KTS TRẦN THANH VÂN: TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?
KTS Trần Thanh Vân (Ảnh: N.X.D.) (Nhà nghiên cứu phong thuỷ)
Lâu nay moị người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có
hiểu chút ít về phong thuỷ Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường,
cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thuỷ của kinh đô Thăng Long
xưa và Hà Nôị mở rộng ngày nay thì họ hay hoỉ
tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy,
nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhậy cảm mà tôi không thông thạo
như kinh tế, xã hôị, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời
sự quốc tế.!
Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình
văn hoá 1000 năm Thăng Long. Một nhóm nghiên cưú của Ban khoa giáo Đài
truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn
cốt Thăng Long. Giưã chừng câu chuyện, họ hoỉ
tôi “Chị nghiên cưú đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rôì
trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”.
– “Cái gì? 55 năm?”.
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”. Thế rồi tôi kể cho họ nghe những
câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ.
Vào đại học , tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý
toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến
trúc. Sau này, tôi học phong thuỷ cho biết để hành nghề kiến trúc sư,
càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng,
đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm
với những sự thật và tôi không thể không theo
đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn
từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý
thuyết.
Sự thật và trải nghiệm
Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với
vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi
sâu tìm hiểu bản chất của môí quan hệ hưũ nghị Việt Nam – Trung Hoa này.
Có thể có những nhà nghiên cưú chiến lược
lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói,
nhưng vơí trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như
là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít có ai có cơ hôị để “hiểu”
Trung Quốc hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian
dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy
phải noí ra hôm nay để moị người cùng biết.
Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái
thời moị người hay hát “Việt Nam- Trung Hoa nuí liền nuí, sông liền
sông/ Chung một Biển Đông, thắm tình hưũ nghị…” trước đó tôi đã có hai
kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung
quốc.
Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953.
Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi
theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt
đầu chiụ cảnh máy bay bắn phá. Nhưng , cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại
chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian
phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một
thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông
tôi đã cưú sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng goị bằng
thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa
nào thức nấy, trong nhà ông tôi ngoại không bao giờ thiếu của ngon vật
lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cưú mạng như rổ lạc đầu mùa, cân
đỗ xanh, thúng gạo nếp , mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có
cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi…Nhà
chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con
trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy
là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.
Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông
ngoại ra sinh sống ở Hà Nôị nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà
Nôị. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa
và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ
Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một
nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cuị làm việc
đó, mẹ tôi vưà nuôi sống cho gia đình và bản thân, vưà đóng góp tích
cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa
đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may
/xào xạc rung cây lá lá bay/một mùa đông bao người đan áo…” chính là
noí về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng
chiến cưú quốc.Vào những ngày đó, ở vùng tự do
nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sơị
bông, nhuộm sơị thành các mầu xanh, mầu nâu, mầu cỏ úa rôì đan thành áo
gưỉ ra chiến trường, đã được ca ngơị như một chiến công lớn.
Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tôị, có một người bạn thân hôì nhỏ
của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập
tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông bí thư đó để bịt
đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền
bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng
để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ
thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.
Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng
hốt, vôị vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vưà đặt
chân đến Chợ Chu – Định Hoá – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện
họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm
huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối vơí một người phụ nữ từng có
công lớn mà đến nay moị người vẫn còn nhớ.
Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của
các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng
đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và
vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.
Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn
lại chuyện cũ, moị người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó
đi.
Kỷ niệm thứ 2: Trời phạt
Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì
chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hưũ nghị Việt
-Trung -Xô.
Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay
bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường là dù chưa quen biết người
ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hoà Bình lập lại, Chính phủ
về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội
cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc. Còn nhỏ xiú nhưng tôi
dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến
gần đầu gôí, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ
lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Toà
dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và
các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại
sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buôỉ sáng sớm họ
đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và
hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột cờ.
Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp
2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói
quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật
ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh
ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc
trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về
một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng
hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buôỉ chiêu
đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do chủ tịch UBND thành phố Trần Duy
Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu
chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị
chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai
Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm
Trị- Phủ Tây Hồ.
Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn qủàng đỏ do tôi tặng. Cùng
chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thôỉ sáo Phùng Tử Tồn và hai người
nưã. Mộ của họ mai táng ở nghiã trang Bất Bạt huyện Ba Vì.
Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến
tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít và vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới
con lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì
nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện
người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu
yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó
đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người
ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô
bé con như tôi không sao hiểu nôỉ thứ tình hưũ nghị quái gở gì mà
“người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tôị nghiệp”
vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh
chống Mỹ?
Mấy chục năm sau, để giải toả tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn
quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh ở làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ
dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu/ Dấu nhà Trời
ai thấu được đâu/ Một dải khăn đào kết một
cái cầu/ Để hồ thẳm nước sâu/ Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.
Du học ở Trung Quốc
Tuôỉ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hôì nhỏ.
Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi
được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc.
Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được
“ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dậy giỗ ân cần,
lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận
phòng riêng phục vụ tận tình.
Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi
đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong
3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh
tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam
thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng
Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông hoạ sĩ già thì hai bàn
tay bôi mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm
phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo
chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc
vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường
chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích
âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn
phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà
khi ở nhà vơí cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.
Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hoỉ “Có phải họ đang vỗ béo chúng
tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ reo mầm
bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hoỉ
như thế cả, nhưng trong lòng không thể không
gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo
lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn
phòng chật chôị của ký túc xá, bưã cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao
không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.
Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn
người Thượng Hải nưã ở cùng trong một ngôi nhà giành riêng cho giáo viên
và trợ giảng. Đó là một Toà nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng
hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một giành
cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn
rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái
ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hoá ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi
chúng tôi?. Tôi phát hiện biết có một thầy
giáo bị bệnh gan thận gì đó rất cần ăn đường nhưng tiêu chuẩn tem phiếu
không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xiủ, thấy vậy tôi hay đi mua
đường mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô
giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi
2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên
vườn hoa ngôì hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi,
họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật
trong trường và trong xã hôị, tôi có cảm giác
như đất nước này sắp có đại loạn.
Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hoá nổ ra, đại đa số học sinh trung
học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng
tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét,
rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo
chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được
chứng kiến các giáo sư trong trường đã từng giảng dậy chúng tôi, bị làm
nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy
báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có
chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tiũ.
Là một đưá con gái xuất thân trong một gia đình có giáo dục truyền thống
ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép
học trò đấu tố thầy, hành hạ và xỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một
nước Trung hoa có truyền thống văn hoá lâu
đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã
hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi
phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Tôi không sao
chấp nhận nôỉ, những người bị hành hạ là những
giáo sư đáng kính của chúng tôi, những người hành hạ các giáo sư lại là
những bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó,
tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy. Nhưng nếu họ đi
ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị
lôi ra đấu tố.
Chúng tôi rất sợ bị liên luỵ nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm
hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”
Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường
học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt
nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký, chúng tôi
khăn goí vôị vàng rút về nước. Tất cả bạn
học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản
thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày
ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh trường Đại học Đồng Tế,
ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc,
do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến
lạnh sống lưng. Giáo sư nôỉ tiếng Lý Đức Hoá, người từng được nhiều giải
thưởng Quốc tế và bà vợ bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt
đi đâu?. Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về
nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bưã cơm hàng ngày lặng
lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.
Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực
sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung
Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm
quyền? Tôi không sao hiểu nôỉ các nhà cầm
quyền và thứ “tình hưũ nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh
và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy
họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.
Chúng tôi rơì Thượng Hải buồn bã và vôị vàng như ma đuổi.
Thời kỳ đã trưởng thành
Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác
liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng
tôi tạm quên đi những cảm giác khó chiụ của những ngày cuôí cùng sống
trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước
ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến
trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ
trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và
sớm thích nghi vơí khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của
thanh niên thời chiến.
Sau đó, môĩ người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của
từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường
tỉnh Vĩnh Yên.
Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm
đến, khi ngôì tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký
ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy
nghĩ nhiều lắm.
Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không
thể noí ra vơí ai. Tôi ở cùng nhà vơí một chị tốt nghiệp ở thành phố
Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại”
và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn
là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Míc bay trên bầu trời và
những phong lương khô để chống đói.
Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ
niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự qúa đà của một
nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên
lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo roĩ
và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi
ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân
thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng
tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng
thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu
Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm
sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nôị bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng
do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất
vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng
vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ
thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời trung cổ của họ mà thôi.
Trung quốc hôm nay?.
Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng
biết Trung Quốc đã thay đôỉ rất nhiều và rất đáng kính nể.Tuy vậy, khi
tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi
hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của
một Trung quốc đại nhâỷ vọt mà họ đang ra sức qủang bá, vẫn còn có một
Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và
những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung hoa đã từng bị chà
đạp, bị xỉ nhục và chiụ nhiều đắng cay trong
nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm
triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền
hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không
thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng
lên bất cứ lúc nào.
Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đôỉ rất nhiều. Nhưng khi tôi về
thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng tế
tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy
một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn
và thật khắc khổ. Có bạn vưà gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức
nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hôị ngộ sau nhiều năm xa
cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời
nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm
đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng ” noí về những éo le và
mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó
có rất nhiều người từng là bạn tôi.“Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà
những người cầm đầu đất nước này đã gây ra
cho bao gia gia đình trí thức để rôì đến lúc họ sẽ phải trả. Một người
bạn tôi noí vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của
Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”
Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng
tôi đã giành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đôỉ của
nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm
lặng, rất đau khổ như tôi vừa noí, còn lớp
người Trung Quốc thứ ba đang vưà là chỗ dựa vưà là gánh nặng uy hiếp
Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo
vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng
có thoí quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ
dựa”để đối phó vơí các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nưã hoặc
không sử dụng được nưã thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.
Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi
lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là
Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ
trụ” điều khiển hơn một tỷ dân. Nhưng thời
nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay
có các băng đảng lưu manh kết hợp vơí công an và chính quyền hình thành
hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng
Khánh vưà qua là một thí dụ. Không thể tin
được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu
manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số
đó có cả giám đốc sở tư pháp và nhiều sĩ quan công an.
Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách
quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng
nhiều vơí vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá
hoặc vì đã là tôị phạm bị giam cầm lâu quá, nay
được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lưà đảo và để
tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nôị ứng cho các
cuộc tấn công của quân chính quy sau này.
Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.
Ông Vũ Duy Phú và KTS Trần Thanh Vân. Ảnh: N.X.D.
Sau
khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa
suốt mấy ngàn năm là trấn áp nôi bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng
được
đất nước ta. Tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do
riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cưú các
lý thuyết về phong thuỷ địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã
“không may” bị tận mắt chứng kiến.
Chúng
ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ
Bồ Đào Nha có công đầu về việc xử dụng chữ gốc La Tinh để phiên âm tiếng
Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ 16-17 như Francisco de
Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre
de Rhodes ( 1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế
kỷ thứ 19 để trở thành chữ viết chính thống
của nước ta đầu thế kỷ 20 là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau
de Behaine. Cám ơn các vị giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khoỉ ảnh
hưởng của văn hoá nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến
lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ thứ
20 đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong
đó có Phong Thuỷ, Địa Mạch và Kinh Dịch.
Sau
17 năm nghỉ việc ở Bộ xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp
trí thức ở lưá tuôỉ của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời
gian
để hiểu rõ trong cấu trúc phong thuỷ địa mạch của nước ta có một thứ mà
nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và
họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được
nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi
nói nhà cầm quyền Trung Quốc thèm muốn chư không phải nhân dân Trung
quốc, bơỉ vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc
không hề được hưởng lợi gì, có khi còn bị thiệt thòi hơn.
Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich. Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, nuí, sông…chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich.
Hình quẻ Chấn
Theo phần tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của Kts Lý
Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ
bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực
Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giưã Hoàng Hà và Trường
Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và
hào hai gãy, hào ba gẫy có nghiã là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung;
cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có môí quan
hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc
và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.
Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết qủa của một quá trình
chiến tranh và đồng hoá lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng
người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người
Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa
chưa bao giờ hết nôị chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và
trên đất nước này không có cụm từ
sức mạnh đoàn kết toàn dân.
Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương,
Hồng Kông, Ma Cao … đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách
được ra thì các quốc gia đó sẽ giầu có và trù
phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn
áp ở ngay giưã Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã
man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.
Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên
cưú kỹ phong thuỷ địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi
được yếu điểm cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ
đường kinh mạch lợi haị đi từ đỉnh Everest cao
gần 9000m của dãy Hymalaya trên qua Cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam,
qua Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống Vinh Hạ Long rôì đi đến đáy đại
dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở Vịnh Mindanao Philíppin. Đó cũng là
mạch đất độc đáo nôí từ “Cổng Trời” đầy thiên
khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là
đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh
mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sendwich
đó không cho nó trôi trượt đi, mà họ có thể
mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “Củng cố
nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước
nguyện bá chủ toàn cầu.
* Sau hàng ngàn năm vơí nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng
390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân
tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên
20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu
dân ngày nay là thành phố của người Hán ( người Hán thật thì ít, người
Hán mới bị đồng hoá thì nhiều).
* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của
Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ
thuộc vào Trung hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một
cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô
hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và huỷ diệt người Tây Tạng,
đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn
của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến
Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm
ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghiã là Nhà nước Trung
Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn.
Tây Tạng
Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử
chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bơỉ vì Phương
Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua
thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những nhân
vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền…Bởi thế ta rất cần biết tại
sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?
Địa mạch Việt Nam : Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu
Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra
dẫy nuí cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc
gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì Đồng bằng Bắc
Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch
đất này.( đọc Đại địa mạch quốc gia ) Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn vơí đỉnh Phan Xi
Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, toả ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của
THĂNG LONG NUÍ CHẦU SÔNG TỤ.
Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng kinh đô Thăng Long thì người
Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ
bí này và Cao Biền Tấu Thư kiểu tự là một trong những kết qủa tìm kiếm
công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài gioỉ gốc Mãn
Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hôị rất nhiều linh khí đất trời và sản
sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt
chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt
ông ta theo lệnh vua Đương Y Tôn yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền
tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã
xây thành Đại La mưu đồ thực hiện mộng bá
vương và đã bị vua Đường trị tôị. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao
giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo
ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.
Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo
từ phiá Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây
nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của
ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.
Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á.
Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên Vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta
còn có Vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn
lại có Vinh Bái Tử Long và ngoài khơi xa của Hải phòng có đảo Bạch Long
Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan
đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên
quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xoè ra ở Đồng Bắc Bộ, đi xuống nước ở
Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc Vịnh Mindanao thuộc
Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng
yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và
ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng
5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả
thế giới. Đây là sản phẩm kế thưà của chính quyền
Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu
đồ bá quyền của chính quyền nhà nước họ không thay đôỉ. Chắc hẳn lúc
này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và
Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến
chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ
con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bơỉ vì chiếm cứ được
cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu A và một khi chiếm được Châu Á
rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới,
trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều
đó không?
Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh.
Đồng bằng Bắc bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình
chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân
bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì
Đất nước ta như một con tàu/Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau..
Cốt lõi Trục Phong thủy nước ta là:
ÂM DƯƠNG TƯƠNG ĐỒNG
Biển Đông Thái Âm
Đảo Hải Nam Thiếu Dương
Bán đảo Đông Dương Thái Dương
Biển Hồ Thiếu Âm
Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi Đồng Bằng Bắc Bộ đã vững
như bàn thạch, từ thế kỷ 16 trở lại đây, khi đất nước đã phát triển
xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và
điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các
phần muĩ thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau.
Bơỉ vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận
mệnh đất nước, để xác đinh thái độ và hành động của mình.
LỜI CUỐI BÀI
Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi
không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an
ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu
rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính
trị trong môí quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bơỉ vậy tôi muốn khuyên
tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải
nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khoỉ cõi u mê của sự hoang
tưởng trong môí quan hệ với Trung Quốc. Cha ông
ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dậy bảo và bản thân
tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dậy bảo
của cha ông.
Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc
hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít
người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ
vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở sức mạnh Trung
Quốc và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem
cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?..
Đông dân là một sức mạnh.
Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu
Trường Giang, họ rất tự hào noí rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi
người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó
là một việc làm tốt.
Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động tổ chim độc
đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của
mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.
Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không
mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm
được đủ để doạ nạt chúng ta và các nước trong vùng.
Có điều, một thảm hoạ đông dân mà Nhà nước không vì dân, thì Nhà nước sẽ
khốn đốn vì sự phản ứng của dân. Có ai biết rằng trên đất nước Trung
Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc
biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các
thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Qủang Châu… đang chia cắt
quyền lực của đất nước họ hay không ? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng
không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.
Vậy thì moị nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không ?
KTS. Trần Thanh Vân.
(FB. KTS Trần Thanh Vân)
Địa lý VN !
Tôi không ngờ một KTS học lên từ miền Bắc rồi đào tạo ĐH ở Trung Cộng về
nước làm việc cho chế độ CS miền Bắc bao nhiêu năm,mà KTS Trần Thanh
Vân lại có một tinh thần tự học với tầm suy nghĩ cao rộng kết tinh trong
đó lòng yêu nước sâu xa,thật đáng trân trọng
biết bao!
Tôi thật ngưỡng mộ chị KTS Trần Thanh Vân!
Xin trân trọng chuyển đến quý bạn hiền 1 bài viết của chị về bản chất
của bọn bành trướng Bắc Kinh và về Phong Thủy Địa thế của Việt Nam ! Rất
hay và rất tâm huyết!
TTN
Bài này – phần đầu KTS Thanh Vân đã viết từ 2008 -có nhắc nhở bọn Lãnh
Đạo khi làm Kỷ Niệm Thăng Long 2010. Cô này về Dịch Lý và Phong Thủy ( 2
kỳ thư của Cổ Trung Hoa – mà các Khoa Học Gia Tây Phương rất ngưỡng mộ –
Máy Tính phát sinh từ căn bản Âm Duơng )
rất căn bản và thâm sâu – có " lòng yêu nước " rất đáng trân trọng.
Cũng như Cô tôi tin Địa Thế của VN về Phong Thủy – duy nhất trên Thế
Giới có Hình Tượng ( logo) của Âm Dương: Nếu lấy Compas để tâm điểm là
Huế vẽ Vòng Tròn thì chữ S là vạch chia Âm Dương
gồm Tứ Tượng : Thái Dương là phần đất liền trong đó có Thiếu Âm là Biển
Hồ – Biển Đông là Thái Âm với Đảo Hải Nam là Thiếu Dương!.
This is an article written by Architect Tran Thanh Van who has had a lot
of experience in the Geology and Structure of the land mass in Asia,
i.e. the "Phong Thuy" of China and VN, etc…. Tran Thanh Van believes the
reason that China has always wanted to occupy
VN is because the Chinese Government thinks that North VN with Ha Long
Bay is the tail of a giant Dragon, whose head is the Peak of Himalaya
Mountain Ranges. Tibet (Tay Tang) the peak of Fansipan (the Sa-Pa area)
and the Northwest VN (the "Bauxit" mines) are
parts of this giant Dragon. The Chinese believes that if they take over
the control of the land where this Dragon lies, then they can take
control of the entire world!….They are now trying to accomplish this
ambition!
No comments:
Post a Comment