Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Wednesday, 3 June 2026

 GIỌT NƯỚC MẮT TIẾC THƯƠNG


Cứ mỗi lần về quê xưa thăm mẹ già, tôi lại có dịp đến thắp hương trên

mộ Cha. Đã hơn ba mươi năm trôi qua, kể từ ngày Cha nắm tay tôi, nước mắt

lưng tròng, khi tôi từ biệt Người ở bệnh viện Sùng Chính, quận 1 Sài gòn. Để rồi

vài giờ sau đó tôi từ giã Mẹ, các em, bà con quyến thuộc, lên máy bay giã từ quê

hương. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại cha tôi nữa.

Hôm ấy, sau lần về Sài gòn dự lễ Thượng thọ Mẹ già, tôi cùng em trai lại

đến thăm mộ Cha. Dưới nắng hè đổ lửa Miền Nam, trong không khí oi bức ở

khu nghĩa địa Gò Dưa, Thủ Đức, tôi đứng lặng nhìn bức ảnh trên bia mộ Cha mà

cảm thấy lạnh lẽo cô đơn ! Cha tôi nằm đó, đã bao mùa thu qua. Đôi mắt sáng

ngời của Người trong bức ảnh khi còn trẻ như chăm chú nhìn tôi, nghiêm nghị

và buồn bã. Có lẽ trong đời, cha tôi hiếm khi rơi nước mắt, ngoại trừ lần gặp lại

tôi từ trại tù “cải tạo” Thanh Hoá trở về nhà năm 1981; và lần thứ hai, khi tôi

rời quê hương đi tỵ nạn ở Mỹ năm 1992.

Ngay từ thuở bé tôi ít được gần gũi Cha. Anh em chúng tôi rất thương

mến Cha; tuy nhiên với vai trò nghiêm phụ, với giáo dục khắc khe, cha tôi ít khi

thân mật với các con. Nếu có những giọt nước mắt của Cha khi tôi sống sót từ

chốn ngục tù Cộng Sản trở về, cũng như khi tôi sắp đến một xứ Tự do để tỵ nạn,

thì thuở thơ ấu của tôi, cũng đã có nhiều giọt nước mắt của đứa con bị cha

đánh đòn; hay những giọt nước mắt của Mẹ đau buồn vì tính tình bay bướm,

đam mê của Cha.

Thật ra, Mẹ tôi rất sung sướng trong mối tình đẹp và thơ mộng của hai

người khi mới yêu nhau. Mãi đến khi đi làm việc ở Sông Cầu, cuộc sống đôi vợ

chồng son ấy vẫn đẹp như trong chuyện cổ tích. Tôi chào đời trong một gia đình

êm ấm tại thành phố Sông Cầu nên thơ ấy. Có đứa con trai đầu lòng như tôi là

niềm vui sướng của gia đình, nhất là mẹ tôi. Bà thường kể lại đêm đợi chờ “khai

hoa nở nhụy”, các bà bạn đã vui mừng chuẩn bị cho cuộc “đi biển một mình”

của bà. Họ ngồi với nhau suốt đêm, ca hát, kể chuyện vui để mẹ tôi thêm can

đảm.

Đến ngày “thôi nôi” lúc tôi tròn một tuổi , Cha mời Bà Nội tôi từ huyện

Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, đi xe đò qua đèo Cù Mông vào Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

thăm cháu nội đích tôn- đứa cháu “nối dõi tông đường” của dòng họ! Mẹ tôi

quý trọng niềm vui ấy nên cất giữ tấm ảnh trong hơn bảy thập niên. Trong ảnh,

Bà Nội đang bế cháu, bên cạnh cha Mẹ tôi. Niềm vui chẳng những bừng sáng


trên nét mặt tươi trẻ của Mẹ mà còn lan toả trên gương mặt của Cha và Bà tôi

nữa!

Nhưng khi đứa em trai của tôi ra đời hai năm sau, không khí gia đình đã

đổi khác. Mẹ bận việc dạy học, rồi về nhà chăm sóc hai anh em chúng tôi, nên

Cha thiếu người tâm sự. Ngoài việc đánh banh tennis, Cha không có bạn thân, vì

những công chức ở Sông Cầu lúc bấy giờ lớn tuổi cả. Dịp Tết các ông bạn rủ

nhau đánh bài Tây, Cha tham gia vui vẻ, Mẹ rất vui mừng.

Nhưng nỗi hân hoan của Mẹ kéo dài chưa được bao lâu, Cha lại say mê

văn chương, bận bịu viết lách, giao thiệp bạn bè. Ngoài thời gian đến sở làm,

Cha đi đánh tennis với bạn bè đến gần tối mới về. Mẹ ở nhà vò võ một mình với

hai con thơ và người giúp việc! Thuở ấy, dù còn bé tí, chỉ biết khóc nhè khi vắng

Mẹ, chỉ biết tranh giành đồ chơi với đứa em hai tuổi, nhưng tôi đã cảm nhận

được nỗi buồn sâu kín của Mẹ. Riêng hai anh em chúng tôi ít khi được gần gũi

với người cha luôn say mê viết lách nên rất lạt lẽo tình phụ tử!


* * *


Sau Cách mạng tháng Tám 1945 các công chức, phần lớn “dinh tê về

thành”. Riêng cha tôi vẫn ở lại vùng Việt Minh kiểm soát. Đến năm khởi đầu

cuộc “toàn quốc kháng chiến”, mẹ tôi bồng bế các con, cùng cô giúp việc lên xe

lửa rời Sông Cầu, về quê ở Phù Mỹ. Còn cha tôi di chuyển theo cơ quan đóng

lưu động ở các nơi hẻo lánh trên vùng cao, để tránh Tây đi “ruồng bố “.

Năm 1952, Cha tôi xin nghỉ việc, về quê dệt vải nuôi gia đình. Vào thời

điểm ấy các trường học, chợ búa thường họp vào ban đêm để tránh máy bay

Pháp oanh tạc. Phần tôi, người con trưởng ở lứa tuổi mười ba, phải nghỉ học để

phụ Cha dệt vải. Khi trời về chiều, tôi theo đoàn người lớn tuổi, đi bộ mười cây

số để đến chợ buôn bán vải gặp Cha. Khi xong việc, Cha chở tôi trở về nhà.

Có những đêm trời đổ mưa bất chợt, hai cha con vào trú trong chiếc

quán nhỏ ven đường, ăn chiếc bánh bèo với nước mắm ớt cay nồng, uống bát

nước chè nóng hổi. Và trong khi chờ cơn mưa dứt hạt, cha tôi hát bài “Quán

Bên Đường” của Lê Trọng Nguyễn vừa sáng tác trước đó mấy năm:

Đây quán bên đường, mái khói lên chạnh nỗi lòng.

Đây quán bên đường, chờ mong khách qua đường thương…


Cha ngồi nhìn mưa, giọng hát nho nhỏ buồn buồn. Phải chăng đó là phút

ngẫu hứng của một người có tâm hồn nghệ sĩ ? Hay đó chỉ là biểu hiện nỗi buồn

phiền của một người đã sa cơ lỡ vận? Tôi không rõ lắm! Tuy nhiên tôi nghe hát

mà lòng xúc động, thật mến thương Cha!

* * *

Đến tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn bị những kẻ thắng cuộc “giải phóng”,

người dân “Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ..” như Trần Dần đã thấy ở Hà Nội

năm 1954, gia đình chúng tôi như sống trở lại thời kỳ “kháng chiến” cùng khổ

1946-1954! Ngày tôi lên đường đi tù “cải tạo”, Cha nhìn tôi lo lắng ái ngại. Có lẽ

những tháng năm làm việc với Việt Minh trước năm 1954 khiến cha tôi tiên

đoán cuộc sống gian lao và trường kỳ sắp tới của đứa con sẽ trải qua trong trại

tập trung của Cộng sản. Sáu năm sau tôi được phóng thích từ tại Thanh Cẩm,

Miền Bắc, mang tấm thân tiều tụy, cõi lòng tan nát trở về nhà.

Tôi bước vào nhà Cha Mẹ trước sự ngỡ ngàng lẫn mừng vui của gia đình.

Cha tôi đang nằm trên giường, ngồi nhỏm dậy, vuốt mái tóc bạc phơ, ôm chầm

lấy tôi mà nước mắt lưng tròng. Mẹ cho biết, trong thời gian tôi xa nhà, Cha

không được khỏe. Tuy nhiên Cha vẫn cố gắng thức khuya dậy sớm, dịch các tiểu

thuyết của Pháp cho một nhà xuất bản ở phố Lê Lợi, Sài Gòn để có chút tiền

nuôi gia đ ình!

Sống lại cái xã hội cùng khổ, nhìn lại màu cờ đỏ như trong thời gian chín

năm kháng chiến trước đây, cha tôi lo buồn vô hạn. Hàng đêm Cha vẫn say mê

dịch sách, như để trải món nợ “văn chương cơm áo”. Ban ngày Cha đạp xe đi

thăm bạn bè, hoặc để “phục hồi sức khoẻ” sau cơn “tai biến mạch máu não”.

Một hôm, Cha bị một kẻ bất lương đi xe gắn máy đụng ngã, cướp chiếc mũ

“phớt” bằng dạ mới được người bạn nước ngoài gởi về tặng. Cha bị gãy xương

hông, không thể đi lại bình thường được.

Mỗi chiều, sau khi đi làm về, tôi thường cõng Cha tr ên lưng, đưa Cha vào

nhà vệ sinh. Những lúc ấy, hơi ấm của Cha như thấm vào vai, vào lưng tôi. Tôi

như sống lại cảm giác của ba mươi năm trước được Cha đèo trên chiếc xe đạp

từ Chợ đêm về nhà. Ngày tôi chuẩn bị hành trang lên đường đi tỵ nạn ở Hoa kỳ,

Cha phải vào bệnh viện, chuẩn bị mổ xẻ để thay xương hông. Từ đó tôi không

bao giờ được gặp lại Cha.


Năm năm sau, tôi được tin Cha qua đời. Người ra đi trong tâm trạng buồn

phiền, chán nản. Phải chăng đó là tâm trạng của một người mà trong quá khứ

đã có nhiều đam mê, đầy khát vọng nhưng không bao giờ được toại nguyện?!

* * *

Khi tôi vào nghĩa trang Thủ Đức thăm mộ Cha, trời đã về chiều. Tiếng xe

gắn máy ngoài đường lộ, tiếng người cười nói đâu đó, tiếng chó sủa bâng

quơ…tất cả những tiếng động của cuộc sống ngoài kia vọng lại, phá tan không

khí tĩnh mịch của khu nghĩa trang vắng vẻ.

Tôi nhìn ngôi mộ Cha, thấy tấm bảng đồng có khắc câu thơ tiếng Pháp của

Lamartine. Tấm bảng đã phủ mờ cát bụi; câu thơ của thi hào người Pháp sáng

tác từ năm 1820 vẫn còn đó, nhưng người Cha đam mê của tôi đã về bên kia thế

giới từ lâu! Có lẽ Cha vẫn còn yêu đời lắm, nên trước khi mất, Người vẫn con

tâm đắc với câu thơ tâm tình của nhà thơ Pháp, trong bài Le Lac: Ô temps,

suspends ton vol…(Thời gian hỡi! Xin hãy dừng cánh lại…)

Tôi cúi xuống lau tấm bảng đồng, để câu thơ Cha hằng yêu thích không phai

mờ theo năm tháng. Một giọt nước rơi xuống tấm bảng đồng vừa lau sạch. Tôi

nhìn lên bầu trời mùa hạ, bâng khuâng tự hỏi: Phải chăng trời Sài Gòn hôm nay

đang nắng rồi chợt mưa ? Hay đó chỉ là giọt nước mắt tiếc thương của người

con xa quê hương đã lâu, trở về đứng bên mộ Cha già kính yêu mà nay không

còn trên cõi đời này nữa?

****

Hôm nay, kỷ niệm ngày Father’s Day tại đất Mỹ này, tôi tìm trên mạng

một bản nhạc với chủ đề Cha. Tôi chọn bài PAPA do Paul Anka trình bày. Bởi tên

bản nhạc gợi nhớ kỷ niệm thời ấu thơ anh em chúng tôi thường gọi Cha Mẹ

bằng hai tiếng Papa, Maman.

Tiếng hát của người ca sĩ Mỹ vang lên trong buổi sáng tràn đầy nắng ấm,

khiến tôi nhớ đến thuở ấu thơ ở quê nhà mà tôi đã từ bỏ ra đi. Tiếng hát trầm

ấm thiết tha khi nhắc lại công ơn của Cha - Người suốt đời lo tìm việc làm để

nuôi sống gia đình; lo mua sắm áo quần giày dép cho chúng tôi:

Everyday my papa would work

To try to make ends meet

To see that we would eat

Keep those shoes upon my feet….


Tôi thơ thẩn bước ra hiên, ngồi nhìn những vạt nắng chan hoà trước

thềm nhà. Tôi bỗng thèm những cơn mưa bất chợt ở Sài gòn năm xưa, và nhớ

đến những câu thơ của Nguyên Sa “Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu…”.

Tôi chỉ mong có một ngày trở về quê cũ, đến đứng bên mộ Cha thương yêu,

nhớ thương Người đến rơi lệ mà ngỡ như những giọt mưa bất chợt rơi xuống

giữa mùa hạ ngập nắng Sài gòn.

Tam Bách Đinh Bá Tâm

No comments:

Post a Comment