Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Sunday, 25 September 2022

 Chuyện Huế ít người biết.

Người Huế mà không được nói tiếng Huế Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn. Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc.

Phường Đúc là khu quần cư, tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều đình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra. Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu Vị Thần Công Và Cửu Đỉnh ở Huế. Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì. Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương.

Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia. Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam ai không tuân thì bị tội. Tại sao lại có hiện tượng này? Kể cũng khó hiểu. Và lệnh này có từ đời nào?

Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Kỳ, con gái của Đại Thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định. Ba được phong Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu, lấy Vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận "hậu cần" của Hoàng Đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện. Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Kỳ để trao đổi cho dễ hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa - Gia Định nghe giọng Huế "đặc sệt" có thể không hiểu mô tê chi cả.

Cũng có thể lệ này xuất hiện sớm hơn, từ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông Vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam.

Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam nửa Trung đã trở thành Huế rặt.

Ngoài ra còn có một hiện tượng buồn cười khác là các người làm việc trong nội dù là cung phi, lão tỳ, thị tỳ, nô nhân hay nê nhân, lúc mới vào đều phải tự nguyện "câm" đi trong thời gian sáu tháng. Suốt thời gian này, họ không nói gì cả hoặc nói rất ít. Không nói vì sợ phạm húy, lỡ mồm lỡ miệng thì mang họa vào thân. Chờ khi nào thuộc lòng những chữ "nên tránh" gồm trọng húy và khinh húy, hoặc những chữ cấm nói như: chết chóc, đui què, máu me, phong hủi... vì những từ này mang điềm gỡ hoặc thô tục, lúc đó họ mới được phép... hết câm.

Sao gọi "ngựa Thượng Tứ"?

Ở Huế, khi nói về một người đàn bà hung dữ, có lời ăn tiếng nói thô lỗ, cử chi vùng vằng, người ta thường ví kẻ đó như Con Ngựa Thượng Tứ. Thượng là thuộc về Vua. Tứ là xe bốn bánh do ngựa kéo.

Gần cửa Đông Nam, một trong tám cửa của kinh thành Huế, xưa có khu vườn nuôi ngựa để kéo xe cho Vua. Những con ngựa này thường là dữ dằn phải do đội phi kỵ vệ và khinh kỵ vệ nuôi dạy, huấn luyện cho ngựa trở nên thuần. Người đàn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên như ngựa chứng thì có gọi là "Ngựa Thượng Tứ" cũng đúng thôi. Cửa Đông Nam vì ở gần khu Thượng Tứ nên cũng được dân Huế gọi luôn là cửa Thượng Tứ không ai còn để ý đến hai chữ Đông Nam ghi trên vọng lâu nữa.

Chợ Đông Ba hay Đông Hoa?

Chợ Đông Ba, ngôi chợ lớn nhất trong các chợ ở Huế, vốn có tên thật là chợ Đông Hoa - cửa Đông Ba xưa cũng gọi là cửa Đông Hoa. Đây là một cái tên do ta bắt chước Trung Quốc. Thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu cũng có một cái cửa gọi là cửa Đông Hoa. Chỉ vì tránh phạm húy mà người Huế phải gọi trệch ra là Đông Ba vì tên của bà Hồ Thị Hoa, vợ Vua Minh Mạng, được phong Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, gốc người Biên Hòa (Nam Kỳ).

Nếu ta nghe người Huế xưa gọi "ánh sáng" là "yến sáng" thì cũng đừng ngạc nhiên vì sợ phạm húy bởi "Ánh" là tên Vua Gia Long nên phải đổi ra thành "yến" .

Lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm thơ cũng đổi chữ "cành phồn hoa" ra "cành phiền ba", bởi hơn ai hết, ông phải kỵ húy vì ông là người trong Hoàng Tộc.

Bắt trẻ con là cá, trấu làm tép?

Nhân vùng biển Thuận An sắp trở thành thị xã, xin kể vài tục lạ của ngư dân vùng biển này có từ thời xa xưa. Dân chài lưới ở Thuận An rất sùng bái nữ thần Thái Dương vì vị thần này đã nhiều phen giúp họ làm ăn phát đạt. Họ lập miếu thờ và mỗi năm, cứ đến ngày 23 tháng chạp âm lịch lại tổ chức lễ hội.

Họ thường nhắc câu: "20 làm tốt, 21 xâu tai, 22 đeo hoa, 23 tế Nhân". Xâu tai, đeo hoa là làm đẹp cho tượng thần và Nhân là tên của nữ thần Thái Dương.

Ngư dân ở đây đã lấy lưới vây trên bến cạn, bắt một số trẻ em trần truồng cho vào trong lưới giả làm cá vừa lưới được, xong nhiều người đem rổ cá đến mua. Cũng diễn ra cảnh chọn cá và kỳ kèo, trả giá, xong thì đem bọn trẻ sang bờ bên kia thả cho chúng chạy.

Họ cũng dùng trấu giả làm tép biển và lấy vợt xúc lên, giả như đang thu hoạch. Tiếp sau đó, có những trò vui như đua trải, nhậu nhẹt và hát bội cho dân làng xem"

Tô Kiều Ngân

(Trích Hương Giang)

Nguồn hoài niệm miền nam một thời

PHIẾM : HUẾ CỦA TUI!

Sau hơn 40 năm sống chung nhà với O bây giờ tôi đã thành dân Huế lai! Gọi là “lai” vì trong các món ăn Huế do cái lưởi của dân Nam kỳ tôi dần dần hoà hợp hoà giải để cái chất Huế để có chút chút chất Nam bộ.

Chẳng hạn như ăn món bún bò lần đầu cay xé lưỡi vừa ăn vừa hít hà, trời mùa đông ăn xong tô bún toát mồ hôi nóng như mùa hè. O nêm có hơi nhiều ruốc nên người mới ăn món Huế như tôi hơi dị ứng cái lỗ mũi.

Vậy là lần sau tôi chủ động làm công tác nêm nếm. Ruốc quậy riêng trong tô nước nóng cho bay bớt mùi, thêm tí đường cát vàng cho nước lèo dịu lại. Ớt phi dầu bớt lại vừa đủ cho có một lớp váng mỏng bên trên, không chú ý đến chất cay mà nhấn ở nét mỹ thuật của tô bún. Vậy là có một tô bún bò Huế lai!

Câu chuyện tình O Huế bắt đầu vào mùa hè 1977 khi tôi đi công tác ra Huế. Cái cảm tưởng đầu tiên khi tản bộ trên con đường bên kia bờ sông Hương nơi có trường Đồng Khánh và Quốc Học thật là tuyệt vời. Nầy nhé, hoa Phượng rực rỡ nở dọc theo đường, tiếng ve sầu nghe như bản tình ca xứ Huế rồi đàn bướm trắng tan trường (Đồng Khánh). Một bức tranh tuyệt đẹp chưa kể dòng sông Hương đang lững lờ trôi…..

...sau chuyến đi Huế mới khám phá ra là cái văn phòng nơi đã gởi tôi đi công tác ngoài Huế có…mấy O lấp ló ở cổng sân nhà. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà…vậy là quân ta hai mủi giáp công….

Chiến thắng đem về cho tôi một O Huế cũng có cái tên của loài hoa mà tôi đã chiêm ngưỡng trong lần đi tản bộ ngày nào dọc bờ sông Hương. Bây giờ tôi mới tin ở cái chữ Duyên!

Tiến trình chinh phục O Huế.

Ai cũng biết con đường dẫn đến trái tim là đi qua bao tử. Áp dụng chiến thuật nầy bắt đầu với những lần đi ăn ở Ngự Bình một quán ăn thuần Huế cuối đường Hiền Vương gần Casino Đa kao. Tôi cũng ít có dịp thưởng thức món Huế nên một công đôi chuyện thám hiểm vùng đất ẩm thực Huế. Nơi đây có mấy món ngon của Huế như bánh bèo chén, bánh ướt thịt nướng và đương nhiên cơm Hến. Cái món tương đậu phộng ăn với bánh ướt phải nói là tuyệt cú mèo! Cứ từng bước như vậy quân ta tiến dần tới mục tiêu : trái tim!

Nói dzậy chớ cũng phải qua rất nhiều công đoạn như : những bức thư tình chưa gởi, ca ngợi Huế đa tình, rồi hồn vương xứ Huế…

Nhận được thơ O, coi như quân ta đã đến mục tiêu. Rồi tin chiến thắng đưa về bằng cái đám hỏi giữa hai gia đình.

Bây giờ ta đã là chủ nhân của…

CỒN HẾN.

Đó là một hòn đảo nhỏ trên sông Hương, dân địa phương khi đến mùa hến hay ra đây xúc.

Một đặc sản của Huế với món cơm hến.

Nếu ai có hỏi tôi thích Huế ở chỗ nào xin được trả lời đó là : CỒN HẾN!

Còn cồn Hến... ở đâu? đố ai biết được!

Bây giờ mà trả lời thì không chừng có dĩa bay, chén bay trong nhà!

Nếu có phải viết về cồn hến thì ngàn trang cũng không đủ! Nên chỉ tóm gọn ở mấy câu sau :

Mơ màng Cồn Hến giữa sông Hương.

Ta yêu O Huế mấy ngàn thương?

Hương giang Cồn Hến nơi mô nhỉ?

Yêu O yêu luôn cả cái…Cồn.

No comments:

Post a Comment