CHAT GPT ĐÁNG NỂ THẬT.
(Dưới đây là câu trả lời của CHAT GPT trả lời chị Quản Mỹ Lan về lý do tại sao người Việt lại phải bỏ nước ra đi sau 30 tháng 4, 1975. Câu hỏi và câu trả lời được nhà báo Lý Trung Tín chuyển tiếp)
Thưa các bạn,
Bây giờ chúng ta có Chat GPT. Khỏi nói, ai cũng biết đây cái trí khôn nhân tạo nó có khả năng tổng hợp, tìm kiếm mọi nguồn tin tức giúp cho chúng ta khỏi phải tự mình mò mẫm tìm kiếm, rất mất công và không đầy đủ. Vì nó KHÔNG phải là NGƯỜI cho nên nó vô tư và công bình, tuy vẫn có thể phạm sai lầm.
Tôi đã hỏi Chat GPT một câu hỏi, mà chính tôi đã biết câu trả lời. Như vậy, để tôi có dịp so sánh điều tôi nghĩ với câu trả lời của máy móc. Tôi hỏi, chỉ để SO SÁNH ý kiến của tôi và của "máy computer". Tôi thấy tôi đã nghĩ đúng như nó nói.
Tôi sẽ còn hỏi nó nhiều vấn đề khác. Tôi cũng muốn khuyến khích các bạn nên tìm hiểu mọi chuyện các bạn muốn biết, qua những sự thật trần trụi do máy móc tìm ra, không thiên kiến và không nói láo !
Để trả lời câu hỏi của tôi, Chat GPT đã đưa ra HAI lời giải đáp. Mong ông Lễ và ông Tuấn coi cả HAI lời giải thích.
TÔI HỎI (Quản Mỹ Lan):
Trong mấy ngàn năm lập quốc, người Việt trên giải đất hình chữ S đã trải qua bao nhiêu biến cố thay đổi vua chúa, chính quyền. Nhưng đã có khi nào mà con dân Việt phải bỏ hết mọi thứ quý giá trên đời: người thân, tài sản, mồ mả cha ông… để trốn chạy “đồng bào”, trốn chạy đất nước của họ! Vì đâu ra nông nỗi ấy!?
Response 1
Câu hỏi của bạn chạm vào một biến cố có tính chất độc nhất trong lịch sử Việt Nam – và đúng như bạn gợi ý, chưa từng có thời đại nào mà người Việt phải bỏ nước ra đi trong số lượng lớn, bằng mọi giá, chỉ để trốn chạy chính quyền do chính “đồng bào” của mình cầm quyền, chứ không phải để trốn ngoại xâm.
Dưới đây là một phân tích mạch lạc, dựa trên lịch sử:
1. Suốt hàng ngàn năm, chưa từng có “hiện tượng bỏ nước chạy” như sau 1975
· Thời Bắc thuộc: dân bị đô hộ nhưng không bỏ nước. Họ trụ lại, nổi dậy.
· Thời Lê–Trịnh–Nguyễn phân tranh: chiến tranh tàn khốc nhưng không có hiện tượng hàng trăm nghìn người vượt biên.
· Thời Pháp thuộc: dân bị bóc lột nhưng không xảy ra exodus.
· Thời Nhật đảo chính (1945), nạn đói: vẫn không có phong trào người Việt liều chết đi tìm một đất nước khác.
2. Tại sao chỉ có sau 1975?
(1) Chính sách trả thù và đàn áp sau chiến tranh
(2) Cải tạo công thương – tịch thu tài sản
(3) Chính sách hộ khẩu, tem phiếu – kiểm soát toàn diện
Trong bối cảnh ấy, cuộc sống không khác gì “bị nhốt”.
(4) Sự sụp đổ của tự do và quyền con người
(5) Sợ hãi truyền kiếp khi chứng kiến thực tế miền Bắc 1954–1975
Sau 30 năm bị cắt đôi, người dân miền Nam hiểu quá rõ:
3. Vì sao gọi là “trốn chạy đồng bào”?
Bởi vì:
· Họ không trốn ngoại xâm
· Không trốn thiên tai
· Không trốn những sắc dân khác
Họ trốn chạy chính quyền do chính người Việt nắm, nhưng mang một mô hình cai trị toàn trị, phi dân chủ, không khoan dung.
Đó là bi kịch lớn nhất của dân tộc trong thế kỷ 20.
4. Điều đau đớn nhất
Người Việt ra đi không chỉ bỏ:
· tài sản
· nghề nghiệp
· nhà cửa
mà còn bỏ:
· mồ mả tổ tiên
· ngôn ngữ
· quê hương gốc rễ
· và đôi khi là cả người thân bị kẹt lại
Không một dân tộc bình thường nào phải rời bỏ tất cả mọi liên kết căn bản nhất của đời sống như vậy – trừ khi họ không còn chọn lựa.
5. Vì đâu ra nông nỗi ấy?
Chỉ có một lời giải thích:
Khi một chế độ khiến người dân phải liều chết để rời bỏ, đó là lời phán xét nặng nề nhất.
Nếu bạn muốn, tôi có thể phân tích thêm:
· So sánh exodus Việt Nam với exodus Cuba, Đông Đức
· Tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại lại thành công rực rỡ
· Tác động tâm lý của “thuyền nhân” lên các thế hệ sau
· Vì sao đến nay vẫn còn người bỏ nước ra đi
Chỉ cần nói tôi biết.
I prefer this response
Response 2
Dưới đây là phân tích lý do vì sao lại xảy ra nông nỗi ấy.
1. Trong suốt mấy ngàn năm, người Việt chỉ bỏ quê để tránh giặc ngoại xâm — chứ không bao giờ bỏ nước vì chế độ của chính dân tộc mình
· giặc rồi sẽ đi
· đất nước vẫn là của mình
· chế độ sau chiến tranh vẫn để dân “sống được”
Chưa có triều đại phong kiến hay chính quyền nào trong lịch sử khiến hàng triệu người chọn con đường sống bằng cách bỏ nước vĩnh viễn, kéo dài suốt nhiều thế hệ.
2. Biến cố 1975: lần đầu tiên người Việt phải chạy trốn chính quyền do người Việt dựng lên
Đây là điểm duy nhất trong lịch sử Việt Nam:
· Hơn 1 triệu người di tản ngay sau 30/4/1975
· Hơn 2 triệu người vượt biên 1975–1995
· Hàng trăm ngàn người chết trên biển
· Hàng trăm ngàn người bị bán làm nô lệ, bị hải tặc cưỡng hiếp
· Và hiện nay tiếp tục có hàng trăm ngàn người rời bỏ quê hương mỗi năm bằng con đường hợp pháp
Không phải để tránh giặc ngoại xâm, mà để tránh chế độ Cộng sản Việt Nam — chính quyền được gọi là “đồng bào”, “anh em ruột thịt”.
Đó là bi kịch chưa từng có.
3. Nguyên nhân sâu xa: chế độ toàn trị đe doạ sự sống của người dân, chứ không chỉ đe doạ sinh kế
Sau 1975, nhiều chính sách của miền Bắc áp đặt vào miền Nam đã phá vỡ toàn bộ cấu trúc xã hội:
❖ Cải tạo công thương nghiệp
Tịch thu tài sản → người dân mất kế sinh nhai.
❖ Cải tạo tư tưởng
❖ Đánh tư sản – kinh tế tập trung – hộ khẩu
❖ Đổi tiền, tem phiếu, cấm chợ ngăn sông
Làm cả miền Nam nghèo đói như miền Bắc thời bao cấp.
❖ Kỳ thị “ngụy quân – ngụy quyền”
Nhiều thế hệ bị cấm đoán: học hành, nghề nghiệp, hộ khẩu…
Những chính sách đó tạo nên cảm giác:
Ở lại là chết dần chết mòn. Đi mới có cơ hội sống.
Và đó là lý do vì sao người Việt liều chết, bỏ cả mồ mả cha ông, bỏ cả người thân để ra đi.
4. Vì sao lại xảy ra điều chưa từng có trong lịch sử?
Có 3 nguyên nhân căn bản:
(1) Chủ nghĩa toàn trị
· tư tưởng
· kinh tế
· tự do cá nhân
· tôn giáo
· đời sống riêng tư
Khi nhà nước trở thành toàn năng, người dân trở thành vô năng — và chỉ còn con đường bỏ chạy.
(2) Ý thức hệ xem dân là đối tượng để cải tạo
Không coi dân là chủ, mà coi dân là “đối tượng” cần “quản lý”, “huấn luyện”, “xây dựng con người mới”.
Đó là mô hình xã hội biến dân thành công cụ.
(3) Sự chia cắt thành “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”
Sau 1975, thay vì hòa giải dân tộc để xây dựng đất nước, chính quyền coi một nửa dân miền Nam là:
· “ngụy”
· “tư sản”
· “phản động”
· “thành phần nguy hiểm”
Do đó, chính quyền Cộng sản trở thành mối đe dọa lớn hơn cả giặc ngoại xâm đối với họ.
5. Kết luận: Tại sao phải bỏ nước mà chạy?
Vì lần đầu tiên trong lịch sử:
Chính quyền không còn xem dân là chủ, mà xem dân là đối tượng để kiểm soát, trừng phạt và tái tạo theo ý thức hệ.
Vì vậy người dân phải chạy khỏi:
· Đất nước của chính mình
· Đồng bào của chính mình
· Một chế độ không cho họ quyền được làm người
Đó là bi kịch lớn nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20 — và ảnh hưởng của nó vẫn kéo dài cho đến hôm nay.
Nếu anh muốn, tôi có thể tóm tắt thêm:
· Thống kê chính xác về số người vượt biên
· Những nhân chứng từng là cán bộ cộng sản sau này phản tỉnh
· So sánh với các cuộc di tản khỏi Liên Xô, Cuba, Bắc Triều Tiên
· Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ niềm tin vào chế độ
....
------------------------------
Thưa Huynh Tôn Thất Tuệ,
Cách đây 3 ngày, tôi đã viết một thư chia sẻ với huynh về vấn đề Tôn Giáo, một vấn đề mà tôi cho rằng tối kỵ đối với những người có một tín ngưỡng khác với niềm tin của người theo Thiên Chúa Giáo, và tôi mong rằng những nhận xét của huynh về Công Giáo ngưng lại trước khi gây ra một cuộc tranh cãi căng thẳng, vô bổ giữa những người thuộc hai tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên, để trả lời cho thái độ ôn hòa của tôi, huynh lại tiếp tục viết những lời không thích hợp nặng nề hơn về đạo Công Giáo, có nhiều đoạn bôi bác tôn giáo của chúng tôi nhưng lại lèo lái như đó là những lời của người khác, không phải chủ ý của huynh. Cũng như khi huynh nói: “Tôi nghe nói thằng cha này dâm dật, ăn thịt, uống máu người. Nhưng không phải tôi nói đâu, mà là người khác nói đó nhé!” Thái độ này, theo tôi là không trung thực. Và nếu huynh viết những điều sai lạc về đạo Chúa mà lại dựa trên căn bản của một trí thức Phật Giáo, thì xin lỗi, tôi không nghĩ rằng huynh là một Phật Tử chân chính.
1-Theo giáo lý của Đức Phật, mọi vật đều là Vô thường theo chu kỳ: “thành, trụ, hoại, không” hay “sinh, trụ, dị, diệt”. Một khi đã biết mọi vật đều có “sinh” thì có “diệt”, vậy sao còn tạo ra những “nghiệp”, những hành động không tốt để rồi chịu hậu quả xấu? Nghiệp ở đâu ra? Nghiệp ở “Thân, Khẩu, và Ý”. Khi huynh suy nghĩ (Ý) để tạo ra sự cạnh tranh, đối đầu với tôn giáo khác qua Miệng nói (Khẩu), và Thân là dùng tay viết lên những điều mình suy nghĩ để đả phá người khác tôn giáo mình đang theo, huynh đã tạo ra môt cái “nghiệp” nặng, khó gỡ.
2-Chánh Niệm: Trong Bát Chánh Đạo, có một “đường” (Đạo) quan trọng mà người tu tập phải thực hành, đó là “Chánh Niệm”, nghĩa là phải quan niệm đúng về mọi sự vật chung quanh mình, phải nhận thức đầy đủ về hiện tại, không quá khứ và không tương lai. Huynh đã có quan niệm sai lầm về tôn giáo bạn, và lại còn muốn dạy dỗ người phải theo ý mình là đã mắc phải “Tà Niệm”.
3-Chánh Tư Duy: Một người tự nhận mình là trí thức Phật Giáo phải suy nghĩ đứng đắn, và lý luận đứng đắn, không tham, sân, si. Một khi mà còn “Tham” (tham dạy dỗ người khác), “Sân“ ghét, hận lý luận của người khác, và “Si”, mê mãi một điều gì hay, và tốt đẹp cho mình thì chưa có Chánh Tư Duy. Huynh muốn đem kiến thức mình hiểu biết về đạo Công Giáo ra mà giảng cho thiên hạ biết rõ “bộ mặt thực, xấu xa” của đạo Công Giáo, thì huynh vẫn còn “tham, sân, Si” nhiều lắm, và rồi lại còn lý luận lung tung, lộn ngược phải trái vấn đề, làm sao huynh có “chánh tư duy” được? Có chăng là “Lạc tư duy!”
4-Trong bài viết vừa qua, huynh có đề cập đến nhân vật Trần Chung Ngọc, thuộc nhóm Giao Điểm Phật Giáo, nhóm công kích Thiên Chúa Giáo dữ dội là không ngừng nghỉ, từ viết những bài báo ngắn, đến xuất bản cả một tập sách “Đối Thoại với Giáo Hoàng”, mạ lị của nhân vật lãnh đạo Công Giáo hoàn vũ. Tôi không muốn đề cập đến mục tiêu của nhóm Cộng Sản nằm vùng này, (trong đó có Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan), mà chỉ muốn phản biện những luận điệu của nhóm này qua một vị trí thức Phật Giáo, Tiến Sĩ Dương Ngọc Dũng, Tiến sĩ Phật Học tốt nghiệp Havard về Phật Học và là Giảng Sư Phật Giáo, để Tiến Sĩ vạch rõ âm mưu cùng sự ngu dốt của nhóm này. Dưới đây là những điểm tóm tắt từ cuốn sách vạch rõ thủ đoạn của nhóm Giao Điểm do Tiến Sĩ Dương Ngọc Dũng xuất bản (Xin cám ơn huynh Võ Văn Lượng, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Chuẩn Chi Quảng Tín, đã gửi tặng tôi cuốn này.) Những hàng chữ nghiêng dưới đây là của Tiến Sĩ Phật Học Dương Ngọc Dũng.
Nhân dịp đọc cuốn Đối Thoại Với Giáo Hoàng Phaolô II do nhóm Giao Điểm biên soạn và xuất bản (1995, Hoa Kỳ), tôi cảm thấy cần phải viết để phê phán tất cả những sai lầm nghiêm trọng đầy rẫy trong một tác phẩm đối thoại với Đức Giáo Hoàng được tiến hành do những người có bằng cấp Ph.D (tiến sĩ) và tự nhận có trách nhiệm phải bênh vực cho Phật Giáo… Ngay cái tựa đề "Đối Thoại" cũng đã sai lầm vì các trí thức Phật Giáo trong nhóm Giao Điểm (ngoại trừ một vài tác giả thực sự có ý định đối thoại) chỉ làm một việc là công kích Thiên Chúa Giáo một cách phiến diện, nông nổi chứ không hề có ý muốn đối thoại trong tinh thần bao dung tôn giáo. Một tác giả trong tuyển tập nói trên (Hoàng Hà Thanh) thậm chí lên giọng chưởi bới Giáo Hoàng là "bố láo. Nói xàm". (sđd:158)….
Như vậy làm sao có thể là đối thoại tôn giáo trong khi tất cả các trí thức Phật Giáo này đều tự cho là "hiểu" đạo Phật là đạo hiền hòa, từ bi, không sân si, tranh chấp với ai? Vậy thì tức giận vì sự hiểu lầm của một người thuộc về một tôn giáo khác thì có đúng với tinh thần đạo Phật hay không? Tại sao một người Thiên Chúa Giáo lại có bổn phận phải nghiên cứu tìm hiểu Đạo Phật? Tại sao các trí thức này không tự hỏi cái mà mình hiểu về Thiên Chúa Giáo như vậy có đúng là công bằng hay không? Tại sao tôi lại phải tìm hiểu biết, học Phật Giáo trong khi chuyên môn của tôi là thần học Thiên Chúa Giáo? Nếu Giáo Hoàng trả lời như thế thì các tác giả trường phái Giao Điểm nói sao?...
Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi chúng ta đọc đến những điều các tác giả viết về Phật Giáo thì mới ngã ngửa ra là ngay cả những người có bằng cấp đầy mình này cũng hiểu biết Phật Giáo một cách hết sức thô thiển. Đặc biệt là tác giả Hoàng Hà Thanh hoàn toàn chẳng hiểu biết gì cả về thần học Thiên Chúa Giáo và chỉ có những kiến thức mù mờ sai lạc về tư tưởng Phật Giáo nhưng trong bài viết lại có thái độ ngông cuồng ra vẻ ta đây thông thạo kinh đíển, siêu quán cổ kim, khoe khoang lố bịch "tôi vừa đọc xong hai cuốn Apology của Plato và Xenophon (tác giả viết sai thành "Zenephon"), tôi phải viết bài này nên tôi tạm ngưng đọc The Clouds của Aristophanes (tác giả viết sai thành "Aristophane") (sđd:176).
Tác phẩm "The Clouds" là một hài kịch Hi Lạp chế diễu Socrates, còn Apology của cả hai tác giả Plato và Xenophon thì bênh vực cho Socrates. Vậy thì có liên quan gì tới Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo? Tác giả Hoàng Hà Thanh "thông thái" đến nỗi tự dịch Phật Bà Quan Âm ra tiếng Nhật là "Canon" và còn chú thích thêm đây là tên hiệu một loại máy ánh (sđd:167). Nhật đọc là "KANNON" (Quan Thế Âm) chứ chưa bao giờ là "CANON" cả. Đã khoe khoang "kiến thức" như vậy rồi mà tác giả lại còn "ca" bài ca "khiêm tốn giả tạo": "Kiến thức của tôi chỉ như cọng cỏ bên khe suối" (sđd:176). Nếu tự thấy là kiến thức thấp lè tè như vậy thì viết bài khảo cứu để làm phiền người khác làm gì? Đó là chưa kể những đoạn thêm thắt tiếng Anh một cách lố lăng trong bài một cách không cần thiết ("Zen thinking" là cái gì khó đến nỗi không thể dịch ra tiếng Việt? Còn "tội tổ tông" có ông linh mục Mỹ nào gọi là "father's sin" đâu, trong khi ai cũng biết phải dịch là "original sin")…
Trong tất cả các tác giả tự nhận là trí thức Phật Giáo thuộc nhóm Giao Điểm, mở cả trường dạy Phật học Lý Trần, kể cả giáo sư Minh Chi thuộc trường cao cấp Phật học trong nước, không một ai có bằng cấp hay chứng minh thư cho thấy được đào tạo trong ngành Phật học. Không một ai trong nhóm toàn "Ph.D" này biết một ngôn ngữ Phật Giáo nào (Sanskrit, Pali, Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu, Hán cổ, Triều Tiên hay Nhật Bản) hay một ngôn ngữ thần học Thiên Chúa Giáo ( Hy Lạp, La Tinh, Do Thái cổ, Đức,… ) nào, vậy mà đủ can đảm viết về cả hai tôn giáo có truyền thống lớn vào bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Đòi đối chiếu, đối thoại mà không hề học qua tôn giáo học tỷ giáo (comparative religion), hiện tượng học tôn giáo (phenomenology of religion), xã hội học tôn giáo (sociology of religion) và thông thích luận (hermeneutics), nói chung là mù tịt về phương pháp luận tôn giáo học, thì sự đối chiếu và so sánh sẽ diễn ra trên cơ sở nào? Đâu phải chúng ta chỉ dựa vào một bản dịch vớ vẩn nào đấy bằng tiếng Việt viết về Phật Giáo cũ rích từ mấy chục năm, thì tự cho là đã quán thông đạo Phật và có quyền chê bai kẻ khác là dốt nát, không hiểu triết lý đạo Phật?...
Sự nghịch lý này cũng giống anh một anh thợ điện lên tiếng chỉ trích trình dộ hiểu biết vật lý của Einstein, hay Phạm Duy lại đi chê bai nhạc lý của Beethoven. Cần phải biện biệt rõ sở thích và học thuật. Anh có quyền thích Chế Linh, tôi có quyền thích cải lương. Anh theo Phật Giáo, tôi theo đạo Dừa. Nhưng một khi anh tiến hành phê phán sở thích, tôn giáo của người khác, anh đã bước vào vấn đề học thuật, tự biện, tranh luận, và không có quyền gán chữ "hí luận" cho người khác để che đậy mặc cảm thiếu tri thức của mình. Đây là một thái độ mù ám mà tôi thấy rất nhiều "trí thức" trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại vướng phải. Học hành nghiên cứu giáo lý Phật thì không ra gì, có người học hành nghiêm chỉnh hẳn hoi thì lại ra sức bôi bác, dè bĩu, cho là nệ tinh thần khoa cử.
Giống như tất cả các câv bút tự nhận là trí thức Phật Giáo như Lê Hiếu Liêm, Trần Văn Kha, Minh Chi, Nguyễn Phúc Bửu Tập, Trần Chung Ngọc có những hiểu biết hết sức nông cạn và hời hợt về tư tưởng Phật Giáo, điều mà họ hăng say bảo vệ một cách ngu xuẩn bằng cách mạ lỵ chưởi bới những người có đầy đủ khả năng để bàn đến vấn đề học thuật Phật Giáo. Tôi không viết bài này đề trao đổi học thuật với Trần Chung Ngọc vì chính tác giả tự nhận mình là “một Phật tử thấp kém” (Giao điểm 23 QNGTTPGVGTG: 28) - hay với bất cứ cây viết nào trong nhóm Giao Điểm.
Trần Chung Ngọc hoàn toàn có một thái độ tự mãn khi nhận định về khả năng tri thức và tư cách đạo đức của chính mình như trong câu trích dẫn sau đây cho thấy:
Viết bài này một Phật tử thấp kém như tôi cũng chỉ có một tâm nguyện: giúp cho người đời tự mình bước đi những bước chân vững vàng, an lạc trên mặt đất. Hay nói khác đi, theo Kinh Hoa Nghiêm nếu ai lạc đường thì tôi vì họ mà chỉ ra con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, và tôi cũng xin thêm: nếu ai lầm lạc mà rời xa dân tộc thì tôi vì họ mà hướng dẫn họ trở lại với quốc gia dân tộc (Giao Điểm 23: bđd:28).
Chỉ trong một câu viết này Trần Chung Ngọc bộc lộ thái độ thối tha nhất của một trí thức là khiêm tốn giả tạo: nếu tự cho là một Phật tử thấp kém sao dám cả gan cầm bút viết về những đề tài mình không hề có chút hiểu biết nào? Nhưng ngay câu sau thì lại lập tức tự đề cao mình lên ngang hàng với chính Đức Phật, làm “ngọn đuốc sáng” soi đường, “chỉ ra con đường chánh”. Trong văn hiến Phật Giáo nói chung chỉ có Đức Phật là người duy nhất được tôn xưng như vậy và bản thân Đức Phật khi nhận định về giáo lý của chính Ngài cũng chỉ so sánh nó với ngón tay chỉ mặt trăng. Còn Trần Chung Ngọc lại huênh hoang khoác lác hơn, tự cho mình là người dẫn đường cho kẻ khác, một cách gián tiếp tự cho mình đã đắc đạo thành Phật hay đã giác ngộ. Nhưng nếu đã đắc đạo hay giác ngộ sao lại phải kính phục Lê Hiếu Liêm và trích dẫn tác giả này khi bàn về Phật Giáo - trong khi bản thân tác giả họ Lê còn dốt nát trầm trọng hơn tất cả các tác giả trong nhóm Giao Điểm về Phật Học
Nhưng Trần Chung Ngọc cũng không thực sự hài lòng với việc giác ngộ hay thành Phật: “Ngài” còn có mục tiêu muốn lãnh đạo cả dân tộc Việt Nam nên đệm thêm vào câu trên một mớ sáo ngữ ái quốc rởm đời: “thì tôi vì họ mà hướng dẫn họ trở lại với quốc gia dân tộc”. Xin hỏi Trần Chung Ngọc: quốc gia mà ngài muốn nói đến là quốc gia nào khi ngài đang sống phè phỡn trên đất Mỹ? Hay ngài muốn cho rằng cộng đồng người Việt tại Mỹ là một quốc gia? Còn dân tộc mà Trần Chung Ngọc muốn hướng dẫn là dân tộc nào: Việt Nam, Mỹ, hay toàn thế giới? Nếu tác giả chỉ muốn hướng dẫn dân tộc Việt Nam thôi thì rõ ràng không phải là người Phật tử vì người theo đạo Phật, về nguyên tắc, không phân biệt quốc gia hay dân tộc trong việc giảng dạy giáo lý. Còn nếu Trần Chung Ngọc muốn hướng dẫn cả thế giới theo về con đường chánh (dĩ nhiên con đường chánh mà tác giả hiểu đây là Phật Giáo) thì chắc chắn phải xóa bỏ các tôn giáo lớn khác trên hoàn cầu (Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo v.v...) và yêu cầu họ quy y theo đạo Phật. Nhưng bằng cách nào ?
Thưa huynh Tôn Thất Tuệ,
Viết đến đây thì xin ngừng bút. Mong huynh bỏ chút thời gian đọc cuốn sách của Tiến Sĩ Phật Học Dương ngọc Dũng, trong đó có rất nhiều lý luận sâu sắc mà chúng tôi, người Công Giáo, rất tâm đắc.
Một lần nữa, chúc huynh Thân Tâm Thường An Lạc.
Chu Tất Tiến. 19 tháng 12, 2025.
1.- Đức Phật nói người nào muốn thuyết giảng, hoằng dương giáo lý của Ngài thì chỉ nên nói giáo lý ấy mà thôi, không cần phê bình ai hết. Giáo lý của Phật là ánh sáng thì ánh sáng đẩy lui các bóng đen. Theo kinh Pháp Hoa, nói về Phật pháp bạn phải "vào nhà Như-Lai, mặc y Như-Lai, ngồi tòa Như-Lai. Nhà Như-Lai chính là tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, y Như-Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như-Lai chính là nhứt thiết pháp không".
2.- Sách của ông Cao Huy Thuần (luận án tiến sĩ) người ta nói với tôi, quá ít, chừng đó thấm chi. Không biết quá ít hay quá nhiều. Nhưng tôi đã đọc cuốn The Fall of the Church của linh mục Dòng Tên ...Reich nói những điều không thể tưởng tượng như Borgia...viết như Kim Dung viết. Những sách loại nầy nói về tổ chức tôn giáo. Giống như Web Hồn Việt nói rõ họ quyết liệt chống tổ chức Phật Giáo bị CS thao túng trước vào sau đảo chánh hạ ông Diệm nhưng không nói gì về giáo lý của Đức Thích Ca. Sách của ông Thuần được ca ngợi chính xác vì ông dùng văn khố của Missions Étrangères de Paris thành lập 1663 ghi lại các sự truyền đạo hải ngoại. Như vậy những archives nầy không liên quan đến Jesus lúc còn sống và bà Maria. Tôi chưa có dịp đọc toàn bộ cuốn sách chỉ đọc phần tóm lược. Giáo sư triết gia Nguyễn Văn Trung (tu xuất gần thành linh mục) đã đề cập việc các họ đạo dùng luật địa ốc Pháp tịch thu ruộng của nông dân, cha truyền con nối cày cấy, không có bằng khoán (thẻ đỏ, thẻ chủ quyền).
3. Ông Trần Chung Ngọc là một hiện tượng nhưng ông không phải là người duy nhất làm cho nhiều người Christian (Catholic và Protestant) hoãn sợ. Nếu tôi không nhầm ông là tinh thần của Nhóm Giao Điểm.
Cao điểm của sự chống đối nầy là nói Vatican tiếp nối truyền thống ăn thịt người của chủng tộc Baal ăn thịt người nướng vừa ăn vừa tụng niệm, danh tự cannibalisme do chữ Baal mà ra. Đã từ bỏ việc ăn thịt người chuyển qua bánh thánh và rượu. Về ngôn ngữ, cannibal do một chữ Spanish, trước đó nữa do Baal mà ra hay không thì không ai biết. Nhóm người Baal có tục giết trẻ con cúng thần linh rồi ăn thịt như đưa thần linh vào người; tuy vậy Thánh Kinh Do Thái và TCG cũng như Coran xem giáo chủ tên Baal là một con quỷ chống các đấng thờ phụng thì không lẽ TCG theo Baal chăng.

No comments:
Post a Comment