Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 27
Chuẩn bị
Có 2 cách vượt biên: Bán chính thức và chui Bán chính thức là có người nào đó hoặc cơ quan nào đó được chánh quyền ngầm cho phép qui tụ những ai muốn vượt biên với giá bao nhiêu cây (lượng vàng) 1 người, khi đủ số người dự định và tiền bạc sòng phẳng rồi thì hẹn họ ngày giờ và địa điểm xuống ghe (hay tàu) mà đi. Loại vượt biên nầy chỉ dành cho người Việt gốc Hoa, người Việt chính cống thì trên nguyên tắc không được phép. Thành ra người Việt chính cống như gia đình chúng tôi thì chỉ còn có nước đi chui, nghĩa là lén lút mà đi, đi được thì nhờ, bị bắt thì “ủ tờ” và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa. Ở đây xin miễn bàn tại sao chánh quyền cộng sản lúc đó lại cho Hoa kiều vượt biên bán chánh thức như vậy, chỉ nên biết rằng đi kiểu nầy thì khỏi sợ bị bắt lúc xuống tàu và khi còn trong lảnh thổ của VN, chớ người đi đông lắm, trên tàu chật chội tù túng lắm, và ra hải phận quốc tế thì dễ bị bọn hải tặc nhận ra, vì người đi ngồi đầy nhóc trên tàu, chúng nó thấy biết ngay là tàu vượt biên nên đuổi theo cướp bóc... và cả hảm hiếp nữa (nhiều chuyện nghe thương tâm có, rợn người có) Chuẩn bị kỹ càng mà không đạt Như đã nói, gia đình chúng tôi muốn vượt biên thì chỉ có nước đi chui thôi, mà cũng ít có ai
Vượt Biên (1I)
Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 28
dám nhận cho chúng tôi đi chung vì con đông mà còn nhỏ (8 đứa từ 2 đến 14 tuổi) dễ bị lộ lắm. Vả lại trong trường Nguyễn Trung Trực họ đồn đại rằng tôi sắp vượt biên, rằng Đoàn, Đội đang theo dỏi tôi, cho nên tôi không dám cục kịt nhúc nhít gì hết. Nhà tôi bên tiểu học thì thong thả hơn, vả lại bả lanh lợi, tráo chác, năng động hơn tôi nhiều. Việc nuôi heo khi đã thành nếp rồi thì bả phó mặc cho tôi với thằng con trai lớn, còn bả thì đi buôn nhu yếu phẩm, (đường, bột, đậu, sữa hộp...) mua món nầy bán món kia. Thỉnh thoảng bả lên Saigon mua vải đem về, tối tối đi từ nhà nầy đến nhà nọ rao bán. Nhờ vậy mà bả biết được nhiều người và nhiều tin tức, nhất là tin vượt biên. Không biết làm sao mà bả móc nối được 1 người Hoa kiều, dẫn về nhà gặp tôi. Anh ta nói đang có 1 chiếc ghe đánh cá nhỏ, muốn dùng nó để đem gia đình vượt biên. (Nên nhớ rằng hồi đó có câu: ”Cái cột đèn mà đi được thì nó cũng đi”). Muốn vậy phải sửa ghe cho chắc, cho nặng thêm mới đi biển lớn được, mà anh không có tiền. Nếu chúng tôi chịu ra tiền cho anh sửa ghe và mua 1 cái hải bàn thì 2 gia đình cùng đi chung, chắc ăn lắm. Nhà tôi muốn chắc ăn hơn nữa, đòi anh cùng tôi qua đền cụ Nguyễn Trung Trực thề, anh cũng chịu. (Cụ NTT là 1 anh hùng chống Pháp, trung hiếu lưỡng toàn, bị Pháp bắt và xử chém tại Rạch Giá, được lập đền thờ nguy nga ở đây, được tôn vinh là vị thần linh ứng nhất của đất Kiên Giang, như tả quân Lê Văn Duyệt ở Gia Định vậy). Trước bàn thờ Thần, anh thề làm anh em kết nghĩa với tôi, ai mà phản bội thì Trời tru Đất diệt. Chừng ấy nhà tôi mới chịu đưa tiền từng đợt cho anh, bao nhiêu tất cả thì tôi không biết. Trong 1 chuyến đi Saigon, bả lặn lội làm sao mà mua được 1 cái hải bàn, bận về để tránh bị xét bắt, bả đi từng chặn bằng xe ôm, nhờ Trời về được tới nhà bình an. (Xe ôm là xe 2 bánh có động cơ, như xe moto, xe Honda, người lái ngồi trước, khách ngồi sau ôm eo ếch người lái mà đi) . Chúng tôi giữ cái hải bàn lại, hẹn chừng nào đi sẽ đưa cho anh, đây là cái kế để cột chân anh ta đó. Nhưng hải bàn là đồ quốc cấm, tôi không dám để trong nhà, bèn lén đem nó ra bỏ vào cái cóp (coffre) xe nằm ngoài đường, nghĩ rằng có ai ngờ đâu rằng 1 báo vật như vậy mà lại nằm ở 1 chỗ dễ dàng như vậy. Vả lại nếu bị khám phá thì tôi sẽ chối rằng không phải của tôi.
Bà xã lại móc nối được với 1 cặp vợ chồng trẻ, chồng tên là H., anh bạn kết nghĩa cũng chịu nhận, vì chỉ có 2 người lớn. Phải nhìn nhận rằng bà xã lanh lợi tháo vát hơn tôi, nhưng trong những việc cần lo xa tính kỹ thì lại có phần thiếu dè chừng cẩn thận. Như việc kết nạp vợ chồng H. đây, nếu hỏi tôi trước thì tôi đã không cho rồi. Nguy hiểm lắm, nguy hiểm tăng lên bằng 2, bằng 3 lận. Nhưng đã lỡ cho họ biết bí mật của mình rồi thì đành phải chịu, loại họ ra càng tăng phần nguy hiểm hơn nữa. Còn chuyện nầy nữa: Tôi căn dặn bà xã là không được bán món gì trong nhà hết, vậy mà buổi chiều đó tôi ở trường về thì gặp trong nhà 1 cán bộ người Bắc đang mặc cả mua bộ salon bằng cẩm lai (1 loại cây quí) của chúng tôi. Tôi lật đật xin lỗi anh, bảo rằng nhà tôi muốn bán đặng sắm áo quần cho con, nhưng tôi biết rằng nếu bán đi thì sau nầy tôi không bao giờ có khả năng sắm lại, xin anh cảm phiền cho tôi từ chối bán. Anh ta cũng thông cảm cho tôi và nhơn đó ở lại nói chuyện chơi với tôi. Anh nhìn nhận rằng cuộc sống ngoài Bắc “căng” lắm, đông con như tôi đây thì chỉ có nước thỉnh thoảng ăn phở quốc doanh mà thôi (nghĩa là phở rẻ tiền, không ngon). Tôi nói: “Bây giờ nước mình đã thống nhất thái bình rồi thì đời sống mình sẽ được sung túc hơn”. Anh nói: ”Chưa đâu anh,
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 29
mình còn giải phóng anh Thái Lan nữa chứ”. Những câu nói như vậy càng thúc dục tôi vượt biên hơn: như phận tôi là “ngụy” thì đã đành đi, chứ con cháu tôi mà cứ làm công dân hạng nhì, trong 1 nước cứ giặc giả hoài vì “nghĩa vụ quốc tế” thì tội nghiệp lắm. Có tin đồn rằng con cháu ngụy sẽ không được đi học các ngành quan trọng trên đại học, đi bộ đội thì không được cầm súng, chỉ vác đạn, đắp đường thôi. (Những điều tôi kể đây là trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 2 năm 1979) Cũng nên để ý là cách gọi các nước cũng có phân biệt, Thái Lan thì gọi là anh Thái Lan, Liên Sô, Trung Quốc thì gọi là ông Liên Sô, ông Trung Quốc... Xin trở lại chuyện vượt biên. H. cũng góp tiền vô, làm vơi gánh nặng tài chánh phần nào cho chúng tôi. H. hay ghé thăm ghe, về nói lại với tôi rằng quả thật anh bạn đang sửa ghe. Khi thấy ghe sửa xong. vợ H. tính chuyện đi thì anh bạn hẹn lần hẹn hồi. Sau vài lần anh ta hẹn như vậy thì vợ H. rút lui, đòi anh trả tiền lại. Anh nói không có tiền, thế nào cũng đi mà. Trong 1 phiên họp tại nhà tôi, vợ H. đòi đi thưa, tôi sợ bị lộ ra thì hại cho tôi trước nhất nên bảo anh ráng góp nhóp trả hết cho H. đi, còn tôi với anh là chỗ anh em kết nghĩa, mình sẽ tính sau. Chuyện H. xong rồi, tới phiên tôi hỏi thì anh cũng lần hồi, sau cùng hẹn với tôi 1 chỗ xuống ghe ngay tại châu thành Rạch Giá, vợ chồng tôi mà bồng bế 8 đứa con đến đó thì lộ và bị bắt là cái chắc.
Dĩ nhiên là tôi không nhận Ngày qua ngày, bãi trường Tết đến. Một bữa nọ, H. ghé nhà tôi, báo là anh bạn đã chống ghe đi mất rồi ! !...Thôi thì, đã vậy thì đành chịu vậy chớ biết sao, miễn là đừng có bị CM nghi thì cũng tốt rồi. Bây giờ nghĩ lại, trong vượt biên chui, lúc xuống ghe là dễ bị bắt nhất, chắc mới đầu anh bạn tôi cũng không nhận ra, tưởng dễ ăn, lúc gần đi tính kỹ mới thấy, không có chỗ nào cho chúng tôi xuống được an toàn nên hẹn lần hẹn hồi, rồi gặp dịp thuận tiện thì mình xuống ghe mình “dông” luôn, dễ thôi Việc đâu đưa đến lại nên công Qua mồng 2 Tết chúng tôi đi chùa. Trong châu thành Rạch Giá có thiếu gì chùa, nào là chùa Việt, chùa Tàu, chùa Miên. Vậy mà chúng tôi không đi, lại đi 1 chùa ở ngoại ô trên đường đi Hà Tiên, phong cảnh tỉnh mịch, tên là chùa Thập Phương. Nhà tôi lạy Phật rồi xin xâm, ông thầy bàn nói quẻ xâm tốt lắm. Trong khi chúng tôi đang ngồi trong chùa thì có 1 người đàn bà còn trẻ đi vào, thấy nhà tôi thì ngã nón lá cuối đầu chào. Bà xã bảo tôi: “Anh coi đó, cô nầy trước học với em mà bây giờ có chồng rồi đó”. Tôi nghe nói cũng dửng dưng. Lại Phật, xin xâm xong, cô đội nón ra đi liền. Sau đó chúng tôi viếng đền thờ thần Nguyễn Trung Trực. Ông bàn xâm cũng nói với vợ tôi là xâm rất tốt. Về nhà, chúng tôi chưa kịp thay đồ, đang ngồi trên salon bàn tán về việc mấy quẻ xâm: mình mới bị người anh em kết nghĩa bỏ rơi, sao xâm cả chùa lẫn đình lại nói tốt như vậy cà? Còn đang phân vân thì có 1 người đàn ông trẻ bước vào nhà, hắn xưng tên là Q. học trò cũ của tôi ở NTT, sau đó đậu vô Đại Học Sư Phạm ban Pháp văn, ra trường bị đi sĩ quan Thủ Đức, rồi được biệt phái về dạy ở trung học Tân Hiệp trên quốc lộ 4, vùng đồng bào Bắc di cư năm 1954. CM vô, Q. đi cải tạo như bao sĩ quan khác, được thả về chưa tới 1 năm nay. Sau khi chào hỏi chúc Tết, Q. rũ tôi vượt biên. Q. nói em cùng với 1 người bạn tổ chức vượt biên cho gia đình đi, người bạn có tàu nhỏ, tự lái, muốn
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 30
kiếm thêm một ít người đi đặng kiếm chút cháo, cho nên Q. đi kiếm mối chắc chắn cho bạn đặng bạn cho đi khỏi trả tiền mặt, qua bển sẽ tính. Việc đưa bãi sẽ do ba của Q. đảm trách. Ông nầy là người địa phương rành nghề đi biển, từ lâu đã nuôi chí cho con vượt biên nên nghiên cứu kỹ càng đường đi nước bước. (Đưa bãi là đưa người vượt biên từ đất liền ra tàu đậu ngoài khơi, sau vụ với “anh bạn kết nghĩa” tôi mới nhận ra rằng trong vượt biên chui, xuống tàu đậu ngoài khơi là việc quan trọng nhất, nguy hiểm nhất, dễ bị bắt nhất) Tôi cực lực đính chánh rằng tôi không bao giờ có ý định vượt biên hết, nói: “Mầy đừng có gài bẫy tao, tội nghiệp lắm Q. ơi”. Q. thì thề thốt hết lời, nói rằng mình thành thật, trước khi ra về, em nói :”Nếu thầy cô muốn biết rõ thì chiều nay, 5 giờ, đi vô xóm rẫy trong cổng Tam Quang, tới chỗ đó nhà đó thì biết. Chiều lại, chúng tôi theo lời chỉ dẫn của Q. đến nơi thì gặp chủ tàu tên là Gh., cũng nói tương tợ như Q. hồi trưa vậy. Hỏi ngày nào đi thì Gh. nói rằng hồi sớm mai nầy vợ em đi chùa xin xăm, thầy nói ngày đó tốt lắm, tôi không nhớ là ngày mấy dương lịch hay mấy âm lịch, nhưng tính ra thì đúng là ngày tựu trường sau lễ Tết Nguyên đáng, nghĩa là ngày mà tôi phải đến ty Giáo Dục để chủ toạ cuộc họp Hội Đồng chấm thi giỏi Toán !.Nhà tôi chợt hỏi Gh.: ”Có phải vợ cậu hồi sớm mơi nầy đi chùa Thập Phương, đội cái nón như vậy, bận cái aó như vậy, cái quần như vậy phải không?”. Gh. nói phải. Thì chính là người đàn bà trẻ mà nhà tôi đã chỉ cho tôi hồi sáng nầy đó.
Sao có chuyện trùng hợp lạ lùng vậy cà ? Chủ tàu đã chắc, người đưa bãi đã chắc, lại có điềm thuận lợi như vầy nên vợ chồng tôi nói liền với Gh. là chúng tôi quyết định đi. Sáng ngày hôm sau, vợ Gh. hớt ha hớt hãi chạy đến nhà chúng tôi, nói :” Vợ chồng em đâu có tính vượt biên, tại anh Q., anh Gh. nói bậy chơi, xin thầy cô bỏ qua cho giùm”. Cô nói đi nói lại nhiều lần gắt lắm rồi ra về. Chúng tôi đoán ngay rằng cô biết chúng tôi đông con nên không dám cho đi theo, sợ lộ mà bị bắt cả đám. Nhà tôi bèn xuống nhà cô năn nỉ.( Nhà Gh. ở dưới mé biển, cách nhà tôi không bao xa, còn cái nhà hôm qua là gì thì không biết ).Không biết bả nói khéo thế nào mà rốt cuộc vợ chồng Gh. đều thuận cho gia đình chúng tôi theo, chẳng những vậy mà còn nhận cho nhạc mẫu tôi và cô em vợ út tôi (dì 7) đi nữa. Nguyên nhạc mẫu tôi nhà ở khít vách với nhà tôi, hai bên thông qua thông lại bằng 1 cánh cửa bên trong nhà, nhạc phụ tôi thì đã mất sau khi CM vô chừng 1 năm. Cụ có 5 người con gái, nhà tôi lớn nhất thứ 3. Thứ 4 là 1 dược sĩ có chồng là bác sĩ Gi., thiếu tá quân y ngành thiết giáp, đang phục vụ tại Tổng Y Viện Cộng Hoà thì Cộng Sản vô, bị đi tù cải tạo, khi được về thì làm việc tại bệnh viện Tiều Châu. Gần gũi với Hoa kiều, Gi. khai lý lịch giả là gốc Hoa rồi đăng ký vượt biên bán chánh thức. Đám tổ chức bảo Gi. dắt vợ con xuống Tắc Ráng là 1 địa điểm của tỉnh Kiên Giang, nằm ngoài ngoại ô thị xã Rạch Giá, chờ đó đặng xuống tàu đi. Nhưng chờ cả tháng nay, các người khác, tốp nầy đi đến tốp kia đi mà gia đình Gi. vẫn còn nằm đó, thật đáng ngại. Nhà tôi lại thuyết phục được cả Q. lẫn Gh. nhận cho gia đình Gi. đi chung với chúng tôi, thật sự thì việc chở gia đình tôi đi là khó khăn nhất, chở thêm gia đình bs Gi. không gây khó khăn gì thêm mà còn được thêm 7 người khách, nghĩa là thêm bộn tiền. Còn cô em vợ thứ 5 chắc trong nhóm cựu giáo chức có người biết. Cô tên L., là cựu giáo sư âm nhạc trường Lê Quí Đôn, là thành viên của ban Đố Vui Để Học của
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 31
sở Học Liệu, xuất hiện trên đài truyền hình với nghệ danh là Ch. L. do nhạc sĩ Lê Thương đặt cho. Ở Saigon, vợ chồng cô dắt con đi vượt biên chui, bị bắt, ở tù mấy tháng, được thả ra thì nhà cửa mất hết rồi, nên vợ chồng dẫn con xuống nấn ná nhà nhạc mẫu tôi. Họ lảnh phận sự ở lại coi chừng nhà, sau nầy cũng chui được qua Pháp. Còn dì 6 thì đã vượt biên với bạn qua Mỹ trước rồi Ba của Q. lảnh phần đưa bãi cho chúng tôi. Kế hoạch là: Ngày trước ngày đi, gia đình chúng tôi chia thành từng nhóm nhỏ đứng tại địa điểm do ông chỉ định, ông sẽ đến dẫn đi rồi dấu trong ghe của ông, chở đến 1 nơi kín đáo, đợi đến giờ hẹn với Gh. thì chở tất cả ra tàu của Gh. đậu ngoài khơi. Còn tôi thì tối đó ngủ ở nhà, sáng sớm sẽ có người đến dẫn đi. Rốt cuộc trên tàu của Gh. có tất cả 27 đầu người, kể cả trẻ con, mà đại gia đình tôi chiếm hết 19 rồi. (Này nhé :tôi 10+ Gi.7+nhạc mẫu 2 là19 ) Đến ngày trước tựu trường Tết, gia đình tôi rút đi lần lần. Sáng đó tôi vô trường làm công việc lặt vặt để chuẩn bị tựu trường, tôi nói với cô hiệu trưởng rằng sáng mai tôi phải qua Ty làm chủ tịch “Hội Đồng chấm thi giỏi Toán”, vậy xin cử giáo viên tổ phó chủ toạ cuộc họp “hoạch định phương hướng học kỳ” cho tổ. Cô vui vẻ nhận lời. Buổi chiều tôi vô trường như thường, 5 giờ về nhà thì dì 5 qua nói cả nhà đi hết rồi, nhưng còn có cháu Q. (con trai trưởng của bác sĩ Gi. ,11tuổi) còn ở nhà đặng sáng mai đi với tôi.
Sau đó, tôi đến nhà anh bạn hàng xóm tên T. (vốn là tuỳ phái thời trước, nhà nghèo) đánh cờ tướng như thường lệ. Nguyên hồi CM mới vô, họ (CM) ra lệnh cho mỗi tổ chừng 10 nhà thì bầu 1 tổ trưởng, bà con bầu tôi. Một thời gian sau, phường trưởng vốn là 1 thiếu nữ quê mùa cục mịt, làm thợ vá lưới ở chợ cá trước kia, gọi anh T. lên phường bảo anh làm tổ trưởng thay tôi và báo việc nầy cho tôi biết. Anh hết lời thề thốt với tôi là không có muốn giựt cái chức tổ trưởng của tôi, tôi thì ráo nước miếng trấn an anh là tôi hiểu mà, rốt cuộc tôi với anh vẫn là bạn, chúng tôi thừa dịp đánh cờ tướng đặng thông tin cho nhau và nói lén CM. Bữa đó tôi đánh cờ cầu bại chớ không cầu thắng, sau vài bàn tôi về tắm heo, rửa chuồng và cho nó ăn. Trong khi heo ăn tôi lấy búa đóng chỗ nầy vài cái, chỗ kia vài cái, làm như mình sửa cho chắc chắn đặng sử dụng lâu dài. Heo ăn xong, tôi mở cửa chuồng cho nó đi ngoài đường, nó đi trước tôi đi sau, tay cầm cây roi nhịp nhịp vào đít nó. Trời sụp tối thì nhốt nó lại vô chuồng Tôi vào nhà giăng mùng (màn) cho giường của các con, để gối nằm gối ôm rồi đắp mền lên như thể con đang ngủ. Tôi cũng kéo mùng giường của vợ chồng tôi nữa. Rồi tôi để đèn sáng, để cửa mở, ngồi trên cái bàn giữa nhà đọc sách.
Một lúc sau thì thím Năm, em dâu của nhạc phụ tôi, hớt hãi bước vào hỏi :” Thọ, sao mà dưới biển người ta đồn tụi bây vượt biên, có hôn?”- “Đâu có thím”- “Quế đâu?” (Quế là tên nhà tôi).- “ Nó ra chợ bán vải rồi, khuya mới về” Thím đi thẳng xuống nhà bếp, đứng ở cửa ngó qua ngó lại rồi trở lại bên tôi hỏi: “Mấy đứa nhỏ ngủ hết rồi sao?”- “Dạ, ngủ đặng mai đi học chớ thím, hết Tết rồi mà”. Thím nói chuyện với tôi thêm vài ba câu nữa rồi ra về, coi bộ hài lòng về cuộc điều tra chớp nhoáng của mình. Cũng may là hai chị em bạn dâu không hạp cho lắm nên thím không ghé qua nhà nhạc mẫu tôi chơi. Tôi đóng cửa đi ngủ như mọi ngày Thức dậy cở 4 giờ sáng, tôi gom hết cơm, đồ ăn cùng là nước mắm đem hết ra chuồng cho heo ăn, đặng sáng nó không đói bụng mà kêu rầm lên báo động hàng xóm. Tôi kêu cháu Q. qua
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 32
nhà tôi chuẩn bị chờ đi. Một chốc sao, có 1 cậu trẻ đến dẫn đường dượng cháu tôi. Tôi bảo Q. đi với cậu ấy còn tôi thì đi theo sau cách chừng 15,20 thước, 1 tay để trong túi quần, lăm lăm cầm gói vàng để trả cho Gh., định bụng hể có động tịnh gì thì liệng nó xuống đường mương bên đường mà phi tang. Cậu trẻ dẫn chúng tôi đi lanh quanh một hồi thì tới bờ biển, chúng tôi lên 1 chiếc xuồng gắn máy (gọi là vỏ dọt) chở ra tàu của Gh. đang đậu chờ ngoài khơi. Tính ra từ lúc Q. đến rủ chúng tôi là trưa mồng 2, đến lúc tôi lên tàu của Gh. là sáng mồng 5 hay mồng 6 ( thường thì tựu trường Tết vào mồng 5 nếu nhằm ngày chủ nhật thì dời qua mồng 6 ), chỉ có 2 hay 3 ngày rưỡi Vượt biên Trên mặt biển Tàu (ghe) của Gh. thuộc loại nhỏ chưa bị quốc doanh hoá, có 1 cái sàn bằng ván phủ hết mặt tàu, phía dưới gọi là hầm, mặt trên gọi là sàn, đàng trước ghe gọi là mũi, đàng sau ghe gọi là lái, người lái ngồi ở đàng sau ghe.
Trên sàn về phía sau lái có 1 cái chòi bằng cây gọi là mui dùng cho ngư phủ ăn, ngủ, che nắng che mưa. Vì lý do an ninh, Gh. bắt tất cả mọi người phải xuống núp dưới hầm, kể cả vợ Gh.. Trên sàn chỉ có 4 người là Gh.,cháu của Gh. phụ lái, Q. và tôi. khi tôi lên tàu thì nhà tôi có chun lên cho thấy mặt rồi trở xuống liền. ..Gh. đưa cho tôi 1 chiếc áo kaki cũ mặc vào giả làm ngư phủ và nói với tôi rằng còn đợi 6 người sĩ quan nữa đến đi với mình. Chờ chừng 30 phút mà không thấy tăm hơi gì, Gh. phân trần với tôi :”Thầy làm chứng đó, em chờ họ cả nửa tiếng đồng hồ mà họ không tới, bây giờ mình phải đi”. Nói rồi nổ máy cho tàu chạy. (Thật ra chờ lâu nguy hiểm lắm, nếu họ đi lạc thì không nói gì, chớ nếu họ bị bắt họ khai ra thì công an có thể khám phá ra tàu mình mà đuổi theo thì chết cả đám) Trời sáng dần, tôi ra ngồi trước mũi tàu, gió mát rượi, không gian trong vắt, nhìn tứ bề không thấy bóng dáng 1 vật gì, lòng tôi thanh thản lắm. Tới đứng bóng mà tôi vẫn còn ngồi đó, không cảm thấy sức nóng của mặt trời, cũng không chú tâm gì đến những sự việc chung quanh. Chợt tôi thấy Q. tiến lại gần tôi, trên cổ có quàng 1 cái khăn trắng tinh. Đó là cái khăn phép mà ba của Q. đã thỉnh ở chùa Miên, đặng xin phò hộ cho con ông vượt biên được bình an, tai qua nạn khỏi. Q. cho tôi hay rằng phía sau có 1 chiếc tàu lớn nó cứ theo mình nãy giờ, hể mình chạy chậm thì nó theo chậm, hể mình chạy mau thì nó theo mau, không chịu bỏ. Q. cũng bảo tôi cứ ngồi yên đó, đừng di chuyển, sợ nó thấy để ý.
Tôi nhóng mình lên dòm qua cửa mui ghe thì thấy phía sau cách ghe mình chừng 20, 30 thước có 1 chiếc ghe lớn. Ghe nầy không có sàn, có mười mấy người vừa đàn ông vừa đàn bà đứng ngồi lộn xộn dưới đái ghe, lẫn lộn với họ là những thúng, rổ, gánh gồng tuồng như là họ đi chợ hay từ chợ về. Trong số bọn đàn ông có mấy người đội nón cối, ăn bận tướng tá giống như là dân quê ngoài Bắc vào. Họ có vẻ như không để ý đến chúng tôi vì ở dưới đái ghe sâu khỏi đầu, ngước mặt nhìn lên chỉ thấy 1 mảnh mây trắng trên trời chớ không thấy chung quanh được. Nhưng đám tài công bên trên thì chắc chắn là thấy, bởi vậy chúng mới theo chúng tôi Con người ta hể thấy nguy thì cầu cứu. Q. đã cột cái khăn phép lên cổ, còn tôi thì đọc kinh liên tu bất tận trong đầu, mà chiếc ghe ác nghiệt nó vẫn lẽo đẽo theo hoài. Tôi nhắn với Q. bảo Gh. coi chỗ nào có cá nhiều, mình làm bộ như
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 33
dừng lại thả lưới, Gh. trả lời là không được, vì nó sẽ nhận ra là Q. và tôi (nhất là tôi) không phải dân ngư phủ, còn nguy hơn nữa. Vậy là cứ kẻ trước người sau, thời gian như vô tận. Mặt trời đã ngã về Tây, tôi lại đề nghị với Gh. là nếu biết trên bờ chỗ nào có xóm dân ở thì mình làm bộ từ từ tấp vô bờ, làm như mình sấp tới nhà coi nó có bỏ mình không. Không biết Gh. có nghe theo hay không mà 1 thời gian sau đó, chiếc ghe sau lách ra khỏi lằn ghe chúng tôi, tăng tốc lực và chạy vọt ngang qua chúng tôi tiến về phía trước. Qua khỏi chúng tôi rồi, nó còn chạy ẹo qua ẹo lại 1 hồi như thể trêu chọc mình. Chừng 5,10 phút sau, nó biến mất trong cỏi mênh mông của biển cả...Tạ ơn Đấng Bề Trên !!... Hú hồn hú vía!!... Từ sáng tới giờ, Gh. chỉ chạy dọc theo bờ biển VN, không dám hướng ra hải phận quốc tế vì sợ chúng thấy sinh nghi mà rượt theo bắt lại. Đợi khi trời sụp tối cách vài thước không thấy, Gh. gắn cái hải bàn do chúng tôi đưa cho lên mui, rồi quay mũi ghe hướng ra biển cả...Hể vượt biên thì những chuyện say sóng ói mửa, những gian khổ đói khát thông thường không đáng kể làm chi...Chúng tôi đã ra đến hải phận quốc tế rồi, không còn sợ tàu tuần VN bắt nữa, nhưng phải coi chừng hải tặc nên các người ở dưới hầm vẫn phải ở đó
Trưa ngày hôm sau, nhà tôi ở dưới hầm kêu tôi nói rằng thằng con lớn của chúng tôi nó đái không ra. Tôi nghĩ cháu ở dưới hầm đông người mắc cở nên như vậy, bèn đem cháu lên sàn để ở chỗ vắng vẻ một mình, vậy mà đái cũng không được. Tôi khuyên bảo dụ dỗ cách nào cũng không được. Nhà tôi nóng ruột trèo lên, cũng không được, cuối cùng phải lôi dượng Tư, bác sĩ Gi. (bsGi.) lên. Gi. coi, hỏi, rồi nói: ”Nước nầy thì phải mổ bọng đái cho nước tiểu chảy ra”. Nhưng mà giữa trời biển mênh mông, trên chiếc ghe thô sơ chềnh chồng nầy, làm gì có các phương tiện dao kéo, thuốc men, kim chỉ, để mà mổ ? Cứ tình trạng nầy thì bác sĩ coi mòi cũng cam đành thúc thủ rồi ! Gi. bảo góp hết các con dao trên ghe đem lại coi sao. Chỉ có mấy con dao làm bếp, chặc đầu cá của Gh. đem lại mà thôi. BsGi. ngồi bẹp xuống sàn, xem xét mấy con dao, cầm lên bỏ xuống, chắc lưỡi hít hà nói một mình, (cái tật Gi. là vậy đó) :”Phải chi tôi có được cái ống chích thì đỡ quá!”. Nhà tôi nghe vậy reo lên: ”Tui có ống chích nè dượng!”
Nguyên là trước khi cộng sản vô chừng 1 năm, tôi bị bịnh sưng gan, bác sĩ trị hết, nhưng hậu quả là tôi có 1 cái fistule biliaire trong bụng, thỉnh thoảng nó làm tôi đau bụng dử lắm, cứ mỗi lần như vậy thì chích cho tôi vài ống thuốc Solucortef (tôi nhớ tên là như vậy, không bảo đảm hoàn toàn đúng) thì hết. Qua thời cộng sản, thuốc hiếm mà tiền cũng hiếm, có người bày cho tôi uống nghệ chưng cách thủy, cũng hết. Lúc tính chuyện vượt biên với “anh bạn kết nghĩa” nhà tôi cạy cục mua được 1 hộp thuốc đó với 1 ống chích để dành đem theo, phòng khi tôi trở bịnh thì chích cho tôi. Việc bà xã trử thuốc cho tôi như vậy, đến lúc nầy tôi mới hay. Còn việc bả biết chích thuốc thì tôi biết lâu rồi, bả dạn tay mà khéo tay lắm. Bác sĩ Gi. lụi cây kim vô bụng dưới thằng con, rút ra từng ống nước tiểu. Sau 1 hồi, bọng đái cháu xẹp xuống, mặt mũi tươi tỉnh lại như thường. Trong việc nầy, tôi nghĩ rằng bà xã tôi làm tốt nên được phước, bả thương em nên kỳ kèo đặng cho Q. và Gh. nhận cho gia đình dì Tư đi chung với chúng tôi, nhờ vậy mới có bs Gi. trên ghe mà cứu thằng cháu, cũng nhờ Trời Đất khiến xui sao mà Gi. tự nhiên lên tiếng than thở thèm cái ống chích và nhờ bà xã nghe được lời than đó nên mới lòi ra cái ống chích
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 34
nầy, và xét cho cùng thì nhờ 6, 7 năm về trước tôi đau nên bà xã mới dự trù đem thuốc và ống chích theo. Thật là cả 1 chuỗi sự kiện hội tụ lại để cứu nguy cho chúng tôi ngày hôm nay Chiều hôm đó, chúng tôi gặp 1 tàu đánh cá Mã Lai loại nhỏ như tàu chúng tôi, họ cho nước uống và chỉ đường cho đi. Qua trưa ngày sau lại gặp 1chiếc khác cũng kiểu đó. Họ cũng ghé cho nước và khi biết chúng tôi là dân vượt biên họ quay tàu họ lại và ra dấu bảo chúng tôi theo. Kẻ trước người sau như vậy chừng nửa tiếng đồng hồ thì họ ra dấu bảo chúng tôi cứ theo hướng đó mà đi, rồi họ quay tàu trở ra biển cả. Chúng tôi chạy 1 lúc khá lâu thì thấy đất liền hiện ra lờ mờ trước mặt, cây cối trên đó càng lúc càng hiện ra rõ rệt. Trên bờ thấy có 1 khoảng đất không có đá, nên cứ nhắm chỗ đó mà chạy tới. Lúc bấy giờ thủy triều xuống, để lộ 1 bãi cát thoai thoải màu vàng lợt. Phải nói rằng những người trên ghe Mã Lai hồi trưa rất tốt bụng, đã chỉ đường cho chúng tôi 1 chỗ tốt để đổ bộ lên bờ. Gh. rồ máy ghe thật mạnh cho nó vọt rướn lên bãi cát, mắc cạn trên đó luôn.
Chúng tôi hí hững chuẩn bị xuống ghe thì 1 đám dân mã lai ở đâu chạy đến, miệng la, chân múa, tay khoác, ra dấu không cho chúng tôi xuống ghe. Chúng tôi xuống đại thì họ lấy đá chọi đuổi lên, mặc cho chúng tôi lớn tiếng năn nỉ, chấp tay cầu xin. Như vậy không biết bao nhiêu lần. Nhì nhằn cho tới lúc thủy triều lên, nước lên mau lắm. Trên bờ biển Terenganu Hồi ở VN, chúng tôi ai cũng nghe rằng ghe, tàu vượt biên mà cập bờ ngoại quốc thì họ kéo tàu ra hải phận quốc tế bỏ trở lại. Muốn được họ cho lên thì phải đục cho ghe, tàu chìm, chừng đó họ mới cho lên. Gh. bèn lặn xuống nước đục đáy tàu, trong khi vợ Gh. thương tàu tiếc của khóc hu hu. Nước vô chẳng mấy chốc mà ngập lên gần hết sàn tàu, chỉ còn khoảng trước mũi là không ngập nhờ kẹt trên bãi cát cao hơn mặt nước. Tất cả trên ghe đều tụ lại đàng mũi kêu la ầm ỉ, mà phải vịn, phải bám cho thật chặc, không thôi sóng đánh chiếc tàu ngã nghiêng, có thể hất mình văng xuống nước như chơi. Thảm cảnh như vậy mà đám dân Mã Lai vẫn không xiu lòng.
Trời hết nắng, sắp tối rồi làm sao đây, nhiều lúc tôi nghĩ, không lẽ mình tới đây rồi chết ở đây sao? Chợt từ đâu xuất hiện 1 ông trung uý Mã Lai (cấp bậc ông sau nầy tôi mới biết) với 1 toán lính, ông quơ gậy la hét đuổi đám dân đi hết, rồi ra lệnh cho chúng tôi từng người bồng bế nhau mà đi lên. Lính xét sơ trong mình chúng tôi coi có vũ khí hay không, chớ nói cho đúng, những món khác, ngay cả vàng bạc nữ trang, họ không có vẻ gì chú ý tới. Họ dẫn chúng tôi đến 1 chỗ đất cao có mấy cây lớn, ông trung uý đặt vài người ở lại canh chừng chúng tôi, rồi bỏ đi. Trời tối mờ mờ, có 1 chiếc camionnette chở mấy người da trắng đến, họ để đèn sáng trưng, lập danh sách chúng tôi theo từng gia đình, gia trưởng đứng đầu. Xong rồi họ cũng đi Chúng tôi lâm cảnh màn trời chiếu đất, có đêm mưa lớn phải buộc tấm nylon vào nhánh cây cho đàn bà con nít tạm trú, còn đàn ông thì ngồi dưới gốc cây kể chuyện cười chơi chờ mưa dứt. Có điều ngộ là cơ thể tôi trước đây hay bị cảm gió, (“nắng không ưa, mưa không chịu, ghét gió kỵ mù sương”, như nhà tôi thường hay chọc) vậy mà bây giờ gặp hoàn cảnh nầy cũng lướt qua hết. Ở như vậy vài ngày thì có 1 phái đoàn người da trắng khác đến gặp, sau khi hỏi han nầy nọ, họ bảo chọn 2 nước mà mình muốn xin đến định cư và nói tại sao. Tôi chọn thứ nhất là nước Canada, thành phố Montréal vì tôi
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 35
nói tiếng Pháp và có 1 người chị đang ở đây với 2 đứa con đã du học và đang làm việc tại đây. Thứ hai là nước Mỹ, vì thời VNCH tôi là hiệu trưởng 1 trường comprehensive high school (trung học tổng hợp) kiểu Mỹ nên hiểu biết lối sống và văn hoá của Mỹ (thật tình cái nầy hơi nói lố 1 chút). Còn bác sĩ Gi. thì chọn đi Mỹ, nhạc mẫu cũng theo Gi. mà xin đi Mỹ. Tôi nghĩ 2 phái đoàn người da trắng nầy là nhân viên của Phủ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc tại Mã Lai Sau đó lính Mã Lai dẫn chúng tôi đi bộ 1 khoảng khá xa, đến 1 cái vườn dừa rộng mênh mông, họ dùng dây luộc lớn nối 4 gốc dừa lại với nhau thành 1 khoảnh vuông, bảo chúng tôi ở trong đó. Nhìn chung quanh thì thấy cũng có nhiều khoảnh vuông như vậy, bên trong cũng có người ở. Thì ra đây là trại tập trung người tị nạn VN, chờ được chở ra đảo Pulau Bidong, ở ngoài khơi cách đây chừng 40 cây số. Vùng nầy thuộc tiểu ban Terenganu của Mã Lai. Ông trung úy hằng ngày đến thị sát, ông tỏ vẻ có cảm tình với ghe chúng tôi thấy rõ, lần nào đến cũng ghé nói chuyện vài câu. Đám lính Mã Lai cũng hay đến chơi giỡn với các con của tôi và của Gi., dạy cho các cháu nói tiếng Mã.
Đến lúc qua sống bên Bắc Mỹ rồi, gia đình chúng tôi vẫn hay dùng tiếng Mã “bê ra” thay cho tiếng Việt “đi cầu”. Người Mã Lai có tục ăn bóc như người Ấn Độ, nên 1 tay họ dùng để ăn, tay kia dùng để “bê ra”. Một buổi chiều nọ, tôi đang ngồi thơ thẩn thì thấy 1 người VN bị 2 tên lính mã lai nắm 2 bên nách, nhận đầu anh gục xuống, lôi anh chạy trần truồng thoáng ngang qua tôi. Mắt tôi thấy rõ ràng như vậy. Còn nguyên nhân thì sau đó tôi nghe như vầy, tự tôi, tôi cũng có đặt nhiều nghi vấn. Nghe nói: Anh nầy vượt biên mà đem theo cả 2 vợ, mà 2 người nầy lại không biết nhau. Tôi tự hỏi lúc ở dưới tàu, lúc ở cái trại tạm nầy, ban ngày anh ăn ở làm sao, tối anh ngủ làm sao mà cả 2 bà đều tưởng rằng mình là vợ duy nhất của “chàng”. Buổi chiều đó, anh đi xuống biển tắm, trên nầy có bà từ thiện Mã Lai nấu 1 cổ cơm ngon đem đến cho người tị nạn. Tàu của anh được chọn để được phát cơm. Lính Mã Lai chiếu theo danh sách kêu lên từng người, ai lảnh phần nấy. Kêu đến tên anh, không có mặt.
Cả 2 bà mới đứng lên, người nào cũng xưng là vợ của anh, xin lảnh thế cho chồng. Chừng đó 2 bà mới “khám phá” ra nhau. Máu hoạn thư sôi sục, 2 bà sỉ vả ẩu đả nhau om sòm, lính Mã lai mới xuống biển lôi anh chồng lên mà hành phạt. Nghĩ mà buồn cho thân phận người tha hương cô thế, cũng tại mình thua cuộc chiến nên mới ra nông nổi nầy. Chúng tôi ở đó được vài tuần lễ thì có tàu giống như là tàu đánh cá loại nhỏ đến chở các người tị nạn ra đảo. Thiên hạ đi hết tốp nầy đến tốp khác, rốt cuộc chỉ còn trơ chúng tôi ở lại. Chờ cả 2 ngày cũng không thấy gì, đến ông trung uý cũng ngạc nhiên. Đến chiều tối ngày sau, chúng tôi xuống tàu thì không gặp ông để từ giã. Rời khỏi bờ 1chút thì trời đổ mưa, chúng tôi nằm trên sàn tàu cho thủy thủ trải lên mình 1 tấm vải bố đặng đụt mưa. Gíó to sóng lớn, chiếc tàu trồi lên hụp xuống đụng đái biển hay đá ngầm gì đó nghe kêu kịt kịt liên hồi, tưởng chừng như nó sắp vở tan mà chìm xuống biển. Tôi bị say sóng bất kể chết, nằm mẹp trên sàn rên hừ hừ, rồi ngủ thiếp đi hồi nào không hay... Trên đảo Pulau Bidong Khi tới đảo thì trời tạnh, biển êm. Họ dẫn gia đình tôi vào 1 căn nhà tan hoang, cửa, vách hầu như không có, có mấy cái chõng cây, mặt chõng bằng nhánh cây trên lót đệm, tôi nói đệm
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 36
chứ không phải nệm đâu nhé. Gia đình bs Gi. với nhạc mẫu và dì 7 cũng ở gần đó, còn Q., Gh. và mấy người kia không biết ở đâu Từ hôm tôi lên đảo đến lúc tôi rời đảo có hơn 3 tháng vậy mà tôi không 1 lần gặp lại Q. và Gh.. Sau khi tôi định cư ở Montréal hơn 2 năm thì nhận được thư của vợ Gh. từ Mỹ gởi qua, nói rằng tôi còn thiếu em 1 số tiền vượt biên. Tôi nhờ làm việc liên tục đã 2 năm, nhờ đông con nên được giảm thuế và được phụ cấp 8 đứa con ( allocations familiales), với lại được trường Collège Français cho ở cái nhà miễn phí, khỏi lo trả tiền nhà hằng tháng, nên góp nhóp trả hết 1 lần cho Gh.. Rồi đến khi dượng Tư Gi. học xong trở thành bác sĩ của Mỹ, hành nghề và định cư tại Houston, gia đình tôi thường đến đó chơi. Do dì Tư nhắn gọi, Gh. có đến gặp tôi. Vẫn làm nghề chài lưới, 2 bàn tay chai cứng, đầy vết thẹo bị cá chém. Đến những năm cuối thập niên 1990 thì nghe tin Gh. đã trở về VN sinh sống. Còn Q. thì bặt vô âm tín Đảo Pulau Bidong không đầy 1 km vuông mà núi đã chiếm hết hơn 90% rồi.
Đường đi, đường mương, nhà cửa đã được cất trước khi chúng tôi đến cả rồi. Nóc nhà lợp tôn, vách thường bằng nylon, suốt thời gian tôi ở đó không nghe có đám cháy nào. Người mới đến sử dụng những gì người đã đi để lại, hoặc mua lại, hoặc được người đi cho không hay được Ban quản trị cấp. Có 1 Ban Quản Trị gồm toàn người tị nạn tự nguyện xung phong làm việc công. Bác sĩ Gi. sau đó cũng xung phong vào Ban Y Tế, lần hồi lên làm trưởng ban trước khi đi Mỹ định cư. Trật tự, an ninh, vệ sinh, theo tôi thấy trong thời gian ở đó thì tạm tốt trong cuộc sống lộn xộn tạm bợ nầy, có lẽ ai ai cũng e dè, sợ lớ quớ bị trả về VN thì khốn. Sau khi tôi rời đảo rồi, bs Gi. còn ở lại, nghe nói có 1 đám anh chị bự nổi lên, xưng danh là Quỉ Kiến Sầu Bs Gi. gặp 2 người bạn bác sĩ, trước đó họ ở với 1 đám bác sĩ khác 1 cái nhà rộng, nay đám người đó đi hết rồi, nhà trống nên Gi. dọn về ở với họ, kể cả nhạc mẫu và dì 7. Thật là thyên duyên tiền định, sau nầy qua Mỹ, dì 7 với 1 trong 2 bác sĩ đó được ông tơ se sợi chỉ hồng. Còn vợ chồng tôi thì gặp được 1 chủ ghe lưới giàu có ở Rạch Giá, anh cho chúng tôi mượn 1 số tiền Mã Lai đặng mua 1 cái nhà khá tốt ở khu C. Nhà nằm trên 1 khu đất cao ráo, dưới tàn 1 cây đại thụ, trưa nó ngã bóng lên nhà mát rượi. Những người chung quanh hay đến dưới gốc cây nầy hưởng mát và tán dóc. Nhà lại gần chân núi và mé biển. Buổi sáng, nhiều người kéo ra bờ biển chia thành từng toán tập thể dục hoặc võ, hoặc tai chi, có 1 người làm huấn luyện viên, hàng ngũ chỉnh tề. Thỉnh thoảng, người huấn luyện viên móc trong túi ra 1 cuốn sổ nhỏ coi coi rồi tiếp tục tập. Họ đa số là người Việt gốc Hoa.
Về thực phẩm thì mỗi gia đình được phát đồ ăn (gọi là đồ supply) theo định kỳ gồm chính yếu là gạo với những hộp thịt gà nấu với đậu. Món đồ hộp thịt gà nầy nếu ở VN thời ấy chắc cũng quí lắm (nhà tôi chuyên môn mua đi bán lại thứ nầy mà) nhưng ở đây, ngày nào cũng ăn, sáng, trưa, chiều gì cũng cứ ăn mỗi món đó thét rồi ngán muốn chết, lên mâm cơm thấy nó là muốn nhợn rồi. Hèn gì mà thấy a xẩm kế bên nhà tôi ở lúc mới lên đảo có trồng mấy mẽ giá để ăn và bán, nghe nói mỗi buổi tối ả chổng khu đái lên đó đặng cho gíá tốt và...”thơm”. Tới đây tôi nhớ lại 1 chuyện được nghe kể trong trường NTT lúc chưa vượt biên như vầy: ‘‘Một thầy giáo trẻ dạy Văn lớp 6,7 gì đó, giảng cho học trò nghe rằng: Ngoài Bắc giàu có sung túc lắm, lúa gặt về đổ vô bồ chứa không hết, phải đổ
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 37
ngoài sân cho trâu bò ăn, ăn thét nó ngán ăn hết nổi phải để bụng đói, thành ra con nào con nấy ốm nhom’’ ! Chắc chuyện nầy không có thấu tai CM nên thầy vẫn còn dạy khi tôi vượt biên. Ở đây thì tôi ăn thịt gà hộp hoài, ăn thét nó ngán ăn hết nổi, phải để bụng đói thành ra thân thể ốm nhom, đến nổi có người tưởng tôi là “ông già” (quí vị sẽ thấy) Thỉnh thoảng cũng được phát thịt tươi, thường vào buổi tối. Bửa nào nghe loa kêu lên lảnh thịt thì cả đảo như bừng sống dậy, nhà nhà đốt đèn, chỗ nầy son chảo kêu lẻn kẻn, chỗ kia dao chém thớt kêu lộp cộp, tiếng cười nói gọi nhau ơi ới như ở đồng quê miền Nam khi nhà giàu có đám giổ, hồi tôi còn nhỏ Nước ngọt thì có cái giếng ở đâu đó tôi không biết, hằng ngày thằng con lớn của tôi xách thùng tới đó sấp hàng hứng đem về, để dành làm bếp và cho đàn bà con gái tắm rửa. Còn đàn ông như tôi thì xuống biển mà tắm.
Tôi chỉ đi ra cho nước biển tới ngực rồi ngồi xuống cho nước ngập đầu, kỳ cọ chút đỉnh rồi đi lên. Mấy đứa con trai của tôi và của bs Gi. thì hay theo dượng Tư ra xa lội, lặn chơi. Nhưng mà phải coi chừng, hể thấy trên bờ có ai bưng bô ra đổ thì phải chạy mau tránh xa đặng tránh ...cứt. Có người đó nín thở, lặn 1 hơi từ chỗ nầy tới chỗ kia dài hết sức, tới chừng nổi lên có cục cứt vắt trên vai ! Trong 1 bức thư tôi gởi cho chị tôi ở Montréal, tôi viết :” Chị đừng có lo cho em, em ở đây như đi Vũng Tàu chơi vậy, sáng leo núi, chiều tắm biển...”. Tắm biển thì tôi đã nói rồi đó, còn leo núi thì để trả nợ cái ruột già. Nghe nói có cầu tiêu công cộng, nhưng mà thối tha dơ bẩn lắm, có người té xuống dưới cứt ngập đầu (??, chắc là nói lố, nhưng dù sao chắc cũng thấy ghê lắm ). Tôi nghe nói không dám tới, sợ rằng lúc lên ăn cơm, thịt gà hộp đã làm nghẹn họng, nay lại thêm hình ảnh cái cầu tiêu dơ nó lảng vảng trong đầu thì nuốt sao vô, cho nên tôi đi lên núi vậy. Mà cũng có rất nhiều người khác cũng làm như tôi Có 1 con đường mòn dẫn lên lưng chừng núi. Sáng sáng nhiều người theo con đường nầy mà leo lên, tìm chỗ nào vừa ý bên vệ đường thì xề xuống ngồi chồm hổm tòng ngòng mà làm “đại sự”. Đàn ông tòng ngòng mà đàn bà cũng tòng ngòng.
Nhiều bà kín đáo hơn, khoanh 2 cánh tay lên đầu gối, úp mặt lên đó mà giấu, có lẽ nghĩ rằng họ thấy gì thì thấy, miễn đừng thấy mặt nhận ra mình thì thôi. Có bà lại lo xa, đem theo cái quạt hoặc miếng carton đặng che trên hay che dưới. Có người thắc mắc hỏi: Tại sao không vô phía trong tìm chỗ kín đáo mà ngồi, ngồi chi ở ngoài mà phải giấu trên giấu dưới? Xin trả lời rằng: Phía trong đá lớn đá nhỏ lởm chởm, nhánh cây gai góc chằn chịt, lại thêm cỏ ống mọc cao, không mặc quần nó đâm vào da thịt, lại là chỗ nhược thì chịu sao thấu, đó là chưa kể chuột, rắn rít sâu bọ, còn đáng sợ hơn bị dòm ngó chút đỉnh. Thôi thì “gặp thời thế thế thời phải thế” cho xong Tôi cũng lợi dụng dịp lên núi mà nhặt củi khô đem về nấu bếp. Có lần tôi vác bó củi từ trên đi xuống, có mấy người đàn ông từ dưới đi lên, không biết bộ hệ tôi lúc đó thế nào mà có 1 người la lên: ” Tránh, tránh. Tránh ra cho ông già đi ”-“ Cám ơn, nhưng tui chỉ mới có 40 hà mấy ông ơi ”.
Một lần khác, tôi mặc bộ đồ kaki đen nhân dân tự vệ đi dạo chơi, có 1 đám người đàn ông ngồi trong nhà nhìn ra thấy tôi, ánh mắt họ tỏ ra hằn học, 1 người bước ra hỏi tôi :” Sao bận bộ đồ nầy?”. Tôi chợt hiểu ra rằng họ thấy đồ đen, cho là Việt cộng nên căm thù như vậy, tôi vội đính chánh :”Đâu có, đây là đồng phục của nhân dân tự vệ thời Quốc Gia mà, tôi là Quốc Gia chánh hiệu con nai mà “. Anh ta
Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 38
dịu mặt lại trở vô nhà, tôi cũng lật đật trở về nhà thay bộ đồ khác. Gặp bạn bè mới cũ, có người nghe tôi nói tôi xin đi Canada thì nhăn mặt nói: ”Canada lạnh chết”, có người nói: ”Canada buồn chết, Canada mà sánh với Mỹ như đồng quê với thành thị vậy đó”. Dưới tàn cây lớn bên nhà tôi, mỗi trưa nhiều người tụ lại hóng mát và tán gẫu, có ông xồn xồn nói :” Mấy người đi trước mình gởi thơ về nhà nói là họ qua bển làm chỗ nầy, chỗ nọ như là ngon lành lắm, hái ra tiền, rõ ra là làm cu li không hà !”. Tiếng cu li, ai cũng hiểu là ông muốn nói làm công nhân, thợ thuyền. Một ông xồn xồn khác nói:” Vậy chớ sao, hổng lẽ nó đem mình vô xứ nó đặng làm ông làm cha nó sao “.
Có bà mộc mạc và thực tế, nói :” Ối thây kệ nó, miễn là mình có ăn có mặc, thong thả, không lo không sợ gì hết thì cũng được rồi, cầu cho mấy đứa nhỏ sau nầy học hành được, tụi nó khá hơn mình ”. Có người chỉ cho tôi 1 cặp vợ chồng trẻ, người vợ đang có mang, nói: “Hồi thời Quốc Gia, họ du học qua Canađa rồi ở luôn bên đó. Tới chừng Cộng Sản vô, họ về VN “phục vụ” rồi bây giờ trốn đi nữa đó “. Trên đảo lúc bấy giờ có ước chừng hai mươi mấy ngàn người, nhưng tôi nghĩ ai nấy đều có chung 1 tâm tư, đó là chờ đợi. Người nào đã được nhận thì chờ đợi được bốc đi, người chưa được nhận thì chờ được phỏng vấn, người đã được phỏng vấn mà bị từ chối nhiều lần thì chờ Mỹ “hốt rác”, những người thuộc diện nầy có thể phải chờ đợi lâu, năm nầy qua năm nọ, vài người do đó mà có thể phẩn uất làm càn, ngang ngược, như nhóm Quỉ Kiến Sầu tôi đã nêu trên Có phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn, tôi được kêu lên thì gặp 2 người da trắng, 1 người ngồi trực diện nói chuyện với tôi, người kia ngồi trên 1 bàn riêng ghi chép. Họ không có vẻ gì nao núng khi tôi khoe rằng tôi là hiệu trưởng của 1 trong 10 trường comprehensive high school ở VN, có làm việc với người Mỹ (thật sự thì đâu có, lâu lâu họ có gởi học bổng đến phát cho học sinh thôi) nên hiểu biết nước Mỹ ( cũng đâu có ) và do đó sống được trên đất Mỹ không khó...
Sau cùng người phỏng vấn nói :”you đã xin đi Canada làm ưu tiên 1, vậy để chờ Canada, chừng nào Canada không nhận thì Mỹ sẽ nhận you” (Cách xưng hô tiếng Việt mình khó quá, tiếng you ở đây tôi không biết dịch làm sao cho phải, là ông, anh, là chú, bác hay là mi, mầy, cho nên xin cứ để là you). Thế là tôi về, chờ Canada vậy. May sao, chừng vài tuần sau thì Cnada tới. Trước đó chị tôi có gởi cho tôi 1 tờ bảo lảnh, nhưng tôi giấu đi không trưng nó ra vì tôi nghĩ rằng việc tôi có chị bên đó và việc tôi nói tiếng Pháp cũng đủ rồi, nếu trưng ra thì qua bên ấy, Canada sẽ giao đứt tôi cho chị, không giúp đỡ gì tôi hết. Người phỏng vấn tôi nói tiếng Pháp, anh có vẻ hài lòng thấy tôi cũng nói tiếng Pháp. Sau vài ba câu, tôi thấy ngay rằng tôi được chấp nhận tới hơn 85% rồi. Anh không hỏi tôi nữa mà giải thích cho tôi nghe cuộc sống bên Montréal, như là các con tôi sẽ đi học các classes d’accueil, tôi được ưu thế là có “l’aisance du language”...Tôi không biết những người khác thì sao chớ tôi thì khi dứt cuộc phỏng vấn, họ cũng không nói dứt khoát là họ nhận tôi nay không, nhưng tôi nghĩ rằng họ nhận. Tôi về nhà cũng không nói gì cho bà xã biết...cho đến lúc tôi được thông báo ngày chúng tôi rời đảo để được chở đến trại chuyển tiếp đi Canada. Tính ra gia đình chúng tôi ở trên đảo nầy hơn 3 tháng. Giã từ Pulau Bidong ! Trại chuyển tiếp Kuala Lumpur Vượt Biên (1I) Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang 2026 Trang 39 Tàu chở gia đình tôi và nhiều người khác vào đất liền rồi từ đó lên xe bus chở đến trại chuyển tiếp ở ngoại ô thành phố Kuala Lumpur, thủ đô nước Mã Lai.
Lần đầu tiên tôi được thấy cái viaduc trên xa lộ và trong thành phố. Không biết là ngẫu nhiên hay họ có nhã ý cho mình viếng thành phố, xe đi ngang qua Toà Đô Chánh của Kuala Lumpur, chung quanh có những dinh thự với kiến trúc và màu sắc làm tôi nghĩ đến những chuyện cổ tích “Một ngàn lẻ một đêm”, thâm tâm tôi thú vị vô cùng Trại chuyển tiếp nằm trên lưng chừng 1 ngọn đồi, có 1 cái sân khá rộng nhìn xuống chân đồi, bao bọc bằng 1 bức tường đá thấp mà kiên cố đặng cho người đến đó hóng mát, ngắm cảnh khỏi trợt chân mà té xuống. Người trong trại thường hay ra sân nầy ngắm cảnh và nói chuyện khào, đây cũng là nơi mà thỉnh thoảng có những chiếc xe camion chỡ áo quần mới cũ đến phát cho dân tị nạn. Nhờ ra đây thường nên tôi gặp lại 1 số người quen Rạch Giá, đặc biệt là 2 người “học trò ruột”, tới nay vẫn còn liên lạc ở Toronto. Trại không có nhà ở, chỉ có những nhà dài như trại lính gọi là giẫy A, giẫy B, giẫy C... , 4 bề không có vách nhưng nếu gặp mưa thì có phên bỏ xuống che mưa. Nhiều gia đình cùng ở chung 1 dẫy không có vách ngăn nhưng tối có mùng (tiếng Bắc là màn) để tránh muỗi và...có thể làm chuyện riêng.
Cuộc sống ở đây nhàn hạ, ăn rồi chơi, chơi rồi nằm, rồi tán dóc, rồi lại ăn, ngủ. Tối trước khi ngủ có văn nghệ giúp vui, mình đàn, mình hát, mình nghe, hát nhạc thời Quốc Gia, đôi khi cũng hát nhạc thời Cộng Sản nhưng đổi lời, thí dụ như “cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn” thì đổi lại là “cùng mắc ể trên rừng Trường Sơn”...đôi khi kể chuyện vui hoặc đọc thơ của những người đã đến Canada kể lại đời sống bên ấy, cũng có khi có chiếu bóng. Thức ăn thì do nhà hàng tàu nấu đựng trong hộp chở vô phát cho từng người, mà là món ngon, thay đổi hằng ngày. Nước thì có ống dẫn nước lên tới trên, tha hồ mà tắm gặt, có cầu tiêu sạch sẽ. Tôi không biết trại nầy do Phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc hay do chính phủ Canada đài thọ mà mức sống cao hơn ở Bidong nhiều. Cũng có những Ban Điều Hành do người tị nạn xung phong làm việc chung, nhưng ở đây khác với ở Bidong là có 1 nữ tu sĩ da trắng coi sóc toàn diện, tên là xơ (sœur) Monica, bà là người cương nghị nhưng ăn nói chừng mực không quát nạt rầy rà, điều khiển trại có thể thống trật tự. Từ lúc tôi ở trại cho tới lúc tôi qua Montréal tới giờ, gặp lại bạn bè ở trại chuyển tiếp, tôi chỉ nghe những phê bình tốt về bà chớ không nghe ai cay đắng về bà hết.
Ở trong trại chuyển tiếp nầy ăn không (mà ăn ngon nữa chớ) ngồi rồi, nhàn rỗi như vậy mà không biết hưởng, cứ khoác khoải trông đi, bồi hồi lo lắng không lúc nào yên dạ. Hồi tưởng lại, cuộc vượt biên của gia đình chúng tôi kéo dài trên 5 tháng: 3 ngày trên mặt biển, gần 1 tháng trên bờ biển Terenganu, hơn 3 tháng trên đảo Pulau Bidong, gần 1 tháng ở trại chuyển tiếp. Rốt cuộc 1 chuyến máy bay chở chúng tôi từ Kuala Lumpur tới phi trường Mirabel, Montréal, vào 1 buổi chiều tối mát lành lạnh giữa tháng 6 năm 1979, có đại diện chính phủ Canada và chính phủ Québec ra đón tiếp và đọc diễn văn chào đón. Một cuộc đời mới trên 1 đất nước mới bắt đầu... Nhưng, có những lúc: “ Ngóng đầu trông lại cố hương /-Núi ngăn biển cách nhớ thương ngập tràn “ ./-
Huỳnh Ngọc Thọ
(Cựu Hiệu Trưởng- Giáo Sư Toán- Trường Công Lập Nguyễn Trung Trực -Rạch Giá - Kiên Giang.)