| TS Nguyễn Nhã phát biểu trong một tọa đàm về chủ quyền biển đảo - Ảnh: L.Điền |
Như tôi đã nhiều lần phát biểu trong đó có hội thảo xây dựng bộ lịch sử trên,
rằng để đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam tại Hoàng Sa
và Trường Sa mà pháp lý quốc tế hồi cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20,
khi Trung Quốc bắt đầu tranh chấp chủ quyền năm 1909 cho Paracels (mà
Trung Quốc gọi là Tây Sa là đất vô chủ - res -nullius) thì sự chiếm hữu
phải mang tính thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình.
Từ
năm 1954 - 1975 chỉ có chính quyền ở miền Nam Việt Nam mới có quyền
quản lý Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này ở vị trí dưới vĩ tuyến
17, cũng đã từng được rất nhiều nước thừa nhận, nên chính quyền Việt
Nam cộng hòa phải được chính thức thừa nhận mới bảo đảm tính pháp lý
quốc tế liên tục
|
| TS Nguyễn Nhã |
TS
Nguyễn Nhã cho rằng, về pháp lý quốc tế cũng như về mặt lịch sử, Việt
Nam cộng hòa là một thực thể chính trị rất hiển nhiên không thể chối
cãi. Có thể khi còn đấu tranh chính trị vì lợi ích chính trị thì không
công nhận nhau cũng là chuyện thường tình.
Song
chính trị thì có thể thay đổi, nhất là khi đất nước đã được thống nhất
và đang có nhu cầu thống nhất lòng người, đoàn kết dân tộc để phát triển
hùng cường và đấu tranh chống các nguy cơ từ nguy cơ trở thành thuộc
quốc hay nguy cơ tụt hậu”.
Trong
cái nhìn triển vọng về việc thừa nhận chính thể Việt Nam cộng hòa, ông
Nhã cũng lưu ý rằng “Hiện nay có hơn 4 triệu Việt kiều trong đó các
thành phần trong chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng rất quan trọng. Công
nhận Việt Nam cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc,
như ý nguyện lúc sinh thời của Thủ tướng Võ Văn Kiệt”.
Không
chỉ thế, theo ông Nhã, “... Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng
ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa
giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực
hiện. Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành
lập Hội Khoa học lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây
không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. Bất cứ nước nào tôn
trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và
ngược lại rất khó phát triển”.
| TS Lê Trung Tĩnh - Ảnh: LTT cung cấp |
Việc
từ bỏ cách gọi "ngụy quân", "ngụy quyền" và công nhận Việt Nam cộng hòa
như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn
gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.
Mặt
khác điều này có những tác động tích cực đối với việc giải quyết tranh
chấp trên Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng
công pháp quốc tế.
|
| TS Lê Trung Tĩnh |
Tác động tích cực với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông
Ngày 18-8, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn.
Một
trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đề cập
đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa như một thực thể chính
trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.
Như
lời trả lời phỏng vấn báo chí, PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện
trưởng Viện Sử học, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ
sách Lịch sử Việt Nam,
đã nói: "Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hòa, mọi
người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không
gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn".
Nhiều
tác giả, đặc biệt là Quỹ Nghiên cứu Biển Đông qua các bài viết của TS
Dương Danh Huy, đã đi sâu về mối quan hệ giữa sự công nhận một hay hai
quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 và lập luận pháp lý bảo
vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Các
nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến
kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn
1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa,
Trường Sa trước Trung Quốc.
Và
đó cũng là quan điểm có thể chấp nhận về mặt chính trị hiện nay, so với
việc chỉ công nhận một quốc gia tại miền Bắc hay tại miền Nam.
Nhận
định Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia
cũng là điều được chấp nhận dưới góc độ luật pháp quốc tế theo nghiên
cứu của nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng.
Giáo sư James Crawford, giáo sư hàng đầu về công pháp quốc tế và là một thẩm phán tại Tòa án Công lý quốc tế, trong tác phẩm The Creation of States in International Law, đã cho rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa là hai quốc gia.
Theo
ông, việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải
được xem như sự thiết lập hai quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng
như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia trên không phải là toàn bộ
Việt Nam.
Ngoài
ra sau này trong Hiệp định Paris 1973, Việt Nam dân chủ cộng hòa và
Việt Nam cộng hòa cũng được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân
sự, tự khẳng định đối nội và đối ngoại, đáp ứng được các điều kiện có
chính phủ và khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.
Thật
ra việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính thể quan trọng trong
việc gìn giữ chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa đã được lãnh đạo Việt Nam
đề cập trong các phát biểu quan trọng.
Nguyên
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phát biểu trước Quốc hội ngày
25-11-2011 đã lặp lại không dưới ba lần từ "Việt Nam cộng hòa" và khẳng
định: "Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là
chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam
cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên
Hiệp Quốc can thiệp".
"Năm
1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì hải quân chúng ta đã
tiếp quản năm hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo
Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do
quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đang
quản lý chúng ta tiếp quản".
Cũng
cần nhắc lại là ngày 19 và 20-1-1974, trong trận hải chiến Hoàng Sa với
Trung Quốc, 74 binh sĩ Việt Nam cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ lãnh
thổ của Việt Nam.
Đó
đơn giản là những người con của nước Việt, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa
là một phần lãnh thổ của Việt Nam cùng với Hà Nội, Huế, Sài Gòn.
Ý
nghĩa của điều đó rất rõ và trường tồn đối với dân tộc Việt Nam, một
dân tộc đã từng đấu tranh 1.000 năm để có một lãnh thổ, và 1.000 năm để
giữ gìn lãnh thổ.
TS Lê Trung Tĩnh (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
Tiền đề thống nhất nhân tâm
Chiến
tranh đã chấm dứt từ năm 1975. Đã đến lúc dân tộc phải tiến hành công
cuộc hòa giải. Thống nhất đất nước phải là tiền đề cho thống nhất nhân
tâm, thống nhất tinh thần dân tộc...
Có như thế dân tộc mới mạnh, mới đoàn kết để chống xâm lược, để giữ gìn giang sơn, đất trời và biển.
Ai cũng vui mừng vì đã đến lúc ta phải gọi cho đúng tên các thực thể dân tộc trong quá khứ.
Việt
Nam cộng hòa là một thực thể lịch sử. Thừa nhận chính thể Việt Nam cộng
hòa như nó đã tồn tại ta sẽ làm giàu có thêm cho dân tộc vì đã có một
nền giáo dục, một nền văn học, pháp chế, kinh tế... mà chúng ta cần
nghiên cứu để thừa kế những giá trị và gạt bỏ những khuyết điểm, những
yếu kém...
Và
trên hết là hòa giải dân tộc, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc trong cuộc
cạnh tranh và sống còn trong một thế giới còn nhiều thách thức.
Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc
No comments:
Post a Comment