Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 28 January 2026

CHUYỆN TÙ CẢI TẠO CỦA MỘT QGHC-SAU KHI ĐƯỢC VC TẠM THẢ RA CUỐI NĂM 1981- ANH CÙNG ĐỨA CON TRAI LỚN VƯỢT BIỂN VỚI HƠN 15 NGÀY TRÔI DẠT TRÊN BIỂN CẢ- VÔ VỌNG VỚI 15 TÀU LÀM NGƠ VÀ CHIẾC THỨ 16 CỦA PHÁP ĐÃ CỨU MẠNG 17 NGƯỜI TRÊN GHE VÀ TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC ĐƯA VỀ PHÁP ĐỊNH CƯ TỪ NĂM 1982./-Mt68

//////////////////////////////

Từ KHÁM ĐƯỜNG MỸ THO đến TRẠI LAO ĐỘNG BÀ BÈO ...

  Hồi ký : HỒ SÁU (ĐS18)




Ngày 30/04/1975 là ngày đen tối của tất cả mọi người sống ở Miền Nam VN. Ngày mà vùng đất tự do còn lại của VN đã rơi vào tay CS miền Bắc.

Người dân Miền Nam hoang mang cho cuộc sống của mình : Quân nhân, công chức lại càng lo âu hơn về số phận và gia đình trong những ngày sắp tới sống dưới chế độ CS. Tôi là một trong những người có tâm trạng như thế!

Rời nhiệm sở cuối cùng làTy thuế vụ Rạch giá, tôi về trình diện tại Mỹ tho. Ở đây tôi được dịp gặp lại đông đủ anh em và các chú bác mà tôi đã quen biết lúc tôi tốt nghiệp Ban Tham Sự khóa I /1965 về phục vụ tại Tòa Hành chánh Định Tường.

Lớp học tập chính trị do Ủy ban Quân Quản Tiền giang mở ra dành riêng cho các Trưởng Ty, Phó Ty nội và ngoại thuộc, các Phó Quận Trưởng, các Chủ sự phòng và các Bác sĩ, Nha sĩ ... thuộc Tỉnh Định Tường.

Những buổi học tập chính trị tại đây cũng không ngoài mục đích kê khai lý lịch của mình, tố khổ chế độ VNCH và cá nhân mình ! Buổi học tấp đặt dưới sự chủ trì của các cán bộ CS ở cấp khu. Thời gian học tập chỉ kéo dài vài tuần lễ nhưng rất căng thẳng về mặt tinh thần. Sáng 4 tiếng đồng hồ để nghe cán bộ chính trị Ba Thân ca ngợi chủ thuyết CS, chửi rủa chế độ VNCH với những lời lẽ hạ tiện như thằng Diệm, thằng Thiệu, bọn ngụy quân, ngụy quyền ... rồi đến chiều cũng 4 tiếng dưới sự chủ trì của tên Tư Nghĩa cán bộ quân sự để kiểm thảo, tố khổ chế độ VNCH và bản thân mình.

Chỉ trong 6 tuần lễ cái gọi là hoc tập chính trị mà đầu tôi như muốn vỡ tung. Thời gian học tập chấm dứt sau đó tất cả đều đặt trong tình trạng quản chế tại địa phương do những tên cán bộ công an khu vực quản lý. Trong chế độ quản lý nầy, mọi người sắm cho mình một cuốn sổ tay để ghi lại sinh hoạt trong ngày rồi đến cuối tuần trình diện với tên công an khu vực để tên nầy duyệt vào sổ mới gọi là hợp lệ !

Thời gian trình diện như thế kéo dài mãi với cá nhân tôi rồi vào một ngày mà tôi bị bắt trở lại với tội danh lả « tình nghi phản động » : 26.03.1978.

TẠI KHÁM ĐƯỜNG MỸ THO.

Ánh nắng chói chan của một buổi chiều đầu xuân trên đường phố Mỹ tho đã làm cho con người mệt mỏi trong ngày lại càng mệt mỏi thêm hơn khi màn đêm sắp đến, đôi lúc có những ngọn gió nhẹ thổi nhưng không làm tan được sự nóng nực và oi bức của khí trời cuối tháng 3.

Khoảng 8 giờ tối ngày 26.03.1978, 3 tên công an thuộc Ty công an Tiền giang với sự hướng dẫn của tên công an khu vực súng đạn đầy đủ đến nhà cha mẹ vợ tôi, nơi tôi và vợ con tôi đang trạm trú. Sau khi chặng hỏi tôi vài điều thì một trong những tên công an lớn tuổi tuyên đọc bản tạm giam rồi sau đó trói tôi lại với sợi dây thừng bằng cao su mà 3 tên nầy đã đem theo. Có một điều lạ là lệnh bắt giam không có tên tôi nhưng sau đó tên trưởng toán đã hỏi tên họ tôi rồi điền vào.

Tiếp sau đó là bọn chúng lục xét nhà rồi thấy gì cũng lấy cũng quơ và nói là để giử điều tra !!! rồi đưa tôi thẳng vào khám đường Mỹ tho bằng xe honda. Nơi đây họ giao tôi cho nhân viên của khám đường. Trước khi đưa vào phòng giam tôi bị khám xét một lần nữa và họ đã tịch thu của tôi một số tiền mà vợ tôi đã bỏ vào túi trước khi rời khỏi nhà và một chiếc đồng hồ đeo tay rồi họ nói rằng các món nầy sẽ được trả lại khi tôi được tự do. Nói như thế để che đậy sự láo khoét của họ chứ có ai nhận lại được những gì mà họ đã tước đoạt khi bị bắt .

Đối với tôi, thời điểm nầy là một bóng đen bao trùm trên cuộc đời. Đầu óc hoang mang vì không biết rằng ngày mai nầy cuộc đời mình sẽ ra sao, rồi lo nghĩ đến cuộc sống của vợ con sẽ như thế nào lúc không có tôi bên cạnh trong cái xã hội hiện nay.

Phòng 10 của trại giam dùng để giam giữ những can phạm mà họ cho là tình nghi vượt trại và những can phạm bị kỹ luật nhẹ . Cửa phòng luôn bị khóa chặt ngày lẫn đêm. Tôi được đưa vào Phòng 10 lúc 10 giờ tối. Phòng nằm cạnh dãy xà lim, diện tích của phòng không quá 7 mét vuông vừa chật hẹp, tối tăm, hôi hám thế mà giam hơn 40 người gồm đủ mọi thành phần : Trộm cướp, giết người, Trưởng ty, Xã trưởng, Trung đội trưởng nghĩa quân của chế độ VNCH cùng một số cán bộ CS tham ô, móc ngoặc .

Phòng hình chữ nhật, có một cửa sổ nhỏ để thoát hơi, 1 cầu tiêu, sàn xi măng là dãy trệt, phía trên làm bằng gỗ được gọi là sàn trên, cứ 1 gang tay rưỡi là dành chỗ cho 1 người nằm, nằm theo kiểu trái tréo tức đầu người nầy đụng chân người kia.

Vào phòng rồi mà 2 tay của tôi vẫn còn bị trói chặt, thêm vào đó còn mang thêm chữ « cấm phòng » tức là không được nói chuyện hoặc giao tiếp với người cùng phòng. Trong thời gian bị trói và cấm phòng, tôi như người câm chỉ lấy mắt nhìn mọi người và ra dấu hiệu khi tôi muốn nhờ vả ai !. Nhớ lại lúc gian nan đó, tôi biết ơn anh Trần văn Bé, cựu cán bộ xã ấp xã An hửu, quận Giáo đức. đã giúp đỡ cho tôi khi tôi vào phòng.

Đêm hôm đó tôi không thể nào chớp mắt được vì vừa bị trói, vừa lạ chỗ và nóng nực chật chội, đầu óc tôi lúc đó như một đám mây u tối bao trùm, lo nghĩ lung tung rồi thiếp đi lúc nào không hay.

Ánh sáng ban mai đã lén qua khung cửa sổ rọi vào phòng, bên ngoài trời đã sáng, mặt trời đã lên cao nhưng tôi không thể biết được bây giờ là mấy giờ. Tiếng cửa sắt kêu ken két của các xà lim bên cạnh, tiếng chân đi lại của những can phạm làm vệ sinh bên ngoài gây nên những tiếng động đánh dấu một ngày mới của trại giam bắt đầu .

Ngày đầu tiên của tôi tại khám đường Mỹ tho là sáng thức dậy chờ đợi đến lượt mình vào cầu tiêu để làm vệ sinh, nhận cơm trưa, cơm chiều, họp phòng nghe đọc nội quy rồi ngủ.

Suốt hơn một tuần lễ, tôi không ăn uống gì và không ngủ được vì vừa lạ chỗ và chật chội ngộp thở nên thấy mệt mỏi và bần thần. Mỡi bửa ăn, can pham nhận một chén cơm và vài muỗng súp canh. Cơm thì nấu bởi gạo tấm và ẩm mốc, canh là rau muống hoặc củ cải sắc mỏng rồi bỏ muối hột vào.

Sau vài tuần, bụng thấy đói nên dầu rau muống với cơm mốc mà ăn vẫn thấy ngon, nhưng vừa ăn xong thì lại thấy đói bụng nữa ! nhưng tiêu chuẩn chỉ có thế thôi thì lấy đâu mà cho no bụng. Những lúc đói, cũng như mọi người thường uống nước lã để cầm hơi nhưng ngặt một nổi là nước cũng phát theo tiêu chuẩn là 3 lon Guigoz cho một ngày để làm vệ sinh sáng như súc miệng đánh răng và đi cầu thì còn đâu dư dã để được uống cho đầy bụng !

Tình trạng ăn uống của can phạm càng bi thảm hơn vào cuối năm 1978, lụt lội miền đồng bằng sông Cửu long làm dân chúng mất mùa, chúng tôi bị ảnh hưởng lây ,thay vì mỗi khẩu phần một chén cơm như thường lệ thay vào đó là mỗi người một cục bột mì luộc mà anh em chúng tôi thường gọi đùa là « bánh bao » hoặc có bửa đổi món bằng một chén bo bo. Tất cả đều đói lã người nhưng vẫn chịu đựng và chỉ trông chờ vào thăm nuôi hàng tháng của gia đình mà thôi.

Thăm nuôi của gia đình được trại ấn định một tháng một lần đó là nguồn vui và an ủi của anh em can phạm vì vừa được gặp mặt gia đình, vừa được gia đình tiếp tế đồ ăn và nhờ thế những sự khổ cực và đói khát ở trong tù mới có thể chống cự và kéo dài được.

Những can phạm gia đình không thăm nuôi trăm bề đói khát ai nấy chỉ còn da bọc xương nên nhiều con bệnh thường đến viếng như kiết lỵ, thổ tả, kiệt sức …Đối với những anh em nầy tuy không có gia đình thăm nuôi nhưng họ cũng hưởng được một chút gì đó của ngày thăm nuôi như họ chờ đợi những người có thăm nuôi vừa ăn vỏ chuối bỏ ra là họ chợp ngay để ăn cho đở đói …. Thảm cảnh của kẻ tù dưới chế độ CS là như thế đó !!!

Sau 3 tháng cấm phòng, một hôm tôi được tên cán bộ trực trại goi tên lên « làm việc », tưởng chừng liên can đến việc bắt giữ mình nhưng khi đến nơi họ không hề đề cập đến, tên cán bộ quản giáo của trại cho biết là tôi được « xả phòng » tức là được hưởng các quyền như các can phạm khác có nghĩa là được nói chuyện với các anh em khác cùng phòng.

Kỹ luật của trại giam rất nghiêm khắc, khi phòng viên ra ngoài làm tạp dịch như xách nước, giặt đồ, đi tắm v.v..tuyệt đối không được liên hệ với các can phạm phòng viên khác phòng khi gặp nhau dù có quen biết trước ngoài đời, nếu vi phạm sẽ bị khép vào tội thông đồng và bị nhốt tại xà lim với chân bị cồng .

Trong suốt 3 tháng bị cấm phòng, tôi không được thấy những hoạt động bên ngoài của trại giam. Nhân một buổi sáng chúa nhật, tên cán bộ trực trại đến mở cửa phòng 10 rồi kêu đề cử 3 can phạm trong phòng ra ngoài làm vệ sinh trước dãy xà lim bên cạnh, tôi liền tình nguyện trong số 3 người. Cái cảm giác đầu tiên  là khoan khoái đến với tôi khi được bước ra khỏi phòng hít thở được không khí bên ngoài và thấy được ánh sáng mặt trời rồi sau đó lợi dụng lúc làm vệ sinh , tôi đưa mắt nhìn chung quanh để quan sát mọi người đang làm và nhờ thế tôi biết được hình thể của trại giam ra sao.

Ánh sáng ban mai không làm dịu được sự oi bức trong đêm mà lại làm tăng thêm sự khó chịu hơn khi mặt trời đứng bóng. Chung quanh trại giam là 4 bức tường cao vút với những hàng rào kẻm gai và chông sắt nên gió không vào được trong sân trại vì thế sự nóng bức lại càng nóng bức thêm.

Các can phạm ở trong phòng tất cả đều ở trần quần cụt suốt ngày lẫn đêm vậy mà mồ hôi lúc nào cũng vẫn chảy ra như mình đang tắm. Trời đã nóng nực nhưng phòng thì chứa can phạm quá nhiều thế nhưng tiêu chuẩn nước cấp cho can phạm mỗi ngày cũng bị hạn chế ! Tắm thì 1 tuần lễ cho tắm tập thể 1 lần, mỗi lần tắm cũng bị giới hạn, 3 lon đầu gọi là để cho ướt và kỳ cọ, rồi 3 lon kế tiếp để giội sạch. Nếu ai vi phạm mà bị bắt được sẽ bị cấm tắm1 tuần lễ.

Cuộc sống thiếu thốn và bẩn thỉu như vậy nếu ai mới bị bắt nhập phòng thì chỉ 1 tuần sau là nổi ghẻ ngứa đầy mình, chẳng những thế chúng tôi còn bị nạn rệp tấn công ngày lẫn đêm. Chúng tôi thường nói đùa với nhau là rệp trong trại tù nó biết nhảy dù vì thường đêm những ai nằm trong hộc tức phần dưới sạp vì ở trần nên mỗi khi cảm thấy trên bụng mình nhột nhột là biết có rệp đã nhảy dù từ trên sạp xuống vì chúng đánh hơi người rất hay.

Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, cuộc sống tù tội của tôi tiếp diễn ngày qua ngày. Thế rồi vào một buổi sáng phòng được dẫn đi tắm tập thể, tôi tình cờ gặp Lê tấn Trạng (ĐS 11) cũng là cựu Dân biểu thời VNCH đang làm lao động bên ngoài. Trạng nhìn tôi và tôi nhìn Trạng trong đôi mắt ngỡ ngàng mà không dám nói một lời. Rồi sau đó cũng trong một dịp đi tắm tập thể khác tôi lại gặp Ngô ngọc Vĩnh (ĐS 18) người bạn cùng khóa ,cũng như lần gặp Trạng chúng tôi cũng chỉ lấy mắt nhin nhau để thay lời chào !

Thời gian ở trong tù là cả một chuổi ngày cơ cực , cứ mỗi lần nghe tiếng động bên ngoài của các can phạm làm vệ sinh là biết trời đã sáng hoặc mỗi lần nghe tiếng cửa mở để nhận cơm là trời đã trưa và nhận cơm chiều là trời sắp tối hoặc khi nghe tiếng kẻng của các trạm gác để đổi gác thì biết trời đã về khuya . Thời gian thấy nặng nề và chậm chạp thế mà tôi đã trải qua hơn 10 tháng ở trại giam nầy mà chẳng ai đá động gì đến tội trạng của tôi .

Cuộc sống như thế cứ kéo dài và lần hồi tôi quên đi không còn nghĩ đến nó nữa . Thế rồi trong sự tò mò, tôi lại tìm hiểu thêm về cách tổ chức của trại giam khi có dịp ra ngoài.

Trại giam gồm tất cả 10 phòng, phòng 1 là có diện tích rộng nhất, nằm cạnh dãy nhà mà các tên công an bảo vệ trại trú ngụ cách nhau bởi một bức tường gạch có rào kẻm gai, đối diện phòng 1 là phòng 2 khoảng giửa là hội trường dùng để làm nơi ăn hoặc tập họp các người vừa mới bị bắt trước khi phân phối vô phòng, phòng 2 là nơi giam giữ các nữ can phạm, sau lưng phòng 2 là phòng 3 rồi tới nhà bếp bên cạnh nhà bếp có hồ nước cung cấp nước cho toàn trại, tiếp đến là phòng 5 gọi là phòng lao động dành cho các can phạm tội nhẹ hoặc cán bộ CS phạm pháp. Các can phạm nầy được tự do đi lại trong trại với chế độ ăn uống và tắm rửa thoải mái, kế phòng 5 là một dãy phòng 6, phòng 7 và phòng 8 . Phòng 7 là phòng nhốt các can phạm có án. Bên cạnh xà lim là phòng 9 dành cho các can phạm bệnh tật và lớn tuổi rồi đến phòng 10 là phòng kỹ luật. . Thời VNCH chỉ có 1 dãy xà lim gồm 3 phòng liên tiếp nhau nay với chế độ CS chúng xây thêm một dãy mới gồm 10 phòng nằm phía sau các phòng 5,6,7,8.

Sáng hôm nay trời vẫn còn tối, mặt trời chưa ló dạng, trong ánh sáng lờ mờ buổi ban mai của trại giam như chứa đựng không khí hắt ám của một bãi tha ma. Tiếng keng két của chìa khóa mở cửa phòng sớm hơn thường lệ, rồi tiếng người đọc tên tôi bỗng giật mình tỉnh giấc. Trong sự ngỡ ngàng và lo âu thì được các bạn nằm bên cạnh cho biết là hôm nay có cuộc chuyển trại

Từng phòng một, số can phạm được đọc tên mang đồ đạc ra khỏi phòng rồi ngồi sắp hàng từng dãy một trước sân trại. Phòng 10 có 12 can phạm được gọi tên trong danh sách trong số đó có 2 tên trưởng phòng và phó phòng, cán bộ du kich , 1 can tội giết người và 1 can tội hiếp dâm .

Sau khi nhận phần cơm trưa , tất cả đều được đưa đi lao động tại trại lao động Bà bèo hoặc trại Cồn tròn cũng trong phạm vi Tỉnh Tiền giang. Việc chuyển trại nầy theo thông lệ cứ 4 tháng 1 lần vì vừa giải quyết được sự gia tăng số người bị bắt ngày một đông vừa đưa các can phạm có án đến các trại lao động để thụ án.

Sau vụ chuyển trại, sinh hoạt của trại giam trở lại bình thường như mọi bửa . Rồi hơn 1 tuần lễ sau vì phòng 10 thiếu ban đại diện phòng và không hiểu vì lý do gì tên cán bộ quản giáo Tư Hoảnh gọi tôi lên « làm việc » và sau một hồi giảng giáo điều, hắn ta chỉ định tôi làm phó phòng, viên trưởng phòng là tên Ba Sử, một cán bộ CS tập kết can tội móc ngoặc tham nhũng với bản án 8 năm tù ở. Nhìn bề thế tên nầy không có vẽ gì là tên CS, thân xác to, mập giống như tên xì thẩu Ba tàu Chợ lớn chỉ biết ăn rồi lăn ra ngủ như con heo, mọi việc sinh hoạt và tổ chức trong phòng hắn ta đều ủy thác cho tôi và nhờ đó mà tôi có dịp tổ chức lại từ từ các tổ, các toán do phe ta cầm đầu và điều khiển .Phòng 10 đa số giam các quân cán chính VNCH như Trưởng ty, Xã trưởng, Trung đội trưởng Nghĩa quân, biệt kích cùng một số các anh em trong sư đoàn Tiền giang, lực lượng Liên bang Đông Dương và về sau có thêm các anh em bị bắt trong vụ nổi dậy ở Xã Quơn long Chợ gạo…

Việc giúp đỡ hoặc che chở cho các anh em thuộc diện chính trị với nhau là một việc làm mạo hiểm trong trại giam dầu biết rằng có những tên ăn ten do trại cài đặt trong phòng nên chúng tôi rất thận trọng và cảnh giác tối đa mới tránh được những con mắt dòm ngó của các tên nầy bằng cách là tôi cắt đặt những tên đó vào chúc vụ tổ trưởng để coi các can pham hình sự như hiếp dâm, trộm cướp v.v ..

Bọn nầy thuộc loại con « Bà Phước » không có thăm nuôi nên chúng đễ bị mua chuộc, chỉ một vài tán đường hoặc vài trái chuối trong ngày thăm nuôi thì chúng sẽ làm theo ý của mình !. Nhờ vậy mà phòng 10 khi tôi khi tôi còn ở đó không có chuyện gì xảy ra cho các anh em phòng viên, chỗ nằm cho các anh em chính trị cũng được thoải mái hơn thay vì nằm ở những chỗ ẩm thấp như sàn nước, trong hộc, anh em được sắp xếp lên sạp đễ thở hơn. 

Vào những năm cuối 1978 và đầu 1979, phong trào chống cộng trong quần chúng khởi dậy mãnh liệt nhất là trong giới trẻ . Ở Định tường thì có Sư đoàn Tiền giang, Liên bang Đông Dương, cuộc nổi dậy của quần chúng tại Xã Quơn long Chợ gạo, nhóm Biệt đoàn 64 ở Vàm láng Gò công nhưng vì lòng yêu nước và hận thù Cộng Sản, các tổ chức trên chỉ có tính cách cục bộ tại địa phương và không có một lực lượng nào để yểm trợ nên cuối cùng đều bị sa vào bẩy sập của CS.

Sư đoàn Tiền giang có GS Nguyễn văn Ngãi và GS Nguyến văn Hai chết trong tù. Liên Bang Đông Dương có GS Nguyễn minh Chiến bị tử hình tại Cai Lậy. Nhóm Quơn Long có 2 án tử hình trong đó có em Nguyến văn Quang con của chú Nguyễn văn Vinh cựu xã trưởng xã Quơn Long và nhóm biệt lập ở Vàm láng cũng bị án tử hình, anh Đỗ văn Giang, cựu quân nhân SĐ 7 Mỹ tho. Tất cả án tử hình được bọn CS thi hành lúc tôi còn ở khám đường Mỹ tho.

Các anh em còn lại thuộc các tổ chúc chống cộng nói trên đều bị kết án từ 5 đến 20 năm tù đa số là thành phần cựu quân nhân, cựu công chức của chế độ VNCH. Điều đáng nói hơn là thành phần nổi dậy tại xã Quơn long toàn là con em của các anh em thuộc chính quyền cũ đang bị tập trung cải tạo, tuổi còn trẻ có em chỉ mới 15, 16 tuổi mà vẫn có tinh thần chống cộng như các chú, các cha của các em.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng cuộc nổi dậy tại Quơn long đã gây chấn động không nhỏ vào thời buổi đó và đã làm cho bọn CS ở Tiền giang mất ăn mất ngủ không ít.

Thời gian khi tôi còn ở khám đường, tôi có dịp chứng kiến rõ mỗi lần có cuộc xử bắn một can phạm. Không khí của trại giam lúc đó trở nên như một bãi tha ma để sẵn sàng đưa rước một linh hồn yêu nước và vô tội đi vào cõi chết.

Tờ mờ sáng, khác với mọi ngày, tất cả các phòng đều bị đóng cửa. Ngoài sân chỉ thấy bóng dáng của các công an bảo vệ qua lại trong tư thế vội vã. Hiện tượng đó báo hiệu một biến cố trọng đại sẽ xảy ra trong trại rồi một lúc sau thấy 2 tên cán bộ quân phục áo vàng kè 1 can phạm bị bịt mắt với mãnh vải màu đen và một mãnh vải màu tráng bịt ngay miệng của can phạm để đưa ra xe chở đến phạm trường. Theo thông lệ và theo sự kể lại của các can phạm lao động đi theo làm công tác tạp dịch tại hiện trường . Trước khi bị đưa đi hành quyết miệng bị nhét 1 trái chanh lớn và bịt chặt lại vì chúng sợ rằng khi đến phạm trường, tử tù nhất là tử tù chính trị thường la lớn chửi chế độ trước giờ hành quyết vì mỗi lần xử tử như vậy chúng thường ra lệnh tập hợp dân chúng địa phương để chứng kiến với mục đích thị uy.

Ở tù dù có sự ngăn cấm liên hệ với nhau nhưng chúng tôi trong trại giam nầy cũng có thể thăm hỏi với nhau bằng một ngôn ngữ đặc biệt mà chúng tôi đã sử dụng nhạy bén trong lúc được đi ra ngoài phòng để làm lao động. Khi gặp bạn bè, người quen nhất là các chị em chính trị phái nữ, chúng tôi lấy tay sờ mũi rồi bên kia cũng làm như vậy có nghĩa là hỏi thăm sức khỏe. Với ngôn ngữ đặc biệt nầy, chúng tôi phổ biến hết cho các anh em trong phòng 10 thuộc phe ta và các chị em phái nữ bên phòng 2 cũng phổ biến như vậy. Nhờ lối chào hỏi như vậy mà đám cán bộ của trại không biết được. Đó cũng an ủi cho chúng tôi và cảm thấy vui vui vì trong hoàn cảnh tù tội nầy mà anh em chúng tôi cũng có những lời thăm hỏi lẫn nhau.

Ngày lại ngày, thắm thoát mà đã trải qua 2 cái tết trong tù, khác hẳn với cái tết năm trước, ban giám thị cắt đặt nhiều hoạt động khác nhau nào là tổ viết bích chương mừng xuân, nào là tổ chuẩn bị làm đầu lân để múa vui lúc xuân về. Phòng 10 chúng tôi tình nguyện làm đầu lân và đầu ông địa và đảm nhận luôn vai trò múa lân. TIẾU , một thanh niên chừng 22 tuổi là cựu nghĩa quân xã An hửu thuộc Quận Giáo đức, can tôi phản động bị bắt năm 1977 , tính tình rât hiền hậu và dễ mến, Tiếu có biệt tài làm đầu lân và đầu ông địa rất khéo không thua gì các đầu lân được bán bên ngoài vào những dịp tết Trung thu .

Vật liệu rất đơn sơ, anh em gom góp các nẹp tre do nhà bếp mua rau cải hàng ngày, giấy thì giấy báo cũ do nhà bếp cung cấp còn màu sơn hoặc các dụng cụ cần thiết khác thì do các anh em phòng 10 xin gia đình gởi vào trong các dịp thăm nuôi với sự cho phép của Ban giám thị trại giam.

Tổ làm đầu lân được ưu đải là ở ngoài để làm vào những giờ giới nghiêm trưa vì sau khi lãnh cơm trưa xong tất cả các phòng đều bị đóng cửa và không một ai được phép ở ngoài ngoại trừ các can phạm thuộc phòng lao động và nhà bếp.

Tôi thuộc trong ban đại diện phòng nên được phép ở ngoài để quản lý các anh em trong tổ làm đầu lân. Không gì sung sướng cho bằng khi được ở bên ngoài nhiều giờ, vừa được hít không khí vừa được tránh cái nóng nực trong phòng giam ngột ngạt và hôi thúi.

Ngày tết đến, ban giám thị trại tổ chức một buổi mừng xuân chung cho các can phạm thuộc trại giam. Tất cả đều được tập họp ngoài sân trại theo vị trí ấn định. Từ phòng 1 đến phòng10, mỗi một phòng theo vị trí dành riêng với khoảng cách từ phòng nầy đến phòng kia bởi một lối đi nhỏ để cán bộ bảo vệ canh gác cấm tuyệt đối không được liên hệ với nhau bằng mọi hình thức và nếu vi phạm sẽ bị kỷ luật. Tuần tự từng phòng, nếu có can phạm nào tình nguyện và đăng ký trước sẽ được kêu ra hát dĩ nhiên là những bài hát ca ngợi cách mạng , tân nhạc có, cổ nhạc có…

Cuộc vui kéo dài đến tận 10 giờ đêm kết thúc bằng một màn múa lân do phòng 10 đảm trách. Quang cảnh buổi mừng xuân của các can phạm cũng có phần náo nhiêt và vui vẻ.. Về phần ăn trong buổi vui xuân là do các can phạm mang ra chứ trại không cho thêm một món nào cả .

Giam ở phòng 10 được 2 năm, tôi lại bất đồng ý kiến với tên Ba Sử trưởng phòng trong việc sắp xếp chỗ nằm cho một tên can phạm mới nhập phòng, tên nầy là một cán bộ cao cấp của CS tại Tiền giang, trưởng ty hải sản can tội mốc ngoặc tham nhũng (nói theo từ ngữ CS). Ba Sử vì nể tình đồng đội nên muốn nâng đỡ cho tên nầy bằng một chỗ nằm tốt trong phòng, tôi thì áp dụng theo thông lệ là mới vào phòng phải chịu nằm ở dưới sàn đất rồi sau đó thâm niên mới lần hồi đưa lên trong hộc rồi sàn trên nếu có sự thay đổi nhân sự trong phòng mỗ khi có lệnh chuyển trai đi lao động. Vài ngày sau tên Ba Sử mặc quần áo xin đi làm việc thì ra hắn lên vu khống với ban giám thị trại là tôi có manh nha chống nội quy vì thế tôi bị di chuyển sang phong 7 làm phòng viên.

Nơi đây tôi có thêm bạn tù mới khác trong giới tù chính trị như GS Nguyễn văn Hai cựu GS Trường Trung học Nguyễn đình Chiểu Mỹ tho, giáo sư dính líu với Phong trào Liên bang Đông Dương, gia đình GS đã đi Pháp chỉ còn một mình với đứa cháu sống tại Sài gòn nên việc thăm nuôi thường xuyên không có. Với tuổi già sức yếu, lúc đó GS đã hơn 70 tuổi lại thiếu dinh dưỡng nên bị bệnh và sau đó được đưa xuống phòng 9 phòng dành cho những người già và bệnh và rồi GS đã chết tại đó !

Sau cái chết của GS Hai, tất cả anh em thuộc diện chính trị mặc dầu không nói ra lời chia buồn nhưng tất cả đều ngậm ngùi xót thương một con người đã vĩnh viễn ra đi vì lý tưởng tự do nhưng lòng vẵn vấn vương nuối tiếc cho đất nước từ đây đã lọt vào tay CS và không biết được chừng nào dân tộc ta mới thoát được cảnh đọa đầy nầy !

Cái chết của GS Trần văn Hai chưa được bao lâu, tôi lại chứng kiến thêm thảm trạng của GS Nguyễn văn Ngãi, thuộc Sư đoàn Tiền giang. Chính tôi đã có dịp nhìn thấy GS Ngãi vào giờ phút cuối của cuộc đời ông trong trại giam vì khi GS bị hôn mê đã được đưa lên trạm y tế và đặt nằm trước phòng 1, lúc đó tôi đã chuyển qua phòng 1.

GS Ngãi bị bắt tại Sài gòn, tôi không rõ gia cảnh của GS nhưng từ ngày bị bắt, GS bị biệt giam tại xà lim và không cho thăm nuôi. Với chế độ ăn uống trong trại giam rất thiếu thốn nên GS không thể nào chống chọi được nên bị kiệt sức và bệnh phù thủng. Tôi thấy GS mất hẳn trí khôn lúc đó nhìn GS như một trẻ nít và có những cử chỉ lạ thường, mắt thì mở lớn nhìn lơ láo mọi người đứng chung quanh rồi đưa tay ra như muốn xin xỏ và muốn nói những điều gì còn uất ức trong lòng. Nhìn vẻ mặt của GS lúc đó lòng tôi đau thắt và thương xót vô cùng !!! rồi 2 ngày sau được tin GS đã trút hơi thở cuối cùng tại xà lim và được trại giam đem đi chôn một nơi nào đó không biết thân nhân của GS có biết hay không ?

Là phòng viên phòng 7 được hơn 4 tháng, tôi lại được chuyển sang phòng 1 nhân chuyến đổi phòng theo thông lệ của trại. Ở trại giam bọn CS lo sợ can pham ở lâu một chỗ sẽ thông đồng và tổ chức vượt trại nên trại giam thường hay tổ chức những cuộc đổi phòng để xáo trộn nhân sự.

Về phòng 1 tôi thấy choáng váng vì là phòng lớn nhất của trại với sĩ số hơn 250 can phạm mà diện tích không mấy rộng tuy nhiên so với các phòng khác nó là phòng lớn nhất của trại giam. Tôi thấy ngột ngạt và khó thở khi bước vào phòng nhưng may mắn cho tôi là Ban đại diện phòng không phải là can phạm phạm pháp của VC. Trưởng phòng là anh Nguyễn văn Lập, Cựu Đại úy quân lục VNCH, phó phòng là anh Đỗ văn Nghiêm, Thượng sĩ Hải quân cũng lại là cựu phòng viên của phòng 10 khi tôi còn làm phó phòng ở đó vì thế tôi được các anh em tiếp đón trong tinh thần giúp đỡ.

Vì là một phòng lớn nên có được nhiều lỗ thông hơi, phòng nằm đối diện với phòng can phạm nữ và hội trường do đó từ phòng 1 tôi quan sát được mọi sinh hoạt hằng ngày của trại nhất là mỗi khi có những biến cố gì xảy ra trong trại giam như đưa can phạm đi tử hình hoăc những cuộc bắt người vượt biển do các nơi đưa về….

 Ở đây chưa đầy 2 tháng thì anh Đỗ văn Nghiêm được đưa đi lao động cải tạo ở Bà bèo, tôi được anh Lập ,Trưởng phòng đề cử với Ban giám thị trại bổ sung vào chỗ trống của anh Nghiêm.

Nơi phòng 1, tôi có dịp gặp thêm các anh em can tội chính trị khác và các chức sắc tôn giáo như LM Huỳnh văn Huệ, cha xứ nhà thờ Tân định Sài gòn và nhạc sĩ Trúc Phương bị bắt vì tội vượt biển. Nói đến nhạc sĩ Trúc Phương, tôi có một vài kỷ niệm với ông ta khi ở chung phòng.

Lúc 10 giờ đêm, vào một đêm cuối thu, giờ giới nghiêm của trại đã điểm từ lâu, tất cả đều im lặng trong màn đêm của một trại tù, một sự im lặng làm rợn cả người, thì đột nhiên ngoài hội trường bỗng có tiếng ồn ào cùng với tiếng trẻ con khóc. Tôi ngồi dậy và từ trên sạp của phòng tôi nhìn được ra ngoài theo khung cửa sắt thì thấy một đám đông với đủ thành phần, đàn ông , đàn bà, con nít tụ họp ngồi thành 2 nhóm, một bên đàn ông và một bên là đàn bà và trẻ con ,vài tên cán bộ áo vàng tay cầm danh sách miệng đọc tên.

Một lúc sau, tiếng mở khóa của phòng 1 kêu răng rắc, cửa mở ra với khoảng độ 10 đàn ông vẻ mặt hốc hác mất ngủ chen lẫn sự lo âu hiện trên nét mặt, tên cán bộ trực trai lên tiếng : Phòng 1 tiếp nhận số can phạm mới nầy, nói xong tên cán bộ trực trại đẩy mạnh 2 cánh cửa lớn tạo nên một tiếng động mạnh làm cả phòng ai nấy đều ngồi dậy và đưa mắt nhìn các bạn mới vào.

Sau một hồi phân công và sắp đặt chỗ nằm cho các anh em mới vào, không khí im lặng trở lại vì theo nội quy trong giờ giới nghiêm không một ai gây nên tiếng động nào.

Sáng sớm hôm sau, theo thông lệ, các can phạm mới vào sẽ được thư ký phòng và ban Đại diện kêu lên ghi tên vào sổ nhập phòng và tội trạng của mình. Trong 10 người bạn mới nầy trong đó có nhạc sĩ Trúc Phương. Lúc đầu ông chỉ khai tên thật mà không nói về biệt danh của mình nên không ai biết được ông là nhạc sĩ Trúc Phương, một nhạc sĩ tài danh ở thập niên 60 và 70.

Sau vài đêm, ông bắt đầu tìm hiểu sinh hoạt trong phòng nhất là sự lo sợ vẫn đè nặng trong đầu vì trong đời ông đây là lần đầu tiên ông ở trong khám đường mà lại là khám đường của CS. Rồi các người bạn đồng cảnh ngộ bị bắt trước ông cho ông biết phòng 1 là phòng thoải mái nhất của trại về mặt tinh thần vì Ban Đại diện rất cởi mở và thương anh em nên lần hồi ông nhờ anh Tổ trưởng của tổ ông giới thiệu với chúng tôi để được thổ lộ tâm sự của mình.

Trong bối cảnh nhà tan cửa nát, anh em chúng tôi đều trong một cảnh ngộ nên dễ thông cảm và sẳn sàng đùm bọc với nhau trong lúc hoạn nạn, vì thế nhạc sĩ Trúc phương đã đến với chúng tôi một cách chân tình. Có những lúc buồn, ông thường lên tâm sự với tôi là ông cảm thấy chán đời lúc bị bắt nhưng không ngờ khi vào đây gặp anh em chúng tôi thì ông lại được an ủi nhiều vì ông nghĩ rằng ngoài ông ra còn có những người cùng chung cảnh ngộ còn biết thương yêu, đùm bọc và giúp đở lẫn nhau.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, để quên đi những giây phút buồn chán trong cảnh tù, chúng tôi thường tổ chức những buổi văn nghệ «bỏ túi » để yêu cầu ông hát những bản nhạc do ông sáng tác trước năm 1975.

Mỗi lần được nghe ông hát anh em chúng tôi có dịp sống lại những giây phút trước kia mà nhạc sĩ Trúc phương đã gợi lại trong tâm trí của mọi người rồi lòng lại đau thắt từng đoạn.

Những buổi họp mặt như thế, dầu chỉ vài cục đường tán với một lon guigoz nước lạnh nhưng chúng tôi cũng thấy lòng mình ấm lại như thủa nào khi còn sống trong cảnh tự do.

Chúng tôi hiện là nạn nhân của chế độ CS và là nhân chứng của lịch sử lúc đất nước bị sụp đổ, tất cả đều ngồi tại đây trong ngục tù CS và đã có những người đã nằm xuống vì hai chữ tự-do trước ngày 30.04.1975 và cũng còn có những kẻ còn sống sót lại lần lượt bị tù đầy, người thì bị đưa ra miền Bắc kẻ còn ở lại miền Nam nhưng lại bị lưu đầy đến những vùng nước độc và núi non hiểm trở .

*     *

   *

Rồi có những cuộc hội ngộ nào mà không tàn ! Vào một buổi sáng tinh sương mùa đông, vài giọt sương mai còn đọng lại trên cành lá cạnh cửa sổ phòng 1. Bỗng nhiên bên ngoài hội trường nhộn nhịp tiếng người và tiếng của can phạm nhà bếp đang dọn cơm. Tất cả cửa phòng của trại giam đều mở sớm hơn mọi ngày. Hiện tượng nầy cho biết sáng nay trại giam có biến cố sẽ xảy đến. Tất cả đều chờ đợ, thì một tên cán bộ với đồng phục màu vàng, tay cầm danh sách đến từng phòng để đọc tên từng can phạm rồi sau đó được lệnh đem đồ đạc cá nhân ra khỏi phòng và ngồi theo hàng dọc trước hội trường. Số can phạm được lệnh ra ngoài gồm đủ mọi thành phần trai gái hơn 30 người, đặc biệt số can phạm được đọc tên lại được chia thành 2 nhóm : nhóm hình sự và nhóm chính trị. Tất cả đều ngơ ngác và không biết số phận mình sẽ ra sao nhưng không ai được nói chuyện với nhau chỉ lấy mắt nhìn nhau mà lòng luôn luôn tự đặt câu hỏi là họ kêu ra đây để làm gì và sẽ đưa đi đâu.

Sau khi được nhận phần cơm trưa thì đồng loạt tất cả các can phạm chính trị bị trói 2 tay rồi sau đó được dẫn ra 2 chiếc xe camion đậu sẵn trước cổng trại.

Tôi là một trong số anh chị em được di chuyển đi chỗ khác mà cũng không biết nơi mình sẽ đến.

Tôi ra đi với một số anh em chính trị cùng phòng với lòng buồn vời vợi vì để lại không biết bao nhiêu là kỷ niệm trong suốt thời gian bị giam ở khám đường nhất là thời gian sau nầy khi tôi về làm trong Ban Đại diên phòng 1.

Người đi thì tiếc nhớ, kẻ ở lại cũng ngậm ngùi và buồn tủi. Các anh em đã gởi đến tôi những lời tiển đưa đầm thắm trong tâm trạng kẻ ở người đi mà không biết bao giờ mới có thể gặp mặt lại. Nước mắt rơi trên khóe của các anh em và tôi khi tôi bước ra khỏi phòng.

Ngồi trong sàn chiếc xe chật hẹp, không nhìn thấy được những gì ở bên ngoài, chúng tôi chỉ nhìn lên được một phần trống của mui xe phía sau mà thấy bầu trời và các hàng cây khi xe chạy qua rồi từ đó mà đoán rằng xe đang chạy về hướng nào mà thôi. Chúng tôi biết được xe đang chạy về phía ngã ba trung lương rồi rẽ trái chạy theo QL 4 về phía Hậu giang.

Xe chạy hơn 30 phút trên lộ trình thì rẽ về hướng phải sau khi qua cầu xe bắtt đầu chạy chậm lại vì đường gập ghềnh lúc thì nghiêng về phải rồi lại nghiêng về trái, chúng tôi cố dựa vào nhau để khỏi bị ngã rồi người nầy đẩy mạnh vào người kia cứ như thế lập đi lập lại liên tục xuất lộ trình. Bụi đường bay cuốn vào lòng xe làm cho mọi người ngộp thở và khó chịu, tôi chẳng buồn nhìn ra ngoài nữa để nhận diện mình đang ở đâu. Đầu óc của tôi miên man lo nghĩ về lần thăm nuôi tới vợ con mình sẽ buồn bã khi hay tin đã chuyển trại. Vừa nghĩ đến đây thì xe bổng thắng gấp làm tất cả mọi người ngồi trong xe té nhào về phía trước. Tiếng ồn ào nổi lên chen lẫn những đám bụi cuốn mạnh vào lòng xe khiến mọi người sặc sụa.

Xe vẫn tiếp tục lăn bánh trên đường với tốc độ chậm chạp để tránh những ổ gà trên lộ. Ngồi trong xe tất cả mọi người đều mệt mỏi lộ hẳn ra trên nét mặt, mọi người có những suy nghĩ riêng tư về thân phận mình nhưng tất cả đều nghĩ rằng mình sẽ đi về đâu và lao động ở trại nào trong những ngày kế tiếp.

Hơn 1 tiếng đồng hồ xe chạy kể từ khi rời QL 4, đoàn xe bỗng dừng lại hẳn lại rồi các tên công an hộ tống nhảy xuống với súng cầm tay, miệng la lớn : Tất cả xuống xe ngồi theo hàng hai và không được đứng dậy và rời khỏi chỗ đang ngồi, sau khi ra lệnh như vậy thì tấm bửng xe được mở rộng, chúng tôi lần lượt xuống xe rồi xếp thành 2 hàng dọc như theo lệnh. Tất cả anh em chúng tôi đều dáo dác nhìn chung quanh để đón biết nơi nầy là đâu nhưng chẳng ai biết được địa danh của vùng nầy gọi là gì ?

Bên cạnh chúng tôi ngồi là một bờ con kinh với dòng nước phèn xanh biếc đang lững lờ chảy, 1 chiếc ghe máy lớn đậu sẵn để dùng chuyên chở chúng tôi vượt qua con kinh nầy và đưa về trại mới .

Mặt trời đã lên gần đứng bóng, ánh nắng gắt gao và chói chang của một buổi trưa mùa đông nhưng chúng tôi lại thấy thoải mái hơn vì không bị hít những luồng bụi đường lúc nẩy cùng được nhìn thấy ánh sáng mặt trời và hít thở được những làn không khí mát nhẹ từ bờ kinh thổi vào .

Sau khi tất cả xuống ghe, máy bắt đầu nổ, chiếc ghe tiến thẳng về phía trước dọc theo con kinh. Ngồi trong lòng chiếc ghe, chúng tôi vẫn thấy được cảnh trí bên ngoài của 2 bờ kinh, lèo tèo vài căn nhà lá xiêu vẹo mọc lên, chung quanh chẳng thấy trồng cây ăn trái mà chỉ thây vài cụm khoai mì phía sau nhà, đất đai cằn cỗi, nhìn xa xa chạy suốt đến tận chân trời là một đồng cỏ lác hoang dại vàng úa.

Ty công an Tiền giang đã tạo nơi đây 1 trại cải tạo lấy tên là trại cải tạo BÀ BÈO thuộc xã Mỹ phước tây.

TRẠI CẢI TẠO BÀ BÈO :

Bà bèo là một địa danh của Xã Long Định thuộc Quận Sầm giang tỉnh Định Tường trước năm 1975, cách quận lỵ 20 Km nằm về hướng tây trên con kinh Long định. Dọc theo kinh kể từ nơi xuất phát là sông Tiền giang. Hai bên bờ kinh kể từ sông tiền giang dân chúng khá đông đúc nhưng càng về sâu thì dân cư thưa thớt và gần như không ai sinh sống ở đây thời chiến tranh. Sau 1975, Bà bèo có gần hơn 20 gia đình sinh sống ở đây vì chiến dịch kinh tế mới bắt đầu dân thành thị phải về nông thôn nhưng nghề chính không phải là nghề nông vì là vùng đất phèn nên không có ruộng để cầy cấy, dân chúng sống bằng đủ thứ nghề kể cả làm mướn hoặc nương rẫy như trồng khoai mì, trồng khóm …

Ghe đưa chúng tôi đến cuối con kinh rồi rẽ phải gặp con kinh 12 còn gọi là kinh Mỹ phước tây, sau đó rẽ vào một con rạch nhỏ về phía trái, con rạch nầy do can phạm của trại Bà bèo đào để đưa nước và cũng là con đường giao thông duy nhất cho trại.

Trại lao động Bà bèo nằm trên một khoảng đất trống rất rộng, chung quanh trống trải không có những bóng cây lớn vì tất cả là một đồng cỏ lác nên tầm nhìn xa thật xa cũng có thể quan sát được.

Nhờ ngồi chung trên một chiếc ghe máy đưa vào trại, tôi nhận diên tất cả những anh chị em chính trị mà tôi được biết khi còn ở khám đường. Phía nữ tôi thấy có chị Lữ ngọc Hửu thuộc nhóm Sáu Mẹo, Bến tranh, chị Cẩm Hường, Yến Tuyết, Ánh Tuyết … thuộc nhóm Gò công. Họ là những người ở tuổi học trò còn rất trẻ bị bắt vào năm 1975 sau 30.04 chừng vài tháng.

Về phía nam, ngoài số anh em ở cùng phòng 1, tôi thấy có một số anh em khác như Toàn, Đảnh .. thuộc nhóm Xuân đông Chợ gạo . Việt, Bé, Điểu, Danh, Hải, Xuân, Phước thuộc nhóm Liên bang Đông Dương . Ngoài ra còn có Sang,Thi, Tín, Trưng, Bs Linh thuộc nhóm Gò công cùng LM Huệ và chú Năm Vinh cựu Xã trưởng xã Quơn long cũng có mặt trong cuộc chuyển trại nầy. 

Cũng như lần xe dừng lại bên cạnh bờ kinh trước khi được đưa vào trại, chúng tôi xếp thành hai hàng sau khi xuống ghe. Cổng trại ghi hàng chữ « Trại cải tạo MỸ PHƯỚC », nhìn xa xa từng dãy trại dài xếp theo hình vuông. Gần cổng trại là hai dãy nhà lợp bằng tôn dùng làm nơi ở của Ban giám thị trại, phía sau là căn tin và bên cạnh là khu dành cho thăm nuôi của can phạm hàng tháng. ĐI sâu vào trong qua một lớp rào kẻm gai là một dãy nhà lợp bằng lá đưng dành cho ban trực trại và chính giữa là sân đá banh được bao bọc các dãy nhà khác dùng để cho can phạm ở. Phía bên phải là hội trường của trại và dãy bên cạnh dành cho đội nữ rồi kế tiếp là các đội dành cho các nam can phạm như đội lao động, đội chiếu, đội bàng, đội thảm, đội rẫy, đội nhà bếp … và một trại dành để giam giữ các can phạm kỹ luật được gọi là đội kỹ luật. Các can phạm ở đội kỹ luật này bị một kỹ luật đặc biệt gắt gao là lao động rất nặng từ sáng đến chiều, cấm thăm nuôi và giảm phần ăn còn một nửa ,ban ngày lao động nặng khi tối về còn bị còng chân. Ai bị vào đội nầy đa số bị bệnh phù thủng vì thiếu dinh dưỡng nên thường gần kề với tử thần .

Số 30 người vừa chuyển trại được phân phối ngay vào các đội lao động. Tôi được đưa về đội lao động, viên thư ký đội (Đội trưởng) là một can phạm can tội trộm cướp và xì ke, dưới hắn có 2 tổ đội trưởng cai quản , mỗi tổ đội gồm 12 can phạm. Các tổ đội trưởng hoặc can tội trộm hoặc thuộc diên cải tạo.

Mặc dầu trong cảnh tù tội nhưng ở đây tôi thấy thoải mái hơn lúc còn ở trong khám đường vì chổ ở khá rộng rãi mặc dầu tất cả đều nằm dưới đất trừ các thư ký đội và các tổ trưởng.Ở đây chúng tôi có thể đi tới đi lui trong đội và chung quanh khu vực của đội mà không bị ngăn cấm tuy nhiên sự liên hệ giửa các can phạm giửa đội nầy với đội khác vẫn bị nghiêm cấm.

Về đội lao động tôi được phân vào tổ đội do một cựu giáo viên thuộc diện cải tạo làm tổ đội trưởng có tên là giáo TRỤ mà chúng tôi sau nầy thường gọi ông ta là « Giáo gian » ; Tên nầy mỗi khi họp tổ vào mỗi buổi chiều lao động và cơm nước xong hắn thường hay rao giảng chủ thuyết CS và ca ngợi chế độ ! đặc biệt là hay vạch lá tìm sâu lập công với trại . Về tổ đội của hắn sau khi biết được tình hình như vậy, trong mọi sinh hoạt và kiểm thảo tôi cố tình im hơi lặng tiếng nhưng giáo Trụ lại chúi mũi dùi vào tôi và thường kêu tôi phát biểu ý kiến hoặc nêu ra những khuyết điểm của mình trong ngày lao động bằng không Trụ lại cho tôi là người có tinh thần tiêu cực không chịu « phấn đấu » học tập.

Vì bất mãn cho kẻ phản phúc mang danh nhà giáo, tôi vẫn lặng thinh là không có ý kiến. Việc nầy đã làm cho giáo Trụ khó chịu ra mặt nên trong công tác lao động hằng ngày, tôi là người lãnh phần công tác nặng như các bạn hình sự còn trẻ tuổi hơn tôi nhiều.

Trời vào đông nơi đây không khí lành lạnh nhất là về đêm, sương đêm rơi xuống mái tranh như mưa phùn nhẹ hạt. Sáng sớm tinh sương khi nghe tiếng kẻng báo thức báo hiệu cho một ngày lao động mới băt đầu, hàng hàng lớp lớp từng đoàn người tuân ra từ cổng trại đi về khắp nẻo đường để thực hiện công tác lao động trong ngày mà ban trực trại đã giao sẵn cho thư ký đội từ chiều hôm trước.

Đội của tôi ngoài việc lao động nặng như vét rạch lên lướp để trồng khoai mì, trồng khóm còn có các công tác khác như đốn sậy, cắt đưng hoặc làm các công tác mướn ở ngoài dân như vác lúa mà trại đã lãnh để cho các can phạm làm mang lợi tức về cho trại .

Làm việc vất vả từ sáng đến chiều nhưng rồi khẩu phần ăn chẳng hơn gì khi còn ở khám đường, cũng 1 chén cơm với rau muống luột hoặc một vài miếng dưa mắm. Các anh em chúng tôi sở dĩ sống được là nhờ sự tiếp tế của gia đình vào mỗi kỳ thăm nuôi như gạo, nước mắm, cá khô và một chút ít tiền để mua những món cần dùng ở căn tin của trại.

Dưới chế độ tự hào xuất thân từ lao động, lấy dân làm gốc thế mà chúng lúc nào cũng bóc lột sức lao động đến tận xương tận tủy của người dân . Tại trại cải tạo Bà bèo tôi được thấy tận mắt những hiện tượng lạ kỳ mà lâu nay tôi chỉ nghe nói chứ chưa từng thấy khi miền Nam chưa lọt vào tay CS : Trại Bà bèo có đủ các đội lao động và các đội chăn nuôi, họ tạo ra các đội đó cũng không ngoài mục đích đem về các mối lợi cho họ bằng sức lao động của các can phạm. Trại có cả chục con bò và trâu nhưng lại không dùng vào việc kéo cầy . Việc kéo cầy lại do can phạm đảm trách. Cũng là một lưỡi cầy hay một lưỡi bừa thay vì dùng trâu hoặc bò để kéo đằng nầy kéo bởi 2 can phạm gầy còm đi trước với 2 sợ dây mắc vào vai ra sức kéo một chiếc cầy cùng một can phạm khác đi phía sau cầm lái ì- ạch trong vũng bùn dưới ánh nắng mặt trời chói chang của buổi trưa . Một hình ảnh vừa dã man vừa xúc phạm đến nhân phẩm con người thế mà bọn CS vẫn dửng dưng cho áp dụng ở trại Bà bèo nầy !

Ăn uống thiếu thốn mà làm việc nặng nhọc như trâu bò thì thử hỏi chữ nhân đạo mà họ thường nói trong các buổi học tập cho can phạm còn có ý nghĩa gì nữa chứ !

Còn một điều nữa cũng đã xảy ra ở trại nầy . CS chẳng bao giờ nghĩ đến sức khỏe và sinh mạng của con người, sống chết mặc bây miễn sao có lợi cho họ là được.

Trại có một đội nuôi trâu bò , can phạm của đội nầy đóng cách trại hơn 1 Km trên bờ kinh Long định nhưng đưới sự kiểm soát của vài tên cán bộ vũ trang . Nơi đây có dân chúng sinh sống và có đồng cỏ. Can phạm chia nhau dẫn trâu bò đi ăn cỏ suốt ngày ngoài đồng và chịu trách nhiệm về sức khỏe của trâu bò và mỗi khi trâu bò có bệnh thì báo cáo ngay cho Ban giám thị trại để xủ lý . Một hôm có 1 con bò bị bệnh và chết, ban giám thị ra lệnh cho đội nhà bếp mang về trại để ra tay làm thịt rồi bán cho can phạm trong trại. Sống trong cảnh thiếu thốn và đói khát , nghe nói trại có bán thịt bò, tất cả can phạm có tiền ùn ùn đăng ký mua, tức thì con bò chết vì bệnh thay vì đem chôn, trại đã bán rất nhanh nhiều khi không đủ để bán so với số can phạm đăng ký để mua. Thế là ban giám thị lại có dịp có thêm một số tiền bỏ túi. Thế mới biết sự đói khát của can phạm đến chừng nào, họ không kể đến hậu quả bệnh hoạn, trước mắt có một bửa ăn thịt bò cái đả !

Tiết trời mùa đông vì là vùng ẩm ướt, những làn sương nhẹ bay khỏi mặt đất khi mặt trời vừa ló dạng làm cho cảnh vật như chìm vào trong đám khói mù. Tiếng nói, tiếng kêu nhau của các can phạm chuẩn bị lên đường lao động vang dậy cả một góc trại. Đội của tôi hôm nay đảm trách công việc đốn sậy ở một khu cạnh nhà dân. Trên đường đến khu sậy, chúng tôi đi ngang qua một vài căn nhà lụp sụp xiêu vẹo và là lần đầu tiên từ lúc bị bắt tôi được thấy cảnh sinh hoạt bên ngoài. Khi chúng tôi đi ngang qua một vài người dân nhìn chúng tôi với đôi mắt to mở vì họ dư biết rằng đoàn người nầy xuất phát từ trại lao động Bà bèo.

Trước khi rời trại, chúng tôi được lệnh là không được liên hệ với đồng bào và chúng tôi được sự kiểm soát ngoài tổ đội trưởng còn có các tên lính võ trang cùng đi theo canh giử.

Mặt trời đứng bóng, ánh nắng vẫn gây gắt ở những ngày cuối đông làm cho chúng tôi mệt mỏi. Trên đường trở về lại trại sau khi thực hiện xong công tác giao phó , mọi người đều đội trên đầu một bó sậy to hơn cả thân người nối đuôi nhau như một đàn cây biết đi và không ai nói với nhau một lời nào, thầm lặng tiến bước để mong sao về trại sớm để lo bửa ăn trưa và nghỉ ngơi đôi chút.

Thắm thoát tính từ ngày chuyển trại, tôi ở đây cũng đã trải qua hơn 4 lần thăm nuôi. Cứ mỗi một tháng trại dành một buổi sáng để cho thân nhân và can phạm gặp mặt và tiếp tế đồ ăn. Ngày đó đối với can phạm là một ngày vui lớn của họ vì vừa được gặp mặt gia đình lại được một bửa ăn no bụng do gia đình dành dụm chắc chiêu gởi vào. Ngày đó tất cả trại nhộn nhịp vô cùng, mọi người được nghỉ lao động và ngồi chờ trước đội để nghe gọi tên đến lượt mình ra gặp gia đình. Từng toán 10 người sau khi kiểm tra tên trong danh sách vừa được gọi sau đó sắp hàng ngay thẳng để được nhân viên trại hướng dẫn đi ra khu vực dành cho thăm nuôi. Khi đến nơi, tất cả can phạm tuyệt đối tuân theo lệnh của các nhân viên trực nếu ai vi phạm thì sẽ bị đuổi vô lại trong trại và cấm thăm nuôi. Can phạm đứng một bên và thân nhân đứng một bên đối mặt với nhau ngăn cách bởi một khoản cách trống ở chính giửa, nhân viên trực đi qua đi lại để kiểm soát trong lúc nói chuyện. Cuộc nói chuyện như thế kéo dài chừng 10 phút cho mỗi một lần thăm nuôi rồi sau đó đến lượt toán khác và như thế kéo dài hết thân nhân đi thăm.

Cảnh vắng tanh và lặng lẽ của trại trở lại bình thường sau mỗi đợt thăm nuôi hàng tháng. Từng toán người lũ lượt kéo nhau tung về khắp nẻo của trại để nhổ cỏ, đốn cây, đào mương, làm ruộng, phơi bàng … nói lên một ngày hoạt động của một trại tù lao động dưới chế độ CS.

Đến khi mặt trời ngã bóng, ánh nắng dịu dần, cũng từng đoàn người khởi hành ban sáng lại lũ lượt kéo nhau về trại với vẻ mặt mệt mỏi và đói khát hiện hẳn trên nét mặt sạm nắng và gầy cồm. Cuộc sống đọa đầy như thế kéo dài từng ngày và cứ như thế lặng lẽ âm thâm trôi đi trên nổi khắc khoải và khổ đau của mọi người miền Nam sau ngày mà gọi là giải phóng !

Ngày làm việc mệt nhọc, tối đến tưởng được nghỉ ngơi để lấy lại sức cho ngày mai thế mà cũng không được yên thân.Sau mỗi buổi chiều điểm danh xong, tất cả can phạm đều vào trong đội của mình để nghe đọc nội quy rồi sau đó họp tổ để kiểm điểm công tác mà mình đã làm trong ngày. Ai làm yếu sẽ bị tổ trưởng đem ra phê bình, lời nặng nhẹ của các tổ đội trưởng lúc nầy sẽ đổ lên đầu cho các can phạm với súc khỏe yếu kém. Khổ sở hơn nữa là vào những ngày tới phiên đội phải đi xem truyền hình tại hội trường. Tất cả các can phạm của đội bắt buộc phải đi xem không một lý do nào nằm ở trại ngoài trừ bệnh nặng. Cứ mỗi lần xem truyền hình như vậy mọi người đều ngủ gục vì mệt mỏi nhưng than ôi cứ cố gắng mở to đôi mắt và ngồi thẳng lưng để cho các tổ đội trưởng khỏi trông thấy, nếu bắt gặp thì bị ghép vào tội không chịu học tập và bị khiển trách hoặc kỹ luật tùy theo mức độ nặng nhẹ mà tên tổ đội trưởng gán cho. Đối với những can phạm chính trị thì tội trạng có khác hơn và họ thường suy diễn ra tội lớn hơn là có tinh thần phản động hoặc chống đối nội quy của trại thì chỉ có nước khăn gói đến đội kỹ luật để chân vào cồng mà nằm !

Có những buổi văn nghệ do trại tổ chức hằng tháng nói là để giải trí cũng bắt buộc tất cả đều tham dự. Các ca sĩ, diễn viên là các nam nữ can phạm của trại. Lúc đầu thấy cũng vui vui vì được nghe những tiếng hát của các can phạm có khiếu văn nghệ nhưng lâu rồi thấy nhàm chán vì cũng với những khuôn mặt đó, với những bài ca cổ võ chế độ CS xào đi nấu lại nhiều lần.

Mùa giáng sinh cận kề, sinh hoạt của trại có phần khởi sắc vì cứ mỗi kỳ lễ nầy trại có trả tự do cho một số can phạm bị giam lâu năm nên tất cả đều hy vọng có tên mình trong danh sách kỳ nầy. Kẻ được tha thì sung sướng ra về còn người ở lại buồn bã và tiếp tục mang kiếp đọa đầy. Cứ mỗi lần có đợt thả tù lòng tôi luôn luôn se thắc mà buồn cho thân phận mình. Về phần tôi, tôi chấp nhận số phận của kẻ thua trận và mất nước nhưng thương thay cho đàn con trẻ, tương lai của các con của tôi sẽ đi về đâu, chúng sẽ học hành ra sao và sống như thế nào ở cái xã hội CS mà cha nó bị bọn họ bắt cầm tù và liệt vào hàng chống đối chính quyền.

Trước mắt tôi là cả một bầu trời u ám, rồi càng nghĩ càng thấy đau nhói trong trái tim và cuối cùng tôi cũng tự an ủi cho mình để tìm một lối thoát hiện tại nên thường nghêu gao một mình với hai câu thơ của Cụ Nguyễn công Trứ :

« Còn trời còn đất còn non nước,

Có lẽ ta đâu mãi thế nầy»

Đây là cái tết đầu tiên của tôi của tôi tại trại cải tạo Bà bèo. Trước tết một tuần lễ, trại mở cửa cho thân nhân thăm nuôi, không khí của trại nhộn nhịp hẳn lên với niềm vui trên nét mặt mọi người mong cho được gặp người thân cùng những món quà của gia đình. Trại cho nghỉ lao động 3 ngày tết, tất cả can phạm được dịp nghỉ xả hơi và lấy lại sức. Trong ngày tết, ban chỉ huy trại ra lệnh cho đội nhà bếp làm một con heo nói là để bồi dưỡng can phạm và cũng là sự ưu đải của nhà nước cách mạng đối với can phạm trong chính sách xóa bỏ hận thù. Mọi người nghe vậy ai nấy đều vui mừng và hy vọng sẽ có một bửa ăn ngon với thịt heo thay vì rau muống, dưa mắm quanh năm suốt tháng nhưng khi nhận phần cơm ưu đãi nầy thì mỗi phần chỉ được một cục thịt mỡ nhỏ cở đầu ngón tay với một ít nước béo.

Ngoài bửa ăn đăc biệt nói trên can phạm còn được xem múa lân và đá bóng trong dịp tết mừng xuân.

Rồi 3 ngày tết trôi qua nhanh chóng, hoạt động của trại trở lại bình thường như mọi ngày. Tôi được điều động bổ sung qua đội rẫy vì đội nầy thiếu người sau đợt thả tự do. Về đội nầy tôi thấy thoải mái hơn về mặt tinh thần vì Thư ký đội là anh Ba Dương, cựu Quản đốc trung tâm Cải huấn Gò công, 2 tổ đội trưởng là anh Ba Tây, cựu Đại úy Cảnh sát QG và anh Ba Giáo, cựu xã trưởng cũng ở Gò công. Biết tôi thuộc diện chính trị nên 3 anh nầy trò chuyện với tôi trong tình anh em mang chung một tâm trạng sau ngày 30.04.

Ở đội rẫy, tôi được sắp xếp trong toán tưới rẫy. Suốt ngày tôi ở ngoài rẫy để lo chăm sóc cây trồng và tưới nước rồi chiều tôi mới về đội. Cuộc sống có vẻ nhàn hạ và đỡ cực khổ khi còn ở đội lao động. Đội rẫy có nhiệm vụ sản xuất các loại rau quả, một mặt cung cấp cho nhà bếp mặt khác bán để lấy tiền cho trại. Nhiệm vụ là thế nhưng trại chẳng hề cung cấp vật liệu cho đội, từ hạt giống đến thuốc sát trùng tất cả đều do đội tự túc. Để có phân, đội dùng tro nấu cơm của nhà bếp trộn với nước tiểu, vì thế cứ mỗi buổi sáng sớm trước khi ra rẫy chúng tôi phải đi đến từng đội để lấy nước tiểu rồi sau đó pha chế làm thành phân bón.

Đội rẫy chúng tôi trồng đủ mọi thứ như cà, ớt, khổ qua, đậu đủa nhất là rau muống để cung cấp cho nhà bếp để khỏi mua ở bên ngoài đở tốn kinh phí cho trại.

Vì suốt ngày tôi túc trực tại rẫy nên vào những buổi trưa, tôi và các anh Ba Dương, Ba Tây trong đội rẫy thường trò chuyện với nhau tự do về những chuyện xưa và nghĩ lại cũng an ủi cho lòng mình trong lúc nầy.

Ở đội rẫy chừng được vài tháng, tôi được điều động sang đội nhà bếp, thư ký đội là Bác Đạt có biệt danh là « BỐ ĐẠT », cựu Xã trưởng xã Long Định thuộc Quận Sầm giang, người Bắc dáng người nhỏ nhắn nhưng lại rất nhanh nhẹn trong mọi công tác hằng ngày, tuổi độ chừng 49,50. . Ông có tấm lòng từ bi ,nhân đạo, thương người, ông thường giúp đỡ các can phạm hình sự « ốm đói » không có gia đình thăm nuôi nên họ thường gọi ông là « BỐ ĐẠT » cũng vì lý do đó..

Tháng đầu ở đội nhà bếp tôi được sắp đặt vào toán nấu cơm cùng với 7 anh em khác, cứ 1 đêm thức nấu cơm là một ngày được nghỉ để ngủ bù và trực tại đội mỗi  khi có công việc cần của trại cũng như của đội nhà bếp thì toán trực nầy sẽ làm. Toán nấu cơm ban ngày lo phơi củi rồi vác vào kho để tối bắt đầu lên lửa nấu cơm. Đúng 10 giờ đêm là toán nấu cơm bắt đầu làm việc cho đến sáng để kịp phân phát cơm cho các đội để đi lao động vào sáng sớm. Bình thường thì không có gì gọi là cực nhọc cho lắm so với các đội lao động nhưng khi trời mưa hoặc mùa nước lên thì toán nấu cơm rất vất vả vì đôi khi không có củi khô để đốt nên phải dùng rơm. Nấu cơm cho cả gần hàng trăm người ăn bằng chảo lớn và phải dùng giá xúc đất để xới cơm mà đốt bằng rơm thật là một điểu hết sức vất vả cho toán nấu cơm.

Tôi làm việc trong toán nấu cơm nên thường hay thức khuya nên cũng thấy mệt mỏi nhưng cũng có những câu chuyện vui mà tôi đã chứng kiến.

Thường đêm không khí của trại thật lặng lẽ vì mọi người đều yên giấc chỉ có toán nấu cơm đội nhà bếp hoạt động với những tiếng động về đêm. Lúc toán tôi lên ca trực, tôi đang lui cui làm việc với các anh em khác như để củi vào lò, thì khoản 2 giờ sáng, tôi chợt nghe tiếng kêu bên kia con rạch ngăn cách trại với đội võ trang canh giữ can phạm. Tôi liền chạy ra xem thì trong bóng đêm chập chờn ánh trăng của đêm rằm, tôi thấy một bóng đen tiến lại gần trên vai một khẩu AK, thấy tôi tên cán bộ võ trang lên tiếng hỏi : « Nhà bếp có cơm cháy không ?. Tôi trả lời « Dạ có ». Tên cán bộ lên tiếng : Cho tôi một ít còn nóng.. Tôi đi tìm thau cơm cháy vừa cạo ra khỏi chảo lúc nẩy, vo lại thành một cục lớn rồi ra phía bờ kinh lấy chiếc xuồng 3 lá đậu sẵn để chóng qua bên kia bờ trao cho tên cán bộ gác đêm. Khi trở lại tôi nghĩ thầm trong bụng mà thương cho tên cán bộ võ trang nầy. Thân tù tội như chúng tôi đói khát đả đành, cán bộ của nhà nước mà cũng đói như chúng tôi thì thật là buồn cười để rồi trong đêm khuya đi tìm từng miếng cơm cháy.

Việc xin cơm cháy về khuya lúc đầu tôi tưởng là lẻ loi hiếm có nhưng sau đó tôi thấy như thường nhật, không cơm cháy thì thuốc lá hoặc không thuốc lá thì các món khác nhất là sau mỗi lần thăm nuôi vì họ biết rằng các can phạm có những món mà họ muốn xin.

Ở đội nhà bếp tôi cũng chứng kiến các cuộc vượt trại. Mỗi lần có tiếng kẻng đánh báo động vượt trại, không khí của trại bao trùm một sự kinh sợ và chết chóc. Tiếng chân chạy cùng tiếng la hét của các cán bộ võ trang đôi khi có tiếng súng nổ trong dêm tối tạo nên một khoảng không gian đầy sợ hải. Khi có tiếng kẻng báo động, theo lệnh tất cả can phạm trong đội đều bắt buộc nằm yên tại chỗ không được đi lại và gây tiếng động, nếu trái lệnh cán bộ võ trang bên ngoài có quyền nổ súng vào những chỗ có tiếng động. Mỗi lần báo động như vậy tất cả mọi người đều bàng hoàng lo âu cho số phận của kẻ vượt trại, nếu vượt thoát thì may mắn cho họ bằng không một khi bắt được họ có thể bị bắn hạ tại chỗ.

Làm việc trong toán nấu cơm tôi có thêm một người bạn thân thiết cũng là nguồn an ủi của tôi trong những đêm lên ca trực . Đó là con chó tên gọi là « KI KI ». Là một con vật nhưng sao mà dễ thương làm sao ! cứ mỗi lần tôi lên ca trực đêm thì tôi thường gặp con Ki Ki trong đêm tối. Ki Ki không chịu ngủ mà cứ quấn quít bên các anh em trong đội nấu cơm để tìm kiếm miếng ăn nhưng có gì để cho nó ngoài vài miếng cơm cháy còn xót lại trong chảo thế mà nó nhai dòn trong miệng một cách ngon lành. Sau khi ăn xong nó đi ra bờ rạch hoặc các sàn nước của đội để rình rập bắt những con chuột cống to lớn. Điểm đặc biệt là con Ki Ki khi bắt được con mồi rồi thì nó lại không ăn thịt thế là sáng sớm hôm sau các chú can phạm ốm đói không người thăm nuôi có được một bửa ăn thịt chuột cống ngon lành !

Con Ki Ki là một con vật hiền lành và dễ thương đối với bất cứ ai khi gọi tên nó, nó quắt đuôi và nằm mẹp xuống đất rồi từ từ bò lại để liếm tay người gọi nó để tỏ lòng quý mến. Nó rất thân thiện đối với tôi vì tôi thường vuốt ve nó hoặc cho nó ăn những cục cơm tươi hay những củ khoai mì vừa mới luột. Những lúc nghỉ xả hơi khi lên ca nấu tôi thường nói chuyện với con Ki Ki và thấy thương con vật nầy lạ thường, có nó bên cạnh vào những đêm trống vắng tôi bớt thấy cô đơn trong đêm khuya.

Nhưng than ơi ! sau một tuần lễ tôi bổng không thấy con Ki Ki ở nhà bếp như mọi lần khi tôi lên ca trực. Hỏi ra thì được biết tên cán bộ quản giáo của trại Sáu Mộng là chủ nhân của nó đã giết và làm thịt để ăn nhậu với nhau trên ban Giám-thị từ mấy ngày trước đó .!

Con người đã khổ vì kiếp tù đầy, nay con vật như con Ki Ki cũng không thoát khỏi bàn tay sát hại của chúng. Con Ki Ki chết đi lòng tôi buồn không ít vì thấy nhớ nó mỗi khi lên ca nấu cơm đêm. Vào những đêm vắng, bên ngoài bóng tối bao trùm, trong ánh lửa chập chờn hình như bóng con Ki Ki vẫn thấy hiện diện đâu đây bên tôi để cùng nhau chia sẻ với tôi những nổi buồn bất tận trong đêm.

Ỏ đội nhà bếp và làm việc trong toán nấu cơm một thời gian, tôi được Bác Đạt,Thư ký đội đề cử tôi với cán bộ đặc trách Căn tin tên Hoàng lên phụ trách Căn tin để thay thế cho 1 can phạm thuộc diện cải tạo vừa được thả tự do.

Căn tin là một cửa hàng buôn bán của trại dành cho can phạm. Làm việc ở đây tôi được đi chợ Mỹ tho một tháng 1 lần cùng với cán bộ đảm trách căn tin để mua đồ về bán. Ở đây tôi làm việc chung với một can phạm khác thuộc diện vượt biển phụ giúp tôi trong việc bán hàng. Căn tin bán những mặt hàng cần dùng cho can phạm như thuốc lá, bánh kẹo, trà, đường, nước mắm v.v.. ngoài ra còn đảm trách bán các loại sản phẩm do các đội của trại sản xuất như khóm, khoai mì …

Vì làm việc ở căn tin, tôi có dịp tiếp xúc nhiều với các cán bộ võ trang của trại vì họ thường đến đây để mua đồ hoặc mượn tiền để đi xe khi được phép về thăm gia đình. Nhờ thế trong các buổi thăm nuôi tôi giúp đỡ các anh chị em can phạm được hưởng quy chế thăm nuôi dễ dãi như được ra ngoài trò chuyện cùng gia đình lâu hơn hoặc có những lúc thăm nuôi bất thường vì gia đình đến trể hay không biết ngày thăm nuôi của trại. Trong trường hợp nầy tôi đều can thiệp được với cán bộ trực trại để cho gia đình gặp mặt hoặc thăm nuôi đột xuất.

Nhớ lúc làm việc ở căn tin trong một dịp thăm nuôi , tôi có dịp gặp lại anh Bùi như Sơn, Cao học 6 (QGHC), cựu Trưởng ty Nội an thị xã Mỹ tho và cũng là người thụ ủy liên danh cùng tôi ra tranh cử Ban Đại diện SVQGHC niên khóa 1969-1970. Sơn đi thăm nuôi người cháu bị bắt vì tội vượt biển, Sơn nhìn tôi trong giây phút bất ngờ ngỡ ngàng và bùi ngùi. Anh em không thể trò chuyện nhiều hơn trong hoàn cảnh nầy mà chỉ vài lời thăm hỏi sức khỏe rồi chia tay kể từ đó.

Ở căn tin,lúc nầy đối với tôi thật thoải mái vì tôi không bị lệ thuộc vào sự quản lý của đội nhà bếp, nhiệm vụ của tôi là sáng lên căn tin mở cửa bán hàng, trưa về nấu cơm ăn rồi tiếp tục đi bán và chiều tối về ngủ tại đội khỏi phải bị họp tổ hay họp đội theo thông lệ .

Thời gian làm việc ở căn tin tôi có dịp tiếp xúc trực tiếp với mọi anh em trong trại từ đội nữ đến các đội lao động đủ mọi thành phần đặc biệt là các chị em chính trị ở đội nữ và nhờ vậy tôi được biết thêm những hoạt động chống cộng của các tổ chức ở Gò công, Bến tranh vào giữa năm 1975. Tôi cũng thường xuyên động viên tinh thần các anh chị em để cố gắng vượt qua những cực khổ vì thế anh chị em mặc dầu khổ cực gian nan nhưng khi gặp nhau đều nhìn nhau tươi cười và tin tưởng ở một ngày mai mặc dầu biết rằng ngày mai đó không biết chừng nào đến !!!.

Mùa Giáng sinh 1981 tôi được trả tự do với lệnh tạm tha và bị quản chế tại địa phương. Trong tình trạng bị giam lỏng như thế tôi chẳng làm gì được để giúp đỡ gia đình sau bao năm vợ con tôi đã khổ cực vì tôi nên tôi tìm đường trốn thoát và ra đi với đứa con trai đầu lòng lúc đó vừa mới tròn 10 tuổi.

Vượt thoát khỏi bờ biển VN sau bao nổi chạy trốn gian nan và nguy hiểm khi còn trên đất liền, thuyền chúng tôi gồm khoản 17 người đa số là đàn bà và trẻ con. Lênh đênh trên mặt biển hơn 15 ngày đêm vì máy hư. Đói khát, giông bão đe dọa, tất cả đều nằm la liệt chỉ còn lại một vài thanh niên trẻ còn sức chịu đựng để ra hiệu cấp cứu mỗi khi thấy tàu buôn nước ngoài đi qua nhưng rồi tất cả đều tuyệt vọng. Con thuyền nhỏ bé với 17 người vừa lớn vừa nhỏ lênh đênh từ ngày nầy qua ngày nọ trong sự lo sợ sống chết ra sao giữa biển khơi. Chúng tôi chứng kiến tất cả hơn 15 chiếc tàu buôn ngoại quốc qua lại và cứ mỗi lần thấy dược tàu tất cả mọi người đều như sống lại vì hy vọng họ sẽ cứu vớt mình nhưng rồi vẫn tuyệt vọng như các lần trước . Tuy nhiên trong cái rủi vẫn còn có cái may .Vào một buổi sáng nọ, bình minh vừa mới ló dạng chúng tôi gặp được 1 chiếc tàu hàng Liên xô đi sát gần thuyền chúng tôi,trên tàu vợ của các thủy thủ nhìn thấy cảnh bàn bà và con nít nằm mẹp không cựu quậy nên họ thương tâm thả nước uống và thực phẩm khô, nhờ vậy mà chúng tôi được kéo dài sự sống thêm… 

Thế rồi vận may lại đến là nhờ Trời Phật, Ông Bà gia hộ .Vào một buổi chiều đầy mây đen ùn ùn kéo tới báo hiệu một cơn bảo lớn sẽ ập đến thì chúng tôi thấy xuất hiện một chiếc tàu buôn của Pháp mang tên Chevalier Paul từ từ tiến đến con thuyền bé nhỏ của chúng tôi . Họ đă vớt tất cả mọi người lên tàu . Vói lòng nhân đạo sẵn có, họ đã chăm sóc sức khỏe chúng tôi và cho ăn uống đầy đủ mà chúng tôi đã bị đói và khát từ hơn 10 ngày qua trên suốt hành trình đến cảng Singapour. Nghỉ lại mà thấy sợ và mạng sống của chúng tôi như chỉ mành treo chuông , vì đêm đó với chiếc tàu to lớn trong như một thành phố lên đèn về đêm thế mà cơn bão đã làm chiếc tàu lắc lư qua lại thì thử hỏi nếu không có tàu Pháp cứu vớt trong buổi chiều hôm đó thì thuyền của chúng tôi cùng với 17 mạng người sẽ bị chìm sâu dưới đáy biển hoặc làm mồi cho cá !

Con tàu định mệnh đó đã cứu chúng tôi khỏi bàn tay tử thần vào lúc 6 giờ chiều ngày 13.05.1982 trước khi cơn bảo ập đến. Chúng tôi được đưa đến trại tị nạn Singapour tạm trú để làm thủ tục định cư rồi sau đó được đưa về Pháp vào ngày 17.07.1982. Kể từ ngày đó tôi gắn liền với nước Pháp trong khoảng đời còn lại của tôi và sau nầy của gia đình tôi nữa .

Pháp là một đất nước xa lạ đối với tôi nhưng nơi đây nó lại đầy đủ tự do, nhân bản và quyền sống của con người ! không phải như CS nói : chỉ có Chủ nghĩa Xã hôi là siêu việt, còn các nước tư bản dẫy chết toàn là bóc lột . Thôi thì âu cũng là duyên số của một kiếp người nổi trôi đây đó như đời tôi sau cuộc đổi đời tại VN 1975 !

Tôi nhận nước Pháp là quốc gia thứ 2 của gia đình tôi vì nếu không có chiếc tàu định mệnh mang tên Chevalier Paul cứu vớt chúng tôi thì nay thân xác của chúng tôi đã không còn hiện hửu như ngày hôm nay !

Tuy quê hương xa vời vợi nhưng hai tiếng VN lúc nào cũng tìm ẩn trong tim tôi mãi mãi !


Mùa đông 2001 trên đất Pháp 


No comments:

Post a Comment