NẾU HÙYNH THỤC VY CHỈ LÀ MỘT THƯỜNG DÂN THÌ KHÔNG BAO GIỜ VIẾT ĐƯỢC NHƯ THẾ NẦY - THEO TÀI LIỆU MỚI ĐÂY THÌ NÊN CẨN THẬN VÀ ĐỌC CHẬM SẼ NHẬN RA LÝ LUẬN TUYÊN VẬN CHUYÊN NGHIỆP CỦA VIỆT CỘNG NGAY ./- Mt68
Bàn về dân trí
Huỳnh Thục Vy
Từ đầu thế kỷ trước, Phan Chu Trinh đã nói đến công cuộc “Khai dân
trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” cho Việt Nam. Đến hôm nay và có thể
là một thời gian dài sau này, riêng chuyện dân trí chắc sẽ còn tốn
nhiều thời gian và giấy mực của chúng ta.
Không ít lần, bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản rêu rao
rằng: Việt Nam dân trí chưa cao để có thể có dân chủ; vì vậy, đảng và
nhà nước cộng sản cần cai trị thêm, chờ khi nào dân trí đủ cao thì họ
sẽ tự động thay đổi hệ thống chính trị và dân chủ hóa.
Thời gian chờ đợi này có thể là năm mươi năm hoặc một trăm năm? Đây
chắc chắn không phải chỉ là lời chống chế cho sự cầm quyền bất xứng,
không chính đáng và dai dẳng của đảng cộng sản lên hơn chín chục triệu
dân Việt Nam; mà nó có thể còn là suy nghĩ chân thành và thiện chí của
nhiều người có học Việt Nam. Chưa có dân trí cao thì chưa thể có dân
chủ?!!
Và với nền giáo dục ngăn cản tự do, sáng tạo và đang ngày càng lụn bại
như tại Việt Nam thì còn lâu trình độ tri thức của người dân Việt Nam
mới có thể sánh kịp các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, thậm chí là
Thái Lan…Vậy thì đảng cộng sản sẽ tiếp tục ở đây, ngay trên đầu chúng
ta trong một vòng định mệnh lẩn quẩn: độc tài -> dân trí thấp, dân trí
thấp -> độc tài?!
Tất nhiên, tri thức là điều kiện không thể thiếu để phát triển đất
nước một cách toàn diện và vững chắc. Chính tri thức cũng là yếu tố
củng cố nền dân chủ. Tri thức giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh
chóng, am hiểu luật pháp và có những phản ứng hữu hiệu cho các chính
sách quốc gia hoặc những thực hành chính trị của nhà cầm quyền. Tri
thức và sự sáng tạo cũng là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, sự
hòa nhập của quốc gia vào cộng đồng quốc tế trong mọi lĩnh vực để
người dân được sống ngày một thịnh vượng và có uy tín trên trường quốc
tế hơn. Không ai có thể phủ nhận vai trò của trình độ tri thức đối với
tiền đồ một quốc gia.
Nhưng chúng ta đang nói đến dân trí. Dân trí phải chăng đơn giản chỉ
là trình độ tri thức của người dân, là chỉ số có thể đo lường được
thông qua con số người có bằng cấp cao, tốt nghiệp những đại học danh
tiếng? Chúng ta hãy cùng nhau dành thời gian để suy nghĩ về mệnh đề:
“Dân trí thấp thấp thì chưa thể có Dân chủ”. Ấn Độ năm 1947 khi giành
được độc lập, dân trí có cao hơn Việt Nam bây giờ không? Miến Điện hay
Cambodia đã bắt đầu con đường dân chủ hóa có dân trí cao hơn Việt Nam
không? Nếu các bạn lưỡng lự, thì chúng ta có thể cần nhiều thời gian
hơn nữa trước khi đưa ra bất cứ khẳng định một cách khoa học nào về
chuyện Dân trí - Dân chủ.
Theo thiển ý của người viết bài này, dân trí không chết cứng trong cái
nội hàm “tri thức”. Dân trí là một tập hợp những điều kiện thuộc về
não trạng và văn hóa nhiều hơn là tri thức. Dân trí cao không phải là
tỷ lệ cao những người có học và có bằng cấp cao mà là các yếu tố thuộc
về nhận thức (chứ không phải tri thức) có thể chi phối hành động và
phản ứng của người dân trong mối quan hệ của họ với nhau và của họ với
chính quyền.
Ví dụ, những người có học hành nhiều chưa chắc là những người có hành
xử văn hóa. Trong cách dùng thông dụng do những người cộng sản hiện
nay áp đặt, người có bằng cấp cao thì được gọi là người có trình độ
văn hóa cao. Nhưng thực tế, những hành xử văn hóa không phụ thuộc
nhiều vào việc người ta có học nhiều hay không, mà phụ thuộc vào nền
tảng đạo đức từ môi trường gia đình - xã hội, những quy tắc hành xử
phổ biến trong xã hội và nhận thức của chính người đó về các giá trị
công bằng, bác ái, tự do và công lý; để rồi từ đó có nhận thức đạo
đức cơ bản và hành xử luân lý tương ứng.
Một người đàn anh đáng kính của tôi từng chia sẻ: Dân trí là chỉ số để
đo (và luôn tỷ lệ nghịch với) mức độ thờ phụng quyền lực các loại.
Người dân thờ phượng quyền lực chính trị, trí thức thờ phượng một trí
thức tên tuổi khác… Người viết tạm thời đưa ra vài đặc điểm dưới dây
mà tôi xem như là biểu hiện của một nền dân trí cao:
- Người dân và đặc biệt là giới trí thức không/ ít sợ hãi và tôn sùng
quyền lực, dù đó là quyền lực chính trị, kinh tế, học thuật hay tôn
giáo. Người dân không xem những người cầm quyền chính trị là những
người có vị thế ưu thắng tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Đối với họ,
các vị trí lãnh đạo quốc gia là có thể thay đổi được, dựa trên ý chí
của chính người dân; và các vấn đề to lớn của quốc gia không phải là
sân chơi riêng của những người ở “tầng lớp trên”.
- Giới trí thức không/ ít khao khát quyền lực chính trị. Họ không xem
việc nắm quyền chính trị hoặc hưởng lợi nhờ quyền lực chính trị là mục
tiêu hoặc là biểu hiện thành công của sự nghiệp mình. Tất nhiên tham
chính và lãnh đạo quốc gia không phải là điều xấu nhưng đó không phải
là cách duy nhất khiến một người có được vinh quang, sự khen ngợi và
công ích xứng đáng. Trí thức đặt mình vào một vị thế còn quan trọng
hơn, đó là giám sát chính trị, đề nghị chính sách quốc gia và phục vụ
người dân.
- Người dân có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống
hằng ngày và các mối quan hệ với cộng đồng thông qua các hoạt động tự
lập và tự quản, không viện đến sự xử lý của chính quyền nếu chưa cần
thiết. Những sự phụ thuộc nhỏ lẻ vào chính quyền cho thấy ở họ tâm lý
lệ thuộc thực chất còn lớn hơn nhiều.
- Người dân có xu hướng tôn trọng hạnh phúc và tự do của từng cá nhân
con người; đề cao tự do và phẩm giá con người với tư cách từng cá nhân
cụ thể; dù trân quý những hy sinh của cá nhân cho cộng đồng nhưng
không coi sự hy sinh của cá nhân cho tập thể là giá trị luân lý bắt
buộc.
- Người dân có xu hướng giải quyết vấn đề bằng phương pháp hòa bình và
tinh thần khoan dung, không đề cao vũ lực và không/ít bị kích động bởi
khuynh hướng bạo lực. Và họ có khả năng đề kháng tương đối đối với
những hô hào mị dân về chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
- Người dân có ý thức về lợi ích của sự hợp tác và có khả năng xây
dựng đồng thuận một cách lành mạnh và tuân thủ luật pháp để hợp tác
với nhau trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng và quốc gia. Nếu
mệnh lệnh tùy tiện và độc đoán là đặc trưng của những xã hội bán khai
từ thời xa xưa của nhân loại thì khả năng tạo đồng thuận và hợp tác là
kỹ thuật đặc biệt của những cộng đồng văn minh của thế giới hôm nay.
- Người dân giữ được sự bình tĩnh tương đối, khả năng hành động tương
hỗ và sự thượng tôn luật pháp khi cộng đồng hoặc quốc gia lâm vào
những tình huống khẩn cấp như thiên tai, chiến tranh, tội phạm. Họ có
khả năng ứng phó một cách khoa học, lý tính trong những trượng hợp đó.
- Người dân có khả năng tư duy và phán đoán độc lập, không/ ít tôn
sùng biểu tượng, không đeo bám cứng nhắc những giáo điều hay chủ
thuyết nhất định. Bởi theo logic tâm lý, khi người dân quá tôn sùng
biểu tượng thì trong tâm lý của họ không có điều gì khác hơn ngoài
việc người ta cũng muốn trở thành biểu tượng nếu có cơ hội. Tâm lý tôn
sùng biểu tượng càng mạnh thì sự hãnh tiến khi nắm được địa vị ưu
thắng càng lớn. Đây cũng có thể được xem là một khía cạnh của sự thờ
phượng quyền lực.
Sau khi xem xét xong những điều trên đây, chúng ta gần như có thể trả
lời được câu hỏi: Vì sao ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam đi du
học nước ngoài nhưng hầu như có rất ít người trong số những con người
bằng cấp đầy mình ấy có đủ can đảm để dấn thân cho dân chủ và đóng góp
cho cộng đồng xã hội. Những người kiến thức sâu rộng ấy cũng vô cùng
sợ hãi và thiếu trách nhiêm giống như bao người thất học khác, vì kiến
thức không giúp họ trở nên can đảm, bớt lệ thuộc quyền lực và sốt sắng
nhận lãnh trách nhiệm cộng đồng.
Bởi vậy nhiều con cái các gia đình cán bộ cộng sản cấp địa phương cũng
như cấp quốc gia du học và trở về, nhưng cái họ đang và sẽ trở thành
không phải là điều gì khác hơn ngoài những “ông bà độc tài con”. Vấn
đề là ở chỗ nhận thức về chính trị - xã hội và kỹ thuật tổ chức cuộc
sống chung trong một cộng đồng văn minh chứ không phải là việc có
nhiều bằng cấp hay không.
Như tôi đã từng chia sẻ, giải thể một chế độ độc tài để bắt đầu con
đường dân chủ hóa tuy khó nhưng còn dễ hơn rất nhiều so với công cuộc
xây dựng dân chủ hậu độc tài. Và tri thức, khi đó sẽ đóng vài trò rất
quan trọng; nhưng nếu chúng ta không thể bắt đầu ngay bây giờ thì
ngày mai chẳng có gì xảy ra cả. Ngay chính trình độ tri thức của người
dân cũng ngày càng thoái hóa dưới chế độ độc tài chứ chưa nói là nó có
cơ hội để đóng góp xây dựng dân chủ hay không. Bởi vì chính dân chủ và
sự tự do hiến định trong một nền dân chủ xứng đáng cũng góp phần quyết
định nâng cao trình độ tri thức của người dân.
Trong một buổi nói chuyện dành riêng cho Hội PNNQVN, ông Ngô Nhân Dụng
đã chia sẻ: Bạn không thể nói tôi không biết bơi vì vậy tôi không dám
xuống nước. Vì nếu bạn không xuống nước, bạn sẽ không bao giờ biết bơi
cả. Và cũng xin dùng lời hữu lý trên để kết thúc bài viết này trong
tâm tình mong muốn tiếp thu nhiều chia sẻ hữu ích hơn từ các bạn trẻ
Việt Nam.
Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ, 7/11/2014
No comments:
Post a Comment