VIẾT VỀ CỐ HÒA THƯỢNG VC NẰM VÙNG MÃN GIÁC
và anh Hoàng Văn Giàu
Cao Hữu Điền
và anh Hoàng Văn Giàu
Cao Hữu Điền
Kính Thưa Qúy Phật tử,
Các bạn thân mến,
Chiều nay, thứ bảy , việc làm tự nhiên bớt đi nhiều!
Ngồi trong phòng làm việc mà đầu óc cứ vổ cánh bay, bay về những kỷ
niệm tươi đẹp của ngày xưa. Lướt trên những trang tin điện tử, đọc
lại những câu nói của qúy Thượng tọa, qúy Thầy, qúy bằng hữu, qúy Anh Chị qua lễ
hỏa táng của vị Thầy kính yêu, Hòa Thượng Thích Mãn Giác được đăng tải
trên www.giaodiemonline.com lòng
tôi lại mang mang thương nhớ những kỷ niệm tươi đẹp dù ít ỏi mà
tôi và các bạn đạo của tôi có được với Thầy! Trong số các bạn đạo của
tôi thời bấy giờ có mặt Tôn Thất Mạnh Lương, Anh Vĩnh Tùng ; Về sau có mặt Lê
Duy Đoàn, Thái Nguyên Hạnh, Nguyễn Phi Tấn là những người hoặc là đồng
môn hoặc là cùng có cơ may cùng gặp Thầy với nhau.
Lần đầu tiên, tôi được hội ngộ với Thầy là năm
1965, tôi mới 18 tuổi, ghi danh lớp Dự Bị Văn Khoa, Đại Học Huế. Thầy ở Nhật
mới về (?) dạy chúng tôi môn Văn học. Chỉ qua vài tiết học là tôi nói với bạn
thân của tôi: Thầy Mãn Giác có một nụ cười của Đức Phật, một giọng nói của
một Thiền Sư (mặc dù bấy giờ tôi chưa từng diện kiến thiền sư nào cả , có
thể đó là thiền sư trong tâm tưởng của tôi). Hôm đó là bạn Phạm văn
Rơ, cùng học song song APM với tôi , Hồ Đắc Duy và Võ văn Cần . Tôi
tìm thấy trong hình ảnh của Thầy Mãn Giác một Tổng hòa của một Nhà Sư, một
Nhà Thơ và một Người mang Hạnh Dấn Thân vào cuộc đời . Về sau tôi mới
thấy rằng Thầy Mãn Giác đã khởi hành cho một cuộc Dấn Thân vào Sự Nghiệp
Văn Hóa Đạo Phật để cứu độ cho Đời! Thầy có mở lớp dạy Nhật
Ngữ dĩ nhiên miễn phí, thời bấy giờ nước Nhật chưa mời gọi ai được.
Chúng sinh bu đi học tiếng Anh. Thế mà chúng tôi, các phật tử đều
có đi học với Thầy. Riêng tôi và Phạm văn Rơ vì bận bịu chương trình APM
nên phải xin thôi sau một tháng rưỡi .
Năm 1966, thế cuộc xoay vần, cơn lốc chiến tranh, bạo lực
cuốn vào các thành phố. Phong trào tranh đấu Phật Giáo bột phát, dù
dưới hình thức nào đi nữa thì cũng muốn diễn đạt ý nguyện của mọi
người, đó là PHỦ ĐỊNH CHIẾN TRANH. Phe phái nào đi nữa, hễ ai
có đôi chút công tâm đều thấy rõ cuộc chiến tranh kéo dài này đã
mất hết tính người với biết bao phương tiện hiện đại làm hao phí mất
sức mất của , tàn phá môi trường, tàn phá mọi thiết chế tâm linh của con
người ở khắp mọi đất nước không chỉ ở Mỹ và Việt Nam, biến con
người thành những cỗ máy thác loạn tàn bạo dã man còn hơn bất kỳ một con
thú dữ nào, không thể nhân danh bất kỳ một chiêu bài nào cho những tội ác diệt
chủng như thế. Những phong trào Phật Giáo được phát động, bằng
những Phật tử và những tăng sĩ Phật Giáo là muốn vạch rõ khuôn mặt tàn bạo
và phi lý của chiến tranh với những hy sinh tự nguyện, và biết bao nhiêu là mất mát
mà chúng ta có bao giờ đòi phải bồi thường đâu, và đòi
ai đây và cho ai đây!
Sau phong trào tranh đấu 1966, tôi không nhớ là còn
gặp được Thầy nhiều lần không, nhưng có một lần có gặp Thầy với Tôn
Thất Mạnh Lương chỉ để nghe Thầy đọc THƠ của hai triều đại Mãn
Giác. Mãi cho đến khi anh Bửu Tôn gặp chúng tôi đề nghị thành lập lại Đoàn
Sinh Viên Phật Tử Huế, cuối năm 68 , nếu tôi nhớ không lầm . Chúng
tôi đã thành lập lại Đoàn nhờ công lao đi kết hợp lại của Thái
Nguyên Hạnh . Trong một cuộc hội họp ở trụ sở trong khuôn viên chùa Diệu Đế
với khoản 50 svpt cũ và 20 svpt mới mọi người bầu ban chấp hành. Bác sĩ Trừng
là Chủ Tịch , Lê Duy Đoàn và Cao Hữu Điền là hai phó chủ tịch cho có
vẻ quan trọng, chịu đấm ăn xôi, Thái Nguyên Hạnh, Một Chỗ Chung làm Tổng
Thư Ký, Nguyễn Phi Tấn làm Trưởng Ban catechisme, Phan Hữu Lượng làm trưởng
ban Văn Nghệ. Thời đó Trịnh Công Sơn viết rất nhiều về khát vọng hòa bình
của dân tộc , những bài đó thường được hát lần đầu tiên là với
chúng tôi, vào thời đó anh Ngô Kha và anh Bửu Tôn là hai người cố vấn cho
chúng tôi. Như bàiKhi Đất Nước Tôi Thanh Bình, Tôi sẽ đi thăm, mà anh
Quán Như Phạm văn Minh nhắc đến trong đêm nhạc Thái Hòa - Trịnh
Công Sơn vừa qua ở SYDNEY . Tôi cũng như anh rất thấm thía bài này.
Trong đó câu cuối (?) tôi thích nhất: Khi đất nước tôi thanh
bình tôi sẽ đi không ngừng…. Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam,
Tôi đi xây cuộc mừng... Và mong sẽ quên Chuyện Đất Nước
Mình!
Tôi xin trở lại với Lớp dự bị văn khoa 1965, để
nhắc đến một người Anh , Người Thầy nữa của chúng tôi, đó là Thầy,
Anh Hoàng văn Giàu. Trước đó tôi biết Thầy, mà Thầy không biết tôi, tôi là
một học sinh Phật tử mờ nhạt và thiếu chuyên cần của Ông Anh Tôn thất Mạnh
Lương, ít ăn, nên chỉ nặng 42 kilô là khi phong độ nhứt. Ít
nói nên không ai biết là lúc thi đậu càng cua vào trường Nguyễn Tri
Phương, học một lớp với bạn thân muôn thời Nguyễn Tường Bách. Chủ Nhật nào
tôi cũng đi bộ hoặc đôi khi có chú Cao Hữu Hỷ của tôi chở xe đạp lên
Trà Am xem người ta tập võ Thiếu Lâm và thinh thoảng được Thầy Mật Hiển
khai tâm. Cũng là một duyên lành, vì sau một lần lên ăn kỵ với Ông
Chú tôi, không hiểu vì sao tôi mê mẫn cảnh trí một ngôi chùa , rất là đìu
hiu mà rất là an tịnh. Những khóm trúc xanh tươi bên bờ con suối, róc rách một
bài ca thanh khiết . Những cảnh trí như thế làm cho những tâm hồn mộc mạc như của
Nguyễn Tường Bách và của tôi thấy bình an, bớt đi nhiều nỗi sợ hãi vô
minh của cuộc hiện hữu. Khi đọc bài Nhớ Chùa của Thầy Mãn Giác
hoặc hát lên bài Từ Đàm Quê Hương Tôi của Nguyên Thông (tức là
Thầy Thông Đạt – Văn Giảng) là tôi bỗng thấy tinh tấn, hùng mạnh, từ trên
mây bỗng len lén ban xuống những niềm vui bình yên cho kiếp thế nhân.
Vâng, có lẽ Anh Hoàng văn Giàu cũng như tôi, làm sao mà
nhà giáo lại nhớ hết học trò của mình được, có chăng là vài cô hiền lành
và vài cậu thông minh. Nhưng học trò lại rất nhớ đến Thầy, nhất là những người
Thầy, gặp một lần đầu là đã gây ấn tượng như Thầy Hoàng văn Giàu. Thời bấy giờ
Thầy dạy môn Triết học Đại cương cũng như Thầy Lâm Ngọc Huỳnh . Học với Thầy
Hùynh là ngồi nghe và ghi cua. Còn một buổi học với anh Giàu là một cuộc thảo
luận, hỏi và đáp với giọng nói lanh lảnh sắc bén, không thiếu không thừa,
những chuyên đề thì cân bằng , kinh viện có và giải trình qua thực tiễn
cuộc sống hiện đại cũng rất nhiều! Nhưng tôi yêu mến nhứt là khi đứng trên hành
lang Morin, vào giờ giải lao, đó là những giây phút của trái tim người Phật tử
với người Phật tử. Thời đó lính Mỹ vừa đổ bộ bằng tàu biển vào
Nam Ô, Đà Nẵng. Tôi lo âu hỏi rằng, sự kiện đó sẽ đưa đến đâu.
Anh điềm tỉnh bảo: Chiến tranh sẽ khốc liệt hơn và mỗi một chúng ta thế
nào cũng sẽ bị cuốn vào vòng xoáy đó không cưỡng lại được. Chúng ta
có thể làm gì trên cương vị người Phật tử? Chúng ta không có chỗ nào để
núp và chờ , chúng ta chỉ có thể bơi vào vòng xoáy đó, và tùy theo cơ duyên mà
làm được điều gì thì làm. Hãy luôn luôn hành trì tinh tấn, kiên trì giữ
cho bằng được cái tâm của người Phật Tử. Từ đó, tôi rất thường nhớ đến câu
nói của Thầy Hoàng văn Giàu.
Xin kính trở về với kỷ niệm cùng Thầy Mãn Giác! Năm 1970,
tôi dạy học ở trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị. Đang dạy trên lớp thì Thái
Nguyên Hạnh đi xe Hôn Đa từ Huế ra, vào trường bảo: Thu xếp về lấy áo quần
rồi mình chở vô Huế , Thầy Thiện Minh bảo chở Ông vô thông dịch cho
phái đoàn Nhật Bản. Thế là tôi chạy về nhà Thầy hiệu trưởng Thái Mộng Hùng
xin phép và chạy đến xin anh Nguyễn Thiện dạy thế cho một tuần. Vào Huế thì
cũng chỉ đi ăn cơm chay vì có Thầy Mãn Giác dịch tiếng Nhật rồi. Sau đó Thầy
Thiện Minh bảo Thái Nguyên Hạnh, Lê Duy Đoàn và tôi đi họp Đại hội Sinh viên Phật
tử ở Đà Lạt. Tôi về làng Thầy Thiện Minh, Bích Khê, dự trai đàn chẩn tế với
anh Tôn Thất Hoán và anh Tư Đồ Minh (đang chiến dịch tranh cử dân chủ tự
do!). Xong Thầy Thái Mộng Hùng cho tôi vào Huế đi dự Đại hội ở Đà Lạt ,
và anh Đỗ Trinh Huệ dạy thế cho! Lần này gặp lại được Thầy Mãn Giác. Noel 1970,
họp mười ngày, tôi không muốn về miền Trung, gặp anh Trần Xuân Kiêm đang làm ở
trường Bồ Đề, tôi thấy tôi cũng có thể núp và chờ như anh Kiêm, xin dạy và cạo
đầu xuất gia chẳng hạn. Ở lại mười lăm ngày sau đại hội với chú Minh An,
và chú Nguyễn Thanh Phương, người làm thơ tình thanh khiết dưới bóng cây Từ
Đàm. Đi rong chơi chờ ngày Thầy Từ Mãn đồng ý cho đi tu .
Thời đó thật hoang tưởng và thơ mộng. Sáng đi uống café
Hòa Bình, Domino, trưa nhịn đói lên đồi với Trần Nhơn, Huy Lùn, Đương Điên,
Phương Điên (Sau 75 về Huế thành Phương Xích Lô). Ôi những chàng Anh Hùng trốn
lính của một thời hoang dại! Lên đồi nhìn xuống cỗng vào hãng rượu Lafaro ,
trông chờ hai nàng kiều nữ Thục Hạnh, Thục Hiền ra vô. Trong bụng không có một
hạt gạo. Tối về, có khi ghé nhà Phương Lê Uyên, khi đó vừa mới nổi tiếng, hoặc
về chùa chia nhau mấy tô cơm mà nhà thơ tốt bụng Chú Phương thân tặng! Chú
Phương Sông Hương còn nhớ hay là đã quên! Một hôm, hai người khách lạ lên chùa
vào buổi tinh sương. Tôi đang ngồi trên tầng cấp , thấy họ vào chùa gặp Thầy Từ
Mãn. Chốc sau họ đi ra gặp tôi, tưởng ai té ra anh Tư Đồ Minh. Khi đó Đà Lạt
- Huế có chuyến bay, nên chi anh Minh bảo thôi về Quảng Trị, đi dạy lại
đi, học sinh nó chờ tội, mà chú Cao Hữu Đồng không cho Điền đi tu mô. Một lần nữa,
tôi giã từ giấc mơ hoang dại lẵng lơ, nhận vé máy bay đi với anh Tư Đồ Minh về
chốn phố phường!
Về sau, tôi đi tu nghiệp ở Sài Gòn và hay ghé thăm, thưởng
thức phong dáng của Thiền Sư Thích Mãn Giác. Xin Cám Ơn Đời cho những Hạnh Ngộ!
…
Thân mến,
Caohuudien
(28-10-2006)
No comments:
Post a Comment