúc đó khoá Đốc sự chỉ có 3 năm), anh Văn lấy luôn Cử nhân Luật (lúc đó Cử nhân Luật cũng chỉ có 3 năm) và vài năm sau, anh Văn bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Công pháp Quốc tế tại đại học Luật khoa Sài gòn.
Động
viên vào Vỏ khoa Thủ Đức, khi ra trường anh được bổ nhiệm về Nha Quân
pháp trụ sở tại bến Bạch Đằng, giữ chức vụ Ủy viên Công tố, toà án Quân
sự Mặt trận.
Vụ
án lớn nhất mà anh Văn ngồi ghế Công tố viên là vụ xử tướng Vũ văn
Giai, tư lệnh sư đoàn 3 Bộ binh, người đã tự ý bỏ tỉnh Quảng Trị đầu năm
1975, trước khi có lệnh “di tản chiến thuật” của Tổng thống Nguyễn văn
Thiệu.
Anh Văn lập gia đình với người đồng hương, đồng xóm, tên Lê
thị Manh Manh, và có với nhau 8 người con. Sau năm 1975 anh bị đi tù
“cải tạo” 10 năm ngoài Bắc.
Phần tôi
sau hơn 2 năm tù “cải tạo” tôi không được ở Sài gòn, mà phải về quê Bến
tre lao động sản xuất. Tôi cũng đã vượt biên ba lần nhưng không thành
công.
Tôi còn nhớ trước khi vượt biên năm 1984, vợ chồng tôi lên chùa BV từ giả Ni sư Đức, vị thầy truyền giới của con tôi.
Tình
cờ, hôm đó có một Đại đức từ quê Giồng Trôm ghé qua chùa BV để coi
phong thủy, chọn địa điểm đặt tượng Địa Tạng vương Bồ tát.
Ni
sư Đức bảo “thầy phong thủy” coi giùm chúng tôi một quẻ xem chuyến đi
có thành công hay không. Thầy từ hậu liêu bước lên Chánh điện. Chúng tôi
đứng lên xá chào thầy. Nhìn “dung nhan” của tôi khoảng chừng 1 phút,
thầy phán:
– Đi làm gì cho mất công, rồi cũng trở về chốn cũ. Cứ ở yên chờ ngày người ta trải thảm đỏ mời lên “máy bay”.
Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì cả, nhờ thầy nói rõ thêm. Thầy lắc đầu bảo: “Quẻ đã như vậy, không biết gì hơn”.
Về nhà tôi suy nghĩ, mình bị tù “cải tạo” dưới 3 năm, không đủ tiêu chuẩn đi HO. Vậy thì đi đâu bằng máy bay?.
Bất
ngờ cuối năm 1984, bà chị bên Úc gửi giấy tờ bảo lãnh ông Nhạc tôi và
vợ chồng tôi. Đầu năm 1985, chúng tôi kéo nhau lên Sài gòn gặp phái đoàn
Úc phỏng vấn. Vị trưởng phái đoàn cho biết hiện tại Úc chỉ cho bảo lãnh
Cha mẹ, chưa cho anh chị em. Thế là ông Nhạc tôi không đi. Ông chỉ đi
Úc nếu chúng tôi được đi kèm. Hồ sơ bị khép lại.
Sang
năm 1985, Sở Ngoại vụ thành phố lại gửi thư mời vợ chồng tôi lên Sài
gòn gặp phái đoàn Úc, vì luật di trú Úc đã cho bảo lãnh anh chị em ruột.
Ngày
vào gặp phái đoàn, họ cho biết nếu đủ 60 điểm sẽ được đi. Sau một giờ
phỏng vấn hỏi đáp bằng Anh ngữ, ông Úc già cho biết chúng tôi được 65
điểm và căn dặn về nhà chuẩn bị chờ thân nhân bên Úc gửi vé máy bay là
lên đường.
Bây giờ mới thấy sự linh ứng của ông thầy “phong thủy” ở chùa BV.
Trở lại chuyện anh Văn. Sau 10 năm “cải tạo” anh Văn sống sót trở về Bến Tre, hành nghề vá xe đạp.
Một
ngày đầu tháng Hai năm 1986, tôi đạp xe trên con đường liên tỉnh Bến
Tre – Mỷ Tho. Qua khỏi lộ Hàng Keo tôi chợt thấy trên vỉa hè có một
người gương mặt giống anh Văn, mặc dù từ năm 1956 đến nay đã 30 năm trôi
qua tôi chưa hề gặp lại anh. Lỡ trớn chạy qua khỏi, tôi suy nghĩ mình
sẽ phải quay lại để chào hỏi, và nếu đúng là anh Văn thì phải gọi bằng
Anh hay bằng Thầy?. Gọi anh thì có chạm tự ái người đã bị “ngả ngựa” hay
không?. Thôi thì “nhất tự vi sư – một chữ cũng là thầy”.
Tôi quay lại, dừng trước mặt ông vá xe và nói “Chào Thầy”. Anh Văn ngẩng lên cười và nói to “A, Nguyễn đồng Danh đi đâu đây”.
Tôi dựng xe đạp, ngồi chồm hổm cùng với anh. Anh nhìn tôi rồi chợt nghiêm giọng hỏi “Sắp đi ngoại quốc hả?”
Tôi giật mình tự nghĩ mình đang chờ vé máy bay đi Úc, chuyện này chỉ có gia đình mình biết thôi mà. Tôi hỏi “Ủa sao thầy biết?”
Anh Văn đáp “Nó lộ rõ trên gương mặt đó”. Tôi vui mừng hỏi “Thầy có biết ngày nào em đi không?”.
Anh
Văn nghiêm túc miệng lẩm bẩm “niệm chú?”, tay vân vê mấy ngón
chừng như “bấm độn” rồi phán “ Lên máy bay ngày 11 tháng 6 năm nay”.
(*Tác giả minh chứng Ngày lên máy bay rời VN đúng y Ông Văn báo trước thật tài tình là 11-6-1986 đến ÚC là 12-6-1986)
Và quả thật đó là ngày vợ chồng tôi đáp phi cơ từ Sài gòn qua Thái Lan, sau đó từ Thái Lan qua Sydney.
Anh
Văn tâm sự nhiều về quảng đời truân chuyên sau năm 1975. Anh cho biết
10 năm trong tù, anh học được hai việc “Phật pháp” và “Bói toán” và nghề
coi bói của anh quả là thượng thừa.
Sau buổi gặp gỡ đó, tuần nào anh Văn và tôi cũng đi “ăn nhà hàng” cho bỏ cơn nghèo đói. Chuyện hơi dài dòng như sau.
Khi
bị đuổi từ Sài gòn về Bến Tre để lao động sản xuất, tôi bị bắt phải
gia nhập cái gọi là Hội Trí thức yêu nước. Ở đó tôi quen với nhiều vị
“Bác sĩ Ngụy” như anh Phiệt, anh Lộc …
Anh Phiệt là Thiếu tá Quân y
trước 1975, anh đi tù “cải tạo” mấy năm không rõ, khi thả về thì anh bị
“tâm thần” nhẹ. Do đó không xin lưu dụng. Tuy nhiên vợ anh cũng là bác
sĩ. Chị vẫn làm việc tại bệnh viện Tỉnh và có mở phòng mạch riêng tại
nhà. Nhờ đó anh chị có tiền bạc rủng rỉnh.
Không biết vì lý do gì mà
bác sĩ Phiệt thương tôi như em. Anh đến nhà tôi chơi, dạy con trai tôi
đánh đàn Guitar và tuần nào cũng dắt tôi đi ăn nhà hàng (nhà hàng Lạc Thành, tỉnh Bến Tre).
Sau
khi tôi giới thiệu anh Phiệt và anh Văn quen nhau. Hai anh thân nhau
ngay, vì cùng là “trí thức Ngụy” một người là Thiếu tá Bác sĩ Y khoa,
một người là Tiến sĩ Công pháp, Thiếu tá Công tố viên. Từ đó anh Phiệt
mời luôn anh Văn đi ăn nhà hàng.
Nhờ sự hào phóng của bác sĩ Phiệt mà tuần nào anh Văn và tôi cũng được “cải thiện” về ẩm thực, cho qua cơn thèm khát. Bây
giờ anh Văn, anh Phiệt đã ra người thiên cổ. Tôi chỉ biết thắp nén
hương lòng tưởng niệm hai người Anh tài đức vẹn toàn, nhưng sinh bất
phùng thời.
Một người Tiến sỉ
Công pháp Quốc tế, ngồi vá xe đạp bên lề đường, một người Bác sỉ Y khoa,
đóng vai “Tôn Tẩn giả điên”, để không phải đi làm việc dưới quyền của
các ông các bà Y sĩ “cách mạng” từ trong rừng về thành.
Chú thích:
Ông Nguyễn Võ Văn, pháp danh Thiện Duyên, cựu thiếu tá Nha Quân pháp –
Quân lực VNCH, từ trần ngày 19/9/2020 tại Sprinfield, Virginia, USA,
hưởng thọ 84 tuổi.
Người viết: Nguyễn đồng Danh – Trần ngọc Liên (ĐS19)
***ĐÍNH KÈM:
GIẤY KHEN của Ông PHẠM TẤN KIỆT, Giám Đốc NHA TRUNG HỌC của BỘ VĂN HÓA GIÁO DỤC& THANH NIÊN đề NGÀY 27-3- 1974. Gởi Cho Ông NGUYỄN ĐỒNG DANH- HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG QUẬN 9 -SÀI GÒN-
* Ghi Chú: Đính kèm giấy khen nầy để chứng minh ĐÔ THÀNH SÀI GÒN VÀO NĂM 1974 CÓ QUẬN 9 mà nhiều người vẫn hòai nghi cho rằng thời VNCH Đô Thành SÀI GÒN KHÔNG CÓ QUẬN 9./-TCLãnh


No comments:
Post a Comment