CHÚC MỪNG ĐS14- NĂM BÍNH NGỌ COI BỘ SẼ LÀM ĂN KHẤM KHÁ HƠN MẤY NĂM QUA- ÔNG THỢ MỘC (Biệt danh trong lớp) KHAI BÚA "ĐẼO" MẤY CÂU THƠ RẤT NÊN THƠ KHÔNG THUA GÌ ÔNG ĐỒ GIÀ NGUYỄN ĐÌNH LIÊN- CHÚC BÁC DANH SUNG SỨC ĐẼO TIẾP CON NGỰA GỖ BÍNH NGỌ ĐỂ VÀO TRƯỜNG ĐUA, SO CỰA VỚI A REAL HORSE, DONALD TRUMP NHÉ./-Mt68
/////////////////
Thân gởi anh Sáu,
Danh muốn nhờ anh
“post” chuyện sau đây:
1)
Cảm
ơn ông “Chánh Sở” đã cho xem phim (classic), xem hình ảnh Sài Gòn, đọc luận văn
Quốc Gia Hành Chánh – ông Chánh Sở làm tôi nhớ nhà quá! Cảm ơn. Cảm ơn.
2)
Danh
thử xin mở mục “Đọc giùm quý bạn”. Và... xin bắt đầu với bài của tác giả Vương
Hồng Sển
Trối Trăng, Tự Tình
Tôi đang bực
tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ máy giấc trưa, gởi
ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.
Năm rồi, tôi ưng cho
xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa
văn, thiến của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với tôi vài niên, nay có
bằng Hán học, và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có lịnh của bề trên,
nên văn tôi bị thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói lại, những
gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ
như khi chưng một lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ
coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn
thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình
hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỉ thí,
văn pháp, người xuất bản nào đụng chạm đến bao giờ.
Nói sơ sơ để tỷ ví,
có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những
nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ,
chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại, như
giá vàng, ngày mua, người bán, nay lượt bớt... khiến cho hiện nay, có một cuốn
của tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách
cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy trong ruột
sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt nên
sách bán không chạy...
V.H.S. (4-3-1993)
(Trích từ trang 53 và
54 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu, 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản
Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt
Nam)
Tết Và Tôi
Tôi xin nói Tết và
tôi. Thằng tôi là đáng ghét, nhưng phải nói, và xin kể một chuyện không tốt, gọi
xả xú bắp để bước qua năm Dậu – con Gà:
Hôm ấy là hai mươi
chín tháng chạp thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ đang rần rần mua vui buổi
chợ đêm nơi Bến Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một bạn gái về nhà đường
Farinole, nay đổi gọi Đặng Trần Côn.
Nàng là một bô-tê, vì
chữ hoa khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy,
chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu miệng, đầu tháng tới sẽ cho người
xách gào-mên (ngoài kia gọi cầu mền), lãnh phần đem về, nhưng bữa nay phải cho
tôi trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình một dĩa lập-là cho rõ tài ngự thiện.
Hai đứa cặp kè đang đi cà rịch cà tang trên đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc
tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước... Bỗng Mười nói:
- Anh S., nước dơ quá, ướt giày tôi hết.
Tôi đang xách tay một
gói thịt nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp lạnh, thêm một chay sâm
banh hiệu Veude Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai tay không rảnh mà “con nầy”
làm khó, chê dơ chê bẩn... Tôi vụt đáp: “Lưng đây nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải
chịu khó xách dùm mấy món nầy!” Tôi nói nãy giờ còn dài quá chớ sự việc xảy ra
ngắn xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố của Mười. Tôi đứng thẳng lưng,
chờ Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì
gì đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao
đi!”
- Con nầy hỗn! Chưa chi nó đã trèo đèo!
Tôi ểnh ngực cho rớt
xuống, và miệng hát giáo đầu giọng mở màn: “Nghe đây!”
- “Lưng vừa vắt L... mầy hăm hở! Tay cầm xúc
xích thung thăng!
Chốn chiến trường tớ
vẫn nhát gan! Nơi lộ vắng, thay hồ tay bốc!”
Rồi tôi bốc thiệt và
bỏ ăn Tết, bỏ chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và mang tiếng ngày nay “học
giả”, xin đính chánh “giả chớ không thiệt”.
V.H.S. (18-12-1992)
(Trích từ trang 21,
22 và 23 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà
xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt Nam)
Anh Thăng Long văn
sĩ,
Cái thú của người uống
nước trà là một cái thú yên lặng, giản dị. Không cần đàn đúm. Không cần phải có
các món nhắm lỉnh kỉnh lôi thôi. Nó không làm người ta bốc cơn hào sảng lửa
rơm. Nó làm cho người ta chậm rãi thanh thản.
Tiếng còi tàu chạy bằng
đầu máy diesel đánh thức tôi dậy từ 3 giờ sáng. Pha một bình Thiết Quan Âm. Bước
ra ngoài hít thở chút không khí. Mùa Xuân đã về. Những ngày lạnh giá đã qua. Ban
đêm trong nhà không cần phải mở lò sưởi nữa.
Trước mặt tôi một tờ
báo địa phương, mấy tờ Việt ngữ do các bạn gởi lên cho. Tờ báo Xuân Ất Sửu có
đăng lại bài thơ Quách Tấn:
Trước tết mai là hoa
Sau tết mai là củi
Trước bao nhiêu nâng
niu
Sau bấy nhiêu hất hủi
Nâng niu mai chẳng mừng
Hất hủi mai không tủi...
Vị nước trà đắng ngọt
thấm dần làm tôi tỉnh táo. Còn bốn ngày nữa, lại một cái tết đến rồi. Ăn tết ở
một nơi không có ai để ý, đường phố xe cộ mọi người sinh hoạt bình thường làm
mình lạc lõng. Năm nay gia đình ở nhà đã ăn tết trước cả tháng càng làm cho
mình lạc lõng hơn.
Khu vườn bên cạnh nhà
tôi xơ xác.
Hai ông bà già người Mỹ có vẻ yếu mệt, không còn trồng trọt gì. Tuổi già
lui cui trong nhà, không thấy con cháu lại thăm bao giờ. Mọi năm vào tháng này
đáng lẽ họ ra ngoài trồng lại cỏ, bắt dàn cây. Vào dịp tết ta, khu vườn vẫn có
nhiều hoa nở.
(Trích
trang 277 trong sách “Ngọn Cỏ Bồng” do nhà xuất bản Người Việt phát hành năm
1985 tại Westminster, California, Hoa Kỳ).
Danh xin nhờ anh Sáu Nguyễn cho “post” hai chuyện:
1 Bạn Kim
Chi (Belgique) thân mến,
Danh rất
vui mừng khi nhận được 2 email thăm hỏi với đầy sự khích lệ. Rất cảm ơn. Nhờ
chuyển lời thăm hỏi chị Lan Anh.
2 Mục “Đọc giùm quý bạn” dưới đây được
trích trong sách “NHỮNG NGÀY MUỐN QUÊN 1975-1983” của tác giả Đoàn Thêm do Tổ Hợp
Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành năm 1992.
“... Đến
phi trường Bangkok..., tôi mới hết phấp phỏng mà bảo nhà tôi:
- Bây giờ bà có thể mừng!...”
(trang 421)
“... Tới nửa
đêm, chúng tôi được lên máy bay bay qua Tây Đức trước khi sang Canada...”
(trang
423)
“... Trước
mặt tôi, sau lưng ông ngồi ghế trên, là những tập tạp chí với tranh ảnh màu,
gài sẵn đó cho hành khách. Giả thử tôi vớ được tại Sài Gòn, hẳn tôi phải xem
cho mỏi mắt. Sao bây giờ tôi lại dửng dưng? Chắc tại những ấn phẩm này không
còn là đồ quốc cấm hoặc bị coi là dấu tích văn hóa tư sản đồi trụy nên mất sức
hấp dẫn của “trái cấm”. Vả lại, tôi vội gì vì từ nay tôi chỉ e không đủ ngày giờ
đọc, để đọc gì thì đọc, học gì thì học. Nghĩ tới đây tôi thấy vui lạ lùng: có lẽ
đây mới chính là sự thích thú mà bao lâu tôi đã lẳng lặng ước mong. Tôi tìm lại
được quyền tự do mà tôi đặt lên hàng đầu các tự do cá nhân: tự do của đầu óc. Cánh
cửa lại mở toang cho tôi trở vào cõi bao la của văn hóa nhân loại...”
(trang
424)
Dưới đây là phần rút ngắn chuyện “Tình Nghĩa Nghĩa Tình” của tác giả Khôi An, trích trang 208, 209, 210, 211 trong Đặc San Hậu Nghĩa số 25, phát hành nhân dịp Tết Giáp Thìn 2024
Tình
Nghĩa Nghĩa Tình
Lần đầu tiên tôi có ý
định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ xôn xao tranh cãi về việc
một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm tòa nhà Quốc Hội.
Ngày đó tôi vừa mới tốt
nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt chính trị xã hội ở chung quanh,
nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một cảm xúc gần như là tiếc cho người
đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta từng nhìn lá cờ qua đôi mắt của tôi và
của hơn một trăm người bạn đồng thuyền vào buổi sáng mùa hè năm ấy, không biết
ông ta có hành động khác đi chăng?
Đêm trung tuần tháng
7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín người đã ra hải phận quốc tế
được gần 24 tiếng.
... Lắng nghe những lời
thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng tôi đang bị tàu cướp
Thái Lan đuổi bắt...
... Chúng tôi chạy
vòng vèo ngay trước mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình minh tới dù không
ai mong đợi. Những tin sáng đã vét đi màn đêm đang che chở chúng tôi. Bác tài
công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách giữa bọn cướp và chúng
tôi thu ngắn trong khoảng khắc... Rồi tôi lại nghe bác lại chửi, nhưng lần nầy đượm
vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:
- ĐM, hình như tụi nó bỏ chạy hả bây?
... Bổng bác tài công
và những người trong phòng máy trên cao vụt la lớn:
- Có tàu!
Có tàu lớn ở đằng xa kia!
- Tàu gì vậy? Vái trời cho không phải tàu của
Liên Xô
... Chúng tôi như được
hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu kia chỉ là một đóm nhỏ
ở xa nên tôi chưa thấy gì cả... chúng tôi vội nhắm cái chấm tít đằng xa mà chạy
tới. Và chiếc tàu kia cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn
dần.
Và, suốt đời tôi sẽ
không bao giờ quên giây phút đó, giây phút người đàn ông ngồi trên cao la lạc
giọng:
- Thấy cờ rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!
Nước mắt ông ràn rụa
trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem máy dầu. Mọi người đứng bật lên làm thuyền chao
mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống
Chiếc tàu vớt chúng
tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một tòa nhà mười mấy tầng, những
người lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem con nít và những người yếu
sức lên trước...
... Ngày đó tôi vừa học
xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt của Cộng sản, thế hệ chúng
tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong những ngày trên tàu Mỹ
tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ nhân ái gần như đã biến mất
trong xã hội nơi tôi vừa ra đi.
… Tôi vẫn nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát
bên thủy thủ đoàn cùng lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng
được cảm giác bàng hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh
biếc của Thái Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này
đến trễ chỉ một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước...
... Như thế đó, tôi
đã may mắn gặp được cái đẹp đẽ nhất của đất nước Mỹ trước khi đặt chân tới đất
nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi tàn nhưng gia tài của
tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình người, cùng với hoài bão
sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh của gia đình, với sự may mắn mà
Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem đến cho chúng tôi... Có lẽ tình
cảm của tôi với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần
từ phía chân trời trên Thái Bình Dương, từ khoảng khắc mấy người lính Mỹ ôm chặt
em bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng
con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ
quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho thuyền
nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh những người Mỹ
đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng tôi đang lục tục di
vào trại mà cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.
Tôi tin rằng không phải
vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm với chúng tôi. Nước Mỹ có
quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch hải đồ để cứu người, giống
như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến vượt biên kém may mắn.
Hơn nữa, những gì
không thật sẽ không tồn tại lâu bền, cho nên tình cảm ban đầu của tôi với nước
Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không càng ngày càng thấy nước Hoa Kỳ là một đất nước bao
dung – hay mong rằng – nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nước Mỹ là một dòng
sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng nguy hiểm,
nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những giống cây đến
từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt...
Người sống lâu ngày
trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn. Người đàn ông đốt lá cờ
Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác rưởi trong dòng sông, chắn
ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỷ ông ta mới dám chà đạp quốc kỳ ngay trước
tòa nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra đi không có ngày về”. Ông ta chắc
chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết
định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ và cái chết của hơn một trăm ngưởi trên
chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983...
... Tôi yêu mến đất
nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên thành một cây
quýt ngọt, và đất nước này không phiền hà khi tôi đem chia xẻ trái ngọt đó nơi
tôi sinh ra. Tinh thần của nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức làm thế
giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách này hay
cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy vọng là tôi
sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải tìm cách ra đi
cho dù phải trả giá bằng tính mệnh hay nhân phẩm...
***
#5
Hồi mới
quen nhau, cô gái kể về ông ngoại, nhà ngoại mình bằng cách nhại lại một mẩu
chuyện vui trên báo, theo kiểu rao vặt “Nam, bảy mươi tuổi có một nhà lá, cột cặm.
Và khu vườn nhiều cây, vài cây sung, vài cây khế, đằng trước có hàng rau, chuối
nhiều không đếm được, hai cây vú sữa bên hè, rau muống, rau lang bò nhóc đất. Cần
rau trai, cải trời cũng có, lục bình, kèo nèo xanh rờn... Dừa dài theo bờ, theo
liếp, chanh de mấy cài góc ao... Không mua, không bán. Chỉ khoe vậy thôi. Cần tìm bạn.
Ưu tiên người ít nói, không nói càng tốt”.
Bởi người chủ vườn, ông
ngoại cô có biệt danh là Hết Nói, một người khá lặng lẽ, khách đến, ông chỉ cười “Mới tới?
Vẹt một chỗ ngồi chơi”. Nghe được mấy tiếng đó, quay đi quay lại, ông già bỏ ra
vườn mất biệt. Lần đầu cô đưa anh về, anh không biết mình đã làm gì phật ý ông
già, trong bụng buồn buồn, dằn dỗi.
Lúc đấy thì anh chưa
biết tính ông, chưa va chạm nhiều, lòng chưa thương tích, chưa nát nhàu bởi người
đời xiên vào những lời đau. Lúc đấy cô chưa ra Hà Nội học, chưa gởi lại cho anh ông già với khu vườn “Anh nhớ tơi lui
bầu bạn với ngoại, hãy vì em...” Cái chữ “vì em” làm anh ngất ngư, nên tuần nào
cũng chạy xe về ngoại ô. Để ngồi uống trà với ông già, ngó hoa cau rụng, lòng
nhẹ bâng, lâng lâng, không biết vì ngồi với một người gần như đã từ bỏ khả năng
giao tiếp bằng âm thanh, hay vì khu vườn đầy nắng.
Khu vườn cũng lạ lùng
như ông già Hết Nói. Vườn không rộng, gây ấn tượng cũ kỹ vì những tàng cây lớn thâm u; vì toàn những loại cây trái vớ vẩn,
hơi hoang dại, do chim chóc mang tới, chẳng sinh lợi; vì cây cối mọc lung tung,
không ngay hàng thẳng lối. Chỗ này, cây rúc vào nách cây, cây chen cây, chỗ
khác lại trống một khoảng, ông già xới đất tỉa ớt, cà. Đám cây này cũng lộn xộn.
Anh thắc mắc, ông già lừ đừ, “Đừng bắt cây cỏ cũng xếp hàng”. Ông già hơi cổ
quái, nên vườn cũng ảnh hưởng, cây cỏ mọc xênh xang, như thể chim ỉa hạt ở đâu,
cây nẩy mần lên ngay chỗ đấy, ông già chẳng dời đi. Người quen nề nếp, quen
khuôn phép thấy lạ. Ngoài cỏ dại bị chặt từ lúc mon men bờ, hết thảy tự nhiên
được sống đời tự nhiên. Những trưa nồng, không thấy chim sâu chim sẻ nhưng tàn
cây vọng xuống véo va véo vắt, như thể chính những lá cây kia hót. Mấy con ong
nghệ o e mon men trên đám bông muồng. Sập tối, vài con cú mèo đậu trên cây vú sữa
già kêu từng hồi, anh hỏi ông già không sợ sao, ông cười bảo, sợ gì, cú kêu thì
cũng như chim sáo hót, hay cu đất nó gáy thôi.
Vườn quyến rũ chim
chóc, ong bướm đã đành, mấy thằng bạn anh cũng mê mẩn, chủ nhật nào cũng men
theo để... nhậu. Nhiều lúc, ông già Hết Nói mót từng cái ly mới đủ cho khách. Mồi
thì không phải lo, bưng cái rổ thủng thỉnh dạo một vòng vườn là nhậu mệt nghỉ.
Cá sẵn dưới ao, gà ác cả bầy đủng đỉnh bươi đống rơm mục. Một bữa ăn cá rô
chiên xù, ông già hái vào một rổ lá lạ hoắc, nào là lá đậu rồng, lá cát lồi, lá
chùm ruột với nắm cải xanh. Tiệc nữa chừng thì rổ rau hết sạch, thằng bạn chết
nhát hay giơ mấy cái lá lên, dò xét “Cha, không biết ăn vô có chết dại không
đây?” nhưng vẫn ăn liến láu, khen bùi, khen chát, khen mùi lá non sao mà thơm râu.
Ông già Hết Nói coi bộ
vui. Anh có cảm giác ông già luôn lặng lẽ nói cùng đám trẻ, rằng không cần ngôn
từ cũng chuyển tải được tình người, rằng trên đời vốn chẳng có rác, cây cỏ cũng
vậy, cũng không hoàn toàn vô tích sự. Tệ như cỏ cức heo, cỏ mực mọc bờ ao cũng
làm thuốc được. Tự nhiên sinh cây không trái, hay trái thiếu ngon, thí đã có
lá, có hoa tặng người. Đất thảo thơm nên người thảo thơm, cây cỏ thảo thơm. Ăn
lươn um, tụi nhỏ giật mình, nếu thiếu lá nhàu không biết cái món này lãng đến mức
nào. Càng ngày, càng có cảm giác ta được nhiều hơn cả ăn ngon. Có bữa, làm món
bì cuốn lá sung, ông già hái mấy cái lá có nhiều đốm trắng, nổi gù lên, một đứa
thắc mắc, sao lá mướt rượt mà ngoại chê, lại lựa cái lá thấy ghê? Ông già không
trả lời, đưa cuốn lá sung cho nó, ăn xong, nó vỗ đùi “Ngon quá chừng, ngọt, mà
giòn”. Bữa nhậu bỗng dậy động vì “triết lý lá sung”, thô ráp, xấu xí mà ngon,
bùi, cũng như con người ta, ngoại hình không đẹp, không nói hoa mỹ cũng chẳng hề
gỉ, ăn thua là tấm lòng, tất nhiên, triết lý này chẳng thể ứng dụng cho những
cuộc thi... hoa hậu.
Suốt mùa hạn, hết bì
cuốn lá sung, hết khế chua chuối chát cặp mắm lòng, đến cá lóc nấu cháo nhúng
rau đắng đất mọc theo mấy bụi chuối... Và những cô vợ, người yêu của bạn anh
lơn tơn đi đào khoai chuối, khoai báng, củ lùn, rồi hớn hở thổi lửa luột nồi
khoai đầy vun. Có bữa, cả bọn biến thành con nít, khi xắt những trái gòn non, cộng
với mấy cái bắp chuối con con chấm muối giấm. Có đứa rưng rưng, vì nó nhớ thời
thơ ấu nghèo hay vì trái ớt dầm cay xé?!
Rồi mưa sập soài, kéo
theo lê thê những mây đen, sấm chớp. Con đường đến nhà ông già Hết Nói hơi khó
đi, nhưng có hề gì khi khu vườn bắt đầu lên tiếng của sự nảy mầm, tiếng của những
chồi xanh. Vì cái màu trắng muốt của đọt lụa hay phớt tím của đọt cóc, đọt xoài
mà người phải lăn vô bếp đổ bánh xèo. Tuần kế tiếp, ai đó sáng kiến làm cái Lễ kỷ
niệm ngày xưa... nghèo; bẻ những đọt rau muống, rau lang, cải trời, rau dền,
nhãn lồng... xanh mởn luộc lên chấm với tương kho.
Lúc đó, vài đứa đã
nghiện khu vườn có ông già trầm lặng, vài đứa khoái ngồi trầm ngâm uống trà với
ông, nghe ông nói chuyện đời (bằng cái cách riêng của ông). Chuyện nhậu chẳng
quan trọng nữa, đôi lúc cả bọn băm bổ chạy xe ra ngoại ô, chỉ để ngồi dưới gốc
cây vú sữa, nghe chim hót, nghe dừa rụng xuống ao, nghe tay chuối khô xào xạc,
nghe khu vườn nói về triết lý của đất. Lúc ấy đã hết năm, cô gái sắp về. Mọi
người đùa là biết đâu cô sẽ dắt về một anh chàng Hà Nội. Biết đâu cô chẳng về nữa.
Một năm khiến anh thay đổi nhiều, thì cô ấy, biết đâu... Tôi viết những dòng
này như lời nhắn đến người người yêu của anh bạn tôi, nếu chị không về nữa, chắc
chắn khu vườn sẽ có đến hai người Hết Nói, họ trồng lung tung những cây cỏ (tưởng
như) dại, để chờ đợi, để giữ tròn lời hứa với một câu nói dở, “hãy vì em...” Đấy,
có thể tôi thi vị hóa bạn tôi, cũng có thể anh quên mất chuyện đó rồi, anh gắn
bó với ông già, khu vườn chỉ vì ông già, khu vườn. Vậy thôi.
(Trích trang 157,
158, 159, 160, 161 trong quyển Tạp Văn “Ngày Mai Của Những Ngày Mai” của tác giả
Nguyễn Ngọc Tư do nhà xuất bản Phụ Nữ phát hành năm 2007 tại Việt Nam)
#6
Tác giả Vương Hồng Sển
viết ngày 23 tháng 4 năm 1993:
... Hôm qua, ngày
22-4, 8 giờ sáng, tôi đang lui cui đánh máy nơi buồng văn, bỗng đứa cháu gái nội
chạy vô báo có khách đến kiếm và đang đứng chờ ở cổng ngỏ sau, tôi đang áo thun
quần đùi, cũng không kịp và không cần thay y phục tử tế khác, lòng bực tức vì
khách nào đây đến phá đám, làm tôi đang viết và bị mất hứng..., tôi ra đến cửa
thì gặp một cô tươi tắn, miệng cười cười bày hàm răng cửa có một lằn nhỏ phân
hai, lễ phép xin tôi cho đẩy xe vào sân trong và tự giới thiệu: “Cháu, đại diện
báo Giải Phóng, đến xin cụ một bài về ngày Ba Mươi tháng Tư... Tôi không đợt dứt
lời, vụt nói:
- Xin lỗi cháu, ăn mặc sổ sàng như vầy, tiếp...
nhưng tôi không biết nịnh!
- Không cần phải nịnh đâu. Xin cụ cứ viết như
suy nghĩ...
- Tôi đã từng bị xí gạt, vừa rồi có một người dắt
ông kia lại nhà, bảo tôi ưng nói vài câu để ông ấy cho đứa con quay phim thâu
tiếng nói và thâu luôn ảnh, điện vẫn điện của tôi, quay phim vừa xong, ông ấy
lòn tay dưới bàn tôi đang ngồi, trao cho tôi một bì thơ dày dày, khách ra về,
tôi lấy ra đếm, vỏn vẹn năm chục ngàn (50.000), tôi tức tức mà khách đã đi xa,
nay cháu đến như vầy, và tôi đang tức khí, xin nói thật với cháu, hãy về hỏi lại
nhà báo tiền nhuận bút là bao, như phải chẳn thì tôi sẽ viết, chớ xin lỗi cháu,
với tuổi 92, tôi quen sổ sàng, tôi là con đ. có hạng, trả đúng giá thì tôi mới
chịu ngủ!...
(Trích trang 101 và
102 trong sách Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển do nhà xuất bản
Trẻ tái bản lần thứ nhất và phát hành tại Việt Nam năm 2012)
***
02/15/2026
Rất cảm kích khi biết tác giả “Cóc Cuối Tuần” trở thành “Ông Đồ” trong mùa Xuân Bính Ngọ 2026, Danh kính xin phép quý độc giả mượn ý và lời bài thơ “Ông Đồ” của tác giả Vũ Đình Liên để xin có ít lời:
Năm nay, đào vẫn nở
Vẫn thấy ông Đồ xưa
Thấy người muôn năm
cũ
Đâu đây vẫn thấy hồn
“Sức” của Danh chỉ có
vậy. Xin kính cáo.
Và kính chúc mừng năm
mới bình an.
No comments:
Post a Comment