tạ ơn đời tạ ơn mẹ
Mẹ làm gai nở hoa, tranh 1910, Kay Nielson
Tạ ơn Đời, tạ ơn Mẹ
Tôn Thất Tuệ
2010
Theo kinh Niết Bàn, lấy tất cả vũ trụ vo thành trái cau còn dễ hơn nói cho hết việc sinh (và tử); sữa con bú vú mẹ nhiều hơn nước biển và nhiều ví dụ khác. Sự đầu thai đã có trong hiện tại khi con người mang những dấu tích di truyền của bố mẹ.
Trong sự sinh thành vô tận của vô số cảnh giới của thời gian vô thủy vô chung, có sự sinh thành trên quả đất của chúng ta trong đó người mẹ đóng vai trò quyết định. Dĩ nhiên tất cả đều phải có phối hợp âm dương. Trong thống kê, đàn bà sống lâu hơn đàn ông, kể cả trong các xã hội đàn bà đàn ông đều có quyền hút thuốc uống rượu và xả láng mọi thứ như nhau. Trẻ chết lúc sinh nhiều nhất là con trai.
Nhìn vào thế giới thú vật, con cái bảo vệ và nuôi dưỡng lứa mới sinh. Ngay trước khi sinh, chúng đã tìm nơi an toàn, theo khả năng nhận thức của chúng. Có những côn trùng lúc sinh nở có nhiều chất độc để tấn công kẻ phá hoại gia cang.
Trở lại thế giới người. Hoàn cảnh khó khăn nhất là lúc nguy khốn về tài chánh biểu lộ bản năng - hay ý thức tùy bạn - của người mẹ. Điều đó làm cho con cái thấy rõ sự hy sinh. Lại càng thấy rõ khi người cha vắng bóng vì bất cứ lý do gì.
Con ơi mẹ là Thượng Đế, cho con nguyên lý diệu vời; đó là ý chính của bài đạo ca, thơ của Phạm Thiên Thư. Nguyên lý diệu vời ấy là nguyên lý yêu thương, mẹ truyền cho con qua dây rún. Nhưng khi thực phẩm vật chất và tinh thần không còn đi qua dây rốn ấy, mẹ vẫn tiếp tục cho con tình thương và ý niệm ngoại vật. Hình tròn của vú mẹ, nét hình cung thân thể mẹ tạo cho con ý niệm ngoại vật qua xúc giác. Trẻ thơ thích hình tròn không thích hình vuông.
Và thực phẩm mẹ cho ăn, nếu không phải là một nguyên lý sống, là một nét vẽ trên cuộc đời không bao giờ phai. Một nhà dinh dưỡng Pháp nói: con người có thể quên tổ quốc, tôn giáo, ngôn ngữ ... quên tất cả trừ món ăn đầu tiên trong cuộc đời, do mẹ cho.
Tôi đã đi săn sóc một người già tê liệt nhưng ông ta rất thích thú khi bà vợ cho ăn McDonald. Bà vợ cho biết ông ăn hamburger từ khi mới biết bò. Một người già lúc nhỏ theo cha qua Nga; khi Nga sụp đổ ông trở về Chicago đã 70 chỉ mong ăn junk food. Montaigne, triết gia Pháp, lúc còn rất nhỏ về sống ở vùng quê nơi đó người ta bỏ tỏi vào sữa mà uống, từ đó suốt đời ông cứ dùng món nầy với cái mùi khó chịu trong xã hội quan cách Paris.
Tôi không phải là bác sĩ nhưng học ở Oshawa rằng nước miếng là một vị thuốc nên ăn gạo lức muối mè mà nhai thật nhuyễn đó là thần dược. Bây giờ nói đến cơm mem, e nhiều người ói mữa trong cái vệ sinh hiện đại. Nhưng nhai cơm rồi đút cho con là bài học của chim, nhai nhỏ côn trùng rồi mớm cho con. Cùng với sữa, nước miếng tạo nên những kháng thể tự nhiên trước khi có chủng ngừa.
Nếu ta quan niệm tính chất tự nhiên là điều quí hóa, mẹ là điều tự nhiên lớn nhất, bao trùm nhất. Mẹ cho cả chủng tử, mẹ nuôi chủng từ ấy bằng chính thân xác mình bằng bàn tay khổ cực của mình. Bàn tay mẹ vo gạo, sinh tố trong cám làm da mẹ mịn như công chúa tắm sữa, mà chất chua chất phèn trong đất trong bùn khi mẹ đi cấy hay trồng khoai đã làm da mẹ nứt nẻ, gót mẹ không hồng nữa như ngày xưa.
Trên đường du thuyết, Phật thấy một đống xương khô, bèn ra lệnh đệ tử đem chôn theo tập tục xương đàn ông riêng, đàn bà riêng. Môn đệ hỏi Ngài làm sao phân biệt; Ngài chỉ cho rằng xương đàn bà có vết đen là dấu tích cực nhọc cho con bú và nuôi dưỡng. Tuy là ẩn dụ, chuyện xương đen ngày nay được chứng minh đúng bởi y học. Văn chương VN có nhắc đến điển tích nầy.
Nhưng rồi người ta cũng không để mẹ yên như người ta không để yên thằng bờm có cái quạt mo. Người ta đã dùng cái gọi là duy vật biện chứng, để nói thế nầy thế kia. Thật ra người ta chỉ nói cho qua việc để thực hiện mục đích là hủy bỏ tất cả các giá trị luân lý, dân tộc, những quan niệm ăn sâu vào sự suy nghĩ như thằng bờm, nhưng phải nói cho nó nghe có vần có lối, cho có vẻ triết học.
Họ nói mẹ ta sinh ta là kết quả của một sự truy hoan, chung đụng thân xác. Có tin như vậy, có tin một cách ngây ngô như vậy, đứa trẻ mới chấp nhận sự sắp xếp của nhà nước mà đấu tố cha mẹ như Nguyễn Mạnh Tường đã viết. Câu chuyện không phải là chứng minh đúng sai mà vì một kết quả. Người ta cho phép nói đủ thứ, không kể trước sau, xuôi ngược miễn là đến kết luận Kiều là bông lài cắm bãi cứt trâu trong chiến dịch bài trừ những giá trị cũ.
Nhưng xem cái ngoành ngoạch ấy, ta thấy dẫu sao họ cũng bị lôi cuốn vào cái nhìn phân biệt; phân biệt ta và không ta, vật chất và tinh thần, bản năng và ý thức, thể xác và tâm hồn; thú vật và con người. Và cũng theo truyền thống tây phương lấy một khía cạnh nhỏ làm cơ sở cho một trường phái.
Phải chặt ngay cái đầu con rắn. Ảnh hưởng của mẹ có tính cách quyết định như nói trên qua thực phẩm, qua giáo huấn v.v...Do đó muốn thay thế tình yêu cho mẹ bằng tình yêu cho lãnh tụ, phải chặt ngay từ đầu, càng quyết liệt càng tốt; mẹ đây là mẹ thật hay mẹ chiến sĩ như bà Nguyễn thị Năm. Gorbachev đã được mẹ lén lút bồng đi rửa tội TCG Orthodox và nuôi dưỡng trong tình người; ông đã ra lệnh 700 ngàn lính Nga đồn trú ở Đông Đức án binh bất động để cho dân chúng đạp hàng rào biên giới qua Tây Đức. Tinh thần mẹ ông dạy nào khác tinh thần Á Đông, "mai sau chớ sống một mình".
Sinh hoạt sinh lý đã được nhìn qua các lăng kính quá khích một chiều, cũng dựa trên sự phân biệt, và các quan niệm xã hội từng thời. Nó lồng vào trong những định chế xã hội như thừa tự, mẫu hệ hay phụ hệ. Nhưng thiên nhiên đã dành cho phái nữ những bảo đảm để tiếp tục sinh sản. Chỉ cần một tinh trùng cho một thai noãn nhưng vô số tinh trùng khác nằm trong tình trạng ứng chiến nhưng không có địch để bắn. Trong một tổ ong, có vô số ong sắc to hơn ong thợ nằm trong những ứng viên chồng nữ hoàng ong. Người nuôi ong phải loại bỏ bằng cách để một cái lược chỉ vừa cho ong thợ vào, còn các con ong sắc phải chết bờ chết bụi thay vì ăn hết mật.
Có gì ngạc nhiên khi những chủ thuyết phi nhân chối bỏ, hủy diệt tính chất tự nhiên trong tình mẫu tử và quan hệ gia đình. Platon đã chủ trương bắt hết trẻ con về giáo dục, đào tạo trong mục tiêu như lính chiến bảo vệ chính quyền; nếu chuyện nầy xẩy ra, người ta sẽ dạy trẻ con đánh vào cục đá và vào đầu con chó như nhau.
Nhưng giới văn nghệ thì nhìn sự thương yêu và sự đau thương là một. Trong một truyện ngắn của William Saroyan, Mỹ gốc Armenia (1908-1981), một thanh niên trên một chuyến du lịch dài; giữa đường một kẻ đồng hành phái nữ chuyển bụng. Anh ta phải làm cô đỡ. Anh thấy tiếng khóc la của người mẹ chẳng khác nào tiếng rên la của người tình khi anh giao tiếp bằng thể xác.
Không có loài người trừu tượng mà chỉ có những thành tố hiện hữu. Không có mẹ trừu tượng. Chỉ có những bà mẹ gánh trái mít non, vài trái khế, vài trái thơm từ quê xa lên tỉnh thăm con trọ học. Những bà mẹ ru con suốt đêm vào thời chưa có thuốc ho. Những bà mẹ mua đầu chợ bán cuối chợ, trả tiền vay góp, lúc tối mua được lon gạo đem về. Những bà mẹ có thật, không có trong biện chứng. Chỉ có những bà mẹ chúng ta ngồi ở ngưỡng cửa trông chờ rỗ bánh ế, mẹ vui cho con cái bánh mà buồn hôm nay thua lỗ. Những bà mẹ có thật.
Xin cúi đầu tạ ơn Đời, cúi đầu tạ ơn Mẹ.-
Monday, May 5, 2025
đóng đinh trên thánh giá
| Phật nhập diệt, tranh Nhật Bổn thế kỷ 14 |
Đóng đinh trên Thánh Giá
[Tham luận ngắn tiếp theo next Older Post Giác ngộ và hành hình]
Bài nầy không có gì khó và là chương dễ hiểu nhất của một cuốn sách nói về huyền nhiệm của PG và Thiên Chúa Giáo nguyên thủy. Vì vậy ở đây tác giả nói thêm về sự khác biệt dựa vào một ý niệm hình học, chiều đứng và chiều ngang và cũng là biểu đồ hàm số với hai trục tung hoành. Hơn nữa Suzuki là một nhân vật quan trọng trong Thông Thiên Học nên không ngạc nhiên khi ông đề cập đến TCG.
Sự so sánh chiều đứng và chiều ngang chỉ là một phần trong ba phần của toàn bài. Tổng quát, bài giúp độc giả hiểu một phần lớn yếu lý của PG và có ý niệm về tôn giáo tính (religiosity). Tuy không đề cập những chi tiết người học PG thường gặp như ngũ uẩn, tứ diệu đế, v.v… chương nầy đã phân tích rất rõ ràng về ngã và cách Tây và Đông Phương nhìn nó.
Quan niệm “bất nhị” sẽ giúp chúng ta rất nhiều ở chỗ nầy. “Bất nhị” là một thuật ngữ tuy nghĩa đen chỉ là: không hai. ”Mình với ta tuy hai mà một; ta với mình tuy một hai” là cách hiểu bất nhị rất lý thú. Tâm thâm bất nhị, có nghĩa hai điều có liên hệ mật thiết như hai mặt của đồng xu hay bàn tay, chúng giúp nhau để hiện diện, trong thế động. Bất nhị nới rộng cho biết điện lực không thấy nhưng có qua hiệu ứng của ngọn đèn, bếp lò v.v…Suzuki viết: “Ngã tương đối là ngã siêu nhiên; ngã siêu nhiên là ngã tương đối; chúng không phải là một cũng không phải là hai. Chúng tách rời nhau trong phân tích triết lý, chứ không tách nhau trong thực trạng”.
Mà khó khăn là ở chỗ mình chỉ thấy ngã tương đối, như ngọn đèn chưa phải là điện mà chỉ là một cách thể hiện giới hạn (manifestation limitée); ông Phật hiền hòa mình thấy, ông tướng hung hăn mình thấy là những gợn sóng trên một hồ nước. Hồ nước và sóng không thể xa lìa.
Suzuki viết cho người Tây Phương nên ông nói “the transcendental ego” và “relative ego”, dịch là “ngã siêu nhiên” và “ngã tương đối”. Hai chữ nầy nghe lạ. Trong sách báo Việt không có. “Ngã tương đối” chính là cái ngã mắc dịch (the goddamned self / le fichu moi) mà sư lớn sư nhỏ đều săn đuổi như đuổi tà với tiếng thét hành quân (battle cry): vô ngã là hạnh phúc (?!). Ngã siêu nhiên, thiết nghĩ đó là chân ngã. Nhưng chân ngã ít khi hay không nghe nói vì đến giai đoạn cuối, kinh Niết Bàn mới nói thường (không vô thường), ngã (chân ngã, không vô ngã).
Suzuki khổ công như vậy để thấy ĐP chủ vào ngã siêu nhiên, TP chủ về hiện tượng và xem hiện tượng bất biến, chủ về ngã tương đối. Hình nhi thượng ấy ảnh hưởng đời sống thực tế, chứ không phải việc dóp dép cái lỗ miệng của triết nhân. Khác với Đông Phương với ý niệm vô hình tướng, TP chú trọng đến hữu hình (corporealty) ví như dùng rượu tượng trưng cho máu Chúa, bánh thánh cho thịt Chúa.
Bài nầy không khó và trình bày “tân thời” ghi lại những điều căn bản mà người tu học lắm khi vì nhu cầu sở tri kiến ít chú ý: “PG là một tôn giáo hòa bình, trong lành, bình an và quân bình. PG từ chối tính chất chiến đấu và tách biệt độc quyền; trái lại chấp nhận tinh thần khoáng đạt, bao dung toàn diện, xa lìa các kỳ thị trần gian”. Vì vậy, đấu tranh sắt máu, viết khẩu hiệu hăm dọa, đốt thư viện … không phải là PG. Những kẻ có sở tri kiến biết tối đa về PG; người trì hành tu tập, chiêm nghiệm sẽ biết cái tối thiểu của tôn giáo nầy: giải thoát và giác ngộ. Suzuki không có gì mới lạ, chỉ có công nhắc lai, khi nói:
“Trong giác ngộ, chỉ có tính chất siêu nhiên. Chính nhờ kinh nghiệm giác ngộ mà ai cũng đạt Phật tánh theo đường lối riêng hay chung. Không riêng chỉ một người có thật trong lịch sử, tức là Thích Ca. Với giác ngộ, tức khắc đất trần chuyển hóa thành tịnh độ, bạn không cần bay lên trời và không phải chờ sự chuyển hóa nầy xẩy ra trên thiên cung.”
Vì là một hội viên Thông Thiên Học, tác giả không ngần ngại tỏ ra một sự ngạc nhiên tế nhị, rất trí thức về ảnh hưởng của chiều đứng. Ông viết:
“Chiều thẳng đứng bao hàm hành động, chiến đấu, độc quyền. Vì có tính cách năng động, TCG đôi khi khuấy động, gây xáo trộn. Vì có tính chất chiến đấu và tách biệt, TCG có khuynh hướng áp đặt quyền lực thống trị đối với kẻ khác mặc dù tự nhận chủ trương dân chủ và tình huynh đệ toàn diện.”
Tính chất chinh phục và thách thức thiên nhiên được tìm thấy ở các gác chuông nhọn mà tiếng Pháp gọi là các mũi tên (flèche) phóng thẳng lên trời; đền đài và chùa Đông Phương có nóc nằm ngang, ăn nhập vào thiên nhiên; không những thế, chùa nhỏ như am. Những cột đá vượt lên không là nghệ thuật Ấn Độ bị ảnh hưởng của Hy Lạp, thời Asoka ghi những chiếu chỉ của nhà vua, cách thức sinh hoạt xã hội, và có kinh Phật, nhưng các stèle nầy không phải là PG.
Thầy dạy Pháp Văn của tôi nói rằng Đông Phương thụ động ù lỳ, là passif, négatif trong lúc Tây phương năng động tích cực, actif, positif. Nhưng khi vào lớp triết thì Nguyễn Đăng Thục bảo ĐP mới động. Thằng nhỏ ngớ ngẩn mới biết thầy Pháp văn hướng về chính trị lịch sử 500 năm qua, ông tu xuất; trong lúc ấy thầy triết thì nói về tư tưởng. NĐT cho rằng tư tưởng tây phương là nền triết học ý niệm tĩnh, bất di bất dịch như Descartes nói: je pense donc je suis, tôi hiện hữu đời đời; trong lúc ấy, ĐP xem thế sự đời người là một sinh thành (un devenir / a becoming). Cái nhìn bất nhị của Suzuki thì đã “động” lắm rồi. Vô thường cũng động chứ gì. Thật vậy có vô thường mới đi lên, mới giác ngộ, vô thường giúp ta đi từ nhất xiểng đề đến bên kia bờ, nếu không vô thường thì không thay đổi tâm thái.
Suzuki mượn tạm hình học và biểu đồ hàm số, tung hoành. Với trực giác, đường thẳng trên mức hoàn vũ là một đường cong, mãi nơi kia hai đường trong thế chuyển hóa ba chiều sẽ gặp nhau. Nhờ tính động ĐP nói trên, Suzuki đã không để chiều ngang thành thụ động passif như thầy Pháp văn của tôi nói, hay chiều đứng sẽ gảy đổ. Và ông không thấy bất cứ xung đột nào giữa chiều ngang và chiều đứng, giữa nhập diệt nằm ngang và đóng đinh chiều đứng. Nhưng ông mong mỏi có những hình thức hội nhập linh thiêng nhân bản hơn, ít bạo động hơn. Ông không làm hòa đồng kiểu thánh giá và chữ vạn treo hai bên cổng vào doanh trại sư đoàn hay trung đoàn.
------------------------------------------
Ghi thêm: không rõ Suzuuki đã dùng danh từ nào trong Hán Nhật để chỉ transcendental ego. Nếu là chân ngã thì không nên dịch là ngã siêu nhiên mà nên dùng chân ngã để không có thêm một danh từ mới gây lộn xộn phức tạp.
No comments:
Post a Comment