Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Friday, 15 August 2025

 



CHỢ ĐÔNG BA XƯA 

THƯƠNG NHỚ BIẾT MẤY CHO VỪA

Tôn Thất Tuệ

Chùa qua chùa về trên internet có bức hình đen trắng chụp một góc của chợ Đông Ba nhưng là một toàn cảnh gồm cả Ngự Bình và Kim Phụng, bức hình của một nhà nhiếp ảnh ở Đà Nẵng và xuất hiện trên một web bán ảnh cũ khắp nơi trên thế giới, với thời gian không chính xác là thập niên 1950.

Tuy ở Huế, chúng tôi không biết lúc nào bến xe cũ đã chỉnh trang thành bến xe rộng rãi như trong hình. Tôi chỉ nhớ sau 1954, nhiều nhà phố hai đường chính Trần Hưng Đạo và Phan Bội Châu (Gia Long) đã lên lầu như nhà sách Gia Long mới, hay nhà thuốc tây cạnh Ty Thông Tin.
Tiền thân của bến xe khang trang nầy là vùng đất thấp dưới chân cầu Gia Hội ngay ở ngã ba sông; dân chúng chưa chiếm hết mà chỉ ở quanh sông với nhà tranh, nhà tôn, ở đấy có bến đò từ Đập Đá qua. Dân chúng đi bộ từ bên Gia Hội qua hết cầu thì xuống một bực cấp khá cao và rất dài, để vô chợ, xuống đò Đập Đá hay đi xe buýt.
Xe buýt Renault xanh xuất hiện lần đầu tiên cuối 1949 với ba xe chính số 1 An Cựu, số 2 Bao Vinh số 3 Bến Ngự và gia tăng rất nhanh với số lẻ Hữu Ngạn số chẵn Tả Ngạn.
Bến xe nằm ở chỗ thuận tiện vào thời xưa đi bộ hay thuyền xuồng nhưng xe vô ra rất khó. Đi vào chỉ là một con đường nhỏ rẻ từ Trần Hưng Đạo và đi ra bằng một con đường nhỏ chen giữa các nhà tranh chiếm đất, tiếp tục đi sau chợ rồi đến cầu Trường Tiền, chạy ra Trần Hưng Đạo quanh co mấy nhịp. Giữa tam giác đất rất nhỏ tạo nên bởi hẻm đi vào, Trần Hưng Đạo và hông bậc cấp có cà phê Phấn và trạm biến điện. Cả khối nầy đã được giải tỏa, mở đường cho xe buýt vô ra không cần chạy sau chợ nữa. Phía ngoài chúng ta có một ngã năm, tạo nên bởi Phan Bội Châu, đường bến xe, hai đường Trần Hưng Dạo và cầu Gia Hội. Không có bùng binh cột đèn, chỉ thấy cảnh sát đứng
trên bục sắt điều khiển lưu thông.

bến xe đầu tiên
Như vậy nếu đúng trong thập niên 1950 thì việc cải biến e chừng 1958.
Hình cho thấy vài ki ốt mới, làm cho nhiều người hỏi vì sao không thấy bản hiệu Lạc Sơn. Lạc Sơn nhìn ra Trần Hưng Đạo. Tôi nghĩ kiến trúc nhỏ nầy hình thành khi cải thiện bến xe, vì lúc đầu bước xuống xe là vô ngay đình. Có thể kể cả ngôi nhà mái đen bên phải tấm hình; dãy nầy có trạm cảnh sát Phú gì đó, Phú Cát? và cà phê Phấn dọn vô. 
◙
Từ bức ảnh, tôi xin sơ phát ký ức về ngôi chợ muôn thuở trong tâm hồn nay đã biến dạng. Nói về thập niên 1950.
Giữa bốn dãy nhà lồng (nói theo trong Nam) hay là đình xếp thành một hình vuông, chỉ có tháp đồng hồ mang hình thái kiến trúc cùng với đình. Phần còn lại như một khu nhà lụp xụp, lô nhô nóc nhà. Đó là những quày bán hàng, là những ki ốt di chuyển được, không có cột chôn xuống đất; chỉ là những cái sạp bằng gỗ. Lòng chính giữa bốn chân gỗ là một hình vuông 5m x 5m nhưng mở cửa bày hàng làm cho không gian chiếm ngụ có 10m một bề.
Mấy chục hay cả trăm nóc gia nầy bán những thứ không có trong bốn đình, và là khu vui nhộn, người chen người, không thư thả như trong đình, vừa rộng vừa cao.
Đại để, đình bên phải ngay sau bến xe là đình gạo và đình đường. Ôi cái đình nó ngọt làm sao mà các cô bán đường thì đẹp làm sao, áo dài đài cát không khác gì mấy cô đi học. Đường đủ thứ, đường cát, đường muối, đường bánh, đường phèn, đường phổi. Dân chuyên nghiệp nghễ, tay sành điệu (connaisseur), hãy vào đấy mà nhìn, lắm lúc được bố thí một nụ cười, không bị nguýt như dao sắc; một Lan không còn thấy trên đường Phan Bội Châu vào giờ đi học có thể thay mẹ bán đường hay bán nón.
Nếu bán nón thì đình bên trái đối diện là đình hàng nón. Vâng, hàng nón thơm mùi dầu rái ngây say không xáo trộn như Eau de Cologne. Hàng nón nầy thu hút nam sinh nhiều hơn nữ sinh, người nghễ thì nhiều, người mua thì ít. Học sinh nghèo làm gì có tiền mua cái nón tặng nường. Mà nón hả? cả cây nón, gồm hơn trăm cái nón. Mấy cô tom góp nón các nhà chằm đem tới, đóng thành cây nón chở đi Saigon. Noái Saigon không đội nón là sai.
Trở về đình gạo, có những sạp gạo như sạp đường và những người gánh đôi thúng, ngồi dưới đất. Mùi vị hàng đường chỉ thuộc tâm lý nhiều hơn. Nhưng mùi hương của hàng gạo là mùi cám thật, nặng hơn mùi hương lúa ngoài đồng. Không thấy bán gạo tạ, muốn mua gạo tạ thì ra Hàng Bè như tiệm Nam Lai hay tiệm của thầy Phiên. Những thúng gạo được vun thành hình tháp, và khi các bàn tay vun lên thì hương của cám tỏa ra. Vẫn còn thấy những ống gạt bằng tre bóng lưỡng, những cái ô đã nhẵn vì tay cầm. Các bà bán gạo thường lớn tuổi hơn các cô bán đường, những thiếu phụ trông đảm đương; không đường có thể sống nhưng không gạo chỉ có chết thôi.
Cái đình phía sau gần sông là đình cá và đình thịt. Đình còn lại phía trước bán hàng xén, vật dụng như chén bát, đèn đuốc, kim chỉ v.v...
Ở giữa chợ là một cái miễu, chỗ thờ, nằm dưới tháp đồng hồ. Quanh miễu là hàng thợ mã, treo những con nộm áo quần màu mè, quần đỏ, quần xanh; áo vàng, áo tím, áo kép xanh đỏ tím vàng, quần đôi hai màu, báo trước thời trang cho mấy chục năm sau. Huế bây giờ còn nhiều sắc áo sắc quần nhiều màu hơn mấy con nộm nan nầy.
Những nóc gia lụp xụp trong hình bán những thứ không có trong các đình. Tôi biết chắc là hàng bông, rau cải. Người bà con của tôi có sạp rau ngay chỗ tiếp giáp của đình đường và đình cá. Ngày chợ Tết, tôi có đến phụ bán hàng. Khác với chợ Bến Thành Saigon, khu nội địa nầy không có hàng ăn. Muốn ăn xin bước ra Lạc Sơn, ngồi ghế sẽ có người bưng tận nơi, nào là cơm hến, nào là bún bò, nem lụi, nem nướng ...
Cái biết và nhớ của tôi e chưa được 5% của cái chợ. Một phần vì nhỏ quá, một phần tôi sống xa nhà không có dịp theo người lớn vô chợ. Tôi tự hỏi không biết có chỗ bán vải không, bán áo quần không? Tôi chưa đi ngang qua đình cá thịt. Những thứ trong các đình, không biết là cái gì, làm gì. Nhưng biết đường ngọt, gạo ăn và thấy thiên hạ đội nón.
◙
Tuy là chợ, Đông Ba thời xưa vẫn theo một nhịp sống thư thả; đi vào chợ còn thấy thiên nhiên, còn thấy bóng người, còn nghe tiếng nói; không lạnh lùng như dạo các mall bên Âu Mỹ.
Trai khôn tìm vợ chợ đông! Tôi chọn cô hàng đường, ngọt lên cay trái như đóa hoa đời, làm cho ong bay, làm cho ong say. Đông Ba xưa của tôi ơi, thương nhớ biết mấy cho vừa, chợ ơi!


Wednesday, August 6, 2025

 


TRƯỚC TRÒN SAU CŨNG TRÒN

Tôn Thất Tuệ

◙ Đây là bức tranh với tên Ngự Bình của Tôn Thất Đào, không biết năm sáng tác. TT Đào thì ai cũng biết là giáo sư hội họa, từng có bằng khen ở La Mã, Ý, đã từng là giám đốc trường Mỹ Thuật Huế, khi mới thành lập đặt tại Bến Ngự.
◙ Xin để chư vị bình luận. Chúng tôi chỉ thấy một ý tưởng rất tân kỳ, nó mang triết lý con người và ngoại cảnh không tách rời. Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Gia tài chỉ có tranh và một bình hoa thì đem đổ ra cho thế gian, ai lượm được gì thì lượm. Giống như kinh Phật là một suối nguồn bất tận nhưng chúng sinh tùy sức mà múc mà gánh; mưa xuống cây to cây nhỏ đều hưởng lộc của trời, bình đẳng đừng chê nhau ít nhiều.
◙ Ca dao Huế ai cũng thuộc lòng: Ngự Bình trước tròn sau méo. Nhưng nữ nhân mang cả khối không gian to lớn nầy thì trước của nàng tròn đã dành mà sau cũng tròn, sau không méo. Sau mà méo thì mần ăn cấy nỗi chi?! Mô Phật, đừng lật đật mà trật ra ngoài.---


Thursday, July 31, 2025


NGƯỜI SAIGON…XƯA
(không biết tác giả)

Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học.
Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y.
Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ. Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại.
“Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.

Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.
Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “Xích lô!”.
Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi:
“Anh chị đi đâu?”.
– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi:
“Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho”.
Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói:
“Mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường”.
Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng:
“Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.
Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại:
“Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà !”.
Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.
Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây:
“Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá!”.
Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không.
Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.


Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí.
Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt…. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát giác, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn!.
Bi giờ còn vậy nữa không? Cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở Sài Gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người SàiGòn!
Tui hỏi anh cyclo :
“Đạp từ rạp Rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu?”.
Anh nói “20 ngàn”. Tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”.
Anh cyclo lập lại “20 ngàn”. Tui cũng nói như cũ.
Anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “Thôi lên xe đi”.
Đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn.

Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui:
“Về đâu?”, nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời
“Lên đi thằng ông nội, tui chở về…Không có tính tiền đâu”.
Làm sao tui quên được câu nói đó.
Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi!
Dù bạn quê quán ở đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là Người Sài Gòn.

Đó là Người Sài Gòn Xưa, còn “Người Sài Gòn Nay” thì chẳng biết ra làm sao !!!
Người Saigon Xưa, họ đâu rồi?!



No comments:

Post a Comment