Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Thursday, 31 October 2024

 

những mảnh đời rách


Viện Trưởng Vũ Quốc Thông
những mảnh đời rách góc đường

Tôn Thất Tuệ

Dạ thưa, chúng tôi sẽ không triết lý quèn với ý niệm góc đường là ngánh sông, bâng quơ với Anatole France, nhớ lại buổi tựu trường, nghẹn ngào, chỉ trích nửa chừng câu nói của Dante: Au milieu du chemin, giữa chặng đường thì sao, tiến vi quan thối vi sư? Dạ thưa, chỉ có mấy dòng từ hai hình góc đường Saigon, hai việc khác nhau như hai mảnh thinh không, chưa ráp lại như chiếc áo cà sa bá vá, (không nói đến Thích Minh Tuệ nhé).

Primo, nhất dương chỉ, góc đường ở Chợ Cũ

Nhìn bức hình tôi rất xúc động khi thấy bản hiệu Radio Nam Thanh, nhà thứ hai từ góc đường. Chủ nhà là chỗ quen biết thân tình với gia đình vợ tôi. Tôi đến đấy cùng cô bạn nhỏ xíu sau thành vợ để xin bác Ngọ, chủ nhân, thâu mấy dĩa 45 vào cái ma nhê tô phôn Grundig. Năm 1964, đó là của quý, chưa có hàng Nhật như Akai, Sony…, mua vội ở Singapor khi chuyển máy bay đi Úc. Bác Ngọ có người con trai trưởng là anh Phúc bây giờ e cũng đã 90. Anh vợ của anh Phúc là anh Thanh, bác sĩ y khoa; anh Thanh có ý làm anh cột chèo của tôi nhưng tình duyên không trọn.

Về khu Chợ Cũ, tôi thường cùng nhà tôi đi ăn cơm tây ở các quán Tàu, nhờ Chợ Cũ tôi mới biết cháo ám là cháo nóng bỏ cá sống vào cho chín tái rồi ăn. Cũng tại đây làm tà lọt cho quan lớn mà biết vài thứ húy tiếu người Tàu điếu đóm quan ta như món ngọc dương nấu thuốc.

Cũng tại Chợ Cũ tôi có chút kỷ niệm không in nét vào cuộc đời. Năm đệ tam 1956-57 tại trường Quốc Học, chúng tôi tiếp một nhóm chừng 20 học sinh Saigon ra thăm Huế, nhưng toàn người Bắc. Nhớ anh Long là trưởng đoàn. Người thân thiện và dễ mến nhất là Dũng, cho tôi cuốn Đôi Bạn của Nhất Linh.

Người thứ ba tôi còn nhớ là cô Kim Chi, tôi nghĩ nhỏ tuổi hơn tôi, ước chừng sinh 1943. 1962 tôi từ Huế vào Saigon học cao đẳng chuyên nghiệp, có lần thấy anh Long trong các dịp sinh hoạt văn nghệ nhưng tôi chỉ chào sơ mà không hỏi gì về anh Dũng. Cô Kim Chi có trả lời thư thăm hỏi của tôi viết từ Huế, một hay hai lần mà thôi. Nhờ vậy tôi còn nhớ địa chỉ đường Tôn Thất Hiệp, trong vùng Chợ Cũ.

Tôi có tìm đến khi vào học ở Saigon. Nhà ở trong một khu gia cư, có cổng lớn đi vào và có sân rộng. Kim Chi có nhà và tiếp tôi lấy lệ theo lịch sự kiểu người Bắc. Địa chỉ nầy từ lâu khi gia đình di cư 1954, cô vẫn sống với bố mẹ, nghĩa là chưa thành gia thất. Tôi không hỏi thêm cô đang học ngành gì. Đó là lần đầu và lần cuối gặp ở đô thành.

65 năm rồi, thỉnh thoảng nhân cơ hội nầy cơ hội kia tôi nhớ đến Kim Chi, tôi vẫn bùi ngùi. Như hôm nay nhìn bức hình nầy, tôi nghĩ đến bác Ngọ anh Phúc, rồi mới đến Kim Chi. Nhưng Kim Chi hôm nay làm tôi bùi ngùi nhiều hơn. Cùng trên chuyến về quê ăn tết, một bạn đồng hành rời tàu ở Nha Trang thì biết bạn ở Khánh Hòa có cầu Xóm Bóng. Nhưng Kim Chi không chung chuyến nên không biết cô nàng sẽ bước xuống ở Nong, Truồi, Lăng Cô … Lúc tôi đến và ra về, cô nàng vẫn còn ở Saigon, ga Chợ Cũ.

Bỗng dưng tôi nhớ đến Kim Chi trong tình người vô lượng vô biên. Kim Chi đã đến Huế mang theo tóc thề của gái Bắc giữa những mái tóc xỏa ngang vai của gái Huế.

Biết nói gì đây, quá khứ tự nó là một mối sầu, dù Kim Chi có đem theo một niềm vui mới cho Huế, một cái Huế âm thầm lủi thủi với nội tâm. Nói vậy thôi, chứ bâng khuâng bùi ngùi không có tên, chỉ là những nét họa ngoài ý thức thường tình, ở ngoại tầng không gian nếu xem cái đầu là quả đất.

Secundo, nhị thiên đường, góc Pasteur và Alexandre de Rhodes.
Gần một năm từ khi gặp Kim Chi trong thoảng chốc, cuộc đời xã hội và trưởng thành của tôi bắt đầu quanh góc đường nầy. Nếu không có ghi chú thì không biết góc đường nằm đâu và hai cô gái yêu kiều làm gì đây.

Các cô đang đi trên đường Pasteur, gần đến góc đường A de Rhodes. Từ chỗ nầy đến Duy Tân, nói về 1962, A de Rhodes chỉ có Bộ Ngoại Giao và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Năm ấy, từ Huế tôi vào học QGHC và chưa thấy kiến trúc mới của Bộ Ngoại Giao. Chỉ học ở đây một năm, chúng tôi về trường mới ở Trần Quốc Toản, không biết những đổi thay. Hai cô nầy có thể đến Bộ Ngoại Giao học lớp hướng dẫn trước khi du học. Bên phải của các cô, sau Pasteur là Công Lý và Phủ Tổng Thống. A de Rhodes chỉ có một mặt nhà, phía kia là công viên chia đôi bởi Đại Lộ Thống Nhất, rồi đến đường Hàn Thuyên. Theo hình học, A de Rhodes đối xứng với Hàn Thuyên qua Thống Nhất.

Tôi làm việc ở Viện Định Chuẩn đường Hàn Thuyên hơn một năm thì hạ màn 30.4. 1962 tôi bắt đầu sống ở Saigon và 1975 rời Saigon, đến và đi từ khu vực cây xanh êm ả nầy. Từ A de Rhodes đến Hàn Thuyên tôi phải mất 13 năm để đi nốt, dù cách nhau một công viên nhỏ, một đại lộ, bên nầy nhìn qua bên kia thấy được.
Tuy vì nhiều lý do tôi không nồng nàn với trường, lớp học trên lầu đã làm cho tôi yêu mến Saigon lần đầu tiên khi nhìn thấy nét êm ả tiết gió mùa qua công viên. Bầu không khí quanh đại lộ Thống Nhất đã đưa mạnh vào tai tôi mỗi chiều tiếng quân hành của đại đội danh dự từ Thành Cộng Hòa đi vào Dinh Độc Lập làm lễ hạ cờ. Tôi cũng còn nghe rõ tiếng giày nhịp đều trên mặt đường theo tiếng kèn đồng và trống. Hòa tấu khúc của âm thanh và màu sắc cùng thời tiết ấy đã được thay thế bằng tiếng xích lô máy và khói xe nơi trường mới dọn về Trần Quốc Toản sáu bảy tháng sau.

Từ trường cũ, tôi đã bắt đầu yêu mến Saigon và tôi đã để lại di chúc rằng nếu vì lý do gì khi tôi chết miệng không nói được thì xin nói thay tôi: Saigon và tên vợ tôi. Như nói trên, mất 13 năm mới đi qua công viên từ một con đường có tên trong văn học Alexandre de Rhodes, đến một con đường cũng có tên trong văn học Hàn Thuyên. Nói lại, từ lớp học trên lầu, tôi có thể nhìn thấy kiosque bánh mì Nguyễn Văn Ngãi trên vĩa hè của Bưu Điện, nhìn dinh Norodom chưa bị thả bom v.v…một thứ Saigon bình yên tuy chiến tranh khắp nước. Từ trên lầu cao của Viện Định Chuẩn, nơi đánh dấu cuối đường Saigon của tôi, tôi nhìn xuống công viên trong bóng mát của những cây sao, thấy cháu tôi cầm chiếc đồng hồ Seiko không người lái và hai cửa sổ chờ người mua. Hôm qua cháu vừa học mẹo mới, dùng kem đánh răng chà hết những đường vẹt trên mặt plastic, mới nguyên như xưa.---


Thị trấn biến mất

trường hạ sĩ quan Đồng Đế
Thị Trấn Biến Mất
Huyền Chiêu
Thuở bé tôi vẫn nhìn về phía núi Vọng Phu để lòng bồi hồi thương cho hai bóng người hóa đá. Bà tôi cũng kể rằng vùng núi ấy có kẻ ngậm ngãi tìm trầm, đi lạc trong rừng mấy mươi năm, khi tìm về được quê nhà thì đã hóa thành con vượn không còn nói được tiếng người. Thỉnh thoảng, ở chợ Ninh Hòa tôi rất sợ khi nhìn thấy có một vài người da đen thui, tóc quăn tít, đàn ông mặc khố, đàn bà địu con trên lưng. Chắc họ từ núi Vọng Phu xuống. Có người nói họ là người Thượng ở Buôn Sim.
Buôn Sim chỉ cách thị trấn Ninh Hòa khoảng 14 km theo hướng quốc lộ 21. Người dân quê tôi không gần gủi với vùng đất này bởi khí hậu nơi ấy vô cùng khắc nghiệt. Nằm trong lòng chảo của nhiều rặng núi, buôn Sim là một vùng khô cằn, sỏi đá, đêm quá lạnh, ngày quá nóng.

Sau hiệp định Geneve vài năm, Buôn Sim bổng biến thành một quân trường khổng lồ gồm ba trung tâm huấn luyện Pháo Binh, Biệt Động, Lam Sơn.
Và cái tên Dục Mỹ ra đời.
Khác với thời chống Pháp mà người lính là những “áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá”, các quân nhân miền Nam được huấn luyện và trang bị rất quy củ với các doanh trại khang trang, bề thế.

Với số lượng quân nhân trong ba trung tâm huấn luyện kèm theo gia đình của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, thị trấn Dục Mỹ mọc lên giữa bốn bề núi non, tuy nhỏ bé nhưng vô cùng nhộn nhịp.
Cũng giống như những thị trấn mới toanh trong phim cowboy miền viễn tây, Dục Mỹ là nơi quy tụ của quá nhiều người tứ xứ về đây mang theo các giọng nói từng vùng.

Người có máu làm ăn cũng vội vàng tìm về đất hứa.
Chợ Dục Mỹ cung cấp đủ để nấu được các món ăn đặc biệt kiểu Sài Gòn, Bắc, Huế…. .
“Vợ Lính” thong dong chẳng cần làm việc, chỉ lo cơm nước và nuôi con…

Những chuyến xe lam như con thoi nối liền Ninh Hòa – Dục Mỹ. Người dân Ninh Hòa bây giờ hướng về thị trấn mới như một thị trường hấp dẫn, nơi họ có thể làm giàu nhờ nghề cung cấp thực phẩm.
Nhà Thờ và Nhà Chùa đã được xây. Các xe schoolbus được biến từ xe GMC của ba quân trường chở con quân nhân xuống Ninh Hòa học ở các trường trung học. Những cô cậu học trò đã từng ngồi trên những chiếc GMC “cải tiến”này, nay đã trên dưới sáu mươi và tôi tin rằng dầu ở chân trời góc bể nào họ không bao giờ quên những chuyến xe chở học sinh kỳ lạ nhưng đầy ắp niềm vui một thuở.

Chủ nhật, con phố Dục Mỹ “Đi dăm phút trở về chốn cũ” có bóng dáng của những “thiếu úy”, “trung úy” trẻ trung, quân phục thẳng nếp, thong thả dạo gót rồi ghé vào một tiệm sách có cô bán hàng xinh xinh.
Bên con suối Dục Mỹ vài quán cà phê ra đời có tiếng nhạc hòa trong tiếng ầm ào thác đổ.
Người lính miền Nam thuở ấy vẫn còn mang vẻ thư sinh lãng mạn. Ra trận, thay vì nhìn tới trước “nhắm thẳng quân thù mà bắn”, (*) họ quay nhìn lại phía sau “Người đi khu chiến, thương người hậu phương” (**)

Biến cố 1975 như một cơn động đất dữ dội làm sụp đổ hoàn toàn trung tâm huấn luyện. Toàn bộ cư dân gồm quân nhân từ ba trung tâm huấn luyện cùng gia đình họ đều chạy khỏi Dục Mỹ, tan tác hãi hùng như mãnh vỡ của một trái phá…
Thị trấn bỗng chốc như bị thần đèn mang đi đâu mất.
Dục Mỹ trở lại là Buôn Sim hoang vắng thuở nào.
Cũng còn một số người ở lại vì họ không biết đi đâu về đâu và họ trở thành dân của một vùng kinh tế mới mang tên Ninh Sim.
Và người dân Ninh Sim đã phải làm gì để tồn tại khi 100% mang trên đầu bản án lý lịch xấu, con cái chắc chắn không được vào đại học, người thân không biết còn sống hay đã chết trong các trại “cải tạo”?

Nếu người Ninh Hòa khi ấy kiếm sống bằng cách bám vào bến xe đò và ga xe lửa với các chuyến đi buôn lậu gạo, đường, thuốc lá, đạp xe ba gác, làm phu khuân vác …thì người dân Ninh Sim Dục Mỹ kiếm sống bằng cách bám vào núi rừng. Họ lên núi đào khoai mài, cắt tranh, lấy đót. Họ “ngậm ngãi tìm trầm” và có người đã mất xác trong rừng sâu núi thẳm. Họ chặt củi, hái trái rừng, trồng khoai mì, trồng mía. Họ tìm cách sống trong im lặng, chịu đựng mặc cho loa phường ngày ngày vang lên giọng tự hào chiến thắng giặc Mỹ để toàn dân xây dựng thiên đường XHCN
Và tượng đá bồng con trên non cao kia chắc đã nhiều lần rơi lệ thương cho cảnh con người bức hại con người.

Năm ngoái, anh Phạm Văn Nhàn trở về Ninh Hòa, rủ vợ chồng tôi đi thăm lại Dục Mỹ, nơi anh có thời gian rất lâu là sĩ quan của quân trường Lam Sơn.
Xe ghé lại núi Đeo, nơi vẫn còn tháp huấn luyện của quân trường Biệt Động nằm bên Khu Mưu Sinh.
Khu Mưu Sinh được dựng bên một dòng suối đã biến mất nhưng ngôi tháp vẫn còn.
Anh Nhàn muốn chụp một tấm hình có người lính già trở về thăm ngọn đồi kỷ niệm.
Qua khỏi Dục Mỹ chúng tôi nhìn thấy những đồng mía bạt ngàn, những đàn bò gầy ốm đang gặm cỏ trên những cánh đồng nắng cháy.
Đến khoảng cây số 17 anh Nhàn cho dừng xe.
“Hình như trung tâm Lam Sơn hồi trước ở đây mà sao tui không còn nhìn thấy gì hết?”

Rồi anh ghé vào hỏi thăm một cô hàng nước:
“Cô ơi trung tâm Lam Sơn ở đâu hả cô”
Cô hàng nước mỉm cười, chỉ tay xuống đất:
“- Dạ ở ngay đây này”.
Anh Nhàn nhìn quanh. Chẳng còn gì là dấu vết của một địa danh lừng lẫy! Anh bước thêm vài bước, chẳng thấy phố, thấy người chỉ thấy toàn mía là mía.
Hơn mười năm tồn tại, Dục Mỹ của ba quân trường bây giờ chỉ là cát bụi thời gian.

Huyền Chiêu


No comments:

Post a Comment