Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Saturday, 11 January 2025

KHÔNG PHẢI Mt68 BÔI BÁC ĐÀN ANH- NHƯNG CÂU CHUYỆN GIỠN NẦY BẤT CỨ AI, AI CŨNG BIẾT LÀ " PHỊA" 100%-PHẢI CÔNG NHẬN PHỊA ĐƯỢC CAO SIÊU NHƯ VẦY PHẢI KỂ NHƯ LÀ SƯ PHỤ CỦA VUA PHỊA HỌ PHẠM NHÀ 14 VẬY./-Mt68
_____________________
Một Chuyện Rất Việt Nam

Đỗ Tiến Đức. 

 Năm 1994 tình cờ tôi dính vào một chuyện tình của một

người đàn bà ở trong nước có người yêu vượt biển định cư

tại Nam Cali. Tôi không biết phụ nữ đó bao nhiêu tuổi,

xấu đẹp thế nào, giàu hay nghèo, sang hay hèn, Bắc hay

Trung hay Nam và Phật giáo hay Thiên Chúa Giáo. Tôi

chỉ biết tên người đó là Thanh. Như tôi vừa nói, đây chỉ là

sự tình cờ. Hôm ấy, hình như đầu tháng 5, tôi đang trông

chiếc máy CNC chạy giữa một cơ xưởng rộng mênh mông,

bên hàng trăm chiếc máy khác trong một cơ xưởng tiện,

thì một đồng nghiệp người Ba Tây tên là Washington đi

tới. Anh ta chìa tay về phía tôi, đưa cho tôi một miếng giấy

nhỏ, nói :

– Hello, Nguyễn, tao nghĩ cái thư này viết bằng tiếng Việt

Nam của mày. Mày xem có phải không ?

Liếc nhìn miếng giấy trong lúc tôi đón lấy từ tay

Washington, tôi đã nhận ra ngay chữ Việt rồi. 

Tôi gật đầu và tò mò đọc ngay vì tổng cộng chỉ có ít dòng :

“Gửi người bạn phương xa,

Tôi tên là Thanh, công nhân viên của xí nghiệp may xuất

khẩu Thành Công ở số 1955 đường Lê nin, huyện Tân

Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Người mà tôi yêu, chồng


tôi, tên là Nguyễn Ngọc Luận, tốt nghiệp Đại học Y Khoa

Sài Gòn, vượt biên năm 1988, từ đó mất tích luôn. Gần

đây gặp một Việt kiều về, tôi hỏi thăm thì người ấy nói ở

Mỹ có một bác sĩ tên là Nguyễn Ngọc Luận nhưng không

biết địa chỉ. Ai nhận được lá thư này là ân nhân của tôi,

xin tìm giúp tôi chồng tôi, người mà tôi thương yêu suốt

đời. Ngày đêm tôi chờ đợi tin của ân nhân…

Thanh

Đọc xong thư, tôi mỉm cười hỏi Washington:

– Bạn có thân nhân mới tới Việt Nam du lịch chăng?

– Không? Sao mày hỏi điều đó?

– Vậy chứ từ đâu mà bạn có lá thư này?

Washington thích thú kể:

– À, ngày birthday của tao, vợ tao mua tặng tao chiếc sơ

mi. Mở áo ra mặc thử, tao thấy mảnh giấy nào trong túi

áo…

Tôi ngạc nhiên :

– Thế nghĩa là sao? Bạn mua phải áo cũ?

– Tao không nghĩ vậy. Theo vợ tao đoán thì có thể là một

người thợ may để thư vào chiếc áo này, bắt chước kiểu

người ta hay bỏ thư vào chai rồi thả xuống biển xem nó

trôi dạt tới tay ai… Nhưng có phải là chữ Việt Nam không

?

– Phải.

– Vậy thì tao không hiểu điều này, mày giải thích cho tao

nghe. Label của chiếc áo này là một nhãn hiệu nổi tiếng

của Mỹ, đề là may ở Nam Hàn, sao lại có lá thư của người

Việt Nam trong túi?

– Giản dị thôi. Tụi Mỹ nó thuê mấy thằng Nam Hàn may


cho rẻ. Mấy thằng Nam Hàn lại thuê thợ Việt Nam cho rẻ

hơn vì lương công nhân viên Sài gòn chỉ cỡ ba mươi đô la

một tháng.

Washington kết luận:

– Câu chuyện thú vị đấy chứ! Mày nói cho tao nghe bức

thư viết cái gì.

Tôi lẩm nhẩm:

– Thư của một người đàn bà nhờ kiếm chồng …

Rồi tôi nói cho Washington nghe những điều viết trong

thư. Nghe xong, Washington còn hăm hở hơn tôi:

– Nhất định phải giúp bà ta rồi. Mày kiếm cái tên bác sĩ

này hẳn không khó, phải không? Và mày có thể viết ngay

cho bà ta cái thơ báo tin cho bà ta biết mày, à quên, tao

chứ, đã nhận được cái thơ của bà ta. Mày nhớ làm nhá,

Chúa sẽ trả ơn mày…

Tôi gật đầu cho Washington vui lòng:

– Ô kê. Tôi có thể cho bạn biết kết quả ngay là tôi đã tìm

ra ông chồng của thiếu phụ này rồi. Ông ta có phòng

mạch ở Los Angeles và ông ta cũng là một nhà tranh đấu

chống cộng rất quyết liệt.

– Ông ta đang hành nghề bác sĩ? Thế tại sao lại không liên

lạc với vợ?

– Làm sao tôi biết ? Bạn nên nhớ là mười chín năm qua,

dân tộc tôi bất hạnh lắm, chuyện gì cũng có thể xẩy ra cả.

– Thí dụ như ông này đã có vợ mới thì sao?

– Có thể.

– Nếu thế thì thôi, đừng cho người đàn bà này biết.

– Tôi mới nói “có thể” chứ đã chắc chắn đâu. Tại sao

không nghĩ tốt hơn là khi ông ta vượt biên rồi thì ở nhà,

vợ ông ta bị Việt cộng tịch thu nhà, bắt bà ta đi tù vì tội

đồng lõa giúp người vượt biên. Cho nên hai vợ chồng này


mất tin tức địa chỉ của nhau. Tưởng tượng hôm nào mình

tới nhà ông ta, thấy ông ta sống một mình trong một căn

nhà năm trăm ngàn đô la ở Beverly Hills và phòng nào

cũng có treo ảnh của người đàn bà tác giả lá thư này…

Washington hồn nhiên reo vui:

– Hay quá! Vậy hôm nào mày đi gặp ông bác sĩ đó, nhớ hú

cho tao đi cùng, nhé.

Buổi chiều hôm đó, trên đường tan sở trở về nhà tôi cứ

bâng khuâng với lá thư của thiếu phụ tên Thanh có người

chồng là bác sĩ Luận. Tới bữa ăn, tôi đem câu chuyện này

nói với vợ tôi thì vợ tôi kêu lên:

– Ông ta có vợ rồi mà. Bà này đi chiếc Mercedes trắng,

nghe nói bà này giầu lắm, đã nuôi ông này ăn học cho tới

khi lấy được bằng tương đương để được hành nghề lại

đấy.

Tôi khựng lại, tự nhiên tôi đứng về phía người thiếu phụ

tên Thanh:

– Sao em biết?

– Thì thỉnh thoảng đi dự ba cái vụ khiêu vũ gây quỹ đó,

người này chỉ chỏ người kia, ai đeo hột soàn mấy ca ra,

vuông hay tròn, giá bao nhiêu, mặc áo bốn số hay ba số

hay hai số cũng còn biết…

– Em nói gì mà áo bốn số, ba số?

– Tiền. Bốn số là áo mắc tiền, trên một ngàn, ba số là áo

bạc trăm còn hai số như em là đồ on sale ở Loehmanns

hay Northrom Rack…

Tôi hỏi một câu hơi ngơ ngẩn:

– Như vậy thì làm sao? Có nên gặp cái ông bác sĩ này nữa

không?

– Người ta nhờ thì mình làm. Anh bỏ lá thư vào phong bì,


dán 29 cent tem, mail đi…

– Không được đâu. Sợ bà vợ ông ta trông coi văn phòng,

gặp lá thư này thì ông ta đã không bao giờ được đọc

những hàng chữ của vợ ông ta viết, và chẳng những thế,

gia đình ông ta còn xào xáo từ nay nữa, đâu có lợi gì.

Tối hôm ấy, tôi ngồi cặm cụi viết thư cho người đàn bà tên

Thanh. Dường như đã vài năm nay tôi không viết thư cho

ai nên trong lòng dạt dào ý tưởng mà viết không ra chữ.

Đời sống xứ Mỹ đã phát sinh ra trong tôi tính lười biếng

kỳ cục này. Nhớ lại hồi sống ở quê nhà, gần như ngày nào

tôi cũng có ít nhất một phong bì gửi đi vì tôi rất đông bạn

bè và gia đình nội ngoại. Ấy là không kể tới hồi còn trẻ,

“khi đã yêu thì mơ mộng nhiều”, viết thư cho “nàng” bất

kể giờ giấc, ngay cả lúc ngồi trong nhà thờ nghe cha giảng.

Nhưng ở Mỹ, mọi việc giao thiệp đều qua đường dây điện

thoại. Chẳng hạn bà vợ tôi hễ về đến nhà là y như cái ống

điện thoại không dây đã áp dính vô tai, dù làm bếp hay coi

ti vi và đôi khi cả lúc vào trong phòng vệ sinh. Ba đứa con

tôi cũng không kém, thành ra gia đình tôi chẳng buôn bán

gì mà cũng đã có hai đường dây điện thoại, máy chính

máy phụ giăng mắc từ phòng này sang phòng kia cứ y như

trung tâm hành quân của một tiểu khu ngày xưa. Cái thói

quen viết thư mất dần cho đến bây giờ, nhìn hàng chữ

trên giấy, tôi thấy vừa xấu lại vừa vô duyên chi lạ. “Phấn

đấu” tới hai giờ sáng, tôi mới hoàn thành một lá thư dài

khoảng hai chục giòng để gửi về xí nghiệp may xuất khẩu

Thống Nhất cho người đàn bà tên Thanh.

Sáng hôm sau, vừa tới sở thì Washington đã chặn hỏi tôi:

– Mày liên lạc với ông bác sĩ kia chưa?


– Để cuối tuần này.

– Mày không có quyền chậm trễ. Mày hãy nhớ tới người

đàn bà kia, bà ta giống như thằng cha nào mà tao quên

tên rồi, hình như là Robinson thì phải, thằng cha bị đắm

tàu dạt vào hoang đảo, hàng ngày ngóng ra ngoài khơi

xem có tàu nào tới vớt không sau khi thằng cha này thả

xuống biển vài cái chai mang thơ cầu cứu.

– Nhưng mà thì giờ đâu? Hàng ngày phải vô đây từ sáng

tới chiều rồi …

– Thì mày gọi điện thoại.

Tôi trả lời cho qua là chưa kiếm ra số điện thoại vì thấy

anh chàng Ba Tây này ồn ào qúa khiến tôi nghĩ rằng anh

chàng đang giải trí với câu chuyện tình chia cách của một

cặp vợ chồng Việt Nam, anh chàng tò mò muốn biết thêm

chi tiết để tối về, kể cho vợ nghe và vợ anh ta bốc điện

thoại kể cho bạn nghe tùm lum một cách rất khoan khoái.

Thấy tôi lạnh nhạt bước tới dàn máy CNC thì Washington

nhún vai bỏ đi.

Không ngờ đến lúc nghỉ giải lao, Washington hớn hở trở

lại chỗ tôi, đập mạnh vào vai tôi y như khi anh ta thắng

cuộc đánh đề football:

– Tao cho mày số điện thoại của ông bác sĩ Luận.

Washington chìa vào mặt tôi mảnh giấy tèm lem vết dầu

nhớt, tôi lại ngạc nhiên:

– Làm sao bạn có?

Washington cười hề hề 

– Mày ở Mỹ gần chục năm mà dở tệ. Nhắc cái điện thoại

lên, gặp con tổng đài, đọc tên thành phố và tên bác sĩ

Luận rồi hỏi số điện thoại là một giây nó trả lời mày.


Washington nắm tay tôi lôi đi:

– Bây giờ còn mười phút, mày ra máy điện thoại công

cộng này, tao bỏ 25 cent cho mày gọi ông bác sĩ Luận.

Thực sự là tôi không đồng ý cái lối hành động nóng nẩy

của Washington, vì không hiểu sao tôi cứ nghĩ anh chàng

Ba Tây này làm chỉ vì tò mò, tìm hứng thú cho bản thân

anh ta hơn là cho người đàn bà Việt Nam tên Thanh.

Nhưng nếu tôi không gọi điện thoại thì anh chàng này sẽ

hiểu qua tôi là người Việt thiếu tình cảm, lạnh lùng, không

thương ngay cả đồng bào mình. Với lại, tôi biết, nếu tôi

không nói chuyện với bác sĩ Luận lúc này thì Washington

sẽ nói. Vì thế, tôi đành miễn cưỡng theo Washington tới

máy điện thoại. Chính anh chàng to con rềnh rang này bỏ

tiền vào máy rồi quay số, chỉ khi nghe tiếng chuông reo rồi

mới chuyển máy cho tôi.

Tôi nghe bên kia đầu giây là giọng đàn bà:

– Phòng mạch bác sĩ Luận, tôi nghe.

– Thưa chị, tôi xin được nói chuyện với bác sĩ Luận.

– Xin lỗi, ông muốn lấy hẹn khám bệnh phải không? Ông

cho tôi biết tên, số điện thoại để tôi ghi vào sổ cho ông.

Ông có medical, bảo hiểm hay trả tiền mặt?

– Thưa không, tôi muốn nói chuyện riêng?

– Thế hả ? Bác sĩ đang bận khám bệnh nhá. Ông cho tôi số

điện thoại rồi bác sĩ gọi lại. Mà xin lỗi ông, chuyện riêng là

chuyện gì?

– Thưa chị, đã bảo là chuyện riêng mà…

– Không sao, tôi là vợ bác sĩ Luận đây, ông cứ nói…

– Dạ, thưa bà bác sĩ, bà có thể ghi số điện thoại của tôi,

nếu bác sĩ muốn thì gọi cho tôi sau..


Tôi xưng tên, đọc số điện thoại xong rồi gác máy.

Washington bồn chồn ra mặt, anh chàng muốn tôi kể cho

nghe ngay cuộc đối thoại vừa rồi. Khi tôi nói chưa hết thì

chợt nghe chuông điện thoại reo, Washington tò mò nhấc

lên. Tôi thấy Washington nhìn tôi, nhướng cao đôi lông

mày và nghe hắn trả lời:

– Vâng. Đây là sở làm của nó.

– …

– Vâng. Tôi biết nó mới gọi cho phòng mạch.

– …

– Vâng. Nó cho bà số điện thoại ở nhà.

Cúp máy xong, Washington cười:

– Con mẹ này đáo để thật. Nó kiểm soát mày là ai đấy?

Tôi hỏi Washington:

– Sao bà ấy biết được số điện thoại này? Chắc chắn là ban

nãy tôi không có nói.

– Mày ngu quá. Ở Mỹ mấy năm rồi? Nó có máy ghi lại

những số điện thoại gọi vào văn phòng nó để nếu mày tống

tiền thì nó trình FBI, hiểu chưa.

Từ đó, câu chuyện của người đàn bà tên Thanh trở thành

một ám ảnh khiến tôi lúc nào cũng bận tâm suy nghĩ.

Chắc chắn là bác sĩ Luận giờ đây đã lập gia đình mới. Vậy

thì tôi có nên chuyển lá thư của người đàn bà tên Thanh

cho ông ta nữa không? Ông ta còn thương yêu còn nhớ

người đàn bà tên Thanh đó không?

Nếu ông ta còn yêu bà Thanh thì liệu ông ta sẽ phản ứng

thế nào? Và, người đàn bà đang chung sống với ông ta có

biết mối tình của ông ta với bà Thanh không?

Nếu ông ta nói dối chưa yêu ai, chưa gọi ai bằng vợ, nay


bà ta biết được lá thư này thì gia đình đó sẽ ra sao?

Ông bác sĩ Luận không hề gọi điện thoại lại cho tôi. Tính

tò mò đã thúc đẩy tôi vào một buổi sáng cuối tuần lái xe

kiếm phòng mạch của bác sĩ Luận. Ông bác sĩ này rất

đông khách, hàng chục bệnh nhân dáng điệu mỏi mệt ngồi

chân co chân duỗi trước bức tường treo lá cờ vàng ba sọc

đỏ và la liệt hình ảnh sinh hoạt của cộng đồng mà tấm

hình nào cũng có bác sĩ Luận là vai chính. Thấp thoáng

phía sau ô cửa sổ là hai phụ nữ, một người mặt hoa da

phấn và một người da dẻ đơn sơ, áo quần giản dị, như thế

chỉ nhìn qua cũng biết ngay một người là bà chủ và một

người làm công với đồng lương tối thiểu.

Quan sát bà bác sĩ Luận một hồi, tự nhiên tôi thấy người

đàn bà này đang hưởng hạnh phúc mà bà ta đã gây dựng

nên, nếu như lời vợ tôi nói đúng, là bà ta đã nuôi ông

Luận ăn học để lấy lại được giấy phép hành nghề. Thế thì

lá thư của người đàn bà tên Thanh chẳng nên để thêm

một người khác biết nữa. Tôi sẽ cất giữ lá thư đó làm kỷ

niệm hoặc sẽ bôi tên ông bác sĩ rồi gửi lên đại học Yale cho

giáo sư Huỳnh Sanh Thông cất vào thư viện Việt Nam.

*

Nhưng ba tuần sau thì tôi nhận được thư của người đàn

bà tên Thanh từ Việt Nam gửi sang. Bức thư viết :

Thành phố Hồ chí Minh, ngày 25 tháng 6, 1994

Thưa ông Nguyễn,

Tôi là Triệu Thị Thanh, 35 tuổi, vợ của bác sĩ Nguyễn

Ngọc Luận, từ nay xin được gọi ông là ân nhân. Tôi không


ngờ lá thư của tôi lại tới tay ông, thật là may mắn. Thế thì

hẳn phải có trời có phật thật, ông nhỉ.

Tôi đang là công nhân viên xí nghiệp may xuất khẩu

Thành Công, làm gia công cho thương gia Nam Triều

Tiên. Hàng ngày chúng tôi đóng thùng đưa xuống tàu chở

ra nước ngoài hàng chục ngàn cái áo sơ mi đấy. Thế mà

cái thơ tôi bỏ vội vào túi một chiếc áo, lại tới ông mới là

đặc biệt, ông nhỉ.

Bây giờ, tôi kể cho ông nghe câu chuyện của tôi nhé. Tôi là

gái Hà nội đấy. Hồi Mỹ đánh bom Hà nội 12 ngày, tôi mới

có 13 tuổi, đã phải chạy tản cư lên Sơn Tây đấy. Thế rồi

năm 1975, giải phóng được miền Nam, bố tôi vào trong đó

tiếp quản. Thấy Sài gòn dễ sống hơn Hà nội, bố tôi đưa cả

nhà vào. Tôi trở thành nữ sinh trường Nguyễn Thị Minh

Khai. Tốt nghiệp Trung học Phổ thông cấp 2 xong, bố tôi

đưa tôi vào làm công an.

Năm 1980, có một ngụy quân được trại cải tạo tạm tha,

giao về cho phường quản lý, đến công an phường trình

diện. Tên anh ta là Nguyễn Ngọc Luận, đại úy quân y

trong quân đội ngụy. Tôi là người quản lý hồ sơ những

người bị quản chế, chưa có quyền công dân nên anh

Nguyễn Ngọc Luận phải trình diện tôi và làm việc với tôi.

Thoạt đầu, tôi thấy anh ta cũng như những ngụy quân

ngụy quyền khác thôi. Tôi giao cho anh ta nhiệm vụ theo

dõi các hoạt động phản động chống cách mạng trong khu

phố, phải báo cáo với tôi những dấu hiệu khả nghi như

người lạ mặt tới lui và phải gặp tôi làm việc một tuần ba

lần vào thứ hai thứ tư và thứ sáu. Theo hồ sơ khai báo của


anh ta thì trong lúc anh ta đi cải tạo, vợ anh ta đã đi lấy

chồng khác, là một cán bộ ngành Hải quan. Hai đứa con

anh ta được người chị gái ở kinh tế mới Gia Ray nuôi.

Một hôm, anh ta tới gặp tôi, xin tôi cấp giấy phép di

chuyển để đi thăm con. Tôi trả lời là theo nguyên tắc thì

khi còn quản chế, anh ta không được ra khỏi khu vực. Thế

là anh ta khóc ngay trước mặt tôi, nói là nhớ con vì mới

nhận được thư của người chị gởi về nói là đứa con nhỏ của

anh trong lúc làm rẫy đã bị bọ cạp cắn. Tôi nói với anh ta

là sao không đưa hai đứa con về đây thì anh ta trả lời là

anh ta không có công ăn việc làm nên không nuôi con nổi.

Tôi hỏi thế sao anh ta không đi kinh tế mới với con anh ta

thì anh ta nói anh ta là bác sĩ, nếu đi kinh tế mới thì chỉ là

nông dân thôi, còn nếu ở lại thành phố, hết thời gian quản

chế, có thể xin phép cách mạng mở phòng mạch, chừng đó

sẽ đưa con về.

Thấy hoàn cảnh anh ta rất tội nghiệp, tôi đã cấp giấy đi

đường cho anh ta. Khi trao tờ giấy, tôi nói : “Thông cảm

hoàn cảnh của anh nên tôi đã làm sai nguyên tắc đây.

Mong anh trở về đúng hạn, nếu không thì tôi bị kỷ luật”.

Anh Nguyễn Ngọc Luận đã xúc động tới mức khi anh

nhận tờ giấy phép trên tay tôi, anh đã nắm cả bàn tay tôi.

Và, chính lúc bất ngờ bị anh ấy nắm tay, tôi cũng đã chợt

thấy toàn thân tôi như bị luồng điện giật, ông ạ.

Thế nên trong một tuần lễ anh Luận đi xa, tôi là người

duy nhất mong đợi anh ấy trở về. Không phải chỉ vì tôi sợ

anh ấy đi mất luôn khiến tôi bị kỷ luật đâu, tôi còn thấy

một điều khác, đó là sự vắng vẻ, sự thiếu thốn kỳ lạ lắm.

Chắc tôi không nói thì ông cũng biết, tôi đã có cảm tình


với anh Luận rồi, phải không?

Đúng bảy ngày sau, anh Luận tới trụ sở công an phường

trình diện tôi, tôi mừng không thể tả, khiến mấy bạn tôi

phát hiện được tình cảm của tôi. Họ bắt tôi kiểm điểm. Họ

mách với bố tôi là tôi yêu một tên ngụy. Bố tôi giận lắm,

chửi mắng tôi là mất tác phong cách mạng. Chẳng ngờ

lòng tôi như giòng nước, gặp vách núi chặn thì thành thác

đổ. Tôi đã ngã vào vòng tay anh Luận. Lúc đó thì tôi

không cần gì nữa. Tôi chấp nhận mất tất cả để được tình

yêu của anh Luận. Bố mẹ tôi từ tôi, đảng sa thải tôi, tôi bị

khai trừ khỏi công an vì tôi không nhận lệnh di chuyển về

Hải Dương. Tôi trở thành thợ may và buôn bán linh tinh

để nuôi anh Luận.

Để trả thù tôi, công an đã không trả quyền công dân cho

anh Luận sau một năm quản chế. Chúng tôi xin di chuyển

đi nơi khác, công an không chứng giấy. Hy vọng được mở

phòng khám bệnh của anh Luận coi như hết, anh buồn

lắm. Anh xin vào làm ở một xưởng đóng bàn ghế với chân

đánh vẹc ni. Nhiều đêm thấy anh không ngủ, cứ nằm hút

thuốc, tôi nghĩ vì tôi mà anh ấy khổ. Giá như tôi không lấy

anh ấy thì sau một năm quản chế, anh ấy được trả quyền

công dân và mở phòng khám bệnh, có tiền thì mang hai

con anh ấy về cha con sống chung. Nay chỉ vì có tôi mà

anh Luận bí đường tắc lối.

Cuộc sống điêu đứng như thế cứ ngày qua ngày, cuối

cùng, vì yêu anh Luận nên tôi điều đình với bố tôi là tôi

chấp nhận về Bắc với điều kiện anh Luận được trả quyền

công dân và được giấy phép mở phòng khám bệnh. Bố tôi

đồng ý. Tôi không cho chồng tôi biết chuyện này, một


mình tôi, tôi lén chuẩn bị cho chồng tôi những thứ cần

thiết, phần tôi, tôi chỉ có một cái túi xách tay với hai bộ

quần áo của tôi, một bộ quần áo của chồng tôi mà tôi sẽ

không bao giờ giặt để giữ lại chút hơi ngàn đời tôi thương

mến, và một tấm hình mà tôi và anh Luận chụp chung, để

trở về Bắc.

Đến ngày phải xa chồng vĩnh viễn, tôi cố cầm nước mắt,

làm tiết canh vịt cho chồng tôi ăn, mua bia ngoại cho

chồng tôi uống và ở với chồng tôi lần chót.

Chẳng ngờ khi ân ái, tôi đã không còn giữ nổi nữa, tôi òa

khóc. Chồng tôi kinh ngạc ôm lấy tôi, an ủi tôi, hỏi tôi

chuyện gì. Tôi vừa khóc vừa kể cho chồng tôi rồi bảo

chồng tôi đã đến giờ ra bến xe hỏa rồi, để tôi đi kẻo trễ

chuyến tàu Thống Nhất. Nhưng chồng tôi không buông tôi

ra. Anh ấy bảo : “Anh không cần quyền công dân. Anh

không cần phòng mạch. Anh cần em. Không, em không đi

đâu hết”.

Hai vợ chồng tôi lại tiếp tục sống cảnh “một mái nhà

tranh hai trái tim vàng” ở trong con hẻm đường Minh

Mạng, phường Minh Mạng, quận 10. Thêm một năm rồi

hai năm, đảng vẫn tiếp tục hành hạ chồng tôi và lần này

ra tay trừng phạt bằng lệnh đuổi vợ chồng tôi đi Kinh tế

mới Kà tum ở Tây Ninh.

Chúng tôi rời thành phố một cách bình thản, có lẽ chồng

tôi không thể còn chuyện gì để xúc động hơn, để làm cho

anh ấy buồn hơn nữa. Anh ấy nói với tôi :

“Nghĩ cho cùng thì cái xã hội này cũng chẳng có gì đáng


tiếc nếu phải chết. Và nếu chết mà hai chúng mình có

nhau thì chết còn vui hơn sống”.

Khu kinh tế mới Kà Tum nằm sát biên giới Miên Việt. Tôi

nghe những người ở đây nói rằng Kà Tum cũng là nơi

dừng chân của bọn buôn lậu, bọn đưa người vượt biên

sang Thái Lan. Quả thật, ít tháng sau, chúng tôi gặp một

toán bộ đội đưa khoảng hai chục người từ thành phố Hồ

Chí Minh lên, chuẩn bị quần áo Miên để qua biên giới.

Chuyến ấy đi xong, vài ba tuần sau lại có chuyến khác.

Nhìn người ta đi, chồng tôi thở dài ao ước : “Giá mình có

vàng, em nhỉ, vợ chồng mình xin họ cho đi. Sang tới Thái

Lan, anh sẽ được Mỹ nhận ngay. Khi đó mình mới hết

khổ”.

Thấy chồng tôi muốn thì tôi làm. Tôi dò hỏi toán vượt

biên, được biết mỗi đầu người phải đóng hai lượng vàng

mà gia tài chúng tôi chỉ có hai chiếc nhẫn cưới mà anh

Luận và tôi mua của một người bán vàng rồi đeo vào tay

nhau ở ngoài vỉa hè để kỷ niệm, để tôi được hãnh diện là

đã có chồng. Tôi bèn ngỏ lời với anh Luận cho tôi về

thành phố một chuyến. Và tôi đã xin, đã mượn, đã vay của

bạn bè, em tôi, anh tôi, chị tôi, cô tôi, đồng chí cũ của tôi,

được đúng hai lượng vàng mang lên Kà Tum cho chồng

tôi. Chồng tôi hỏi : “Em tính thế nào ?”. Tôi trả lời : “Em

lo vàng cho anh vượt biên mà”. Chồng tôi nói : “Còn em

?”. Tôi lại cố giữ bình tĩnh : “Em đâu dám đi. Anh không

thấy người ta nói các phụ nữ vượt biên qua đất Miên là

khi thì bị Khmer Đỏ hiếp, khi thì bị lính Hun Sen hiếp.

Thôi, anh cứ đi mình, rồi sau này lo cho em sang với anh”.

Chồng tôi đã nhập được vào nhóm người vượt biên giới đi


tìm tự do sau khi tôi cài vào túi áo chồng tôi chiếc kim

băng để giữ khỏi rớt tất cả những đồng bạc mà tôi có, và

địa chỉ của một người bạn thân ở thành phố Hồ chí Minh

để mai sau anh ấy gửi thư về. Tôi chỉ giữ lại cho tôi duy

nhất một chiếc nhẫn một chỉ trên ngón tay để tôi nhớ về

anh Luận, người mà tôi thương yêu suốt đời.

Nhưng tôi mất tin chồng tôi từ đó. Không biết anh ấy có

thoát tới Thái Lan hay bị hại giữa những làn đạn của bọn

Miên bắn giết nhau ? Tôi đã dò hỏi, tìm kiếm mọi nơi mọi

cách mà vẫn không thấy chút tin nào của chồng tôi. Tôi

chỉ mong anh ấy sống thôi.

Một hôm, ngồi xếp những chiếc áo sơ mi vào thùng sau

khi kiểm phẩm xong để xuất khẩu, tự nhiên tôi có ý nghĩ,

tại sao không gửi một lá thư vào một trong những chiếc áo

này, biết đâu nếu qủa thực có ông Trời thì chồng tôi sẽ

mua trúng cái áo đó ? Không ngờ lá thư lại tới tay ông

cũng là may cho tôi, chứ nếu chiếc áo đó bán ở nước khác

như Nam Triều Tiên, Nhật Bản thì tôi sẽ chẳng bao giờ

được cái hy vọng qua ông rồi tôi sẽ nhận được tin về

chồng tôi…

Bây giờ tôi là người rất tin rằng có ông Trời đấy, ông ạ.

Một lần nữa, tôi xin gọi ông là ân nhân, và mong ông giúp

tôi tìm gặp anh Nguyễn Ngọc Luận, cho anh ấy địa chỉ của

tôi để anh ấy làm hồ sơ đoàn tụ cho tôi ngay.

Kính thư

Triệu Thị Thanh

Lá thư càng làm tôi lẩn quẩn hơn về câu chuyện tình của


chị Triệu Thị Thanh. Tôi nghĩ mọi suy đóan của tôi đều có

thể chủ quan và sai. Điều tốt nhất là tôi phải gặp bác sĩ

Luận một lần. Vả lại, thông báo cho ông ta là trách nhiệm

của tôi mà chị Thanh đã hết lòng nhờ cậy.

Quyết định như thế nên vào một sáng thứ bẩy, tôi đóng

vai người bệnh tới phòng mạch bác sĩ Luận. Sau khi làm

phiếu, đóng tiền mặt bốn mươi đô la xong, tôi ngồi chờ

khoảng nửa giờ thì được y tá gọi đi cân đo trước khi gặp

bác sĩ.

Ông bác sĩ là người trắng trẻo, nét mặt rất nhân ái, đôi

mắt nhiệt tình và đôi môi lúc nào cũng như cười. Tôi nằm

trên giường, quan sát ông ngồi đọc hồ sơ của tôi, tôi nghĩ,

không biết trong cái đầu kia có còn chút hình ảnh nào của

chị Thanh, của những ngày gian khổ ở Kà tum không ?

Nếu tôi không đọc thơ chị Thanh, làm sao tôi biết con

người này đã từng trải qua biết bao ngày tháng đắng cay,

đã có ít nhất ba người đàn bà trong đời, và không hiểu hai

đứa con ông ở khu Kinh tế mới Gia Ray đã được ông bảo

lãnh sang đây chưa ?

Tôi chợt nghe bác sĩ Luận hỏi tôi :

– Chào anh, anh đau gì ?

Tôi nhìn quanh, thấy cô y tá đứng khá xa, mới nói nhỏ:

– Tôi có bệnh kín muốn nhờ bác sĩ xem. Ông có thể khép

cửa, đừng cho y tá hay bà nhà vô được không?

Bác sĩ Luận gật đầu ngay:

– Được, được…

Chờ cánh cửa khép xong, tôi mới nói :

– Bác sĩ có còn nhớ một người đàn bà tên là Triệu Thị

Thanh?


Lập tức ông ta như bị điện giật. Đôi mắt ông ta hớt hải

liếc nhanh ra phía cửa, miệng lúng búng như muốn nói

mà lại như không nói được. Tôi thì thầm tiếp:

– Bà Thanh có gửi cho tôi một lá thư để nhờ chuyển cho

bác sĩ. Tôi xin giao lại cho bác sĩ…

Bác sĩ Luận run run đón nhận lá thư, miệng vẫn không

nói một câu nào. Tôi không biết ông ta nghĩ gì? Xúc động

vì bất ngờ được tin người vợ cũ đã lạc nhau?

Hay lo sợ bà vợ mới chợt đẩy cửa vào bắt gặp lá thư của

chị Thanh? Nhìn mặt ông ta tái nhợt như người bị cảm,

trán lại nhơm nhớp mồ hôi, tôi hơi khôi hài nghĩ rằng giờ

này ông ta chính là kẻ phải leo lên nằm trên cái giường

này và tôi chẩn mạch cho ông ta mới đúng.

*

Bẵng đi khoảng ba tuần lễ, vào chiều chủ nhật, vợ con tôi

chở nhau đi shopping, tôi ở nhà coi đánh bốc. Hồi ở Việt

Nam tôi rất ghét môn này vì thấy nó chả có vẻ thể thao

chút nào, tàn bạo là khác. Thể thao là cách thể hiện ba

tiêu chuẩn cao hơn, nhanh hơn, xa hơn, đằng này đánh

đấm nát mặt nhau, nói theo thời thượng là “vi phạm nhân

quyền” quá. Chính phủ Tân Gia Ba mới chỉ dùng roi đét

vào đít một thanh niên Mỹ mà thế giới làm ồn lên, chỉ

trích hình phạt này là dã man, thế mà công khai đánh tét

mắt tét môi nhau công khai thì được ti vi trực tiếp truyền

hình và càng thấy máu đổ càng ăn khách, càng cho là

nghệ thuật.

Nhưng từ khi sang sống ở Mỹ, tự nhiên tôi lại thích xem

đánh bốc. Tôi chưa tìm hiểu tại sao tôi thay đổi cách giải


trí, có phải ở bầu thì tròn ở ống thì dài, tôi đã ảnh hưởng

nhân sinh quan người Mỹ, hay thực tế chỉ là bây giờ tôi

gìa yếu thì tôi thích vay mượn sức mạnh của kẻ khác?

Tôi đang ngồi xem hai ông võ sĩ đấm nhau thì điện thoại

reo. Bên kia đầu giây là người mà tôi vẫn có ý chờ, đó là

bác sĩ Luận. Ông chào tôi xong rồi nói :

– Tôi rất cảm ơn anh đã chuyển cho tôi thơ của Thanh…

– Không có chi. Chị ấy nhờ thì tôi làm.

– Nhưng cũng bởi vì mình có duyên với nhau chứ.

Tôi thăm dò :

– Vâng, tôi cũng nghĩ thế. Tôi mong bác sĩ không phiền

tôi.

– Ồ, ồ, không bao giờ. Tôi đề nghị mình gọi nhau thân mật

hơn, bỏ cái danh xưng bác sĩ đi, tôi đang gọi anh là anh

mà. Hôm nào anh có thể đi ăn với tôi một bữa không?

– Dạ, thế thì còn gì bằng.

Bác sĩ Luận hỏi ngay:

– Tối nay anh có rảnh không?

– Cũng được.

Bác sĩ Luận hẹn tôi tới quán The Ambassador tại

Pasadena, một quán ăn nổi tiếng với đầu bếp Thụy Điển

lúc bẩy giờ rưỡi tối. Khi gặp nhau, ông bắt tay tôi rất thân

mật và vào đề ngay:

– Tôi biết ơn anh đã nhận lời dù tôi mời anh quá đột ngột.

Tôi pha trò:

– Nếu thế thì tôi cũng cám ơn anh vì tôi rất thích ăn ngon,

với lại tôi cũng thích nghe chuyện lạ…

Bác sĩ Luận vui vẻ:

– Anh biết tại sao tôi mời anh ngay tối nay không?


– Vì bà nhà mắc bận?

– Anh thông minh qúa. Tại tôi có buổi họp về công việc

làm ăn với tụi Mỹ, nhưng tôi không ăn với chúng nó mà

gọi điện thoại mời anh. Vâng, thường thì tôi khó có dịp đi

một mình, bà ấy đeo quá.

Tôi thành thật nói:

– Sau khi đóng bốn mươi đô la để được gặp anh, trao thư

của chị Thanh cho anh, mà hai ba tuần sau không nghe

anh điện thoại, thú thực tôi hơi thất vọng.

– Anh không hiểu, xin lỗi anh không hiểu. Ngay lúc anh

vừa ra khỏi phòng mạch là nhà tôi lột mất mấy cái thư đó

ngay.

– Sao bà biết?

– Tại tôi không dấu được tình cảm. Nhìn mặt tôi bà ấy

sinh nghi, chặn hỏi tôi. Tôi vội dấu thư của Thanh vào

thùng rác mà bà ấy cũng khám phá ra.

– Như vậy là anh không còn yêu chị Thanh?

– Yêu chứ. Nhưng mà anh cũng hiểu, mình đâu có giải

quyết được gì.

Tôi hỏi :

– Vậy là anh chưa được đọc thơ chị Thanh?

– Chưa. Bà ấy đốt ngay trước mắt tôi.

Tôi cười:

– Không sao, nếu anh muốn thì tôi sẽ cho anh bản khác, vì

tôi có photo giữ kỷ niệm.

Chẳng ngờ khi nghe tôi nói thế, bác sĩ Luận năn nỉ cho

ông ta được đọc ngay. Thấy lòng thiết tha của ông ta, tôi

không thể từ chối, rốt cuộc hai chúng tôi rời quán ăn, lên

xe về nhà tôi. Ngồi trên xe, tôi kể sơ sơ cho Luận nghe đầu


đuôi câu chuyện một cách vô tư mà không kết luận vì

chưa biết tình cảm của Luận thế nào ngoài tính sợ vợ

quá đáng của ông ta. Luận nói:

– Người chứ đâu phải chó mà quên được mối tình chung

thủy như Thanh đối với tôi, anh? Lúc gần bà Hoan, tên bà

vợ tôi bây giờ, thành thật mà nói với anh là chẳng có ai

nói yêu ai cả. Cảnh đàn ông đàn bà sáp vô nhau là chơi

thôi. Không ngờ bà ấy chịu tôi, giúp tôi tiền bạc học lại và

có với tôi đứa con. Anh biết không, tôi đã từng mua vé du

lịch Việt Nam để tìm kiếm Thanh …

– Tôi nghe nói anh là Chủ tịch Ủy ban chống du lịch Việt

nam mà lại về du lịch Việt Nam?

– Vâng. Tình cảm con người mà anh. Mình về nước đâu

có nghĩa là mình theo Việt cộng.

– Thế tại sao anh chống?

– Bà vợ tôi đó. Bà đẩy tôi tới cái thế chống du lịch Việt

Nam để cắt đường về của tôi mà. Hễ chỗ nào biểu tình

chống du lịch là bà ấy chở tôi tới, bà ấy ủng hộ ban tổ

chức ít tiền, bà ấy bảo tôi cầm cái bảng “Du lịch Việt Nam

là cộng sản” để cho mấy tờ báo có chạy quảng cáo phòng

mạch tôi chụp hình rồi đăng lên…

Tự nhiên tôi nói với Luận:

– Thôi, theo tôi thì anh chẳng nên đọc thư của chị Thanh

làm gì.

Luận kêu lên nhè nhẹ :

– Không ! Anh cứ cho tôi mấy lá thư của Thanh đi. Ban

này tôi đã nói với anh là tôi đâu phải là chó mà quên được

tình yêu của Thanh. Nhưng anh hiểu cho tôi mà, hoàn

cảnh này tôi làm gì được cho Thanh chứ?

*


Ngày 10 tháng 8, 1994, tôi viết cho chị Triệu Thị Thanh

một lá thư và kèm một phiếu gửi tiền về cho chị hai ngàn

đô la tiền của bác sĩ Luận nhưng nói là tiền của tôi. Đầu

tháng 9, tôi nhận được thư của chị Thanh. Chị viết:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 8, 1994

Ông Nguyễn kính mến,

Thưa ông, tôi đã nhận được thư và số tiền hai ngàn US đô

của ông gửi về. Trong thư ông cho tôi nhiều lời khuyên, an

ủi tôi nên quên người chồng mà tôi yêu thương nhất đời là

anh Nguyễn Ngọc Luận. Nhưng, thưa ông, lá thư của ông

khiến tôi không thể quên chồng tôi mà còn làm niềm tin

trong tim tôi sống lại mãnh liệt hơn.

Ông biết sao không, ông Nguyễn? Bởi vì ông với tôi là hai

người xa lạ, vì vậy dù là triệu phú ông cũng không dễ

dàng gửi tặng tôi khơi khơi hai ngàn US đô. Tôi chắc chắn

rằng tiền này là của anh Luận. Ông đã gặp anh Luận mà

vì một lý do gì ông không tiện nói cho tôi biết mà thôi.

Vậy, để tìm hiểu sự thực, tôi sẽ dùng tiền này và tiền tôi

dành dụm được đem đăng ký với công ty du lịch Bến

Thành theo đoàn thương mại thành phố sang triển lãm

công nghệ ở Los Angeles vào tháng 10, 1994. Theo báo

đăng quảng cáo thì mỗi người tham dự phải đóng bốn

ngàn tám trăm đô la, bao gồm tiền máy bay đi và về, tiền

khách sạn và ăn ở hai tuần, được đi chơi DisneyLand, Las

Vegas, sở thú San Diego và Hoa Thịnh Đốn.

Để hồ sơ được thông qua nhanh, tôi sẽ đăng ký là công

nhân viên xí nghiệp may xuất khẩu Thành Công. Tôi rất


mong được gặp ông trong dịp này. Ông cứ tới cửa hàng

của xí nghiệp Thành Công trong khu triển lãm là thấy tôi.

Hoặc ông gửi về cho tôi sớm số điện thoại của ông, khi nào

tới Los Angeles, tôi sẽ gọi cho ông hay.

Kính thư

Triệu Thị Thanh


Đọc xong thư tôi không khỏi khen thầm là người đàn bà

quả nhiên thường có giác quan thứ sáu. Lá thư của chị

Thanh lại khiến tôi cứ lẩn quẩn suy nghĩ, chiếm thì giờ

của tôi còn nhiều hơn thì giờ tôi dành cho chiếc máy CNC.

Tôi tìm cách thông báo tin này cho bác sĩ Luận vì chỉ còn

có ba tuần là chị Thanh đã có mặt ở Mỹ. Đã hai lần tôi

điện thoại tới phòng mạch của Luận đều gặp người nghe

là vợ ông ta. Và như lần trước, sau khi tôi cúp máy thì bà

vợ ông ta gọi lại để kiểm soát. Tới cuối tuần, tôi đọc báo

Việt ngữ, thấy tin cộng đồng sẽ họp vào chiều chủ nhật ở

Little Saigon để thành lập ban tổ chức biểu tình chống

phái đoàn của Việt cộng tới Los Angeles chiêu dụ đầu tư,

tìm cách đi với Mỹ để dùng Mỹ chống áp lực của Tầu

đang lấn chiếm quần đảo Trường Sa. Tôi nghĩ thế nào bác

sĩ Luận cũng có mặt ở buổi họp này nên tôi trở thành

người hưởng ứng cuộc biểu tình, hiện diện tại đó.

Quả nhiên, bác sĩ Luận đang ngồi cùng với hai vị nũa chủ

tọa buổi họp với khoảng năm sáu chục mái đầu bạc nhiều

hoặc bạc ít. Nhiều ý kiến phát biểu chém đinh chặt sắt hô

hào phải bằng mọi cách phá tan kế hoạch chiêu dụ tư bản

Mỹ tới đầu tư ở Việt Nam, bảo bọn tư bản này hãy tới


Trung cộng hay Phi Luật Tân mà làm ăn, đừng có mà tiếp

tay Việt cộng. Khoảng một giờ trôi qua thì bác sĩ Luận đề

nghị nghĩ giải lao trước khi đúc kết bản tuyên cáo chống

phái đoàn giao thương của cộng sản Hà nội.

Bác sĩ Luận nheo mắt cười với tôi rồi tới gần, nói nhỏ,

giọng hồi hộp:

– Chắc có tin của Thanh phải không, anh ?

– Giỏi. Không lẽ thần giao cách cảm nhỉ ?

– Tại anh đâu có phải là khuôn mặt của những buổi họp

này? Sự xuất hiện của anh là phải có chuyện đặc biệt cho

tôi, tức chỉ là chuyện của Thanh.

– Vâng, tôi nói ngay kẻo và vợ anh bà ấy để ý rồi khổ cho

anh. Chị Thanh mới gửi thư cho tôi đây này. Chị ấy nói sẽ

theo phái đoàn thương mại Việt cộng sang dự triển lãm

hội chợ tháng 9 tới. Chị ấy làm việc trong gian hàng may

xuất khẩu Thành Công.

Quả là bác sĩ Luận không chờ đợi một tin tức như thế.

Mặt ông ngẩn ngơ đến tội nghiệp. Tôi dúi vào tay Luận lá

thư của chị Thanh:

– Anh cầm lấy thư của chị ấy để biết là số tiền anh nhờ, tôi

đã gửi tới tay chị Thanh.

*

Gần đến ngày có cuộc triển lãm hội chợ thương mại của

cộng sản Việt nam, các cơ quan truyền thông của cộng

đồng người Việt đồng loạt đả kích rất dữ dội. Tuyệt nhiên

không thấy ý kiến nào ngược lại được phát biểu trong

vùng này. Phần tôi, câu chuyện của chị Thanh cũng bắt tôi

cứ phải nghĩ tới cái hội chợ đó một cách dai dẳng. Người

đàn bà vì tình yêu đã tìm mọi cách sang Los Angeles, đã


hẹn gặp tôi mà chả lẽ tôi không tới. Mà tới thì sẽ có khối

người chửi tôi là thân cộng, là trở cờ đón gió, là đủ mọi

thứ xấu xa tội lỗi.

Chỉ quyết định tới hội chợ hay không tới hội chợ của Việt

cộng tổ chức mà tôi bị dằn vặt cả nửa tháng, đầu óc bị xâu

xé rốt cuộc chỉ thêm rối bời. Vào ngày mở cửa đầu tiên

của hội chợ, tôi kiếm Washington vào giờ nghỉ buổi sáng

và nói với anh ta:

– Ê bạn, bạn còn nhớ lá thư bạn nhận được từ người đàn

bà Việt Nam bữa trước không?

– Ồ làm sao quên được ? Bà ta giờ ra sao?

– Bà ta đang ở Los Angeles.

– Ông bác sĩ gì đó đón bà ta sang đoàn tụ hả? Hoan hô!

– Chưa. Bạn có muốn gặp bà ta không?

– Cũng hay.

– Vậy thì trưa nay, tôi mua hamburger cho bạn ăn trên xe

tranh thủ thì giờ, tôi chở bạn tới gặp bà ta nhé.

– Ô kê.

Cuộc triển lãm mở ở Phòng Thương Mại Los Angeles, nơi

khó kiếm ra chỗ đậu xe. Nhưng đó chính là điểm tốt cho

tôi vì tôi chỉ muốn Washington xuống xe và vào hội chợ

một mình. Tôi viết tên chị Thanh, tên gian hàng Thành

Công và đưa luôn tờ giấy mười đồng để Washington mua

vé vô cửa. Tôi dặn:

– Bạn vô một mình cũng được, khi gặp bà ta thì đưa số

điện thoại của tôi cho bà ta. Nói với bà ta điện thoại cho

tôi.

Washington cũng tự hiểu ra sự do dự của tôi:

– Mày ngại những người Việt Nam của mày đang biểu


tình chửi mày, phải không?

Tôi gật đầu thú nhận, táp xe vào lề đường chỗ sơn đỏ, đạp

thắng xe cho Washington xuống:

– Tôi chạy vòng vòng chờ bạn. Ô kê.

Đoàn biểu tình đông khoảng hai ba trăm người với nhiều

quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và những tấm biểu ngữ đả

đảo Việt cộng, đòi Việt cộng thực thi nhân quyền, thả nốt

những tù binh Mỹ bị bắt trong cuộc chiến tranh trước

1975. Tôi không khó khăn gì mà không thấy bác sĩ Luận.

Ông ta đứng trên lề đường, có vài người ở phía sau cầm

cờ vàng ba sọc đỏ, trông ông ta hùng dũng như vị nguyên

soái. Bà vợ ông ta đeo kính mát, tóc bới cao, mặc váy đầm

hở mạng ngực trắng như kem đang đi qua đi lại phân

phát truyền đơn. Tôi quay kính xe kín mít, chạy tà tà

quanh khu phố để chờ Washington. Mãi chừng hai chục

phút sau thì anh chàng mới lơn tơn bước dọc hè phố kiếm

tôi.

Lên xe, chưa kịp đóng cửa, Washington đã ồm ồm:

– Không gặp bà ta. Mẹ kiếp! Mất thì giờ mà không hiểu

cái gì hết. Tụi nó không biết nói tiếng Mỹ. Tất cả chỉ có

một thằng thông dịch thôi nên phải chờ. Đến phiên mình,

hỏi nói về bà Thanh đâu, nó trả lời cộc lốc: Tôi không biết.

Hỏi thêm, nó không nói vì bận tiếp mấy thằng Mỹ khác.

Rồi Washington hỏi tôi:

– Cộng đồng mày chống cái gì vậy ?

– Chống cộng sản.

– Tao không thấy cộng sản trong đó. Chỉ có hàng hóa thôi.

– Thì hàng hóa của cộng sản. Chúng nó mang sang đây

triển lãm kiếm thị trường.


– Tao không hiểu. Tụi Ba Tây tao mong kiếm thị trường

mà không được. Còn… tại sao mày vô thì không được, tao

vô thì được?

– Bạn đã nói bạn không hiểu mà còn hỏi thêm làm gì.

Suốt buổi chiều hôm đó, và cả buổi tối nữa, tôi sinh ra gắt

gỏng, người gây gây mệt như mắc bệnh ăn không tiêu.

Đầu óc tôi cứ lẩn quẩn hình bóng một thiếu phụ mà tôi

chưa bao giờ thấy mặt, chưa một lần nghe giọng nói.

Không biét ngày hôm nay, đứng trong phòng triển lãm

nhìn ra đoàn người Việt biểu tình ở phía ngoài, bà Thanh

có nhận ra hình bóng người mà bà thương yêu nhất mà bà

đi tìm kiếm là bác sĩ Luận đang đứng trước khu triển lãm,

cách bà có vài trăm mét không? Trời ơi ! Tôi chợt kêu lên

kinh hoàng khi tưởng tượng bà ta có chiếc ống dòm, qua

ống dòm bà ta thấy chồng bà, thế là bà ta lao ra cửa, chạy

nhào tới bác sĩ Luận.

Sáng hôm sau, tôi quyết định bề gì thì cũng phải tới gặp

người đàn bà bất hạnh này. Tôi cũng biết nếu có gặp, tôi

chẳng mang tới cho bà ta niềm vui nào, trái lại là khác,

nhưng nếu tôi không gặp bà ta, tôi sẽ ân hận vì trong tôi

đã không còn tình người. Khi tôi tới phòng triển lãm, vài

người tóc đã ngả màu sương chặn tôi lại 

– Anh vô đây làm gì?

– Anh muốn tiếp xúc với bọn Việt cộng hả?

Tôi đã có câu trả lời gian dối sẵn 

– Người xưa nói biết địch biết mình thì trăm trận trăm

thắng. Các ông để tôi vô coi xem chúng nó ra sao.

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Lâm bước tới, ông nhìn tôi thật dài và

thật dịu dàng như gửi gấm hàng trăm lời nhưng đôi môi


ông mím lại. Ông làm như không quen biết tôi, thản nhiên

quay đi.

Vào trong khu triển lãm, cảm giác đầu tiên của tôi là sự

trống vắng. Căn phòng quá rộng, trần nhà quá cao mà

người thì ít và hàng hóa thì nghèo nàn, trình bầy vụng về

như một cô gái quê bắt đầu làm quen với son phấn. Thế

này mà cũng mang đi triển lãm làm gì, có thể họ không

biết rằng khả năng của họ nếu chỉ có thế này thì còn thua

những chợ trời ở xứ Mỹ. Tôi kiếm tìm và thấy ngay gian

hàng Thành Công với khoảng vài chục cái áo sơ mi bầy

trên mặt một chiếc bàn nhỏ và một cô gái mặc áo dài đứng

tiếp khách.

Tôi bước tới trước mặt cô này:

– Xin hỏi thăm cô, ai là chị Thanh?

Cô gái đứng im lặng quan sát tôi từ nãy tới giờ, chưa biết

tôi là hạng người nào, đến đây làm gì, nên nghe tôi hỏi

thăm một người bạn của cô, nét mặt cô thay đổi hẳn. Cô

mừng rỡ y như cảnh đón họ hàng cách xa nhau hàng chục

năm ngoài sân ga. Giọng cô ta ríu rít:

– Anh kiếm chị Thanh hả ? Anh là anh Luận hả? Trời ơi,

chị Thanh nhắc tới anh hoài à.

– Nhưng chị Thanh đâu?

– Trời ơi, anh diễm phúc lắm đấy nhé. Chị Thanh yêu anh

hết xẩy. Lúc nào cũng nói tới anh thôi à.

– Nhưng chị Thanh đâu?

– Chị ấy bị gạch tên rồi. An ninh nghi chị ấy sang Mỹ sẽ

bỏ trốn theo anh đấy.

– Sao chị ấy viết thư nói là đóng bốn ngàn tám đô la tiền

vé máy bay rồi 


– Vâng, đúng thế. Lúc ra phi trường, sắp vào phòng cách

ly thì an ninh mới mời chị ở lại. Anh biết tại sao không?

Tại chị ấy mừng qúa, cứ liến thoắng nói về chồng chị ấy ở

bên Mỹ sẽ tới phòng triển lãm đón chị ấy đi chơi. Có

người trong đoàn nghe được mật báo cho an ninh. Thế là

cúp. Trời ơi, tội nghiệp quá, giá chị ấy được đi, được gặp

anh chắc chị ấy mừng mà khóc hết nước mắt đấy…

Tôi không buồn cải chính tôi là ai nữa. Tôi chào cô gái mà

cũng chẳng hỏi họ tên cô ta là gì. Tôi không nhắn gửi một

lời nào cho chị Thanh. Tôi bước ra cửa bằng đôi chân của

người say rượu. Bác sĩ Nguyễn Ngọc Luận thấy tôi vội

quay mặt nhìn đi nơi khác dường như sợ mọi người biết

ông ta quen tôi khi tôi gọi tên ông ta giữa đám đông đang

đứng dưới bóng cờ vàng ba sọc đỏ.

Sáng hôm sau, tôi tới xưởng máy qúa trễ. Mọi chiếc máy

đã reo hò ầm ĩ với những vòng quay hối hả chung quanh

chiếc CNC của tôi còn nằm ụ như một nấm mồ.

Washington dường như chờ tôi đã lâu nên nhào ngay lại,

hỏi :

– Sao? Mày gặp bà Thanh rồi chứ? Bà ta thế nào?

Tôi ủ ê cười nhếch mép:

– Việt cộng không cho bà ta sang Mỹ nữa.

Washington trố mắt :

– Cái gì kỳ cục vậy? Đi thăm chồng mà cũng cấm à?

Rồi chẳng cần tôi trả lời, anh chàng Ba Tây thất vọng vừa

bỏ đi vừa nói:

– Tao đếch hiểu cái nước Việt Nam của mày. Sao mày

khoe với tao là nước mày có tới bốn năm ngàn năm văn

hiến gì đó, hả ?


Đỗ Tiến Đức

No comments:

Post a Comment