Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 3 April 2024

 Bên lề tù cải tạo

TƯỢNG NÔNG DÂN XÃ NGHĨA

LHXung, Melbourne


Lại một chuyện có thật;


Như trước đây tôi có kể sơ qua về công việc chính của "Trại Trong" với 82 cải tạo viên chúng tôi là chuyên đốn cây tràm làm nhà, đợt đầu tiên là chúng tôi cung cấp để chuẩn bị xây cất  "Trại Ngoài". Trại ngoài được xây cất lớn hơn trại trong nhiều, vì nhu cầu giam giữ trại viên ngày một gia tăng sau  30 tháng tư. Chính cải tạo viên cũ xây trại tù để chứa các cải tạo viên mới, VC luôn chơi đòn " mình xây tù giam ta"; chúng không tốn kém gì cả, kể cả lúa thóc cũng do cải tạo làm ra, nhưng khẩu phần thì chúng ra tay hạn chế!

Câu chuyện xảy ra tại trại ngoài, ngay những ngày rất sớm, khi các cải tạo được từng đợt đem vào từ những nơi tạm giam khác trong tỉnh. Khi cất xong một căn trại nào thì chúng đưa người đến để tiếp tục cất thêm các căn kế tiếp ... cứ thế mà trại ngoài bành trướng dần, người cứ đông thêm.

Chúng cho cất một hội trường thật lớn, dùng để tập họp, chứa đủ chỗ cho tất cả cải tạo khi cần. Trong trại lần hồi xuất hiện các toán chuyên môn, nhằm khai thác khả năng cá biệt của cải tạo; nào là toán văn công, toán trang trí, toán cải hoạt, toán thợ mộc, toán thợ rèn, toán đập sậy đan liếp, toán thuốc dân tộc .v.v...

Ðặc biệt trong nhóm trang trí do anh LKVân làm toán trưởng, anh Vân là nhân viên của Cơ Sở dân vận & Chiêu Hồi Kiên Giang cũ. Trong số toán viên có một anh, hiện tôi cố nhớ tên mà hoàn toàn quên mất, nhưng tôi nhớ rõ vài chi tiết về anh ta, tôi kể ra đây chắc sẽ có người nhớ ra tên tuổi anh ấy. Anh ta là người gốc Sài Gòn/ Gia Ðịnh gì đó?! Anh tốt nghiệp (?) trường cao đẳng mỹ thuật Gia Ðịnh, anh gia nhập cán bộ xây dựng nông thôn, sau khi mãn khóa ở Vũng Tàu anh được thuyên chuyển về tỉnh Kiên Giang. Sau nầy anh cưới con gái một tiệm hàng xén trên đường Phó Ðiều, cách nhà thuốc tây Kiên Giang không xa về phía cầu tàu Mỹ.

Vì tài năng chuyên môn về mỹ thuật nên anh được giữ làm việc tại tỉnh đoàn. Thú thật tôi chưa hề quen biết anh ta trước năm 75, mặc dù tôi vẫn thường xuyên ra vào trung tâm bình định và xây dựng nông thôn của tỉnh qua các công tác liên nhiệm giữa Quận và Tỉnh



Anh cải tạo viên gốc cán bộ XDNT nầy, tính tình rất trầm lặng, không nghe anh nói gì với ai, tối ngày cứ quanh quẩn trong công việc: vẽ bảng, kẻ khẩu hiệu, trang trí hội trường ... không thuộc các toán lao động nặng. Thấy anh ở đâu cũng với cây thước vẽ trong tay và vài cây cọ nhỏ ló ra khỏi cái túi dưới áo bà ba đen, loại áo XDNT. Trong trại không ít người gốc cán bộ XDNT, nhưng hầu như anh không có một bạn nào gần gũi với anh, buổi chiều sau giờ lao động, anh hay lang thang một mình với bộ ba ba đen luôn mới toanh (chắc anh còn nhiều bộ XDNT chưa mặc hết trước 75!)

Nhờ anh ta mà căn Hội Trường từ từ trở thành một nơi tập họp rất " Ðảng và Nhà nước!"; cờ xí, biểu ngữ ... chỗ nầy, góc kia mà theo ý kiến của bộ đội là: "rất có văn hóa xã hội chủ nghĩa."

Nghe đâu anh đã âm thầm trình lên Ban Quản Trại một " Ðồ án"; đề nghị phía trước sân Hội Trường, anh ta sẽ đắp một  "Tượng Nông Dân Xã Nghĩa" , gồm có một ông nông dân vác cuốc và một chị phụ nữ ôm bó lúa, hí hửng , âu yếm đi bên nhau với nét mặt vui tươi biểu lộ giai cấp nông dân ấm no dưới chế độ XHCN.

Vì phương tiện eo hẹp, anh chỉ trình bày bằng lời lẽ và chữ viết, chứ không làm mô hình trước. Cho nên với ý nghĩa hay ho về cùng phe cách mạng ấy, ban quản trại đã chấp thuận đồ án ngay. Có lẽ cộng thêm đề nghị chỉ tốn kém tối thiểu bằng các phương tiện như đất sét, rơm và xi măng chỉ dùng để đắp láng một lớp bên ngoài, chống mưa khỏi mục rã mà thôi; vì thế mà đồ án đã dễ dàng được ban chỉ thị  "hạ quyết tâm thực hiện".

Anh bắt tay vào việc, bằng cách lấy các miếng lõi rắn chắc của các cây tràm to, cắm sâu xuống đất làm sườn chống đỡ tượng. Dùng rơm nhồi với đất sét và chút ít xi măng từ từ đắp các chân tượng lên cao dần. Tượng người nông dân xã nghĩa đã từng bước hình thành, nhưng nó được anh dựng lều bao phủ nên ít ai thấy rõ diễn tiến nó ra làm sao!

Anh cứ lặng lẽ làm việc và chừng 3 tháng sau thì bức tượng đã được hoàn tất. Anh tháo gỡ lều che cho mọi người chiêm ngưỡng. Một chủ nhựt nọ khi trại viên ra vào thăm nuôi mới thấy  tượng đã hiên ngang, sừng sững đứng trước hội trường.

Ban quản trại đã không hề công khai tán tụng kỳ công của người tạc tượng, nhưng chúng tôi đã từng len lén bắt gặp nhiều lần các quản giáo dừng chân, gật gù thưởng lãm!

Tượng "Nông dân xã nghĩa" với những đường nét rất độc đáo, giữa chốn hoang sơ ruộng đồng, rừng tràm âm u, lau sậy mịt mù mà có một bức tượng nghệ thuật cùng mình như thế quả là hết sức tưởng tương! Có thể nói từ thời khẩn hoang lập nghiệp mấy thế kỷ trôi qua ... thì mãi tới 75 khi có cải tạo vào khu U-Minh đắp được bức tượng "đầu tiên". Chính bức tượng đã đem ánh sáng văn minh vào tận vùng muỗi mồng, bùn sình lầy lội ... theo tôi với ý nghĩa tiên phong ấy, công lao của tác giả có thể đem so sánh bằng một ý nghĩa nào đó không thua gì thành tích của Mạc Cữu vào thuần hóa đất Hà Tiên!

Nhìn vào bức tượng, ngoài những nét mặt sống động, mềm mại; rất có thần, rất tự nhiên, thiếu nữ trẻ trung, mặn mà ôm bó lúa, diễn tả được niềm vui của những người nông dân gặt hái được mùa.  Và đặc biệt dù bất cứ ai chưa một lần đốt đèn ngắm của quí, cũng cảm thấy hình dáng tượng người phụ nữ rất hấp dẫn với những đường cong, cầu vòng tuyệt mỹ, khiến cho cải tạo lâu ngày xa cách "hơi quen" không khỏi rùng mình chao đảo !!! Hai ngọn đồi non, không to không nhỏ ... làm vừa ý mọi người, hậu vận thì căng tròn, lêu nghêu hết sẩy !

Còn hình tượng người nông dân thì gương mặt xương xương, râu dài như râu ông cụ thời 9 năm kháng Pháp, nét già thấy rõ nhưng toàn thân quắc thước, nhựa sống hãy còn dư; tay trái khỏe khoắn trong tư thế vịn cán cuốc vác trên vai, tay phải thì cụ lòn qua ôm eo ếch cô thiếu nữ, trông rất hăng hái và tha thiết lửa tình.

Mỗi người một cảm xúc riêng, một nhận xét khen tặng khác biệt ... nhưng hầu như tất cả đều cùng chung một đồng ý là: "Tượng người nông dân có nét mặt y hệt ông cụ" gầy gầy như thời ở hang Pắc Pó.

Rồi không bao lâu sau, từ vài người lan ra tới cả trại ai cũng nói lén, gọi tượng nông dân xã nghĩa thành tượng: " Cụ Hồ ôm gái" !

     Ðến đây quý bạn đọc chắc đã đoán được chuyện gì đã xảy ra cho anh chàng tác giả bức tượng, được bạn đồng cảnh gắn cho cái tên quái ác như trên?! - Anh ta bị đem cùm trên trại 7 Hảo khá lâu, bức tượng bị bộ đội phá hủy trong đêm. Sáng ra có người ở trại 4 gần hội trường, ra đồng tiết lộ cho biết : "tượng đã bị thủ tiêu rồi !" . Từ đó thiên hạ có thêm một câu chuyện vui, với hàng ngàn câu tự hỏi, tự trả lời ... Có người cho rằng anh XDNT chơi xỏ cách mạng, người nói anh ta " Ác ngầm", người thì so sánh "bàn tay anh lúc nầy bằng thành tích 3 sư đoàn dù năm xưa"... Có người thì đoán anh chỉ vô tình, nghĩ rằng nắn cho giống Cụ thì càng hay, có đâu ngờ bức tượng đã đưa tài năng của anh lên ngang hàng một "Ngô Viết Thụ" . 

So sánh với Ngô Viết Thụ là một kiến trúc sư kỳ tài, đoạt giải khôi nguyên La Mã, mà có người còn chưa chịu và cãi rằng: "Nếu Ngô Viết Thụ mà cải tạo ở U - Minh thì chắc khó mà tạo ra dược bức tượng cụ Hồ ôm gái như anh cán bộ XDNT đã gây chấn động ở trại Kinh Làng Thứ 7". 

Nghe đâu từ trại Tù Số (Tù hình sự) của 7 Hảo, anh đã bị đưa chuyển đến một trại tù nào đó, không biết số phận đã ra sao?!. Nhưng anh Cán Bộ XDNT ấy đã để lại trong tôi một nỗi nhớ bi hùng của một thời cải tạo, đôi lúc hay sống lại chập chờn, nặng nề trong tâm trí của tôi. 
Dù nay đã được sống một đoạn đời tự do khác hẳn, cách xa chốn cũ 6, 7 ngàn cây số chim bay mà tôi vẫn không thể nào nhạt nhòa hình ảnh những người bạn tù không may và  dáng dấp người cán bộ XDNT lặng lẽ đó vẫn còn gợi nhớ ngậm ngùi, sống động về những năm tháng gian lao, khắc nghiệt ở Trại Tù Rừng Tràm U-Minh Thượng ./-



     lhxung, Tháng 01/2005
PHÍA MA-CÔ-ĐÀO CHƠI QUÁI CHIÊU: 
CHO MƯỚN CHÙA BAO LA GIÁ TRỊ 5,6,7 TRIỆU VỚI GIÁ $66.67 MỖI NGÀY LÀ ÂM MƯU GÌ ĐÂY???- QUA GIÁ CẢ "IMPOSSIBLE" NẦY CHO THẤY CHỦ MỚI TOA RẬP VỚI HUỆ CHIẾU ĐỂ CHO MƯỚN LẠI CHÙA NHẰM MUA THỜI GIAN, LÀM DƯ LUẬN BỚT XÔN XAO, VIỆC TU HÀNH KHÔNG BỊ ĐỘT NGỘT XÁO TRỘN ... THƯA KIỆN NẾU CÓ SẼ KÉO DÀI ... NGUYÊN TRÍ, HUỆ CHIẾU, HUỲNH TẤN LÊ, JL FINANCING, TIFFANY PHẠM SẼ DÂY DƯA ĐI VÀO NHÀM CHÁN BẤT TẬN... KHÓ CÓ THỂ BACK TO THE FUTURE !!!
*Luật Sư phía Ma-Cô-Đào hô "YES" với giá thuê $66.67 mỗi ngày. Nhưng AI ĐỨNG RA THUÊ, HUỆ CHIẾU đã bị giải nhiệm tư cách điều hành chùa vào 22-2-24 thì làm sao đứng tên để THUÊ CHÙA??? Người trong chùa hay người ngoài đứng ra thuê? Huỳnh Tấn Lê và HĐQT ĐƯƠNG NHIÊN SẼ BỊ GIẢI TÁN NẾU NGƯỜI THUÊ KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG NGƯỜI CŨ (Không phải Huệ Chiếu, Nguyên Trí, Huỳnh Tấn Lê).
***THÊM MỘT ĐÒN PHÉP CỰC ĐỘC CỦA 3 PHE, 4 PHÍA CHĂNG ???!!!./-Mt68
________________

 

Chùa Bát Nhã 4717 W 1st St, Santa Ana, Ca 92703 Quyết Định Ngày 22-02-2024 Giải Nhiệm Ni Sư Thích Nữ Huệ Chiếu Trong Chức Vụ Trụ Trì

23/02/2024
Chùa Bát Nhã
4717 W 1st St, Santa Ana, CA 92703
QUYẾT ĐỊNH SỐ 01 BNMI/QĐ ngày 22-02-2024

Giải Nhiệm Ni Sư Thích Nữ Huệ Chiếu trong chức vụ Trụ Trì
và tất cả những chức vụ khác tại Bat Nha Meditation Institute of USA (BNMI)
 
blank

 Người Vợ Của Tù Cải Tạo VC

Tác Giả - Trần Thanh Minh

Tôi trở về nhà với một thân xác rã rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng gì, mắt mở to mà không nhìn thấy gì. Tôi đã phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần. Rất may cho tôi và các con là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận tình.

Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hàng chữ “Người nhận đã chết. Trại yêu cầu hoàn.” Đến bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra 
đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà. Tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa. Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”.

Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!) Can tội: Giảng viên tâm lý chiến xã hội học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. "Án phạt tù: 3 năm"; nhưng khi chết đã 3 năm 7 tháng. Nếu họ giữ đúng lời nói chắc chồng tôi không thể chết trong tù.

Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng vì bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội tình gì. Bên nội bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để một đứa con xa tôi. Tình thương con đã thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm thì tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”. Tôi không chịu đi họp tổ, họp phường gì cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp. Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thì anh đã chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không còn gì phải họp với hành nữa”.

Lúc trước mình ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt thì họ xét cho chồng về sớm. Nay tôi không còn gì để sợ nữa thì họ lại để tôi được yên thân.

Tôi bắt đâu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi tìm đất hứa không biết bao nhiêu lần. Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần. Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận vì thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi. Bị bắt tù đày thì lại càng hối hận hơn vì các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ. Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi. Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng ỉa chảy thì cũng ghẻ lở ghê hồn. Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa. Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi. Nhưng dù sao đi nữa cũng còn có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học trò trong trường.

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt vì “nhất thân, nhì thế” của xã hội lúc bấy giờ. Phận mình thì xong rồi, bạn bè tôi còn rất nhiều có chồng đang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ gì cho tù ăn được thì mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm. Trong cái tình đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ. Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu” cho các con ăn. Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng. Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt thì cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó. Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó. Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đã thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái chõng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh. Chị đã không thể “cho anh” và điều này đã khiến anh nổi giận nghĩ là chị đã có “ai khác” ngoài đời. Chị đã bị anh chửi bới tơi bời còn gì thê thảm hơn nữa không? Thời gian đã qua tôi hy vọng anh đã thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó. Mặc dù giờ thì anh chị cũng đã xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc.

Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội. Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm. Dễ nóng giận và mặc cảm đầy mình. Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước. Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng. Ông chồng lại muốn may để mặc vì ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới. Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tý tiền lo cho gia đình nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.” Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người. Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của mình; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”. Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu của vợ tù "cải tạo".

Thắm thoát đã qua bảy năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đã dễ thở vì chị em bạn bè ở ngoại quốc đã bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh. Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!! Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum.

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là gì và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đã tan vào với cát, chỉ còn bộ xương trắng mà các bạn anh đã từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng mò tìm cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có hình dáng 2 người đứng bên nhau đã được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đã làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt. Anh đã phải cất giấu bao ngày vì nếu "cán bộ" thấy là bị tịch thu ngay. Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ vào trong một cái bị to để chúng tôi mang về . Còn tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh!

Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nhìn và khẽ gọi mẹ. Tôi quay lại giúp cô bạn còn vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang thì lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên, ngoảnh mặt lại nhìn và lại bỏ đi luôn. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ "cán bộ", chồm lên đường kêu “Liễu. Anh đây”. Lúc đó bà cụ cũng đã trở lại và nhận ra con, cụ khóc oà ôm lấy anh tù, còn Liễu cũng khóc nhưng la “Không phải anh mà, không phải anh đâu”. Người chồng yêu quý vì tháng năm đói khổ phải ăn khoai mì nên mặt anh ta biến dạng vì quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai mì làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả. Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi còn sống thì mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đò, mọi người ngồi chật cứng trong xe, còn có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm. Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đã tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi. Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm vì mẹ con tôi ngơ ngác với xứ lạ quê người. Mẹ tôi phải lấy dây buộc cái bị và cuốn quanh người. Chỉ sợ lỡ mất đi thì khổ lắm. Tôi hồi hộp sợ hãi còn hơn khi đi vượt biên nữa. Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm tình và nhờ có “thủ tục đầu tiên” (xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành. Sáng hôm sau cũng nhờ có ông "quản lý" nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát. Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đã có ơn trên che chở nên đã mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn. Vì nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu. Họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng bỏ mớ hài cốt đó. Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi vì nhớ thương anh và tủi phận mình đơn độc.

Hiện tại thì chồng tôi đã được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở Bình Dương. Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa vì họ còn tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đình tôi đã phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tã của tháng 6 năm 1994. Được gia đình cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ. Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đã khiến tôi mất hết niềm tin. Tôi chỉ còn biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Nay các con tôi đã lớn, đã thành đạt và rất hiếu thảo. Chúng hết lòng lo lắng, chăm sóc tôi. Tôi thật mãn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng mãi được. Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng. Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, còn lại một mình tôi, tôi lại thấy sợ hãi. Những năm tháng khổ cực, hãi hùng của thời dĩ vãng lại kéo đến ám ảnh tôi. Hình ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên chõng tre lại chập chờn quanh tôi. Tôi đã thì thầm với anh: “Đợi em đi cùng!” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên dể được xum họp với chồng tôi. Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia đình có 4 năm 5 tháng. Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ.

Kính tặng Giáo Sư Tố Lan, người đã cho tôi can đảm để thực hiện bài viết này.

Trần Thanh Minh 02/18/2016

Tạ Thu Thâu bị giết 1945
    Tạ Thu Thâu, hình cảnh sát chụp 1930
Tạ Thu Thâu bị sát hại 1945Nguyễn Văn Thiệt, Rassemblement des travailleurs Vietnamiens, Paris 1949 *

Ai đi ngang Quảng Ngãi vào khoảng tháng 9/1945 cũng biết đến không khí hãi hùng của cái thành phố tự cho mình có tinh thần cách mạng cao ấy. Các tín đồ Cao Đài, các nhà trí thức, các nhà phú hộ, các nhà cách mạng quốc gia, tất cả những hạng người ấy cùng với vợ, con, anh em họ đều bị chém giết mỗi ngày. Người chết nhiều đến nỗi độ ấy ở Hà Nội, tờ báo “Gió Mới” của Tổng hội sinh viên, một tờ báo rất thiên Việt Minh đã phải lên tiếng rằng ở Quảng Ngãi, ngày ngày đầu người rụng như sung.
Anh Lê Xán, bạn tôi, một đồ đệ của cụ Phan Bội Châu, bị Pháp đày ra Lao Bảo, vừa được thả ra thì bị Việt Minh ở Quảng Ngãi bắt lại. Vì sự tình cờ của chiếc xe lửa ngừng lại nghỉ đêm ở Quảng Ngãi (độ ấy đường xe lửa Sài Gòn - Hà Nội bị hư nhiều nơi, xe lửa chạy rất chậm và hay nghỉ dọc đường) nên bắt buộc tôi phải xuống xe định kiếm một quán trọ ở cạnh ga mà nghỉ đêm. Trong lúc ngồi uống nước, sực nhớ đến Lê Xán, tôi tò mò hỏi bà chủ quán tin tức về bạn. Lập tức tôi bị một trinh sát viên mặc áo nâu, đi chân không, đang đứng ở cửa tóm lấy buộc tôi là đồng lõa với tội nhân Lê Xán và điệu tôi về Sở Công An.
Ngày hôm ấy tôi bị mang đi giam ở một nơi xa... Tôi đang lo sợ một nơi xa ấy là cõi âm ti thì chiếc xe ngựa chở tôi và một người lính gác, tay cầm một con dao dài, một quả lựu đạn buộc tòng teng vào giây nịt bằng một sợi lạt, từ từ rẽ vào con đường đi về Phú Thọ. Tôi hết lo bị chém liền vì tôi biết rằng ở làng Phú Thọ, Ủy Ban vừa dựng một nhà lao to để chứa cho đủ tội nhân xa thành phố.
Một buổi sáng, tôi đang đứng dựa vào cửa, cố thiu thiu ngủ thì bỗng giật mình vì những tiếng các bạn tôi kêu lên: Tạ Thu Thâu! Tạ Thu Thâu! Tôi tĩnh hẳn người. Tạ Thu Thâu?
Các bạn tù của tôi tranh nhau nhìn qua cửa. Từ một phòng giam phía bên kia sân, độ bảy, tám người dân quân mang súng, gươm, lựu đạn và ông chủ tịch làng – vừa là sếp nhà lao thì phải – kéo ra một người đàn ông ốm lỏng khỏng mà tôi nhìn ra ngay là ông Tạ Thu Thâu. Ông mặc một sơ-mi cụt tay có hai túi trên ngực, một cái quần Tây dài, chân đi giày vàng. Áo quần trắng đã bàu nhàu và bẩn thỉu, dây do những vết đen đỏ còn đọng, dấu tích của những sự tra tấn vừa qua.
Râu tóc của ông Thâu rối beng, mặt mày hốc hác, nhưng cặp mắt vẫn bình tĩnh nhìn mọi người, mọi vật, miệng ông hơi nhếch một nụ cười.
Các bạn tôi lao xao:
– Lần này thì Tạ Thu Thâu phải chết.
Một người nào đó nói nhỏ:
– Quân khốn nạn!
Tôi gián một con mắt vào khoảng hở giữa hai song cửa, hai tay muốn tét ra cho rộng để nhìn cho rõ đám người hùng hổ đi với ông chủ tịch luôn mồm la hét, nạt người này, cho lệnh kẻ kia và ở giữa, một bóng trắng chập choạng, khập khiễng đi đi… để biến sau mộr rặng cây mà ở đó tôi biết có một khoảnh đất trống gọi là pháp trường.
Tôi biết Tạ Thu Thâu bị Pháp bắt vừa mới ở tù ra, thân thể bị tiêm thuốc cho chết xuội đi một bên, nếu không có Chánh Phủ Trần Trọng Kim thì ông đã chết trong khám rồi.
Các bạn tôi nói là Tạ Thu Thâu bị buộc về tội phản cách mạng và âm mưu lật đổ chánh quyền. Bùi Trọng Lệ, đứng cạnh tôi, nói một cách nghiêm nghị quá đến nỗi tôi không cho là một lời mỉa mai:
– Tội Tạ Thu Thâu nặng nhiều hơn nữa. Ông phạm cái tội rất lớn là được dân chúng thương yêu.
Nhưng anh lính gác trước cửa phòng chúng tôi (không hiểu vì sao anh ta lại có cảm tình với tôi và thường hay nói chuyện cùng tôi) anh ta lại nói khác. Theo anh ta thì Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi cũng không biết ông Tạ Thu Thâu bị bắt vì tội gì. Chỉ được điện tín của Trần Văn Giàu đánh ra cho các tỉnh, ra lệnh hễ ai gặp Tạ Thu Thâu thì bắt lại. Sau khi Ủy ban tỉnh đánh điện cho Sài Gòn biết là mình đã bắt và giam Tạ Thu Thâu thì liền được lệnh trả lời là phải giết ngay lập tức.
Nhưng khi đem ra pháp trường thì ông Tạ Thu Thâu diễn thuyết cho mấy người lính, ông nói hay quá với lại đúng quá nên ai nấy đều bỏ súng buông lơ, có anh khóc, không ai dám bắn. Nên lại đem ông về lao và Ủy ban lại đánh giây thép vào Sài Gòn hỏi nữa, sợ có giết lầm chăng. Và đã hai lần như thế rồi, Trần Văn Giàu đánh dây thép ra biểu phải giết, Tạ Thu Thâu đứng trước mũi súng lại diễn thuyết kêu gọi một mảy may lương tâm còn sót lại của đám người chỉ biết có vâng lệnh trên, rồi không ai nỡ bắn. Không dám bắn thì đúng hơn, rồi lại mang về, rồi lại đem đi.
Hôm nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng bảo thế, vì vừa được lệnh riêng của ông cụ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh.
Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người, một tiếng đoành.
Bỗng người lính gác kêu lên:
– Chu choa! Tạ Thu Thâu lại về!
Tất cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn.
Sự sung sướng của tôi không được lâu. Đám người đi vừa đến gần cổng lao thì một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
– Đồ Việt gian phản động!
Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm, đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu quá. Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy được tường tận. Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu. Và từ đó, một giọng the thé rất trong của người thiếu niên kia vang lên:
– Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết!
Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy.-----------

Đôi lời của người trích đăng
Tạ Thu Thâu là một trong những thủ lãnh Đệ Tứ Quốc tế Cộng Sản hay Trotskisme thì bị VM giết là đúng sách vở vì Trotsky là kẻ thù chính của Staline. Trotsky đã bị giết khi lưu trú tại Mexico. Thương cha thương một thương ông gấp ngàn thì phải giết bọn tờ rố kít. Vô tay Tố Hữ thì phải biết. Lệnh từ Moscou, một thứ Vatican duy vật. Trần Văn Giàu đã bị trách cứ không nhiệt tình diệt Đệ Tứ mà dùng quyền lực thanh toán nội bộ để giữ vị trí lãnh đạo trong Nam. Có thể lơ là mà Tạ Thu Thâu chạy ra Trung, ra Bắc để phải Hồ Chí Minh ra lệnh giết.
Trần Văn Giàu bị hạ bệ nhưng còn may để trở thành vô danh, người không có mặt (a faceless person theo báo Times) nhưng còn cái đầu để đội nón, không bị chẹt đào. Trần Văn Giàu trong đảng sử chỉ là một giáo sự giỏi của Trường Đảng. Một thời Wikidepia theo lệnh Hà Nội không dám kê chức vụ và việc làm của Trần Văn Giàu. Với Tạ Thu Thâu, Wiki làm không khác, chỉ nói ông ra Bắc có tham gia đình công của thợ mõ nhưng không nói phải trở vô Nam và bị giết ở Quảng Ngãi 1945.
Nguyễn Văn Thiệt nói Quảng Ngãi giết người hằng ngày. "Ngày ngày đầu người rụng như sung". Điều nầy, tôi đã nghe họa sĩ Nghiêu Đề nói, vì 1945, ông và gia đình không ra được Quảng Nam nên ở lại Khu Ngãi Bình Phú; nhưng chi tiết ông kể sau đây có gia trị hơn vì nó phản ảnh thực trạng nầy.
Khắp xứ Quảng Ngãi, ngày ngày trẻ con chơi trò giết người. Chúng bắt một con châu chấu lớn, con nhái, con tắc kè, chuột nhắc... đè trên phiến đá. Chúng diễn lại buổi chặt đầu, đứa nào chặt đầu, đứa nào làm đội trưởng, đứa nào đọc bản án, đứa nào hoang hô cách mạng; sau rốt chúng chặt đầu con vật nhỏ xíu ấy. Nghiêu Đề cho biết thủ tục theo mấy đứa bé nầy rườm rà, thực tế đơn giản hơn, kéo nạn nhân ra ruộng, chặt đầu là xong.
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích trong truyện "Chị Hồng Lưu" thì tả cuộc hành hình phụ nữ nầy một cách rất Tây, rất kiểu cách: một dàn xạ thủ cùng bắn, có một linh mục làm lễ bí tích, có đội trưởng cho phát ân huệ, có cái hòm để sẵn. Theo lối tây, trong những cây súng của tiểu đội chỉ có một cây có đạn thật, các cây kia chỉ đạn mã tử; xạ thủ không biết mình bắn đạn nào để tránh mặc cảm giết người. Ở bên Tàu, cha mẹ của tử tù phải trả tiền viên đạn giết con mình, vậy làm chi có đến một dàn xạ thủ và viên đạn ân huệ. Ông nầy viết nhiều truyện liên quan VC rất buồn cười ngớ ngẫn nếu không muốn nói bênh vực lối trẻ con.
Sau các vụ giết người theo lệnh, HCM thường vuốt đuôi làm như không biết, tay không dính máu. Người lính đã nói cho tác giả biết HCM đã quở tỉnh Quảng Ngãi không chịu ra tay theo lệnh của Trần Văn Giàu. Một năm sau, HCM nói: "Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi buồn khi hay tin ông mất”.
Tạ Thu Thâu sinh 1906 tại Long Xuyên có bằng tú tài dạy học trước khi qua Pháp học tiếp. Ở đây, ông hoạt động trong khối Trotskiste chống lại khối Staliniste. Ông trở về nước cộng tác với các báo Saigon có khuynh hướng quốc gia và ông hoạt động trong các phong trào cách mạng không CS. Ông bị chính quyền thuộc địa bắt giam nhiều lần. Lần cuối ông được tha năm 1944. Thời gian nầy Trần Văn Giàu là sếp chúa CS thanh trừng Đệ Tứ và các đối thủ nội bộ.
Tạ Tu Thâu cùng vài cộng sự viên âm thầm kín đáo ra Bắc Việt. Trần Văn Giàu đã ra lệnh các đảng bộ địa phương bắt giữ Tạ Thu Thâu nếu gặp. Nhưng ở Bắc Việt, HCM đã củng cố lưới CS vững chắc hơn trong Nam. Tạ Thu Thâu đành trở lui, bị bắt ở Quảng Ngãi và bị hạ sát trước mắt mọi người.
Saigon xưa có tên đường Tạ Thu Thâu bên hông Chợ Bến Thành.

** Bài của Nguyễn Văn Thiệt được share qua share lại trên internet, không ghi rõ xuất xứ chính xác. Tổ chức của tác giả là Rassemblement des Travailleurs Vietnamiens (Tập đoàn thợ thuyền VN) không rõ khuynh hướng chính trị.

================================================


NƯỚC ÚC HIỆN CÓ TÊN THỦ TƯỚNG KHOÁI ÔM VC - NHIỀU VỤ TRỘM CƯỚP TRỒNG CẦN SA, VẬN CHUYỂN MA TÚY ... NHƯNG ÚC VẪN CỨ VUỐT ĐÍT VC- SẮP CHO NHẬP CẢNH CẢ NGÀN VC ĐỂ LÀM TRONG FARM ... NHƯNG CHÚNG SẼ BIẾN MẤT SAU NẦY ĐỂ LẨN TRỐN./-Mt68
______________
Tử hình Việt kiều vận chuyển hơn 7 kg ma túy về VN Phía tòa án tuyên phạt Huỳnh Đình Khuyên tử hình. 

vì tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đồng thời phạt bổ sung Khuyên 30 triệu đồng. HĐXX cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nghiêm trọng, vận chuyển số lượng lớn ma túy, thể hiện sự xem thường pháp luật, cần loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

Theo cáo trạng, lúc 20 giờ ngày 21/6/2022, tại khu vực kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, kho SCSC, Đội Thủ tục hàng hóa xuất khẩu Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất tiến hành kiểm tra kiện hàng phi mậu dịch cá nhân xuất khẩu đi Australia có khối lượng 16kg, bên trong có 5 hộp mực máy in do anh Kim Nhựt D. là nhân viên giao hàng thuộc Công ty chuyển phát nhanh NTT Express đăng ký gửi ngày 21/6/2022.

Trên vận đơn ghi thông tin người gửi là MR. Hung, địa chỉ Landmark 3, số điện thoại, thông tin người nhận là Tyson THORPE, địa chỉ 65 NeilSon CRESCENT BLIGH PARK 2756.



Qua soi chiếu, lực lượng chức năng đã phát hiện và nghi vấn bên trong các hộp mực máy in có chứa ma túy nên đã trình báo Công an cùng phối hợp kiểm tra 5 hộp mực máy in trên, phát hiện và thu giữ bên trong 5 hộp mực có tổng cộng 15 gói nilon chứa hơn 7,6 kg, loại heroin.

Anh Kim Nhật D. trình bày, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/6/2022, anh nhận được đơn hàng do Công ty chuyển phát nhanh NTT Express phân công. Anh D. đến trước địa chỉ trên và điện thoại cho người gửi hàng, người này yêu cầu anh D. đến tòa nhà Landmark 3, Vinhomes Central Park (số 208 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 22, quận Bình Thạnh) để nhận hàng.

Khi đến địa điểm trên, anh D. gặp một người đàn ông đang ôm kiện hàng đứng trước sảnh tòa nhà Landmark 3 chờ sẵn, giao cho anh D. kiện hàng trên và yêu cầu gửi đến địa chỉ người nhận tại Australia. Anh D. tiến hành cân kiện hàng và người này đã thanh toán tiền phí.

Anh D. đem kiện hàng về kho SCSC để làm thủ tục hải quan xuất khẩu đi Australia thì bị kiểm tra, phát hiện thu giữ như trên.

Từ lời khai của anh D., vào lúc 19 giờ ngày 23/6/2022, Tổ công tác phối hợp với Công an Phường 22, quận Bình Thạnh, TP.HCM tiến hành trích xuất dữ liệu camera tại khu vực sảnh xác định người gửi kiện hàng trên cho anh D. là Huỳnh Đình Khuyên, quốc tịch Australia đang cư trú tại căn hộ 40.12 chung cư Landmark 3, Vinhomes Central Park nên đã tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ 40.12 thu giữ thêm 1,2 gam, loại cần sa.

Ngày 23/6/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ Huỳnh Đình Khuyên.

Khuyên khai nhận, tháng 5/2022, thông qua bạn bè giới thiệu Khuyên quen biết với người đàn ông tên Superbed 8 (không rõ lai lịch). Sau đó Superbed 8 đặt vấn đề thuê Khuyên vận chuyển hàng có chứa ma túy từ Việt Nam sang Australia, mỗi lần vận chuyển thành công Superbed 8 sẽ trả công cho Khuyên 5.000 đô la Úc. Khuyên đồng ý và đã 2 lần vận chuyển.

Cụ thể, lần thứ nhất, ngày 14/6/2022, Khuyên không biết bên trong có chứa gì và cũng chưa nhận được tiền công từ Superbed 8.

Đến ngày 21/6/2022, Superbed 8 giao cho Khuyên 2 thùng hàng chứa heroin. Khuyên đem về chỗ ở tại căn hộ 40.12 chung cư Landmark 3, Vinhomes Central Park cất giữ.

Sau đó, Superbed 8 điện thoại chỉ đạo cho Khuyên dùng cân điện tử để phân chia gói Heroin trên thành 15 gói nhỏ, cất giấu vào 5 hộp mực in màu đen (mỗi hộp chứa 3 gói). Superbed 8 dùng điện thoại nhắn tin cho Khuyên thông tin địa chỉ người nhận hàng tại Australia.

Khuyên liên hệ với Công ty chuyển phát nhanh NTT Express làm thủ tục gửi kiện hàng chứa ma túy sang Australia.