TAM HƯỜNG, MỘT THÚ VUI BỊ QUÊN LÃNG
Trần Đức Tạo
Trước đây, Tam-Hường là một thú vui trong gia đình vào ngày Tết và những ngày đầu Xuân.
Nhưng rồi chiến tranh kéo dài đã khiến thú chơi Tam-Hường không còn được phổ biến nhiều.
Nguyên nhân có lẽ một phần vì đời sống kham khổ, ít ai còn chơi Tam-Hường. Ngay trong gia
đình, chúng tôi cũng chỉ chơi vào những năm đầu 1950 rồi thôi. Do đó, nhân dịp Xuân về, chúng
tôi muốn nhắc lại một thú vui nhàn nhã và thanh lịch kẻo sau một thời gian quá lâu, thú vui này
sẽ bị mai một.
Về NGUỒN GỐC Tam-Hường: Chúng tôi không rõ chắc chắn
Tam-Hường xuất hiện từ hồi nào và ở đâu nhưng qua nét chữ
thì con bài được ghi bằng chữ Hán. Điều này không có nghĩa
Tam-Hường xuất phát từ Trung-Hoa vì các Cụ ta ngày xưa đều
dùng Hán-tự trong thư-văn, câu đối hay trong hoa-văn ở đình
chùa. Bài Tam-Cúc, Tứ-Sắc đều dùng chữ Hán cả và có thêm
hình vẽ. Theo chúng tôi tìm hiểu, Tam-Hường trước đây thịnh
hành từ Thanh-Hóa vào đến Thừa-Thiên, nhất là kinh thành
Huế.
Các con bài đều mang các học-vị như Tú-Tài, Cử-Nhân, Tiến-
Sĩ, Hội-Nguyên, Bảng-Nhãn, Thám-Hoa và tột đỉnh là Trạng-
Nguyên.
Theo Cụ Dương Quảng Hàm, nước ta có khoa-cử từ đời nhà Lý (1009-1225) nhưng đến đời nhà
Trần (1225-1400) mới có các khóa thi thường lệ cho thi Hương và thi Hội . Dưới đời Vua
Trần Thái Tôn có mở các khoa thi Thái-học-Sinh. Năm 1247, Ngài đặt ra Tam-Khôi (ba người
đỗ đầu thuộc Đệ-Nhất-Giáp) là Trạng-Nguyên, Bảng-Nhãn, Thám-Hoa. Năm 1374, Vua Trần
Duệ Tôn mở khoa thi Đình (thi ở sân Vua) lấy Tiến-Sĩ. Năm 1396, Vua Trần Thuận Tôn đặt
ra thi Hương lấy Cử-Nhân. Như vậy các kỳ thi chọn nhân tài ra giúp nước có từ thời nhà Lý và
nở rộ vào thời nhà Trần với các quy-lệ rõ ràng.
Đến triều Nguyễn, năm 1822 có mở khoa thi Hội đầu tiên và thi Hương vào năm 1807.(1)
Qua chút tài liệu lịch sử trên ta có lý do tin phần nào Tam-Hường là của Việt-Nam, dựa vào các
học-vị của triều đình ta xuất phát từ đời Lý, hoàn thiện qua đời Trần cho đến đời Nguyễn.
Các thẻ bài của Tam Hường cũng từ nhỏ nhất là Tú-Tài cho Nhất-Hường, và Trạng-Nguyên là
cao nhất cho Tứ-Hường,Lục-Phú. Sự chọn lựa này phù hợp với các văn bằng cấp phát của triều
dình từ thấp đến cao. Theo thiển ý, dù là một thú tiêu khiển, người sáng lập ra Tam-Hường cũng
muốn đề cao học vấn cho người chơi.
Theo gia đình cho biết ông ngoại của tôi từ những năm 1920 đã có chơ i Tam-Hường và năm
1951 khi theo cha mẹ vào Nha Trang thì chúng tôi đã thấy và biết chơi thú vui này.
Hồi đó, Tam-hường chỉ thấy các cụ lớn tuổi là chơi có tiền còn trẻ em chỉ chơi giải trí và tính
điểm ăn thua mà thôi. Ít lâu sau, thấy có trò chơi bầu-cua-cá-cọp lại được giới bình dân ưa
chuông. Thật sự, Tam-Hường ai chơi cũng đuợc nếu có thời giờ nhàn rỗi như là vào những ngày
Tết, đầu Xuân.
TÊN GỌI: Tam-Hường nghĩa là ba cái hường, màu hoa, màu của mặt 4 của con xúc-xắc. Có
người gọi là Xâm-Hường (Xâm là Tam, âm Hán là 3). Có người gọi chơi Tam Hường, hay đổ
Tam Hường hoặc “xây” một sòng Tam-Hường .Có người gọi bộ Tam-Hường hay rõ hơn bộ
bài Tam-Hường.
ĐẶC-ĐIỂM của chơi Tam-Hường:
- Chơi Tam-Hường không cần cao thấp vì chỉ dùng tay đổ 6 hột xúc xắc
- Khó hoặc không thể chơi gian lận vì lối chơi có tính cách công khai, ai
cũng có thể nhìn rõ, và kiểm soát kết quả.
- Cách tính kết quả mau lẹ.
- Không cần đắn đo, cân nhắc như khi chơi cờ tướng, tổ tôm, tài bàn, Pocker
- Có tính cách vui chơi, giải trí, trong gia đình
- Luật lệ có thể thay đổi từ dễ (cho người mới chơi) đến khó (cho người có
kinh nghiệm) nên có tính linh động, không gò bó.
- Cuộc chơi chỉ có hên xui, nên có tính cách bình đẳng, không bị lừa gạt
- Tam Hường không có nhà cái, không sát phạt
- Người chơi không thể dùng mưu mô thông đồng triệt hạ như Domino
- Số người chơi có thể thay đổi từ 2 đến 7 người, càng đông càng vui
- Trò chơi có tính dân chủ, mọi người đều có thể đề nghị thay đổi nhưng
ý kiến chung được tôn trọng. Nguyên tắc đa số được đề cao.
- Người mới chơi sẽ được những người cũ hướng nên không sợ bị lừa đảo
QUÂN BÀI (Thẻ):
Một bộ bài Tam-Hường gồm những con bài làm bằng ngà hay xương, gọi là thẻ, thường là màu
trắng (hạng sang) hay làm bằng gỗ mỏng có viết chữ Hán theo các học-vị ngày xưa như Tú-Tài,
Cử-Nhân,Tiến-Sĩ,Hội-Nguyên,Bảng nhãn, Thám-Hoa, Trạng-Nguyên. Mỗi một học vị được
đánh giá bằng một số điểm. Có 6 loại thẻ to nhỏ, hình dáng khác nhau tuỳ theo học-vị để có trị
giá khác nhau.
Một bộ Tam-Hường gồm 6 con xúc-xắc và các thẻ giá trị như sau :
Số lượng thẻ: Hình thức : Tên gọi Trị giá (điểm) Cộng điểm
1 Cỡ lớn nhất Trạng-Nguyên 32 32
2 cỡ lớn Bảng-nhãn/Thám-Hoa 16 32
4 cỡ trung Hội-Nguyên 8 32
8 cỡ nhỏ Tiến-sĩ 4 32
16 cỡ nhỏ vừa Cử-nhân 2 32
32 cỡ nhỏ nhất Tú-Tài 1 32
Tổng cộng: 192 đểm
Do đó, mỗi loại thẻ có tổng số điểm là 32. (1x32)/(2x16)/(4x8)/(8x4)/(16x2)/(32x1). Như vậy ,
nếu có 6 người chơi thì mổi người phải đủ 32 điểm mới huề ( không mua/không bán) hay còn gọi
đủ một Trạng.Nếu 7 người chơi thì người có Trạng đem bán hết số thẻ của mình cho những
người thua. Bộ bài có 6 loại thẻ (6x32)nên tổng cộng là 192 điểm.Lấy 192 chia cho số người
chơi thì biết số điểm của mỗi người phài có lúc kết thúc. Nếu 4 nguời chơi thì mỗi người phải
đủ 192/4 hay 48 điểm hay một trạng rưỡi (32+16 =48 điẻm). Nếu 3 người chơi thì mỗi nguời
phải 2 Trạng hay 32x2 = 64 điểm. Dư điểm thì đem bán có lời. Thiếu điểm thì phải mua cho đủ,
điểm ấn định. Mua của người dư thẻ đem bán. Nếu đánh ăn tiền thì tuỳ, cho mỗi điểm là 1 hay
2, 3 dolllars hay cao hơn nữa.
CÁCH CHƠI :
Những người chơi thường ngồi trên bàn hay ngồi dưới chiếu. Tuỳ theo số người chơi mà đòi hỏi
số điểm mà mỗi người phải hội đủ . Trở lại ví dụ trên, 6 người chơi thì mỗi người phải đủ 32
điểm (192:6= 32 hay gọi là 1 Trạng). Nếu 3 người chơi thì mỗi ng ười phải đủ 2 Trạng hay
192:3= 64 hay 2 lần 32 (2 Trạng )...
Trước khi chơi, một nguời trong làng lấy 1 con xúc xắc thả xuống một cái bát (chén) gọi là đổ
cái, để chọn người chơi trước. Nếu ra số 1 thì người đó là ngư ời chơi trước. Nếu ra số 2 thì
người bên phải kế mình đổ trước..v.v
Mỗi người lần lượt theo thứ tự đã được bỏ cái chỉ định, nắm gọn 6 con xúc-xắc bỏ xuống cái bát
(cái chén) và tuỳ theo sự xuất hiện của những con xúc xắc này mà chọn quân bài tương xứng.
Người nào có Trạng sẻ đổ đầu cho ván kế tiếp.
Người nào đổ văng con xúc xắc ra khỏi bát thì bị phạt bằng cách :
- nộp một số điểm nào đó cho ông Trạng Nguyên (1 hoặc 2 thẻ Tú-Tài tuỳ giao hẹn)
- nếu Trạng Nguyên đã ra rồì thì khỏi phạt.
- Hoặc nạp phạt vào làng chứ không nạp cho Trạng (dễ nhớ hơn)
Ván bài chấm dứt khi không còn thẻ trong làng.
TÍNH ĐIỂM :
a-Tính theo con số 4 chấm màu đỏ(hường).
b-Tính theo những con số khác (ngoài số 4) còn lại.
a-Tính theo con số 4 (gọi là Hường)
-Nếu 1 con số 4 xuất hiện thì lấy 1 thẻ Tú-Tài (gọi là Nhất Hường); 1 điểm
-Nếu 2 con số 4 ......................1 thẻ Cử nhân (gọi là Nhị Hường); 2 điểm
-Nếu 3 con số 4........................1 thẻ Hội-Nguyên (gọi là Tam Hường); 8 điểm
-Nếu 4 con số 4.....................lấy thẻ Trạng nguyên (gọi là Tứ Hường); 32 điểm
Số chấm còn lại trên 2 con Xúc-xắc được coi như số tuổi của Ông Trạng. Nếu sau này ai đổ
được Trạng mà có số tuổi lớn hơn thì trạng nhỏ tuổi bị cướp. Ví dụ Trạng của bạn 5 tuổi thì ai
có trạng 6 tuổi trở lên sau này sẽ cướp mất trạng của bạn. Nếu trạng sau mà nhỏ tuổi hơn trạng
trước thì người này lấy những bài còn lại cho đủ 32 điểm.
Nếu đổ ra Tứ Hường thì phải lưu ý hai con xúc xắc còn lại :
- Nếu là hai con 2 + 2 gọi là Trạng Cáp chính (vì 2+2 =4 giống 4 chấm của mặt Tứ)
- Nếu là hai con 3 + 1 /6+6 gọi là Trạng Cáp Xiên
-Nếu 5 con số 4 xuất hiện (gọi là Ngũ-Hường), thì người đổ sẽ lấy Trạng-Nguyên và hai Trạng
Em Bảng-nhãn/Thám-Hoa 64 điểm (32+16+16).Nếu ai đã có Trạng trước cũng bi giật, bất kể
tuổi. Ngũ-Hưởng chỉ thua Lục-Phú đen hay đỏ.
-Nếu 6 con số 4 xuất hiện thì gọi Lục-Hường hay Lục-Phú-Hường là lớn nhất, cả làng phải
chung cho nhà đó gấp hai số điểm ban đầu minh phải có. Ví dụ 6 nguoi chơi, mà một nhà đổ ra 6
con 4 một lúc (gọi là Lục-Hường) thì mỗi nhà phải chung cho người đó 2x32 điểm.
b-Tính theo các số khác (ngoài số 4)
-Nếu 6 con xúc-xắc xuất hiện theo thứ tự 123456 thì gọi là Suốt, ăn Trạng Em (tức Bảng-Nhãn
hoặc Thám-Hoa, 16 điểm).
-Nếu có 1 cặp 3 con giống nhau thì g ọi là Phân-Song, ăn trạng Em .Nếu trong đó có 3 con số
đỏ 4 thì gọi là Tam-Hường Phân-song, vừa ăn Tam-Hường vừa ăn Trạng Em (8+16 =24 điểm).
-Nếu có 4 con cùng giống nhau (ngoài số 4) thì gọi Tứ-Tự, ăn Tiến sĩ, 4 điểm. Trừ truờng hợp 4
con số 4 thì ăn Trạng-Nguyên (nói trên).Nếu Tứ-Tự mà có thêm 1,2 con số 4 xuất hiện thí gọi
Tứ-Tự Nhất-hường hay Tứ-Tự Nhị-hường(ăn 4 điểm của Tứ-tự +.1 hoặc 2 điểm cùa Nhất
hường hay nhị hường). Những số còn lại, nếu cộng lại bằng một con số của Tứ-Tự thì gọi là Tứ-
Tự-Cáp, ăn Trạng Em (16 điểm).
Ví dụ đổ ra 4 con 5 mà còn lại hai con hoặc 1+4 hoặc 2+3 cũng bằng con số 5.
4 con 1 mà còn lại hai con 6+5 =11 (con số dư 1 giống con 1 nơi tứ tự)
-Nếu có 5 con cùng giống nhau thì gọi Ngũ-Tự, ăn Trạng-Nguyên (32 điểm).
-Nếu có 6 con giống nhau gọi là Lục-Phú thì những người chơi khác phải chung cho nguời đó
đúng số điểm mỗi nhà phải có lúc đầu (32 điểm nếu 6 người chơi tức ăn một lúc 6x32 =192
điểm, kể cả điểm của chính mình).
-Nếu 3 cặp theo thứ tự 11,22,33 gọi là Nhất Nhị Tam hay Suốt Hạ, ăn Trạng Em, 16 điểm.
Nếu 44,55,66 gọi Tứ Ngũ Lục hay Suốt Thượng, ăn Trạng Em+Nhị Hường của hai con 4.
(có nơi không cho ăn theo con Nhị-Hường).
Trạng của Tứ-Hường không giật được Trạng của Ngũ-Tử dù có hơn tuổi. Nói khác, Trạng Tứ
Hường chỉ bị cuớp nếu cùng Tứ Hường mà hơn tuổi thôi. Ngũ-Tử giật nhau theo tuổi của Ngũ-
tử. Ngũ-Tử mà có thêm mặt 4 hường được gọi là Đại-Ấn (con dấu lớn).
Những DU DI khi chơi :
Trên đây là những điều căn bản nhưng cũng tuỳ theo hợp đồng giữa những người chơi mà du di
theo ý chung. Ví dụ:
- Thay vì tính điểm là 1 đồng thì có thể lả 50 cent hay nhiều ít tuỳ ý cả làng chơi.
- Thay vì chơi 6 người, mỗi người phải đủ 32 điểm để coi như huề (không thua/ không ăn) thì có
thể chơi 7 người; ai thắng Ông Trạng-Nguyên thì đem bán hết phần của mình cho ai thiếu trong
6 người còn lại (đã nói trên).
- Nếu chơi lâu quá mà không ai thắng con Trạng-nguyên thì cò thể thay thế, hoán đổi bằng hai
con trạng Em, hay 32 điểm của những con khác. Mục đích để cho ván bài mau kết thúc.
- Theo kinh nghiệm, nếu chơi trên 6 người thì hơi lâu mới tới lần mình đổ . Nếu vài vòng mà
không có hường sẽ chán hay quạu cọ mất vui.
- Có người mài bớt mặt 3 để mặt 4 (hường) dễ ra cho mau kết thúc nhưng dễ người dễ ta.
Tuy trình bày xem ra dông dài nhưng chỉ ngồi xem chừng 15 phút là biết cách chơi. Số người
chơi càng đông càng vui vì ai cũng chăm chú theo dõi kết quả của mình nên hô hoán vang cả
nhà. Tiếng kêu lanh lảnh mỗi khi đổ con xúc-xắc xuống chén, làm cho không khí ngày Xuân
thêm nhộn nhịp. Con nít ngồi xem chầu rìa. Ai ăn Trạng, khoái chí mừng tuổi thêm cho con
cháu. Các bà các cô lo kẹo bánh, trà...đãi cả làng; dĩ nhiên cũng được thưởng cho vui ngày Tết.
Khía cạnh giáo-dục của trò chơi Tam-Hường.
Chúng ta đã thấy các quân bài đều mang một học vị Vua ban cho thí sinh trúng tuyển khi chọn
người tài giỏi ra giúp nước. Đây là cách chọn công khai qua một kỳ thi với những nguyên tắc,
luật lệ nghiêm minh. Các cuộc thi đều phân cấp từ thấp tới cao để có học vị, chức phận và quyền
lợi tương xứng. Điều này chứng tỏ các triều đình Lý, Trần đã có tinh thần trọng-pháp, biết đãi
ngộ nhân tài và trọng người hiền. Từ đó xã hội có cương thường, đạo lý và ổn định. Đời Nhà Lý
từ 1009 đến 1225 là 216 năm và đời nhà Trần từ 1225 đến 1400 là 175 năm.
Quân bài nhỏ nhất chỉ có 1 điểm tương đương Tú-Tài, khá hơn là Cử Nhân, Nhị Hường , 2 điểm
và cao nhất là Trạng-Nguyên 32 điểm. Khi chơi, nhặt những con bài càng cao càng nhiều điểm
làm cho người chơi thêm nức lòng. Xuyên qua hình ảnh tiêu biểu đó con em mới cố gắng trau
dồi để thăng tiến trên đường học vấn.Tôi còn nhớ Ông nội tôi ngày xưa hay nói: “ Các cháu
không chịu học thêm mà chỉ có tú-tài thì như Tú-Xương “Vị Xuyên có Tú Xương, Dở dở lại
ương ương, Cao lâu thường ăn quỵt, Thổ đĩ lại chơi lường”, quá tệ. Nhờ Ông nói khích mà các
cháu cố gắng học lên được. Xuyên qua chơi Tam Hường, cha mẹ có cơ hội dạy bảo con cái từ
cách ăn nói lễ phép, không la lối om xòm đến cách ngồi ngay ngắn, cử chỉ lịch thiệp. Khi đổ
được con bài lớn các em reo mừng; ngược lại các em thất vọng thấy rõ. Các em sẽ nhận thức
được học càng cao càng được trọng dụng trong xã hội với những quyền lợi tương xứng.
Các tỉnh miền Trung từ Nghệ-An đổ vào, đất đai khô cằn, canh tác khó khăn, cuộc sống nghèo
khổ, con người muốn vươn lên chỉ còn cách đi học, nếu không, đi làm cách mạng.
Ngày xưa, khi đi qua các vùng Đô-Lương, Nam-Đàn, Thanh-Chương (Nghệ An) chúng tôi nghe
thấy các em học bài ban đêm thật to tiếng. To đến nỗi đi ngoài đường đều nghe rõ. Sau này hỏi
lại mới biết các em học to cho khỏi buồn ngủ vì không có điện, đèn thắp bằng dầu phụng, dầu
trẩu, dầu bông hay bằng lá, bằng rơm, lù mù... Ngoài ra đọc to tiếng để cho biết trong xóm có
con em đi học, làm nở mặt cha mẹ. Hồi đó, cha mẹ thường nuôi ông đồ Nho, nhất là Đồ Nghệ,
để dạy con cháu trong nhà. Đi học, như Quốc-Văn Giáo-Khoa-Thư đã viết : “trước là đẹp mặt
sau là ấm thân”. Tam-Hường ngoài là một thú vui cũng còn hàm ý cổ suý việc học trong dân
gian.
TỰ LÀM làm một bộ bài Tam-Hường.
Chúng ta có thể làm một bộ Tam-Hường bằng gỗ mỏng to nhỏ khác nhau tuỳ theo giá trị (xem
hình). Có thể trang trí cho đẹp và ghi số điểm của mỗi thẻ cho dễ tính. Có thể nhờ ai biết Hán-tự
viết giùm chữ Nho cho thêm trịnh trọng. Nếu khéo tay, quý vị có thể tự làm lấy một bộ Tam-
Hường dã-chiến chỉ cần ghi số điểm là đủ.
Viết đến đây chúng tôi nhớ đến bộ Tam-Hường bằng ngà của Ông Ngoại để lại, màu trắng muốt,
viết chữ son đỏ chói, nhìn thật trang trọng, quý phái. Tiếc rằng thời di cư, tài sản đều bỏ lại, giữ
được mạng sống đã là quý lắm rồi.
Viết lại bài Tam-Hường, một thú vui có tính cách văn học, cổ kính, để nhớ lại tổ tiên, cha ông,
dù không xung túc về vật chất nhưng vẫn có được một thú vui giải trí thoải mái những dịp Tết
đến, Xuân về.
Khi nhắc lại thú chơi Tam Hường, chúng tôi chỉ sợ một thú vui nhàn nhã, quý phái mà bị bỏ
quên thì quá uổng. Nhưng không ngờ qua các điện thư, chúng tôi được biết một số gia đình vẫn
còn chơi Tam-Hường vào dịp Tết nơi hải ngoại. Phần lớn những người này là gốc xứ Huế hay
đã ở Huế một thời gian. Chúng tôi cũng hy vọng thú vui này vẫn còn tồn tại và sẽ phát triển nơi
Quê nhà như các tỉnh miền Trung: Thanh Hoá, Nghệ An, nhất là Huế, nơi phong thái cổ kính
vẫn còn vương vấn.
Ngày Tết, ngoài sân, cây nêu, pháo nổ; trong nhà đại gia-đình, Ông bà, con cháu xum họp quanh
cỗ Tam-Hường thật không có gì hạnh phúc và đầm ấm cho bằng. Tiếng đổ Tam Hường lanh
lảnh, vang xa, lâu lâu có đệm thêm tràng pháo tép báo hiệu một điềm lành, một sinh khí mới
đang rộn rã trở về.
Vui chơi Tam Hường không phải vì ăn tiền mà vui vì có được một bầu không khí gia đình xum
họp mà trong năm vì sinh kế đã không có nhiều cơ hội quây quần bên nhau. Con em khi lớn
khôn, trưởng thành, chỉ những ngày gia đình xum họp như thế mới để lại một ấn tượng sâu xa
trong tâm khảm.
Chúng tôi đang suy nghĩ làm cách nào để có thể chơi Tam Hường chốn công cộng như kiểu “Cờ
Người” tại các buổi trình diễn ngoài trời. Nếu được vậy, Tam Hường sẽ được nhiều người cổ võ
và ưa chuộng hơn.
Người viết xin thành thật cám ơn Quý vị và các bạn đã góp ý :
BS.Võ Đ. Hữu, Nguyễn V. Sáu, Trần V. Long, Tuyết Nhung, Hoang Sang.
Kính chúc Quý Vị và Các Bạn một Mùa Xuân Như Ý; một Năm Mới An Lành.
Kính Dâng Hương-Hồn Song-Thân, (Jan 25-2012)
(1) Dương Quảng Hàm, Việt-Nam Văn-học Sử-Yếu, tr.80, Sống Mới 1979.
No comments:
Post a Comment