Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Friday, 18 June 2021

 Người con của phố cổ Hội An

Thiên chức nhà giáo, tâm hồn nhà văn: Bà Tùng Long
Người con của phố cổ Hội An

Inline image

Nhà văn nữ Bà Tùng Long đã từ trần vào chiều ngày 26 tháng 4 năm 2006 (29 tháng 3 năm Bính Tuất) tại Sài Gòn, Việt Nam, hưởng thọ 92 tuổi. Ngày 29 tháng Tư, bà yên nghỉ tại nghĩa trang Trung Việt ái hữu ở Thủ Đức. Bà là nhà giáo, nhà báo rồi trở thành nhà văn có nhiều tác phẩm nhất trong nữ giới.
Tình Yêu & Sự Nghiệp
Bà Tùng Long tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1915 tại Đà Nẵng. Trên giấy tờ ghi sinh ngày 21 tháng 4 năm 1915 tại Hội An. Trong quyển Tâm Tình Với Nghệ Sĩ của nhà báo Lê Phương Chi, NXB Thanh Niên, 2001 cho biết:
“Sở dĩ có sự ghi sai ngày sinh của bà như vậy vì vì bấy giờ Đà Nẵng (tức Touranne) là thuộc địa của thực dân Pháp, nên thân phụ của bà không muốn con mình là dân xứ thuộc địa, mới về Hội An, quê Nội, làm giấy khai sinh cho con. Còn ngày tháng trong khai sinh ghi lộn xộn là vì lý do chính trị: Thân sinh của bà lúc đầu tùng sự trong một công ty ngoại quốc, có tham gia phong trào Duy Tân do nhà cách mạng Phan Thành Tài (cha của Phan Bá Lân và Phan Thuyết, sau nầy là giáo sư của các trường Trung học tư thục Chấn Thanh và Đạt Đức) dẫn đầu. Thân phụ của bà làm liên lạc viên cho phong trào. Khi phong trào tan vỡ, ông Phan Thành Tài bị thực dân Pháp bắt đưa lên đoạn lầu đài, và một số khác bị đày Côn Đảo.
Trước hiểm họa ấy, thân mẫu bà lánh về Hội An ẩn náu với mẹ chồng. Bấy giờ bà nội của bà cũng đã già yếu. Vì chữ hiếu, buộc lòng thân phụ bà phải thi vào Sở Douanes (Thương Chính). Đó là lý do cô bé Lê Thị Bạch Vân khai sinh ở Hội An và ghi lệch ngày chào đời ở Đà Nẵng”.
Bà học xong bậc Tiểu học tại Đà Nẵng rồi ra học một năm Trung học trường Đồng Khánh Huế.
Năm 1932, thân phụ bà, cụ Lê Tường (1894 - 1956) đổi vào Sở Douanes Sài Gòn, bà tiếp tục theo học Trung học tại Collège Des Jeunes Filles Indigènes, gọi là Trường Áo Tím vì nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím. Sau đổi thành Trường Gia Long và hiện nay là Trường Nguyễn Thị Minh Khai.
Tình yêu của bà trong tuổi thanh xuân cũng là cơ hội và môi trường để dấn thân vào nghề báo, nghiệp văn khi gặp gỡ nhà báo Hồng Tiêu.
Nhà báo Hồng Tiêu là em ruột của nhà báo Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, quê quán ở Quảng Ngãi. Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy (1902-1985) đã dấn thân vào nghề báo với tờ Công Luận (1916-1939), Đuốc Nhà Nam (1928-1937), Trung Lập (1924-1933)... Nhà báo Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận (1900-1968) sáng lập tờ Phụ Nữ Tân Văn vào năm 1929 và đình bản vào năm 1934, chủ nhiệm tờ Sài Gòn (Hồng Tiêu làm chủ bút)), sau nầy đổi thành Sài Gòn Mới...
Cụ Lê Tường cũng cộng tác với tờ Nam Phong (1917-1934), Hữu Thanh (1921-1924)... vì vậy khi gặp nhà báo Hồng Tiêu, xem như bạn đồng nghiệp và “vong niên”,ø cùng hoạt động trong Hội Trung Việt Ái Hữu nên lúc đó nhà báo Hồng Tiêu “... Thường tới bàn thảo công việc với cha tôi, và hay gợi ý cho tôi viết báo, rồi giao tôi phụ trách Trang Phụ Nữ của báo Sài Gòn, lẽ dĩ nhiên là được cha cho phép và khuyến khích. Và sau đó cũng cha tôi tác hợp hôn nhân cho chúng tôi” (LPC- sđd).
Theo Lê Phương Chi: “Đúng ra, nguyên quán anh em ông Hồng Tiêu ở tỉnh Quảng Nam, nhưng cụ Tổ xưa kia làm quan ở Bình Thuận, Khi đau nặng, gia nhân đưa về ngang Quảng Ngãi, thì mãn phần tại đây. Cụ bà (là cô của tiến sĩ Phạm Liệu, một trong Ngũ Phụng Tề Phi xứ Quảng) là mẹ của anh em ông Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy sau nầy, ở lại nơi chôn ông cụ để cư tang đái hiếu. Và rồi nơi đây trở thành quê hương thứ hai của tộc họ Nguyễn Đức...”.
Ông Phạm Liệu (1872-1936), khi làm Án Sát Quảng Ngãi, là người phát giác đầu mối để thông báo cho tòa Khâm ra lệnh đàn áp cuộc khởi nghĩa Duy Tân tháng 5 năm 1916, trong khi đó thì thân phụ của bà tham gia trong phong trào Duy Tân. Nhiều nhân vật khởi nghĩa bị tử hình và hạ ngục. Cụ Lê Tường đã sát cánh cùng các cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Cơ, Lê Cảnh Hận, Lê Đình Dương, Lê Ngung... làm sao quên được nỗi đau khi dấn thân cho đại cuộc? Nhưng thân phụ bà đã cảm nhận vận nước cơ trời để tạo dựng bước đường mới cho tương lai cho con.
Năm 1935, bà kết hôn với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy.
Sinh hoạt trong nghề báo thời gian, khi tờ Phụ Nữ Tân Văn đình bản, bà thuê “manchette” tờ Tân Thời, làm chủ bút, chủ trương về vấn đề phụ nữ và đời sống, được sự hợp tác của các bạn học năm xưa đóng góp để có tiếng nói trong làng báo. Được thời gian, vì có sự rắc rối nên bà bỏ tờ báo đi dạy ở trường Tôn Thọ Tường và chỉ viết cho tờ Sài Gòn. Mới 20 tuổi, bà làm Chủ bút tờ báo trong thời điểm đó.
Năm 1936, bà hạ sinh người con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh Hương.
Đệ Nhị thế chiến bùng nổ, năm 1940 quân Nhật vào Đông Dương, sự thống trị của Pháp và sự xâm lăng của Nhật đã tạo nhiều bất ổn trong nội tình ở Việt Nam. Nhiều tổ chức đảng phái nổi dậy nhằm tạo cơ hội phục quốc nhưng rồi bị đàn áp, khủng bố... gây thêm tang tóc cho đất nước. “Năm 1944, Sài Gòn bị máy bay quân Đồng Minh thả bom” (LPS – sđd) mọi nguời tìm cách sơ tán, ông Hồng Tiêu bỏ công việc để trở lại Quảng Ngãi, tâm sự của ông được trang trải qua bài thơ Cố Hương:
“Qua sông ta gọi con đò
Lòng ta như nắm chỉ vò trong tay...
... Cố hương ơi! cố hương ơi!
Người con mặt mốc chân trời về đây
Tư bề lặng lẽ gió mây
Vô tình nước chảy mây bay một chiều!”.
Ông về tận vùng hẻo lánh ở Ba Gia, Đồng Ké thuộc xã Nghĩa Kỳ, quận Tư Nghĩa để nương náu. Sau đó, bà mang 3 đứa con thơ Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Nghi Xương và Nguyễn Đức Trạch để vợ chồng khổ cực có nhau. Nhận thấy dân quê còn mù chữ nên bà mở lớp trường, dạy học trong hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu thốn mọi phương tiện. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, gia đình bà kẹt luôn ở đó nên bà tiếp tục dạy hoc.
Qua bốn năm dạy học, Ty Giáo Dục địa phương mời bà làm liê Hiệu trưởng các trường quanh vùng Nghĩa Kỳ. Nơi đây, bà sinh hạ thêm 3 người con trai là Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Đức Thạch và Nguyễn Đức Thông. Sống ở làng quê với bao gian khổ và nghèo khó, tương lai đen tối nên quyết định ra đi. Năm 1951, bà dẫn 6 người con trốn về Hội An rồi lên tàu Demifère về lại Sài Gòn; trong chuyến tàu nầy có nhà thơ Bùi Giáng nên quen biết nhau từ đó.
Ông Nguyễn Đức Nhuận cùng Nguyễn Ngu Í giả điên để tránh sự dòm ngó của chih quyền địa phương rồi tìm đường vượt thoát, năm sau ông lên tàu nhưng chuyến đó đưa ra Côn Đảo, ông trở lại Đà Nẵng thì bị tai nạn xe cộ, gãy chân, bà lặn lội ra quê để đưa chồng về Sài Gòn.
Năm 1952, bà dạy Pháp văn và Việt văn tại các trường Les Lauries, Tân Thịnh, Đạt Đức... nhưng đồng lương không đủ sống nên bà viết “feuilleton” cho các nhật báo. Tên tuổi Bà Tùng Long được nổi danh từ đó.
Năm 1953 trở đi, bà cộng tác rất nhiều tờ báo, bà chuyên mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên tờ Sài Gòn Mới và Tâm Tình Cởi Mở trên tờ Tiếng Vang. Bút hiệu Bà Tùng Long được độc giả ái mộ.
Trả lời cuộc phỏng vấn của Lê Phương Chi, Bà Tùng Long cho biết: “Tôi viết văn là chịu ảnh hưởng của cha từ khi tôi còn nhỏ... Còn tôi làm báo thì do chồng tôi khuyến khích”.
Về bút hiệu Bà Tùng Long, bà giải thích: “Các vị nho học của chúng ta có câu “Văn Tùng Long, Phong Tùng Hổ’ nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp... Tôi tên Vân cho nên lấy bút danh Tùng Long. Và khi ký bút danh này, tôi thấy không trùng với ai, cho nên tôi dùng luôn đến nay. Vì ký bút danh Tùng Long, tôi sợ độc giả hiểu lầm tôi là đàn ông, cho nên tôi thêm chữ Bà vào để phân biệt... Hồi còn trẻ bà Đạm Phương thường dùng danh từ Đạm Phương nữ sĩ, và bà Tương Phố cũng dùng bút danh Tương Phố nữ sĩ... Riêng tôi không dám tự hào là nữ sĩ, nên tôi không ký Tùng Long nữ sĩ...
Chẳng hạn như bà Staẽl và bà Maintenon bên Pháp, lúc nào cũng ký dưới bài báo và những cuốn sách của mình viết về các vấn đề giáo dục và phái nữ, là Madame Staẽl, Madame Maintenon. Rồi về sau văn học sử Pháp cũng ghi bút danh của các bà ấy với từ Madame đứng trước bút hiệu.
Còn tôi, trong các mục Gỡ Rối và Giải Đáp, tôi ký Bà Tùng Long là để gần gũi với phái nữ. Vả lại, như vậy các nữ độc giả sẽ tin cậy và dễ bộc lộ tâm tình hơn là chỉ ký Tùng Long, họ có thể nghĩ lầm tôi là phái nam thì họ sẽ ngần ngại khi muốn bộc lộ tâm tình”.
Vừa đi dạy, hướng dẫn đàn con học hành, vừa viết báo, viết tiểu thuyết có lúc 4, 5 “feuilleton” cho các nhật báo. Trong 2 thập niên, từ năm 1956 đến năm 1972, có khoảng 60 tác phẩm được ấn hành.
Bà là người rất khiêm nhượng, trong quyển Hồi Ký Bà Tùng Long, NXB Trẻ và Công ty Văn Hóa Phương Nam ấn hành năm 2002, nhân dịp mừng thọ bà bà 88 tuổi. Bà bày tỏ: “Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi”. Và, “Nghề dạy học luôn được tôi xem là nghề tay mặt, còn viết văn chỉ là nghề tay trái mà thôi”.
Trả lời ký giả Trần Quân báo Times ở Sài Gòn năm 1961, bà cho biết: “Tôi viết văn để nuôi con. Khi nào các côn tôi, đứa lớn trưởng thành dìu dắt được đàn em của nó, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết”. Vì vậy, năm 1972, bà gác bút quy ẩn. Thời điểm đó, con gái út của bà là Nguyễn Thị Phương Chi, tốt nghiệp đại học. Bà đã giữ đúng lời hứa trước kia.
Đối với bà, như lời nhà văn Nguyễn Đức Lập, hiện cư ngụ tại Nam California, anh có kể lại rằng vào những ngày cuối đời, bà thường nói đùa rằng, bà đã viết nhiều, đủ các thể loại, nhưng tác phẩm mà bà ưng ý nhất là chín người con, 5 gái, 4 trai, mà cho đến nay thì không hao hớt người con nào, và đều nên người cả...
Bà có 9 người con: Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Nghi Xương, Nguyễn Đức Trạch, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Đức Thạch, Nguyễn Đức Thông, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Thái, Nguyễn Thị Phương Chi. Hiện nay có 5 người (3 gái, 2 trai ở Việt Nam), 3 người ở California và 1 người ở Tây Đức.
Tâm Hồn Nhà Văn
Qua các tác phẩm của bà trong thập niên 50 như: Lầu Tỉnh Mộng (1956), Tình Duyên (1956), Ngày Mai Tươi Sáng (1956), Ái Tình & Danh Dự (1957), Chúa Tiền Chúa Bạc (1957), Còn Vương Tơ Lòng (1857), Giang San Nhà Chồng (1957), Hai Trẻ Đánh Giày (1957), Hoa Tỷ Muội (1957), Mẹ Chồng Nàng Dâu (1957), Nhị Lan (1957), Một Người Chị (1957), Tấm Lòng Bác Aùi (1957), Vợ Lớn Vợ Bé (1957), Tình Vạn Dặm (1958), Tình & Nghĩa (1958), Vợ Hiền (1958)...
Trong thập niên 60 như: Trên Đồi Thông (1963), Con Đường Hạnh Phúc (1963), Giòng Đời (1966), Ai Là Mẹ (1967), Bên Suối Chi Lan (1967), Biệt Thự Mỹ Khanh (1967), Chọn Đá Thử Vàng (1967), Duyên Lành (1967), Giữa Cơn Sóng Gió (1967), Một Bóng Người (1967), Những Phút Chia Ly (1967), Tình Câm (1967), Tờ Di Chúc (1967), Người Xưa Đã Về (tiểu thuyết 1972)...
Sự nghiệp sáng tác của bà khoảng 60 tác phẩm (trong đó có 16 tiểu thuyết được tái bản sau 1975).

Inline image

Trong cuốn Hồi Ký bà cho biết: ''Sự thật thì tôi đã xuất bản khoảng 70 truyện dài và truyện vừa. Truyện đã đăng báo nhưng chưa in thành sách vẫn còn khoảng chục bộ. Truyện nhi đồng viết vì yêu cầu của các nhà xuất bản nhi đồng khoảng vài trăm cái''. Về truyện ngắn, khoảng một nghìn truyện. Với bản tính khiêm nhường, bà nói “Nghề dạy học được tôi xem là nghề tay mặt còn viết văn chỉ là nghề tay trái mà thôi”
Truyện của bà đưa ra những thao thức, trắc trở trong đời sống, hoàn cảnh nghiệt ngã... nhưng rồi kết cuộc cũng tạo được niềm cảm thông, tìm được lối thoát cho cuộc sống. Nhà văn đề cập về tâm lý xã hội có tính cách giáo dục, xây dựng hôn nhân gia đình, ca ngợi tình yêu, đề cao vai trò của nữ giới trong xã hội.
Trong chuyên mục Gỡ Rối Tơ Lòng và Tâm Tình Cởi Mở, bà cố gắng tìm phương cách giải đáp để hàn gắn vết thương và mang tính nhân bản trong đời sống. “Tôi không bao giờ khuyên các cặp ly dị. Mọi chuyện đều có thể hàn gắn. Trước khi đưa ra lời khuyên, tôi luôn tự đặt mình vào hoàn cảnh những người gặp rắc rối với tư cách là người chị, người bạn, người thân của họ...” (Trả lời cuộc phỏng vấn trên báo Lao Động, tháng 4 năm 2003)
Trong đời sống và công việc, bà cư xử với đồng nghiệp với tấm lòng và sự tử tế. Nhà văn Hoàng Hải Thủy qua thời gian cộng tác với tờ báo đã đề cập đến bà với những dòng trân quý.
Từ nhỏ, bà theo Tây học nhưng lúc nào bà cũng giữ được phong tục và truyền thống Á Đông, bà đem nếp sống đó đưa vào văn nghiệp.
Là nhà giáo, qua bao thập niên, học trò của bà vẫn tôn kính cô giáo đã tận tâm hướng dẫn. Và với nghiệp văn: "Viết là niềm vui muôn thuở của tôi".
Trong sinh hoạt xã hội, vào đầu thập niên 60, bà giữ chức Tổng thư ký Hội Phụ Nữ Việt Nam, đăc cử Dân biểu tỉnh Quảng Ngãi trước ngày 1 tháng 11 năm 1963.
Sau 3 thập niên gác bút, Hồi Ký Bà Tùng Long vừa được NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam phát hành nhân dịp mừng thọ bà 88 tuổi.
Cuốn Hồi Ký của bà chưa nói hết những gì mà độc giả mong đợi vì hoàn cảnh xã hội và sự hệ lụy của con cái.
Hồi Ký của bà gồm 6 chương. Chương I: Thời Thơ Aáu - Chương II: Những Ngày Tươi Đẹp - Chương III: Mối Tình ''Đầu Tiên & Cuối Cùng'' - Chương IV: Những Vui Buồn Nghề Văn, Nghề Báo - Chương V: Những kỷ niệm đáng đáng nhớ khi giữ mục Gỡ Rối Tơ Lòng – Chương VI với bài phỏng vấn của Lê Phương Chi...
Tháng 4 năm 1975, con gái bà, làm việc ở MACV lo thủ tục để gia đình ra đi nhưng lúc đó có 2 người con trai còn kẹt ở chiến trường nên vợ chồng bà không nở ra đi. Cũng như bao bà mẹ khác, bà mang nỗi khổ đau khi những đứa con bị tù tội, vài tờ báo mời bà cộng tác trở lại nhưng bà từ chối.
Qua lời anh Nguyễn Đức Trạch, bà chỉ mong sao mẹ con được gần bên nhau nhưng thời cuộc đã làm cho gia đình phân ly nên bà mang nỗi buồn và chỉ tìm niềm vui với đàn cháu.
Nối nghiệp song thân, trong nước có Nguyễn Đức Thông với bút hiệu Nguyễn Đông Thức và ở hải ngoại có nhà thơ Trạch Gầm và nhà văn Nguyễn Đức lập.
*
Mỗi buổi sáng, anh Nguyễn Đức Trạch, làm thơ với bút hiệu Trạch Gầm, cùng tôi ngồi uống café với nhau. Sáng Thứ Tư, 26 tháng 4, năm 2006, vắng bóng anh, khi hỏi thăm, thân mẫu anh qua đời. Anh không về được để tiễn đưa người mẹ hiền về cõi thiên thu! Hôm sau, tôi gặp anh và chia sẻ nỗi đau của anh cũng giống tôi nhưng anh ở cách xa vạn dặm, còn tôi, trên cùng một mảnh đất quê hương mà không được nhìn người mẹ yêu thương nhất trên cõi đời lần cuối! Anh gởi tôi bài thơ Lời Gởi Mẹ, 32 câu, xin trích 4 câu cuối:
“Bây giờ trong cõi hư vô ấy
Mẹ thảnh thơi rồi có phải không?
Giọt sầu mất nước giờ hóa đá
Mây nước quê hương cũng lạc dòng!”
Vào lúc Bà Tùng Long yên nghỉ ở mộ phần, tôi viết xong để thắp nén hương lòng tưởng nhớ người quá cố!
Vương Trùng Dương
Little Saigon, 4-2006
Bài nầy đã đăng trong cuốn Văn Nhân & Tình Sử của tôi ấn hành năm 2015

HOÀI LINH TỰ XƯỚNG THÀNH THẦN BẠCH MI NGHỆ SĨ NHĂN RĂNG./-TCLãnh

 






           Hoài Linh lên đồng giỡn mặt 
phỉnh 
              lừa DÂN HÀ NỘI.

LẠI THÊM 1 QUÁI THAI TRỒNG NGƯỜI LỘN NGƯỢC: ĐÀM CON HEO VÔ HỌC, KHÔNG LỜ, TỜ , MỜ ... THỢ HỚT TÓC DẠO ... NHỜ AI MÀ NÓ KHOE CÓ HÀNG NGÀN TỶ ... HỒI 1975 GIÁ TRỊ 1 ĐỒNG HÀ NỘI BẰNG 500 ĐỒNG VNCH ... VẬY THỬ HỎI CHÚNG CÓ HÀNG NGÀN TỶ LÀ GIÀU CỠ NÀO????....

AI CŨNG BIẾT NHỜ "XHCN" MÀ CHÚNG NGANG NHIÊN LÊN ĐỒNG, DƯ TIỀN XÂY NHÀ THỜ "THỔ KIẾN LỬA" -TỰ ĐÚC TƯỢNG HOÀI LINH THÀNH THẦN BẠCH MI ... VÀ CHÚNG CÓ COI TRỌNG FUCK RA GÌ KHÔNG???./-TCLãnh
__________________
Nhóm chat "Nghệ sĩ Việt" gồm những ai?Click image for larger version

Name:	phuong-hang-ngoisaovn-w700-h393-22592568.jpg
Views:	0
Size:	26.7 KB
ID:	1812931  


Trên mạng xã hội, bất ngờ xuất hiện loạt hình ảnh của một group chat Viber có tên “Nghệ sĩ Việt”. Trong đó gồm nhiều tài khoản được cho là của những nghệ sĩ nổi tiếng trong làng giải trí.



Theo như nội dung những đoạn tin nhắn thì có thể thấy group chat được tạo bởi ứng dụng Viber, một ứng dụng tin nhắn không phổ biến cho lắm ở Việt Nam. Người tạo lập group được cho là ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, chính anh là người mời mọi người vào nhóm chat và sau đó nhanh chóng thông báo giải tán nhóm vì cho là không an toàn, có "nội gián" nên dễ lộ thông tin?

Những nghệ sĩ được ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mời vào là Bảo Chung, Cát Phượng, Nguyễn Văn Chung, Tiết Cương, Nhật Cường, Hàn Thái Tú, NSƯT Cẩm Tiên…

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những hình ảnh lan truyền trên mạng xã hội, chưa có sự kiểm chứng.

Mới đây, một số nghệ sĩ được cho là có mặt trong nhóm chat cũng phủ nhận thông tin trên và khẳng định có người mạo danh mình.

Ca sĩ Phương Thanh bức xúc: "Ai đang mạo danh cái tên ca sĩ Phương Thanh trong nhóm chat NGHỆ SĨ VIỆT này... Thông báo Chanh không xài Viber và cũng không liên lạc tham gia bất kỳ nhóm chat nào trên Viber".

Sau Phương Thanh, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung cũng chính thức lên tiếng phản hồi. Anh cho rằng những đối tượng tấn công mình hết sức "tào lao", đồng thời đưa ra nhiều phân tích về sự việc trên.

Còn về ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng - người được cho là mở ra nhóm chat thì không có bất cứ bình luận nào về thông tin trên. Thay vào đó, nam ca sĩ thoải mái chia sẻ hình ảnh tại gia thưởng thức bữa lẩu cùng người bạn thân thiết.

HẢI NGOẠI KHÔNG HIỂU NỔI: TẠI SAO NHỮNG ANH HÙNG ĐÁNH THẮNG NGÀN ĐẾ QUỐC MÀ LẠI BỊ NHỮNG ĐỨA SÂU BỌ VÔ HỌC NHƯ HOÀI LINH , PHI NHUNG , KỲ DUYÊN ... LẠI CÓ THỂ DỄ DÀNG QUA MẶT CƯỜI KHẨY NHƯ CHÚNG ĐI TOILET VẬY???./-TCLãnh

Hé lộ người đàn ông đã giải cứu Phi Nhung từng bị lừa tiền, lừa tình tự tử.


Click image for larger version

Name:	3.jpg
Views:	0
Size:	92.1 KB
ID:	1812989   Click image for larger version

Name:	1.jpg
Views:	0
Size:	52.9 KB
ID:	1812990   Click image for larger version

Name:	2.jpg
Views:	0
Size:	86.4 KB
ID:	1812991  
Theo như mới đây, cư dân mạng tiếp tục "đào bới" đoạn clip của Phi Nhung khi tham gia trong một chương trình truyền hình hồi năm 2019. Tại đây, Phi Nhung đã có những trải lòng về cuộc đời của mình, đồng thời giới thiệu chuyên gia trang điểm Nhật Bình - người đàn ông duy nhất được ở chung nhà với cô và thậm chí còn được cô hỏi cưới. Vì trong một chương trình hồi năm 2019, Phi Nhung bất ngờ tiết lộ chuyện bản thân từng tự tử do bị lừa tiền, lừa tình khiến nhiều người không khỏi hoang mang.

Những ngày vừa qua, ồn ào giữa Phi Nhung với con trai nuôi Hồ Văn Cường nhận được rất nhiều sự chú ý của khán giả. Mặc dù cả hai mẹ con đã lên tiếng giải thích mọi chuyện nhưng có vẻ cư dân mạng vẫn chưa cảm thấy thỏa đáng khi liên tục công kích và "đào bới" những clip cũ của Phi Nhung lẫn Hồ Văn Cường.

Xem thêm: NS Tấn Hoàng bức xúc vì bị nghệ sĩ trẻ gọi điện chửi nặng nề, khẳng định chuyện Duy Phương kể là đúng
Mới đây, cư dân mạng tiếp tục "đào bới" đoạn clip của Phi Nhung khi tham gia trong một chương trình truyền hình hồi năm 2019. Tại đây, Phi Nhung đã có những trải lòng về cuộc đời của mình, đồng thời giới thiệu chuyên gia trang điểm Nhật Bình - người đàn ông duy nhất được ở chung nhà với cô và thậm chí còn được cô hỏi cưới.

Phi Nhung tiết lộ: “Nếu không có Nhật Bình thì tôi đã chết rồi". Kể lại câu chuyện này, chuyên gia trang điểm cho biết: "Hôm đó không biết Phi Nhung đi đâu về, kêu hơi mệt rồi đòi nấu cháo. Tôi đang nằm trên phòng bỗng nghe tiếng đùng một cái. Tôi chạy xuống thì thấy Phi Nhung ngã xuống đất, đầu đập vào sàn, sùi bọt mép, nghiến răng. Tôi phải nhét ngón tay vào miệng vì sợ Phi Nhung cắn lưỡi, Nhung cắn chảy cả máu tay tôi. Tôi phải ẵm Phi Nhung lên ghế rồi gọi cấp cứu ngay lập tức”.

Phi Nhung kể đó không phải là lần đầu tiên cô được người bạn thân “cứu mạng”. Thậm chí, từng có lần nữ ca sĩ tự tử vì bị lừa gạt: “Tôi vào phòng lấy thuốc ngủ. Rồi Bình về gõ cửa. Tôi nói tôi uống thuốc rồi ngồi dậy không được. Lúc đó Bình mạnh dễ sợ, tông cửa vô", Phi Nhung kể.
Một lần khác, Phi Nhung chọn cách tự tử vì bị lừa gạt tình cảm và tiền bạc. Cô vào phòng và uống hết một hộp thuốc ngủ. Lúc này, Nhật Bình đi làm về thấy Phi Nhung không ra khỏi phòng mới gõ cửa hỏi. Không thấy Phi Nhung trả lời, Nhật Bình đạp cửa xông vào, bắt nữ ca sĩ ói hết ra và đưa đến bệnh viện.

Thursday, 17 June 2021

Bốn Năm Trong Tù Cải Tạo Long Thành.

Lê Văn Bỉnh

Năm 2006.

Tôi xin ghi lại đây một số hồi ức và cảm nghĩ về bốn năm ở trại tù cải tạo Long Thành, nơi tập trung hầu hết công chức, tình báo, cảnh sát và đảng viên cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ được di chuyển ra miền Bắc. 

Đây chỉ là những điều tôi nhớ lại.  Trong các tù trại cải tạo, nhật ký chỉ gây phiền phức, thậm chí nguy hiểm cho người ghi.  Vả lại, nếu các trại viên có cất giấu được đi nữa, thì về sau qua những cuộc lục soát bất thần đối với cá nhân hay toàn trại, những trang nhật kỳ đó cũng sẽ bị tịch thu và người viết sẽ bị trừng phạt nặng nhẹ tùy theo những gì đã ghi. Tuy cố gắng trung thực, nhưng ký ức của tôi về những gì đã xảy ra trên 30 năm qua cũng khó mà chính xác hoàn toàn được. 

Trình Diện Hay Bị Bắt? 

Nhiều người khi cầm trong tay "giấy ra trại" cảm thấy chút ít "ngỡ ngàng." Ngỡ ngàng vì tờ giấy này ghi "ngày bị bắt", chứ không ghi "ngày trình diện" -- tiếng chính thức dùng trong lệnh gọi được đọc nhiều lần trên các đài truyền thanh và truyền hình.  Người ta kết tội nhà cầm quyền cộng sản "lừa gạt" dân chúng chỉ vì họ đã ra lệnh những người đi cải tạo phải mang theo tiền để đài thọ 15 hay 30 ngày ăn, nhưng sau thời hạn đó thì không thấy ai về!  Gọi là "lừa gạt" thì cũng đúng.  Tuy nhiên, nếu không dùng lối chơi chữ lững lờ như vậy, thì làm sao họ "bắt" được hàng chục, hàng trăm ngàn người. 

Những ai đã từng làm việc trong ngành cảnh sát hay tư pháp đều biết rằng trình diện cũng là hình thức bị bắt. Giọng nói đanh thép của người xướng ngôn viên đài truyền hình Saigon khi đọc tuyên bố về trách nhiệm của những người phải trình diện học tập cải tạo và trách nhiệm liên đới của gia đình, rõ ràng là một lệnh bắt. Không ai có thể nghi ngờ về sự thực này. Nhiều người muốn trốn.  Nhưng trốn ở đâu để đừng làm phương hại tới gia đình hay những người chứa chấp mình?  

Thật ra, khi đi trình diện người ta viện ra nhiều lý do để hy vọng sẽ không có tù đày.  Nước nhà đã thống nhất, chánh quyền mới đã “long trọng” ban hành lệnh khoan hồng. Hoặc phải đi "học tập" để biết chính sách và đường lối của chính quyền mới; thời gian sẽ từ "vừa phải", tức chừng 3-6 tháng cho tới "coi được", tức 1-2 năm. Đó cũng là suy nghĩ của riêng tôi trước khi "cũng liều nhắm mắt đưa chân." Và đó cũng có thể là suy nghĩ của những người đã từng sống và làm việc với Cộng Sản.  Cụ Vũ Hồng Khanh, từng làm Phó Chủ Tịch Nước VNDCCH, hồi 1945 dưới Hồ Chí Minh cũng có mặt tại trại ngay từ những ngày đầu, nghĩa là cụ không phải do phường, khóm bắt giải đến.

Hành Trang Đi Cải Tạo

Trong thời gian 1965-67 khi còn làm việc ở tỉnh Long An, tôi đã đọc một vài phúc trình an ninh có đề cập tới việc Việt Cộng bắt một số gia đình có liên hệ đến chính quyền quốc gia để đưa vào bưng "học tập", thời gian 10 ngày đến 6 tháng. Tôi biết "học tập" dành cho họ là đào giao thông hào, hầm ẩn trú, đấp mô, đào lộ đê cản trở lưu thông, thâm chí bị giết nếu chống đối.  Nó khác với học tập về lý thuyết Mác-Lê dành cho du kích, điạ phương quân của họ.  

Tôi bàn với Lưu Trường Khương (cùng lớp Đốc Sự 10 và Cao Học 2) chuẩn bị.  Khương và tôi đã từng ở chung phòng Ký Túc Xá Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, cùng hoạt động trong Phong Trào Phục Hưng Miền Nam. Khương rủ tôi cùng nhau đến gặp Lý Quý Chung (cựu sinh viên ĐS 10, nhưng rời trường sau năm thứ nhất), dân biểu và Tổng Trưởng Thông Tin dưới chính phủ Dương Văn Minh, bổ Khương làm Tổng Giám Đốc Báo Chí. Chung nói trước 30/4 anh đã gặp Đại Sứ Pháp Mérillon và nay hình như ông ta đã bị đuổi về Pháp rồì.  Khương hỏi ai đuổi và vì sao. Chung nhìn chúng tôi: "Moi chỉ nghe đồn vậy thôi." (Sau này khi sang Hoa Kỳ định cư, đọc quyển Nước Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử do Dương Hiếu Nghĩa dịch từ quyển La Mort du Vietnam của Tướng Vanuxem, Đại Nam xuất bản 1997, tôi mới biết chính Lê Đức Thọ khi tiến quân vào Saigon đã buộc Merillon rời VN lấy lý do vị đại sứ này đã tiếp tay với Trung Cộng dàn xếp để đình chiến, ngăn cản cuộc tổng tấn công) Khương chợt buột miệng: "Không biết có chuyện gì mà người ta lại cấm treo cờ Trung Cộng!"  Chung im lặng một lúc rồi nói:  "Mấy tuần nay bọn mình trở thành phó thường dân Nam Bộ rồi! Chắc sẽ có nhiều điều bất lợi cho anh em mình."  Anh tỏ ý bi quan cho thân phận hai đứa chúng tôi.  Anh cũng nói rồi đây anh chẳng biết ra sao, nhưng Khương và tôi hiểu anh sẽ không đi trình diện.  Anh không cười như mọi khi chúng tôi gặp nhau mặc dù giọng nói của anh vẫn trầm tĩnh.  Trên đường về, Khương bảo anh sẽ đem theo một cái võng và muối ớt ăn trong 6 tháng.  Anh cũng hỏi tôi “có cái gì hay hay để equiper cho tinh thần không."  Tôi đưa ra hai điều.  Điều thứ nhất là: Nhà cầm quyền mới nói "Lao động là vinh quang", nhưng có thể đưa đến cái chết. Tôi thuật lại cho Khương nghe rằng tôi vừa đọc trong một số Digest Reader's nhập cảng vài tháng trước thấy trước cổng trại tập trung dân Do Thái ở Auschwitz, có một khẩu hiệu viết bằng tiếng Đức, được dịch sang tiếng Anh là "Work Frees Men." Khương cười: "Vậy thì đừng có dại mà lao động hết mình, để còn sống mà về với vợ con. Còn điều thứ hai?"  Tôi nói: "Cái nầy chắc chắn "toi" sẽ khoái. Họ sẽ không tẩy não bọn mình nổi đâu. Liên Xô tưởng đã tẩy não được tù binh Nhật sau khi biến một số nhỏ làm tay sai.  Nhưng khi trở về nước, sống với gia đình và xã hội, thì tinh thần và lối suy nghĩ của cựu tù binh Nhật trở lại như cũ." Khương nhìn tôi:"Thật hả?" Tôi biết đây là thói quen hay hỏi của anh dù anh không nghi ngờ, tôi vẫn trấn an Khương: "Moi đọc research hẵn hoi đấy."  Khương khoái chí cười ha hả: "Phong cách của bọn mình cũng chẳng ngon lành gì, nhưng mất đi thì moi thấy tiếc."  Tôi ngồi sau xe Honda, thấy lưng Khương thẳng lên. Tôi chợt nghĩ đến chiếc xe Volkswagon mà anh thường mơ ước -- môt chiếc Volkswagon nhỏ với màu sơn tím và cành hoa phong lan trắng vẽ trên cửa passenger (Vợ Khương tên Lan). Thấy thương anh lạ thường.

Trước khi chia tay, Khương còn hỏi tôi nên đem theo bao nhiêu tiền.  Tôi nói nếu dư dã, thì đem theo kha khá để tùy còn cơ ứng biến.  Riêng tôi, sau khi mua sữa đặc có đường đủ 6 tháng cho hai thằng con 3 và 4 tuổi --vẫn chưa dứt sữa -- và sữa bột 6 tháng Similac đứa út mới sinh ngày 1/4, thì tôi sẽ chia 2/3 tiền còn lại cho vợ tôi.  Phần tôi, sẽ đủ "tiền cơm 30 ngày" như lệnh "trình diện" đòi hỏi, và vài ba gói thuốc lá. Khương cũng buồn bã lắc đầu: "Moi cũng không hơn gì.  Trời sinh voi, trời sinh cỏ." Nghe Khương nói, tôi nhìn các bồn cỏ nhỏ bên lề đường, nghĩ: Có lẽ rồi sẽ không có đủ cỏ.  Chúng tôi hẹn gặp nhau ở trường nữ trung học Gia Long.

Một ẢoTưởng 

Có một điều tôi không nói ra với Khương cũng như với gia đình tôi. Đó là cái ảo tưởng mong manh tôi mang theo trước khi rời nhà đi cải tạo. Ít ra cái ảo tưởng đó trong mấy tuần qua đã âm thầm giúp tôi sống, hay ít ra cũng ngăn không cho tôi nhảy xuống sông tự tử.   Tôi vốn sinh ra từ một gia đình nghèo, cực khổ lúc nhỏ, nhưng khi lớn lên thì không phải bương chải để sống.  Năm đệ nhị và đệ nhất, tôi lên trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ở nhà trọ đi học. Ở quê nhà, cha tôi vất vả chăn nuôi, trồng trọt để giúp lo cho tôi tiền ăn ở, sách vở, xôi bắp mỗi buổi sáng. Muốn ăn tô hủ tiếu, hay đi xi nê, thì phải nhịn ăn sáng hai ba ngày. May mắn, tôi đậu kỳ thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, học bổng 1500 đồng mỗi tháng, đủ sống.  Khi được học bổng sang Hoa Kỳ tu nghiệp, tôi được nuôi như "con gà kỹ nghệ". Suốt thời gian gần 2 năm ở Los Angeles, chỉ loanh quanh trong campus và các thư viện, không biết trên thực tế, người ta phải vật lộn với cuộc sống như thế nào.  Chỉ biết các em du học tự túc phải đứng bán xăng được trả $1.75 mỗi giờ.  Cho nên trước ngày 30 tháng tư, trong khi thiên hạ tìm cách ra khỏi Việt Nam, tôi cũng tìm một mảnh giấy chứng nhận là cựu sinh viên đại học Mỹ, nhưng không làm sao xuống tàu hay lên máy bay được. Lòng cứ tự hỏi khi sang Mỹ thì làm cách nào để sống, với vợ và 3 con còn bé. Tôi nào có biết gì về welfare, food stamps đâu!  Và cái ảo tưởng đó là sau thời gian cải tạo, khi trở về, tôi sẽ có việc làm hợp khả năng để nuôi nấng gia đình.  Cũng may, cái ảo tưởng này sớm tan biến chỉ mấy ngày sau đó, khi bước chân vào địa điểm tập trung.

Từ Trường Trung Học Gia Long Đến Làng Cô Nhi Long Thành

Tôi nhớ lại trong quyển hồi ký được dịch sang tiếng Anh của Aleksandr I. Solzhenitsyn với tựa đề The Gulag Archipelago, Solzhenitsyn có viết rằng hồi 1918 Lenin ra lệnh nhốt trong tại tập trung tất cả mọi người bị nghi ngờ có tội (Có phải chăng từ đó người ta mới có câu "Cộng Sản chủ trương thà bắt/giết lầm hơn tha lầm" chăng?)  Khi làm thủ tục giản dị để vào Trường Gia Long, tôi cảm thấy một màn đen buông xuống đời mình. Nghi ngờ, còn bị giam.  Huống hồ mình đã tự dẫn mình vào đây, nghĩa là tự thấy là có tội, thì làm sao được thả ra? Mang tâm trạng của một cựu sinh viên tốt nghiệp HVQGHC --bị xem là một trong hai trường phản động nhất miền Nam, trường kia là Cao Đẳng Quốc Phòng -- và một cựu công chức Phủ Tổng Thống du học Hoa Kỳ, tôi hiểu định mệnh sẽ khắc nghiệt với tôi nhiều hơn đối với nhiều người khác.  

Khi đã bước vào trong vòng rào rồi, mọi người trông rất lo âu. Tôi không được xếp cùng tổ đội hay phòng với những bạn cùng vào một lượt.  Nhưng thôi, trước lạ, sau quen.  Vả chăng, tất cả đều là người đồng cảnh: có chung một tâm trạng: đau buồn cho một cái gì đã, đang và sẽ mất. Đêm đêm, tôi nghĩ lại dòng sông Tân Thuận chảy siết mà mỗi ngày tôi đi qua. Tôi tự hỏi tại sao mấy tuần trước đây sao mình kết liễu đời mình cho rồi. Tôi lại nghĩ đến đôi mắt buồn của vợ tôi, những gương mặt vô tội của các con. Không thể nào ngủ được. Trong thời gian mấy ngày tạm giam trong trường học này, chúng tôi được cho ăn cơm do một nhà hàng nấu mang tới. Dĩ nhiên, phải trả bằng số tiền mang theo theo lệnh tập trung trên đài truyền hình.

Rồi nửa đêm hôm ấy, sau giờ giới nghiêm, tất cả được lệnh tập trung, lần lượt lên xe đậu trước cửa trường, trực chỉ về phía xa lộ.  Trên mỗi xe đều có hai bộ đội ghìm súng AK, lặng lẽ quan sát mọi người. Dù có lạc quan thế nào đi nữa, ai nấy đều biết được rằng mình sẽ không đi "học tập" như đi tu nghiệp hay huấn luyện quân sự mà mình đã trải qua!  

Nơi đến là Làng Cô Nhi Long Thành, Biên Hòa, mà nhiều người đã nhận ra. Đối với tôi, Long Thành không phải là một địa danh xa lạ.  Hồi còn là sinh viên QGHC, tôi đã đến thực tập nhiều tháng ở quận Long Thành. Đã đi hành quân với nghĩa quân và cảnh sát, và bị phục kích ở Dốc 47. Đã ngồi trên xe với cán bộ xây dựng nông thôn vào rừng cao su Xuân Lộc, xe bị giật mìn bể cửa kiếng nhưng may là không ai thương tích.

Nhưng Làng Cô Nhi này quả là mới lạ đối với tôi.  Có người bảo đây là một cơ sở do một VC nằm vùng lập ra với danh nghĩa một cơ sở từ thiện, nhưng cũng nhằm mục đích nhận trợ giúp để cung cấp cho VC. Có lẽ cơ sở đã hoạt động chưa được bao lâu, vì các kiến trúc còn khá mới.  Ngoài hai dãy nhà dùng để ở mỗi dãy gồm 6 căn bằng gạch, lợp tôn, còn có một nhà bếp nhỏ và một bệnh xá. Đặc biệt gần cổng ra vào, có một nhà cầu nguyện thật to kiến trúc thô sơ, với một tượng Phật đồ sộ.  Nhiều năm sau, cụ trại viên Đặng Hiếu Khẩn, một cựu viên chức cao cấp Bộ Canh Nông tiết lộ với người viết là chính cụ cùng vài người khác trong nhiều ngày bị cán bộ tên Hai Trung, phụ trách nhà 4 dẫn đến đây, dùng búa đập tan bức tượng Phật này, xóa đi dấu tích tôn giáo, để biến nhà cầu nguyện thành "giảng đường" có sức chứa toàn trại, tổng cộng khoảng 3000 người.

Trại được chia ra làm 4 khối.  Khối 1 là thành phần hành chánh, chức vụ thấp nhất là Trưởng Ty, Phó Quận; cao cấp nhất là Phó Thủ Tướng; là khối đông nhất, ở từ nhà 1 đến nhà 6.  Khối 2 là tình báo, từ trung cấp tới Đặc Ủy Trưởng.  Khối 3 là thành phần cảnh sát, từ Thiếu Tá đến Chuẩn Tướng.  Và khối 4 là thành phần các đảng phái chính trị, từ cấp tỉnh bộ đến trung ương. Nữ trại viên không quá 20 người ở riêng; mấy tháng sau thì được thả về hết. Mỗi nhà do một "cán bộ" phụ trách.  Họ không cho biết cấp bậc, nhưng ai cũng biết đó là các sĩ quan công an, mặc dù họ không mặc đồng phục và mang quân hàm trong năm đầu tiên khi chưa tuyên "án tập trung cải tạo 3 năm." 

Tiếng gọi chính thức là Trường 15-NV.  Sau đó đổi thành Trại Học Tập Cải Tạo Long Thành.  Quần áo chúng tôi đều bị đóng dấu “CTLT” để phòng ngừa trốn trại.  Họ không bao giờ gọi là trại tù, vì "trại tù là sản phẩm của bọn phong kiến, thực dân, tư bản." Họ giải thích như vậy.

Tinh Thần & Bệnh Hoạn

Khoảng một vài ba tuần sau khi đến trại, thì có một số cựu công chức bị công an một tỉnh miền Trung đến trại áp tải đưa về ngoài đó để ra tòa án nhân dân.  Sau đó chừng vài tháng lại thêm một số được lệnh chuyển trại vào ban ngày, trong số đó có Giáo Sư Nguyễn Duy Xuân, và nhiều cựu Sinh viên QGHC, đưa tạm giam ở Thủ Đức, rồi đưa ra Bắc.  Đồng thời, cũng có mấy đợt được cho về, mỗi đợt không quá 20 người, trong đó có một số làm ở Bộ Tài Chánh, để làm công tác đòi thuế mà người ta còn "mắc nợ nhân dân." (Chính quyền mới không trả tiền cho bất cứ ai đã gửi ở các ngân hàng trước 30/4/75 viện lẽ đó là tiền "bốc lột nhân dân", bây giờ phải thuộc về ngân hàng nhà nước; còn nợ ngân hàng, thuế thì phải trả viện lẽ đó là tiền của nhân dân). Cứ mỗi lần có một đợt về, thì ngày hôm sau hàng người chờ đợi khám bệnh ở bệnh xá, do một cán bộ quản lý và các bác sĩ trại viên phụ trách khám bệnh, lại dài hơn mọi khi.  Tôi được một người bạn cho mượn quyển La Rivière Kwai, mà hồi còn đi học tôi đã xem phim nói tiếng Anh có phụ đề Việt Ngữ. Đến nay đã hơn 30 năm, tôi vẫn còn nhớ lời của Đại Tá Nicholson, đại diện tù binh Đồng Minh, nhắc nhở những người bạn đồng cảnh. Đại ý là trong trại tù, xuống tinh thần dễ đưa đến bệnh họan. Đọc lời dặn này, rồi quan sát các hàng dài chờ đợi, tôi tự bảo mình phải phấn đấu, không được đầu hàng hay bỏ cuộc.  Tôi cũng khám phá ra một điều thú vị là các bạn đồng cảnh của tôi đang hút thuốc lào, giống y hệt các thổ dân vùng sông Kwai đó.  Và trong khoảnh khắc, nhớ lại một bài báo đăng trong tờ Los Angeles Times năm 1973, tôi tự hỏi nếu không may chúng tôi chết ở đây, thì sau này thân nhân có được phép tới viếng khu mộ, như thân nhân của các tử sĩ Đồng Minh đã đến vùng sông Kwai vào mỗi dịp Giáng Sinh hay không.

Nhưng bằng tinh thần không thôi, dù dũng cảm đến đâu đi nữa, thì người ta cũng không thể chống lại nổi bệnh hoạn.  Sau 4-5 tháng ăn uống thiếu dinh dưỡng, thiếu thuốc men, bệnh hoạn tràn lan.  Nhiều nhất là phù thủng (beriberi): ấn ngón tay xuống da thịt trên xương ống quyển, da thịt lún xuống thật lâu rồi mới trở về vị trí cũ.  Nhiều người mua cám để ăn cho có Vitamin B1, nhưng chẳng thấm vào đâu cả.  Người ra đi sớm nhất là anh Phạm Văn Long (CH2, thuộc khối TƯTB), chỉ vài tháng sau khi nhập trại.  Anh bị bệnh huyết áp.  Không rõ anh không mang đủ thuốc, hay là anh bỏ cuộc bằng cách không uống thuốc.  Người kết tiếp là cựu dân biểu Bành Ngọc Quí, chung tổ với các anh bác sĩ và dược sĩ.  Có người nói nếu anh được chở lên bệnh viện Biên Hòa sớm chừng 2 tiếng đồng hồ, thì bệnh xoắn ruột của anh có thể cứu được. Vào cuối tháng thứ sáu, nhờ gia đình được phép gửi thuốc vào, nhiều người đã lành bệnh rất nhanh chóng.  Anh Lê Văn Cẩn (ĐS 10), vốn đã nhỏ con lại bị kiết lỵ nhiều ngày, trông giống như em bé 13-14 tuổi thiếu ăn. Phải nhiều tháng sau, nhờ thuốc men và thực phẩm tiếp tế, anh hết bệnh nhưng sức vóc vẫn chưa trở lại bình thường. 

Ngôn Ngữ và Giai Cấp

Khi bộ đội CS vào Saigon, họ gọi Bệnh Viện Từ Dũ là xưởng đẻ, đồng hồ có ngày tháng là đồng  hồ có cửa sổ vv. thì nhiều người cho là họ ngô nghê, nhà quê.  Cho nên lúc vào trại, khi bị bắt buộc phải dùng tiếng "ỉa, đái" thì một số anh em coi đây là chuyện bình thường, không có gì đáng để ý.  Cầu tiêu được viết là "chỗ ỉa", cầu tiểu được gọi là "chỗ đái". Trong năm đầu tiên, khi chưa bị khoá nhốt trong phòng vào ban đêm, trước khi ra ngoài tiêu tiểu, các trại viên phải hô to: "Báo cáo cán bộ, tôi đi ỉa" hoặc "Báo cáo cán bộ, tôi đi đái."  Riêng tôi, tôi không nghĩ đó là ngôn ngữ của Hà Nội ngàn năm văn vật, và nghĩ là họ chủ ý hạ nhục chúng tôi.  Văn chương xã hội chủ nghĩa là văn chương đầy rẫy mỹ từ, nông nghiệp xã hội đầy rẫy những rừng mơ.  Tại sao lại dùng những tiếng "dơ" như vậy? Một anh bạn canh nông đưa ra một đề nghị rất "phản động": nên gọi cầu tiêu, cầu tiểu là "nguồn hạnh phúc của rau xanh!"  Mấy tháng sau, khi đi lao động tôi thấy các chữ "chỗ tiêu", "chỗ tiểu" được dùng cho họ. Đêm hôm đó, tôi nằm không ngủ được, cảm thấy tủi nhục, đau đớn, và nước mắt chảy dài. Vâng, ngôn ngữ cũng có giai cấp. Trên hành tinh này, số người đau khổ vì lời nói chắc là không ít. Tôi không muốn các bạn đồng cảnh thêm niềm đau này, nên không nói cho họ biết "khám phá" của tôi. Giờ đây, ngồi đánh máy những
dòng chữ này, tôi vẫn còn cảm thấy chua xót.

Một điều thú vị là trong ngay những bài giảng đầu tiên về sự "ưu việt" của chủ nghĩa xã hội, một giảng viên đã nói: "Trong xã hội xã hội chủ nghĩa không có nhà tù, chỉ có các trại cải tạo mà thôi."  Vì vậy xin độc giả vui lòng tha thứ khi tôi dùng cả hai từ để chỉ cùng một ý nghĩa.  Cũng trong sự ưu việt đó, diễn giả Hoài Thanh (viết quyển Thi Nhân Việt Nam chung với Hoà Chân) trong lúc giảng bài đã giải khát bằng bia thay vì bằng nước lã, mặt đỏ gay, khiến một cán bộ phải giải thích: "Hồi Bác (HCM) còn sống, Bác quá chiều các nghệ sĩ làm hư họ đi!"

Tuy nhiên tôi vui mừng về một nhận xét thú vị khác. Đó là ngôn ngữ mới, mà tôi hay gọi là "tiếng Việt Việt Cộng" rất khó xâm nhập vào chúng tôi. Đa số anh em vô cùng ngượng miệng khi phải dùng "sau ngày giải phóng", "hồ hỡi phấn khởi", "trước sau như một", "nhuần nhuyễn" vv. cũng như ngay cả các nhóm từ rõ ràng dịch từ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, chẳng hạn "mang dấu ấn thời đại", "trang bị tận răng", ""sô-vanh nước lớn" vv.  Về sau này, khi tù hình sự được chuyển về, thỉnh thoảng đi ngang qua các phòng trong giờ học tập, nghe họ "thảo luận", tôi thấy họ sử dụng những từ mới du nhập trơn tru, suông sẻ hơn nhiều người trong chúng tôi. Đây cũng đáng là một đề tài ngữ học đáng nghiên cứu.

Đọc Giữa Những Dòng Chữ

Hằng đêm, sau giờ lao động, các đội cùng nhà phải họp lại để tập hát, nghe đọc báo.  Nhà thơ Trần Đại, tốt nghiệp Cử Nhân và Cao Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt, phục vụ trong ngành báo chí, khuyên tôi nhận trách nhiệm đọc báo cho anh em nghe.  Tôi nói" "Làm cái loa tuyên truyền, tôi xấu hổ lắm. Sao anh không nhận việc này? Anh nói cười: "Nếu không bị suyển nặng, tôi xung phong hai tay.  Anh có tờ báo trong tay trước thiên hạ, lâu hơn thiên hạ là nhất rồi. Anh đọc trước và chọn tin cho anh em là cả trách nhiệm.  Khi anh đọc, anh sẽ hiểu giữa hai dòng chữ. Cách anh đọc cũng có thể sẽ giúp cho anh em hiểu ít nhiều ẩn ý của bản tin đó."  Một hôm khi đưa tin Thủ Tướng Phạm Văn Đồng sang Pháp, báo Nhân Dân nói là ông ta được chính phủ Pháp trải thảm đỏ chào đón, chẳng thấy nói gì tới viện trợ văn hóa kỹ thuật cả.  Tôi hỏi Đại: "Sao họ đăng tin ngớ ngẩn như vầy?  Nguyên thủ quốc gia nào chẳng được chào đón bằng thảm đỏ!" Đại cười với nụ cười rất duyên dáng: "Tốt khoe, xấu che. Vậy thì Hà Nội chẳng được cái con mẹ gì cả!" Tối hôm đó tôi đọc bản tin này với giọng rất "nghiêm túc." Khi hết bản tin, tôi ngừng lại lúc, làm bộ xem có còn tiếp chỗ nào không, rồi tỉnh bơ nói: "Tin này chỉ có thế.  Và đây là một tin khác." Hôm sau gặp tôi, Đại cười: "Anh đọc tin và đóng kịch khá lắm. Anh em họ hiểu.  Nhưng nếu tôi là ăng-ten thì hôm nay anh phải đi làm việc với cán bộ rồi đấy!" 

Một hôm thấy trên báo Quân Đội Nhân Dân có cái tin rất ngắn, tôi hỏi Đại và vài anh em khác có nên đọc hay không. Mọi người đề nghị nên đọc, để ai nấy đều biết, vả lại nếu nhà này không đọc thì nhà khác cũng đọc lên mà thôi.  Cái tin đó là: Một vị tướng của Tưởng Giới Thạch bị quân Mao Trạch Đông bắt giam 26-27 năm thì được tha (1975), ông ta xin bay về Đài Loan.  Nghe tin đó, một anh nói nhỏ:  "Bọn mình sẽ xin đi Mỹ sau khi ra khỏi trại. Nhưng chắc lúc đó phải có người cõng." Tôi cũng cảm thấy vui lây.  Trong cái buồn, anh em đã ráng tìm ra được nguồn vui.  Và tối hôm đó, rồi nhiều hôm sau đó nữa, nằm chiêm bao, thỉnh thoảng tôi thấy mình trở lại campus của trường đại học cũ bên California.  Có lẽ đó là những giây phút hạnh phúc nhất đời của tôi, giữa 30/4/75 và khi trở lại Hoa Kỳ theo chương trình HO.   

Về sau, nhờ làm "loa" mà tôi đọc được nhiều tin thêm và suy nghĩ khá đúng về những gì đã xảy ra bên ngoài trại cải tạo.  Chẳng hạn khi đọc tin "Thầy Trò Trường Thủy Lợi " ngoài Bắc vào Nam chỉ sau một hai tháng đã thiết kế xong một số chương trình thủy lợi địa phương, thì tôi nói với Đại đó những chương trình "thủy hại"!  Đại hỏi vì sao? Tôi cười: "Các kỹ sư Đại Hàn mất 18 tháng nghiên cứu để đào kênh dẫn nước ngọt, cuối cùng kênh đào vào một xã quê tôi (Gò Công) cũng bị thẩm thấu nước mặn.  Không là kỹ sư thủy lâm, tôi cũng biết là bọn họ làm ăn cẩu thả và sẽ đưa nhiều dự án nông nghiệp cuả các tỉnh miền Nam đến chỗ thảm bại. 

Chủ Nghĩa Không Tưởng và  Lý Kẻ Mạnh

Chủ nghĩa cộng sản vốn là một chủ nghĩa không tưởng, nghĩa là không dựa vào thực tế.  Mà bất cứ một thứ không tưởng nào ngay từ đầu đã là một bi thảm. Nhưng khổ nổi là biết trật, ngưòi ta vẫn tiếp tục làm.  Biết sai, người vẫn tiếp tục nói. Để cuối cùng đổ lỗi cho những người thừa hành thiếu khả năng thực hiện, người nghe thiếu khả năng hiểu biết.  Bên ngoài, thì các "mô thức" nông trường tập thể, các hợp tác xã nông nghiệp và thương nghiệp đã thất bại thê thảm ngoài Bắc lại được đưa vào phương Nam.  Bên trong, thì người ta nhai lại các bài giảng không được mấy ai nghe ngoài Bắc.  Nhưng tù cải tạo có ai dại gì mà đi nói khác đi.  Một người bạn cho tôi biết, khi Tố Hữu vào Huế gặp bạn bè thân nhân, ông dặn dò:  "Người trí thức phải biết tự kiềm chế."   Kể ra, thì ông ta cũng tốt bụng đấy, mặc dù đó cũng là một lối đe doạ! Có lẽ chỉ vì say men chiến thắng và say men rượu do dân Huế "chiêu đãi."  Các lý luận biện chứng bắt đầu từ sự rút lui của Hoa Kỳ đã đưa ra không biết bao nhiêu nguyên nhân.  Nguyên nhân nào chẳng đúng; bởi lẽ có ai dám cải lại. Ngày nay những nhà lý luận đã soạn bài "ba dòng thác cách mạng" đã tìm ra dòng thác nào đã làm tan rã khối Cộng có 60 năm lịch sử?  

Đối với độc giả muốn thẩm định giá trị của những bài giảng chính trị trong và ngoài trại cải tạo, người viết chỉ xin đưa ra thông tin này:  Khi viết Lời Mở Đầu cho quyển From Enemy to Friend  của cựu Đại Tá Bùi Tín (hy vọng rằng ông Tín tự đào tỵ chứ không phải được đảng CS sắp xếp!) do Naval Institute Press xuất bản năm 2002, nghĩa là sau hơn 10 năm ông Tín đã sống ở hải ngoại nghiên cứu, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Secretary of the Navy) James Webb, đã từng phục vụ trong lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ tại Việt Nam, sau khi cho biết Bùi Tín thiếu hiểu biết về sự thành công chiến thuật của Mỹ trên chiến trường đã gây thương vong cho cộng quân lên đến 1 triệu 400 ngàn người so với Hoa Kỳ 58 ngàn và VNCH 245 ngàn, viết như sau: "Similarly, Tin seems to have little understanding of the potential of American airpower, had it been fully unleashed." Những người ít nghiên cứu hơn ông Tín, muốn "nói thánh nói tướng" gì chẳng được, có ai kiểm soát, kiểm duyệt đâu mà sợ!

Những Đợt Ra Đi

Đúng một năm sau ngày vào trại, tất cả được lệnh lên hội trường để nghe đọc "Án Phạt: Tập Trung Cải Tạo". Tất cả đều bị tuyên án "Ba Năm Tập Trung Cải Tạo", tính từ lúc tuyên án.  Người đọc án còn nhấn mạnh rằng án có thể tăng lên mỗi lần 3 năm nếu không "học tập tốt." Trong các câu hỏi để thảo luận, có câu hỏi vì sao lại 3 năm, mà không là 2 hay 4 hoặc 5 năm.  Trại viên mỗi người mỗi ý.  Cán bộ cũng chẳng có lý do rõ ràng, khoa học. Mấy tuần sau, khi đọc quyển sách của nhà văn Nga Sông Đông Êm Đềm dịch từ bản dịch tiếng Anh The Quiet Don, tôi mới vỡ lẽ ra rằng bọn bôn-sơ-vich cũng đã từng giam những người lính cũ của Nga Hoàng 3 năm, sĩ quan thì giết đi.  Giữa lúc mọi ngưòi đang xuống tinh thần, thì có tin tung ra rằng vài anh em lúc đi lao động đã thấy văn bản phân loại những người một năm, một năm, hai năm, hai năm và ba năm. Lại có tin chính quyền Mỹ sẽ trao đổi tù binh bằng một số hàng hoá, thuốc men, thực phẩm. Các tin đồn đó cũng giúp lên tinh thần được nhiều người. Ít hôm sau, tất cả được lệnh viết thư cho gia đình lên thăm nuôi. Đây là lần đầu tiên hơn một năm xa cách, chúng tôi mới được gặp gia đình. Cũng là dịp để chúng tôi báo tin buồn ba năm tập trung cải tạo, và có thể tăng thêm nữa.  Tôi gặp nhà tôi, cùng ba đứa con trai nhỏ, trong 30 phút.  Hai đứa lớn, 4 và 5 tuổi, nhận ra tôi. Còn đứa con trai út thì chẳng biết tôi là ai vì lúc chúng tôi xa nhau, nó chỉ mới sinh 2 tháng rưỡi.  Nhà tôi buồn, nhưng không hề mở miệng khuyên tôi "học tập tốt", chỉ bảo tôi hãy giữ gìn sức khoẻ; còn con cái thì nhà tôi và bên ngoại sẽ lo.  

Ngay tối hôm đó, một số đông được lệnh lên đường, trong đó có Khương.  Hồi chiều sau khi được gia đình thăm nuôi, chúng tôi có đến gặp nhau.  Khương nói về hai đứa con kháu khỉnh của anh, một gái một trai.  Tôi khoe thằng bé út trên một tuổi của tôi, nói tóc nó vàng hoe giống Mỹ quá. Khương cười: "Chắc toi còn giữ lại hương vị Mỹ." Đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau.  Ra trại cuối năm 1980, tôi gặp anh Lưu Trường Ninh  (ĐS 8), anh ruột của Khương và được biết Khương chết ở miền Bắc, mấy năm trước đó.   Đã có nhiều anh em QGHC viết về tài ba (đàn hay, chơi thể thao giỏi) cũng như tính tình rất dễ thưong của anh.  Tôi không những mất đi một người bạn tài hoa đó, mà còn mất Khương như một người để chia xẻ những quan điểm về chính tri, và triết lý sống.

Sau đêm đó, trại viên còn lại, mỗi người được phát một chiếc bao bố, ở tư thế chuẩn bị bỏ đồ đạc vào chuẩn bị lên đường mà ai cũng biết nơi lưu đày là miền Bắc.  Lạnh, đói và dễ chết hơn hơn.  Gia đình dễ tan vỡ hơn.  Trong thành tích của đảng cộng sản Việt Nam, họ hy vọng sẽ thêm một thành tích diệt trừ bọn tai sai một cách khoa học hơn, ít đẩm máu hơn.  

Sau hai đợt Bao Bố 1 và Bao Bố 2, trại chỉ còn lại không tới 200 người.  Chúng tôi chờ đợi đợt Bao Bố 3. Lòng thật dững dưng, không còn lo âu gì nữa.  Bởi lẽ lo âu cũng chẳng giúp ích được gì.  Lại còn muốn ra đi cùng bạn bè, sống chết có nhau.  

Thuyết Tiến Hóa

Trong khi chúng tôi chờ đợi đến lượt mình, thì hằng ngàn tù hình sự đưọc chuyển đến.  Họ thuộc nhiều thành phần khác nhau: trộm cắp, xì ke ma túy, gái điếm đã bị phường khóm ruồng bắt từ nhiều thángng trrước, đưa đi tập trung ở Long Giao, Long Khánh, Bùi Gia Mập vv. Trẻ nhất là em bé 8 tuổi, nghe nói bị công an khu vực tống đi để tiện bề ve vãn mẹ em.  Vậy là trại cải tạo Long Thành chúng tôi có cụ Nguyễn Bá Lương, cựu Chủ Tịch Hạ Viện lớn tuổi nhất, lúc đó trên 80 tuổi và em bé 8 tuổi này.  

Thiếu ăn, thiếu thuốc, bệnh hoạn cùng lối sống buông thả, mạnh được yếu thua vv. Tù hình sự rất gần gũi với thần chết.  Mỗi ngày đều có 4-5 người chết đưa đi chôn ngoài vòng rào.  Hằng chục em, không đứng thẳng lên được, di chuyển giống hệt như các con vượn lom khom.  Trong đám "tù chính trị" --tiếng họ gọi chúng tôi -- còn lại vài bác sĩ được điều động xuống bệnh xá để trị liệu cho họ.  Ban chỉ huy trại đưa một toán hình sự xuống bếp thay thế tù chính trị.   Chỉ trong vài ngày đầu, họ đã "ăn" gần hết kho!  Vì vậy mà tù chính trị được lệnh trở lại nhà bếp. Giáo Sư Trần Văn Binh, đi cải tạo với tư cách Giám Sát Viên, tiếp tục làm kế toán nhà bếp.  Sau này khi GS được thả về thì anh Toàn (ĐS 9) thay thế. Anh Trần Văn Thái (ĐS 14) đội trưởng nhà bếp đề nghị dùng gạo (chiếm tỷ lệ 10% thực phẩm) để nấu cơm cháo cho những người già yếu bệnh hoạn, còn những người khác thì phải ăn bo bo, khoai sắn vv.  Các chú vượn lom khom được cho ăn cháo gạo pha sữa đặc có đường, rau dền, con ruốc phơi khô.  Và chỉ một thời gian sau các em đứng thẳng dậy, trong đó có một em tên Tiến được cử sang khiêng phân với tổ vệ sinh chúng tôi.  Các bạn của em đùa là em đã từ người vượn biến thành người thật, chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, đâu cần phải chờ đợi mấy ngàn năm như thuyết Darwin.  Thời đại XHCH có khác, cái gì cũng tiến bộ vượt bực.  Không biết có bao nhiêu em không được may mắn như Tiến. Đến nay tôi cũng không biết số phận của một em có ruột lòi ra ngoài, phải dùng bao nylon bọc lại để bớt nhiễm trùng. Tôi thấy em làm như vậy trong mấy tuần lễ mà vẫn chưa được đi bệnh viện chữa trị.

Theo sự tiết lộ của một cán bộ tên Hai Sự, ban chỉ huy trại đã xin Bộ Nội Vụ giữ chúng tôi lại để "phục vụ" tù hình sự.  Như vậy, nhờ đám nhà bếp hình sự quậy phá, cũng như nhờ chuyên môn của các Bác Sĩ Tùng (cựu Trưởng Ty Y Tế Phú Yên), Bác Sĩ Hạnh (Viện Pasteur) vv. mà chúng tôi không phải ra Bắc.

Đến hết năm thứ tư, trừ anh Thái Quang Chung (ĐS11) được về vào dịp Tết trước đó, tất cả còn lại từng đôi một bị còng tay chở lên rừng Xuyên Mộc. Tôi ở đây thêm một năm nữa.  Được thả vào cuối tháng 8 năm 1980.  Giấy ra trại mà hiện nay tôi còn bản copy có ghi: "Can tội: Chánh Sự Vụ Sở Thương Mại Khu Chế Xuất, Bị Bắt ngày 14/6/1975. Án phạt: TTCT"

Thay Cho Lời Kết

Tom Paine, tác giả quyển Common Sense xuất bản năm 1776 khơi màu cho cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ về sau có viết:"There are the times that try men's souls/ What we obtain too cheap, we esteem too lightly/ Virtue is not heredity."

Quả thật những tháng năm cải tạo là thời gian dài đầy thử thách. Nhân cách con người hình như thể hiện rõ ràng hơn khi người ta phải đối phó với nghịch cảnh lớn lao.  Những gì tôi có được từ các trại cải tạo này dù đáng giá hay là không đáng giá, tôi không hề coi nhẹ.  Khi bước vào trại, cũng như khi ra khỏi tại, hành trang tôi mang theo là những mối lo âu nặng nề.

Giờ đây khi ghi lại những hồi ức nầy, tôi cũng còn e sợ lịch sử có thể tái diễn.  Bằng những ngôn từ trau chuốt và thuyết phục hơn.  Và cho một số nhỏ người ...không may nào đó.

Xin cầu chúc may mắn đến với mọi người.

Lê Văn Bỉnh
Virginia, Năm 2006

TRANG BLOG MẬU THÂN 68 VỪA TRÒN 15 NĂM (18.6.2006- 18.6.2021) ./- TCLãnh

 KỶ NIỆM TRANG BLOG MẬU THÂN 68 VỪA TRÒN 15 NĂM:


1- Chúng tôi đã tiếp tay phổ biến hơn 27 ngàn bài viết.(11,179 Trước 2012+ 15,830 Tới nay= 27,009)

2- Không một bài viết nào đánh mất hay đi ngược LẬP TRƯỜNG CHỐNG CỘNG cố hữu, luôn VẠCH TRẦN TÊ LIỆT HÓA BỌN VC NẰM VÙNG HẢI NGOẠI.

3- Kính ước mong chung cùng Hải Ngoại cho VIỆT NAM SỚM ĐỘT NGỘT QUAY VỀ VỚI TỰ DO, DÂN CHỦ.

Kính chúc Qúy Thân Hữu khắp nơi luôn AN BÌNH và nhiều ơn phước./-

Ban Biên Soạn

& Chủ Biên.

Trần Cao Lãnh

Mt View- Nam Cali - 6/2021

Tuesday, 15 June 2021

TRONG NƯỚC ĐANG SIẾT CHẶT VÒNG VÂY HOÀI LINH VÀ PHI NHUNG- ĐÂY CHUYỆN NÁT BÉT CỦA CA NÔ PHI NHUNG./-TCLãnh

 Tóm tắt: 

Phi Nhung qua Mỹ theo diện con lai - Phi Nhung định cư đầu tiên ở Florida - Lấy chồng ở Florida nhưng có chút ngón nghề ca hát nên dời qua Cali -  Hai vợ chồng Phi Nhung cùng qua cali và Phi Nhung bỏ tiền ra thu băng để quảng cáo tên tuổi - Từ những quảng cáo đó Phi Nhung lần hồi được các Trung Tâm ca nhạc mời tham gia- Phi Nhung nổi tiếng ở Hải Ngoại từ 20 năm trước - Sau khi nổi tiếng Phi Nhung bỏ chồng và lăng nhăng với nhiều đứa khác - Phi Nhung đã từng say mê Mạnh Quỳnh nhưng Mạnh Quỳnh lại đi cưới người khác cho nên Phi Nhung rất ngẩn tò te. Tuy vậy Phi Nhung vẫn lả lơi ra mặt trên sân khấu với Mạnh Quỳnh - Sau vụ tiết lộ từ trong gia đình chồng  với những chi tiết nầy coi như tên tuổi Phi Nhung đã RỚT TỚI ĐÁY ĐỊA NGỤC- Sống ở trong nước sẽ không yên và nếu lết qua Mỹ để chết chắc cũng không xong đâu !!!./-TCLãnh- Cali.