Một Chút Tâm Tình Cho Người 17
“Dù áo thư sinh đã bạc màu,
Cuối trời lưu lạc vẫn tìm nhau”
NHP
Quý bạn thân mến,
Tôi tập tểnh bước vào đời lần đầu tiên năm 1969 và lần thứ hai năm 1974 dưới mái trường hết sức thân thương có tên QGHC. Tôi còn nhớ, buổi sáng lần đầu tiên đi thi vào K17 trường này, tôi cùng Phạm Duy Sương phải leo rào nhảy xuống để ra đường vì cái cổng trong hẻm Nguyễn Huỳnh Ðức gồm có 5 căn nhà vẫn còn đóng lúc rạng sáng. Vất vả thế tưởng trượt vỏ chuối, vậy mà số hên, cả hai thằng đều đậu cả!
Từ mái trường HC thân yêu, trước mặt tôi biết bao nhiêu thế hệ đàn anh ưu tú đã đi qua, đã hy sinh và cống hiến cả đời mình cho đất nước. Bên cạnh tôi đầy ắp những bạn hữu tuyệt vời và sau lưng là thế hệ đàn em ưu tú khác tiếp nối với những ước mơ xây đắp quê hương ngời sáng. Nhưng ngờ đâu, tất cả những tâm hồn trẻ trung tràn đầy nhiệt huyết ấy cùng mái trường thân yêu của chúng ta đã chìm dần vào buổi hoàng hôn xám xịt của đất nước, y như con tàu Titanic chìm sâu vào lòng biển cả... Phút chốc bỗng tan tác, đứt đoạn, chia lìa như đàn chim bị gãy cánh vào sáng 30/04/75! Tất cả đã mất hết, thật sự mất hết!
Tôi rất thích lời viết mở đầu bài diễn văn chào mừng Ðại hội HCLB Úc tháng 12/2003 vừa qua tại Sydney của người bạn cùng khóa cuối CH10 với tôi – bạn Tiêu Kiến Trung. Anh viết: “Chúng tôi quan niệm rằng một ngôi trường lớn không phải vì nơi đó có những tòa nhà lớn, lớp học lớn hay thư viện lớn. Nhưng, một ngôi trường lớn chính là vì nơi đó có những tâm hồn lớn và cao thượng. Trường QGHC là một ngôi trường lớn bởi vì nơi đó đã có những tâm hồn lớn…!” Ôi thích quá, những tâm hồn lớn! Phải! Chúng ta được sống những tháng năm hoa mộng dưới mái trường thân yêu và đầy tự hào QGHC với những tâm hồn lớn. Nay dẫu thời cuộc đổi thay, chúng ta vẫn nguyện giữ vẹn tấm lòng trung trinh trước sau như một đối với thầy bạn, với dân tộc, với đất nước. Phương châm tự nhủ “Kính thầy, mến bạn, trọng quý đàn anh, thương yêu đàn em, đùm bọc, giúp đỡ, chia xẻ lẫn nhau trong lúc… vinh quang cũng như trong cơn… khốn khó”! Tôi lại lạng quạng với lời thề tôn giáo nữa rồi. Tôi muốn được làm “người anh nhỏ” của lớp lớp đi sau nhưng là “đứa em lớn” của các đàn anh đi trước. “Ðứa em lớn” theo nghĩa luôn luôn muốn làm đẹp, làm rạng rỡ bốn chữ QGHC dù ở từ vị trí nào nhưng lại muốn làm “đứa em nhỏ” đối với các đàn anh lớn. Dù ở nơi đâu, chúng tôi vẫn thấy anh thấy em, thấy trước thấy sau, thấy bạn bè chung quanh, không đổi thay, không suy suyễn, vẫn đóng góp, bền bỉ đóng góp và vẫn còn tiếp tục đóng góp cho tập thể, cho nhân quần, cho cộng đồng, cho xã hội dù chỉ dự một phần rất nhỏ, rất khiêm tốn trong cái tập thể cao quý QGHC vốn từ lâu đã được đồng bào, núi sông nâng niu, quý trọng.
Nhớ lại những ngày cuối cùng của đất nước vào tháng tư đen 1975, tôi – người sinh viên nội trú duy nhất còn sót lại ở trường vào những ngày cuối cho tới đêm 28 & 29, vẫn tiếp tục bám trụ, thức trắng đêm canh gác Học Viện với khẩu M16 không có đạn (dân quân sự học đường mà, xin quý bạn thông cảm). Tất cả thầy trò kể cả Thầy Viện trưởng (Gs Nguyễn Quốc Trị) đều đã đi hết từ lâu rồi, chỉ còn lại một mình tôi (cả người gác dang cũng biến đâu mất) ở lại chịu trận. Lúc đó tôi còn tin tưởng lời nói cuối cùng của Gs Nguyễn Ngọc Huy trong lớp với niềm hy vọng mong manh “Các em hãy yên tâm, chắc chắn… sẽ có giải pháp”. Lúc đó khóa CH10, dân 17 ngoài tôi ra còn có chị thủ khoa Trương Thị Ðào (17B - nay thì chị đã ra người thiên cổ). Ôi hồng nhan bạc mệnh mà! Lớp tôi còn có cả Trần Thi khóa 15 nữa, giữ nhiệm vụ trưởng lớp. Sáng 30, bọn lính CS Bắc Việt đã đầy ắp sân trường, nhởn nhơ chống AK thành từng cụm như bó củi, đội nón cối mang dép râu, mặc áo quần lính màu xanh rộng thùng thình trông lạ mắt, ngồi chồm hổm ăn bo bo với rau muống luộc, trò chuyện hể hả trong chiến thắng. Tôi - cái trớ trêu của lịch sử, là người sinh viên đơn độc, cuối cùng, buồn thảm và căm hận rời khỏi Học viện thân yêu trong ngày tan tác này! Sau đó vài ngày thì bị gọi vào trường, lên giảng đường Nguyễn Văn Bông để “học tập cải tạo” với vài vị thầy còn sót lại và một số bạn học chưa kịp chạy (trong số đó có một thằng cùng lớp mang súng lục tiếp thu, chó má thật!). Kể từ đó, giấc mơ HC coi như đứt phim, chấm hết! Vậy mà hồi ra trường, tôi dám viết trong đặc san kỷ yếu 17 là “quyết đẩy mạnh cái nghiệp hành chánh đến cùng”. Quả là nói dốc hết chỗ chê!
Sang đây xứ lạ quê người, tôi như cánh chim di, như loài cá hồi, cá vượt, lúc nào cũng tìm cách quay trở về nguồn cội HC của mình, lúc nào cũng tha thiết tìm nhau, tìm thầy tìm bạn tìm anh tìm em. Cho đến nay, nhiều đêm vẫn còn nằm mơ thấy mình đang còn ngồi ở ghế giảng đường, vẫn còn tìm sách trong thư viện NV Bông! Ôi cái giấc mơ gì kỳ lạ quá! Cách đây không lâu, tôi mang cả gia đình gồm một vợ ba con với cái “xế hộp” cũ xì, lăn bánh ruổi dong tới tận nhà Bs Võ Văn Phước (K22) dự buổi họp mặt bỏ túi của anh em ở Sydney - gặp Nguyễn Minh Tánh (CH), vừa là viên chức thuế vụ liên bang Úc, vừa là chủ nhà hàng ở Canberra - xuống tận nhà Võ Ðại Sinh (K15) tham dự buổi họp mặt tất niên của anh em HC ở Melbourne cho tỏ mặt (hôm ấy có duyên gặp cả đàn anh Lê Xuân Sướng từ Mỹ sang chơi và đàn anh Nguyễn Nam Sơn từ Việt Nam qua). Sau đó vòng lên Sydney đi thăm Thầy Nguyễn Khắc Nhân. Thầy đã già nhưng đủ sức đưa vợ chồng tôi ra cái vườn sau xem ông trồng rau cải, ớt… để tiêu khiển và ăn… dặm. Vào trong nhà nghe thầy cô kể chuyện đời HC thấy thích quá! (Bây giờ thì thầy Nhân phải chống gậy mới đi đứng nổi). Vậy mà ông bạn Triệu Hòa (Thượng) của mình chơi nổi, một mình một ngựa (sắt) từ xứ Mỹ xa xôi dám xâm mình bay xuống xứ kanguru thăm gia đình chúng tôi và bè bạn 17 khắp cả 3 tiểu bang Queensland, New South Wales và Victoria. Như ở QLD có chị Trần Thị Hảo, Bùi Thế Bạch – ở Sydney có Nguyễn Tấn Phát, Nguyễn Khắc Chí, Bùi Thị Minh Phương – ở Melbourne có vợ chồng Quách Nguyệt Minh & Phạm Xuân Phong, Trịnh Nhạc Phi, Phạm Quế Hoa v.v… Con số thật khiêm nhường nhưng tình cảm thì dạt dào! TH lại còn chụp hình chung với đám kanguru (đại thử), koala (con buồn ngủ) và người đẹp xứ Úc thòi lòi nữa chớ! Thật táo bạo! Thế nào bà xã TH cũng cho ăn đòn.
May mắn thay, ở xứ Úc chúng tôi, tôi đã gặp lại được rất nhiều tâm hồn lớn dù nay mỗi người đều có cuộc sống riêng nhưng lúc nào cũng gắn bó với tập thể HC. Mỗi người mỗi vẻ nhưng mười phân vẹn mười, xin kể ra đây vài bông hoa để chúng ta cùng hãnh diện: Như Trưởng hướng đạo Nguyễn Văn Thuất (K13) hết lòng chăm lo cho thế hệ thiếu nhi hậu duệ trong các dịp Tết Trung Thu ở Sydney - như Mục sư Trần Hữu Thành (K14) lúc nào cũng gắn bó với đàn chiên ở xứ lạnh Melbourne – như Lâm Thành Hổ (K15) với những áng văn và vần thơ tuyệt tác – như Lâm Hữu Xưa (K14) nhiều bài viết thật hay trên báo chí – như Nguyễn Ngọc Ðiệp (K14) với huân chương thế kỷ – như Lê Tấn Tài (K13) với Ðặc san Tây Ninh – như Bs Võ Văn Phước (K22) với Hội Y tế và chiến dịch mắt cườm – như chị Ðăng Lan Trần Văn Phan, cựu nữ sinh Gia Long với những chương trình văn nghệ tuyệt vời – như Nguyễn Chí Thiện (Thuyên Huy) cũng khóa đàn em với tác phẩm Anh ngữ “Where happiness begins” do nhà Athens ở Anh xuất bản… Và còn bao nhiêu bông hoa khác nữa nói không hết đã âm thầm đóng góp cho cộng đồng, cho xã hội với nhiều gia đình mà hầu hết con cái đều đã thành danh, đỗ đạt, nên người. Những thành quả ấy, những tâm tình này làm sao để ghi nhớ?
Ngược lại khi qua bên Mỹ chơi, tôi lại gặp đủ bạn bè anh em 17 của chúng mình, đặc biệt là ở Cali. Hầu hết mọi người đều ăn nên làm ra mình rất mừng. Lần nào đến cũng gặp các khuôn mặt thân quen như HT Lê, LP Ba & TN Ngà, TC Thạnh, H Hàng, NX Vũ, CM Châu, NV Ðức, PP Ngữ, TÐ Lạng, HT Thành, PÐ Thạnh, TB Thu, NM Phúc v.v… Sau lại gặp thêm N Nhung, T Hòa, TÐ Mưu, TÐ Mười, CV An, TM Hòa, và còn nhiều bạn bè khác nữa mà mình không nhớ hết… Trí óc bây giờ cùn mằn rồi. Xin có lời cám ơn quý bạn vậy.
Nay anh em 17 ở Mỹ, qua Trần Bạch Thu có lời kêu gọi ra tập Nội san làm chất keo giữ lửa. Ý tưởng tốt nên làm. Tất cả chúng ta chẳng khác nào chi thể của nhau, là anh em trong một đại gia đình HC mà Nội san có thể ví như trái tim đóng vai trò phối hợp, liên kết từng đường gân thớ thịt. Người ta có “huynh đệ chi binh”, mình đây có “huynh đệ chi hành”. Hành chẳng những là hành chánh, mà còn là hành động, là xốc tới, là xăn tay áo, là làm... Nội san có khác nào chốn thăm nhau, đâu cần phải nhà cao cửa rộng, đâu nhất thiết phải văn hay chữ tốt. Chúng ta chỉ cần có một chút TÌNH. Có tình là giải quyết được tất cả. Anh có dăm ba câu thơ hay, chị có một tin vui, chú có một nỗi buồn gia đình, em có một vài trang tâm tình, bác có một bài nghiên cứu, tôi có một vài nụ cười… muốn gửi gắm. Nào! Chúng ta hãy cùng nhau đưa lên Nội san để cùng nhau chia ngọt xẻ bùi, để chung với nỗi vui, để sớt đi nỗi buồn. Chúng ta rất may mắn, đã có sẵn một Ban biên tập nhiệt tình… Họ là những người giữ lửa. Chúng ta rất cần quý bạn chêm củi thêm vào bằng cách gửi bài về BBT đều đặn hầu làm cho Nội san của đám 17 chúng ta ngày càng thêm phong phú, khởi sắc!
Tôi rất thích hai câu thơ của chàng Ngọc Hoài Phương nào đó nói lên được nét thơ ngây tuyệt vời cho dẫu thời gian có làm tàn phai nhan sắc (ít ra là mấy cô): “Dù áo thư sinh đã bạc màu, Cuối trời lưu lạc vẫn tìm nhau”. Quả thật, chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Mong rằng Nội san sẽ giữ mãi được ngọn lửa ấm cho đến ngày đất nước hồi sinh, mình sẽ cùng nắm tay nhau về lại đất Mẹ. Mình nhớ đi thăm lại Học Viện nữa nhé…
Nguyễn văn Sanh
No comments:
Post a Comment