Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Tuesday, 2 May 2023

 Hy vọng & Thực tế Tan Hoang – 

Tác giả Nguyễn Xuân Phong 

(Dịch giả Phan Quân)

LGT: Từ năm 1965 đến 1975, ông Nguyễn Xuân Phong đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ VNCH và biết nhiều bí mật dẫn đến việc mất Miền Nam. Trong thời gian hòa đàm Ba Lê về Việt Nam, từ địa vị thành viên phái đoàn lúc ban đầu, ông đã trở thành Trưởng Phái Đoàn vào giai đoạn cuối cùng, với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách hòa đàm trong chính phủ. Đặc biệt, ông cũng là nhân vật quan trọng trong Hội Nghị Thượng Đỉnh của nguyên thủ 7 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương tại Manila vào 2 ngày 24 & 25 tháng 10, 1966, nhằm thẩm định về cuộc chiến ở Nam Việt Nam với sự tham dự của Tổng thống Phi Luật Tân, Ferdinand E. Marcos; Tổng thống Đại Hàn, Park Chung Hee; Tổng thống Hoa Kỳ, Lyndon B. Johnson; Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo VNCH, Nguyễn Văn Thiệu; Thủ tướng Úc Châu, Harold Holt; Thủ tướng Tân Tây Lan, Keith Holyoake; Thủ tướng Thái Lan, Thanom Kittikachorn; và Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương VNCH, Nguyễn Cao Kỳ. Tại Hội Nghị, ông là người Việt Nam duy nhất được trực tiếp nghe trưởng phái đoàn Nam Hàn cho biết: Tổng thống Nam Hàn đã cảnh giác, [qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh Cao Ly] nếu như hòa đàm [với VC] có xảy ra, chính phủ Sài Gòn sẽ thấy Mỹ thương thuyết thẳng với phía bên kia [VC], còn Sài Gòn chẳng nói năng gì được trong khi thương thuyết, và cuối cùng sẽ phải chấp nhận và tuân hành những gì Mỹ và VC ký kết. Quả nhiên, 6 năm sau, lời tiên đoán này đã trở thành sự thật tại Hội Nghị Ba Lê, dẫn đến bản Hiệp Định đầy phi lý, khi Mỹ toa rập với VC cho phép quân đội xâm lăng VC được tiếp tục hiện diện trên lãnh thổ VNCH, dẫn đến thảm kịch 30-4-75. Sau đây, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu tiếp những sự thật ông tiết lộ trong tác phẩm  "Hope and Vanquished Reality", được ông viết theo yêu cầu của "The Center for A Science of Hope" ở New York.

*

(Tiếp theo số 649...)

Sau khi Sài Gòn sụp đổ hồi tháng Tư 1975, Hà Nội và MTGP chẳng phải chờ đợi gì lâu để biểu lộ ý muốn nhất trí của họ qua việc thống nhất hai miền Nam Bắc hồi tháng Bảy 1976 dưới quyền cai trị của chế độ cộng sản Hà Nội, sản sinh ra cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tại hội đàm Ba Lê hồi đầu những năm 1970, Kissinger đã nhanh chóng nhận thấy rằng ông Thiệu và ông chẳng khi nào đồng ý được với nhau.
Kissinger cố gắng hết sức mình để thông báo cho ông Thiệu những diễn tiến của các cuộc mật đàm với Lê Đức Thọ, nhưng ông sẽ không có chút hy vọng nào thành công với Hà Nội nếu như ông cho Sài Gòn biết hết mọi chi tiết éo le. Dĩ nhiên là muốn có cùng ý kiến như nhau thì ông Thiệu phải suy nghĩ như Kissinger chứ không phải Kissinger phải theo ý kiến của Thiệu. Dù sao đi nữa, làm cho ông Thiệu vui lòng là nhiệm vụ của Nixon chứ không phải của Kissinger.
Lần duy nhất Sài Gòn được trực tiếp nhúng tay vào việc soạn thảo Hiệp Định Ba Lê là vào những vòng hội đàm sau rốt hồi giữa tháng Giêng 1973. Vì những lý do mà chỉ có một mình ông hiểu, Kissinger cho ông Lâm và tôi biết một vài điều khoản của cuộc thương thuyết. Đó chỉ là một vài điều khoản tế nhị còn lại cần được soạn thảo, trong số đó có Điều 8c, liên hệ đến việc phóng thích tù chính trị thường dân bị giam giữ ở Nam Việt Nam, và Điều 15, liên hệ đến khu phi quân sự, đến việc có thể thống nhất và những mối liên hệ giữa Nam và Bắc Việt Nam. Vì những vấn đề này liên hệ đến Sài Gòn và rõ ràng là không dính líu gì đến Hoa Thịnh Đốn nên ông Lâm và tôi được mời họp với phái đoàn Hoa Kỳ và được yêu cầu phác thảo những điều khoản liên hệ, sau khi đã được trình bày tóm tắt về những phiên thảo luận gay go liên quan đến các điều khoản này giữa Kissinger và Thọ.
Trên xe trở về văn phòng, ông Lâm giao công việc này cho tôi vì tôi có mặt trong phiên họp, có bàn chuyện đầy đủ về những vấn đề liên hệ và khả năng Anh ngữ của tôi cũng đủ sức để hoàn thành công tác mà không cần đến thông dịch viên. Công việc đó cần phải làm trong vòng bí mật tối đa. Khoảng hai tiếng đồng hồ là tôi thảo xong hai bản Anh văn lẫn Việt văn. Tôi liền trao bản thảo cho ông Lâm vì Kissinger đang nôn nóng chờ, khi mà đương sự có chương trình họp lại với Thọ vào buổi tối. Tôi đề nghị ông Lâm nên báo cho Sài Gòn biết vấn đề nhưng ông trả lời ngay là làm vậy chỉ gây ra phiền phức và mất thì giờ. Ông Lâm dựa vào yếu tố rất ít thời giờ để có cớ không liên lạc với Sài Gòn. Kissinger và Thọ chấp nhận phác thảo của tôi về các Điều 8c và 15, không thay đổi dù là cái dấu hai chấm tôi đã sử dụng. Ít ra Sài Gòn cũng được điều đó. Còn tốt hơn là chẳng có gì.
Trong phiên họp kế tiếp cùng với phái đoàn chúng tôi, Kissinger vui đùa than phiền rằng tôi đã tiết lộ tin liên quan đến khu phi quân sự cho người bạn cố cựu của tôi là Joseph Kingsbury Smith, phó chủ tịch tập đoàn báo chí Hearst Group. Báo chí biết rõ rằng Kissinger và Thọ đã đến giai đoạn cuối cùng của cuộc thương thuyết và chỉ còn phải giải quyết một vài vấn đề tế nhị nữa mà thôi. Các ký giả biết thỏa hiệp sắp được thành hình nên tất cả đều muốn có tin đặc biệt và sốt dẻo. Họ rất chú tâm đến câu chuyện liên quan đến khu phi quân sự. Liệu một khu như thế có cấm ngặt được những sự di chuyển của lực lượng Bắc Việt không hay lại dễ bị xâm nhập" Chuyện đó Kissinger và Thọ không quan tâm gì mấy, nhưng trên lý thuyết, vấn đề rất quan trọng đối với nền an ninh của chính phủ Sài Gòn. Đáp lại câu hỏi của các phóng viên, kể cả Kingsbury Smith, tôi nói rằng không ai muốn có một khu phi quân sự dễ dàng bị xâm nhập. Dĩ nhiên, cái thứ khu quỷ quái đó đã bị xâm nhập hai mươi năm qua và dù dễ bị xâm nhập hay không thì lực lượng của Hà Nội cũng chỉ cần không đầy một tiếng đồng hồ là có thể triển khai được một vài sư đoàn chính quy Bắc Việt qua ngang giới tuyến như họ đã từng làm nhiều lần từ bao năm nay. Lẽ đương nhiên là, theo quan điểm chính thức của Bắc Việt, họ không khi nào danh chính ngôn thuận xác nhận đưa quân đội của họ vào Nam mà đó chỉ là những người Việt Nam anh em vào Nam để giúp đỡ bạn bè đồng hương. Thông thường thì vấn đề rất phức tạp, không phải như các nhà báo nhận thấy, nhưng lúc bấy giờ họ thích nghe câu chuyện đó.
Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội, Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau là sự hiện diện của quân lính Bắc Việt ở Nam Việt Nam sẽ không được đề cập đến. Họ sẽ ở lại Nam Việt Nam, thế thôi. Phải mất nhiều thời gian, nếu không muốn nói là ngớ ngẩn, mới nhận ra và phân biệt được một người Bắc với một người Nam qua dung nhan người Việt của họ. Tại một trong những phiên mật đàm, ông bộ trưởng Xuân Thủy của Hà Nội đề nghị với Kissinger nên họp riêng với một người Nam Việt Nam đích thực và chính cống là Bà Bình. Bộ trưởng Xuân Thủy, cũng là một thi sĩ Bắc Việt nổi tiếng, quả quyết rằng "ngài tiến sĩ" sẽ thấy người phụ nữ kia rất khả ái. Kissinger từ chối một cách lịch sự, nói rằng ông sợ Bà ta khiếp vía kinh hồn. Khi Xuân Thủy bảo đảm Kissinger là Bà Bình sẽ "rất mềm dịu" với ông thì ông tiến sĩ đáp rằng, theo quan điểm nghề nghiệp thì Bà ta "rất khó nhá". Nếu tôi không lầm thì mưu toan môi giới đó xảy ra vào mùa xuân thơ mộng của Ba Lê năm 1971.


Một lần nữa, ông Lâm và tôi lại có dịp vui đùa bàn ra tán vào về tình tiết câu chuyện. Vì Kissinger nổi tiếng là con người quyến rủ nên câu chuyện vui thú của chúng tôi càng thêm phần hấp dẫn. Nhưng nói cho đúng ra thì ông cựu giáo sư trường Harvard đã từng sống qua bao nhiêu ngày tươi đẹp trong cuộc đời lý thú thì Bà Bình đâu có thể là niềm hứng thú của ông, về chính trị hay vì lý do nào khác. Không khi nào ông tỏ vẻ gì ve vãn Bà Bình về chính trị.

Một thành phố tan hàng

Rời nhiệm sở Trưởng Đoàn Hòa Đàm Ba Lê của Việt Nam Cộng Hòa, tôi trở về Sài Gòn năm ngày trước khi chiến xa Bắc Việt đụng sập cánh cổng dinh tổng thống Nam Việt Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Biến cố trọng đại đó đã làm cho hàng chục triệu người Việt Nam - miền Nam cũng như miền Bắc và ở những nơi khác trên thế giới - thất vọng. Mấy tháng trước đó, tôi ngấm ngầm băn khoăn và lo sợ thì nay tôi thật sự khổ tâm và tuyệt vọng khi thấy bộ đội VC bắt đầu đi đây đi đó trên những con đường của thành phố quê tôi, từ nay được gọi là thành phố Hồ Chí Minh. Quả thật trời đất đã đảo lộn!
Sau khi rời phi cơ ở sân bay Tân Sơn Nhứt, tôi chán nản vô cùng khi nhìn thấy cảnh tượng đau lòng của hàng ngàn người tụ tập trong phi cảng và hàng loạt người nối đuôi trên đường để tìm cách bay ra khỏi xứ. Đoàn xe đưa tôi đến dinh tổng thống phải luồn lách qua những đoàn người đó. Những người cận vệ quen thuộc đón chào tôi chẳng mấy gì vui vẻ và chúng tôi hoàn toàn im lặng trong mười lăm phút trên đường vào thành phố. Đường phố Sài Gòn im ắng một cách khác thường, như tiềm tàng một dấu hiệu dự báo kinh hoàng và một bầu không khí ngột ngạt.
Vào khoảng sáu giờ chiều, khi tới dinh tổng thống, người đầu tiên mà tôi gặp là ông Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Ông vừa họp xong với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương, người vừa nhận chức được một tuần lễ, và cũng là người mà tôi sẽ diện kiến. Tôi đã gặp sơ qua ông Đại Sứ khi ông ghé qua Ba Lê, trên đường trở lại Sài Gòn vài ba tuần trước đó, sau khi đã xin Quốc Hội Hoa Kỳ chi viện cho chính phủ Nam Việt Nam một lần nữa mà không thành công. Sau những lời chào hỏi xã giao ngắn gọn, chúng tôi đồng ý ngay là tình hình quân sự đã hoàn toàn nguy ngập. Tôi hỏi: "Thưa ông Đại Sứ, có cách nào để tránh được một 'trận chiến Sài Gòn' không""
Bất cứ người nào khác hay là cá nhân tôi cũng không cần phải chịu đựng hậu quả của một trận đánh như vậy. Cả hai chúng tôi đều thấy rất rõ hậu quả sẽ như thế nào, tàn phá sẽ ra sao và máu sẽ đổ biết bao nhiêu nếu như có đánh nhau trên đường phố Sài Gòn. Ông Đại Sứ cũng hiểu rằng mối quan tâm cấp thiết nhứt của tôi là sự an toàn của những người thường dân vô tội.
Tôi thấy ông Đại Sứ lúng túng không biết phải trả lời ra sao, dợm mở miệng nói mấy lần nhưng không phát ra tiếng. Bằng một cử chỉ đầy tuyệt vọng, ông vẫy tay về hướng có tiếng nổ của súng cối và hỏa tiễn bên ngoài thành phố. Thế rồi ông trấn tỉnh lại, vừa bắt tay từ giả, vừa nói một cách chẫm rải và trịnh trọng: "Tổng Thống Hương phải hành động thật nhanh chóng."
Sau câu nói bí ẩn đó, chúng tôi chia tay nhau. Cung cách của ông Đại Sứ để lựa lời nói và cái vẫy tay của ông đã cho tôi cảm thấy sự bất lực - của ông cũng như của chính phủ Hoa Kỳ - còn hùng hồn hơn bất cứ lời nói nào. Tuy nhiên, việc ông bỏ lửng câu chuyện để bước đi cũng cho tôi hiểu câu nói “phải hành động thật nhanh chóng” của ông hàm ý ra sao rồi.
Vài phút sau, khi gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng, Tướng Trần Văn Đôn, và Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tướng Cao Văn Viên, đang đứng ở hành lang, tôi cũng hỏi như vậy. Sau mười năm làm việc chung với nhau trong chính phủ Sài Gòn, chúng tôi là bạn bè thân thiết nên có thể nói chuyện với nhau thẳng thắng và thật tình. Hầu hết những người ở Sài Gòn, Hoa Thạnh Đốn và Ba Lê đều cho rằng hai tướng Đôn và Viên là hai người đặc biệt trong guồng máy quân sự Sài Gòn. Không những chỉ riêng biệt về tư cách sĩ quan mà còn trên bình diện của những người đáng kính, về mặt tính tình ôn hòa, liêm chính, lương thiện và về phẩm chất cá nhân trong môi trường đầy dẫy tham nhũng của địa phương.
Với hai ông này, vì không cần phải giữ ý giữ tứ như với Đại Sứ Martin nên tôi hỏi dồn dập: "Chuyện gì đã xảy ra ở bên này vậy hai anh" Tại sao mấy anh để tình hình tồi tệ nhanh chóng như thế" Tại sao mấy anh lại có thể để cho Tổng Thống Thiệu làm như vậy được" Quân Mỹ ở chiến trường chẳng lẽ tồi tệ đến thế sao" Còn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì sao""... Chỉ có Tướng Viên trả lời: "Quân sĩ đã cố gắng tối đa." Còn Tướng Đôn thì chỉ nhìn ra bóng đêm đang ập tới, bao phủ Sài Gòn, khi mặt trời đã lặn, như chừng chờ mong một phép lạ nào hiện ra ở vườn hoa trong dinh Độc Lập, trong khi tôi dồn dập đưa ra những câu hỏi khó trả lời.
Thế thì, chẳng còn hy vọng gì được bao nhiêu trên bất cứ phương diện nào, ở ông Đại Sứ Hoa Kỳ hay ở các tướng lãnh của chúng tôi. Trước đó, có lẽ cả ba người này đã hy vọng ở một cái gì đó nên họ đã đến gặp và thúc hối vị Tổng Thống Hương già nua, đáng thương, gấp rút trao quyền hành tổng thống cho ông tướng 59 tuổi đời Dương Văn Minh, người mà thể xác to lớn nên mang biệt danh là “Minh Lớn”.
Thế nhưng, vào thời điểm nguy kịch đó, phải chăng tôi đang hy vọng một điều gì cho chính mình nên mới hỏi như vậy" Phải chăng tôi thật sự nghĩ rằng ông đại sứ Hoa Kỳ hay các tướng lãnh của chúng tôi có thể làm cho bất cứ những ai ở Sài Gòn đều may ra còn hy vọng được một chút gì đó vào giờ phút cuối cùng này" Cho đến hôm nay cũng khó mà nói ra một cách chính xác. Tối hôm đó, ở dinh tổng thống Nam Việt Nam, tôi lo âu nhứt không phải cho sự tồn tại của chính thể Sài Gòn mà cho dân chúng Sài Gòn, trong đó có cha mẹ già và bà con của tôi, làm thế nào khỏi bị chết chóc và giết hại qua một “trận chiến Sài Gòn” ghê gớm nhứt.
[...] Trái với cuộc đối thoại đượm màu sắc vô phương cứu chữa và tuyệt vọng giữa ông đại sứ Hoa Kỳ với tôi, tại hành lang dinh tổng thống vào buổi chiều tai hại đó, thì tôi lại có một cuộc hội kiến vô cùng cảm động và thấm thía với vị Tổng Thống Trần Văn Hương của chúng tôi, một ông tổng thống già nua, bệnh hoạn và gần như khuyết thị. Rõ ràng là ông đang cố gắng cứu vãn vài ba giây phút cuối cùng cho nghi thức và phẩm giá của một chức vụ mà ông không mưu cầu cũng chẳng mong muốn, dù ông chỉ đảm trách có một tuần lễ ngắn ngủi.
Từ chức vụ phó tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa, ông được đưa lên ghế tổng thống khi ông Thiệu từ chức một cách giản dị đơn sơ, chín ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Thiệu từ chức, để cho ông phó già nua, yếu đuối của mình phải gánh lấy một tình hình hỗn loạn. Nếu như không có nguy cơ phải bỏ ngỏ Nam Việt Nam cho lực lượng vũ trang Bắc Việt, đang lăm le tiến vào Sài Gòn, thì ông Trần Văn Hương may ra sẽ là con người xứng hợp ở thời điểm và vị trí đó trong lịch sử của nhân dân Việt Nam.
Thật là khó hiểu cho một con người như ông lại phải đóng một vai trò nhục nhã dường ấy.  (Còn tiếp...)

KHÓ BIẾT ĐÂY LÀ THẬT HAY GIẢ ... NHƯNG CŨNG HỒI HỘP VÀI PHÚT NHƯ ĐÃ CÓ THẬT ...?./-Mt68

__________________

Chuyện Ít Người Biết! Bí Mật Lịch Sử Tháng 4 Năm 1975: Trung Quốc Định Tung Lính Dù Nhảy Xuống Biên Hòa Chặn Bắc Việt?

*
hiopooiopoi0i0.jpg
 (Hình: Tổng thống Richard Nixon thăm Trung Quốc năm 1972.)
-Việc Trung Quốc tìm cách can thiệp chính trị vào Miền Nam Việt Nam ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam là điều không mới, nhưng một kế hoạch can thiệp ở cấp độ “quân sự”, với việc tung vào hai sư đoàn Nhảy dù để đánh chặn Quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, lại là điều ít người biết đến.
Bí mật lịch sử này lần đầu được Tiến sĩ sử học George Jay Veith tiết lộ trong phần “Tay chơi cuối cùng: Trung Quốc” (“The final actor: China”,) thuộc chương 24, “Ta sẽ tuốt gươm” (“I will draw out my sword”,) trong sách “Tuốt kiếm Viễn chinh” (Drawn Swords in a Distant Land) xuất bản năm 2021. Cuốn sách “Tuốt kiếm Viễn chinh” được Tiến sĩ Jay Veith phát triển từ luận án Tiến sĩ sử học ông bảo vệ tại Monash University, Úc Ðại Lợi. Nhân dịp 30/4, RFA phỏng vấn Tiến sĩ Jay Veith về bí mật lịch sử này.
RFA: Trong sách “Tuốt kiếm Viễn chinh” (Drawn Swords in a Distant Land), ông đã trình bày những tư liệu lịch sử chưa từng được ai công bố trước đây, thu thập được từ cuộc phỏng vấn với nhân chứng Nguyễn Xuân Phong. Xin ông cho biết tại sao lời kể của nhân chứng này lại quan trọng? Tại sao trước đây, ông Phong chưa từng công bố điều này?
George Jay Veith: Nhiều nhân chứng và nhà nghiên cứu đã nói về những can thiệp chính trị của của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào Miền Nam Việt Nam ở giai đoạn cuối của cuộc chiến. Nhưng trong các cuộc phỏng vấn của tôi với ông Nguyễn Xuân Phong, bao gồm phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua email, ông ấy đã cung cấp cho tôi một kế hoạch can thiệp ở cấp độ quân sự của Trung Quốc vào Nam Việt Nam ở giai đoạn cuối của cuộc chiến.
Có lẽ đây là lần đầu tiên điều này được tiết lộ bởi một nhân chứng lịch sử có thẩm quyền. Ông Nguyễn Xuân Phong là một nhân chứng lịch sử. Ông ấy là Quốc vụ khanh, Phó phái đoàn hòa đàm Việt Nam Cộng Hòa tại Paris từ 1968 đến 1975. Ông ấy xác nhận với tôi việc Trung Quốc liên lạc với ông để xây dựng một kế hoạch can thiệp trực tiếp bằng quân sự để ngăn cản Việt Nam thống nhất.
Ban đầu, ông Phong miễn cưỡng kể cho tôi các câu chuyện lịch sử mà mình là nhân chứng. Nhưng sau khi tôi tiếp tục gửi cho ông những tài liệu vừa được giải mật trong khoảng thời gian đó, cuối cùng ông ấy đã đồng ý kể cho tôi câu chuyện.
Sau 1975, ông ấy bị đi tù. Những người Cộng sản Việt Nam không phải là không biết gì về kế hoạch can thiệp của Trung Quốc. Họ tra vấn ông ấy về quan hệ giữa Việt Nam Cộng Hòa và Trung Quốc. Nhưng ông không trả lời, và sau này cũng không nói gì về điều đó, vì muốn bảo vệ những nguồn tin và nhân chứng liên quan. Ông ấy không bị tra tấn, nhưng họ từng đánh ông trọng thương một lần vì ông chỉ nói ngắn gọn là không biết gì về điều đó.
hioopopooop.jpg
(Ảnh AP: Ông Nguyễn Xuân Phong tại hòa đàm Paris.)
RFA: Ông Nguyễn Xuân Phong kể cho ông nghe về những sự kiện và hoạt động nào vào cuối cuộc chiến? Những hoạt động nào trong số này có liên quan đến sự can thiệp của Trung Quốc vào Miền Nam Việt Nam?
George Jay Veith: Ông Nguyễn Xuân Phong cho biết vào những ngày cuối của cuộc chiến, cả phía Bắc Việt và Trung Quốc đã liên lạc với ông.
Phía Bắc Việt bắn tin cho ông, cho đại diện của Pháp (tướng Paul Vanuxem,) và một số nhân vật khác, rằng nếu ông Dương Văn Minh không được đưa lên nắm quyền trước ngày 26/4/1975, họ sẽ san bằng Sài Gòn bằng hai mươi ngàn viên đạn pháo.
Còn phía Trung Quốc cũng cho người đến gặp ông để đưa ra một kế hoạch can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam. Mục đích của Trung Quốc là ngăn chặn một Việt Nam thống nhất.
Kế hoạch của Trung Quốc, theo lời kể của ông Phong, là trước hết xây dựng một liên minh giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Sau khi có liên minh này, Tổng thống Dương Văn Minh sẽ đưa ra lời thỉnh cầu quốc tế giúp đỡ. Nhân cơ hội đó, Pháp sẽ hồi đáp bằng cách đưa vào Miền Nam Việt Nam một “lực lượng quốc tế” với danh nghĩa bảo vệ chính phủ mới, nhưng trong cái gọi là “lực lượng quốc tế” này sẽ có “hai Sư đoàn lính Dù của Trung Cộng”. Hai sư đoàn Dù này sẽ được thả xuống Biên Hòa.
Sau khi nhận tin từ phía Bắc Việt, ông Phong đã trở về Sài Gòn gặp Tổng thống Trần Văn Hương, người kế nhiệm sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21/4/1975, để cố gắng ngăn chặn một cuộc chiến có khả năng diễn ra ngay tại Sài Gòn.
Sau đó, ông Phong gặp ông Trần Văn Đôn (lúc đó là Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng,) ông Trần Ngọc Liễng (đại diện của ông Dương Văn Minh, và là một tình báo của phía Bắc Việt, sau 1975 là Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), và một đại diện của Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để bàn về giải pháp xây dựng một chính phủ liên hiệp giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Ông Phong cho biết trong cuộc gặp này, ông đã nói rằng Pháp và một số nước khác sẽ hỗ trợ chính phủ mới. Nhưng ông không nói ra thông điệp mà Trung Quốc muốn ông chuyển đến Sài Gòn.
Về kế hoạch của Bắc Kinh, ông Phong giải thích trong lần tôi phỏng vấn ông năm 2006 và 2008 rằng Bắc Kinh cho ông biết họ cần bốn ngày để điều quân và đưa quân đến căn cứ Không quân. Theo ông, tính toán của Bắc Kinh là họ không muốn trực tiếp ra mặt, không muốn tạo ra hình ảnh mình là bên ngang nhiên mang quân vào Miền Nam Việt Nam. Trung Quốc muốn tạo ra một vở kịch trong đó người Pháp mới là diễn viên chính can dự vào đó. Pháp sẽ kêu gọi một quốc gia tham gia “lực lượng quốc tế” do mình đứng đầu để “giúp đỡ” chính phủ liên hiệp giữa Việt Nam Cộng Hòa và Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam còn Trung Quốc sẽ tham gia vào. Trung Quốc nói rằng họ cần đưa quân vào để ngăn chặn đà tiến công của quân đội Bắc Việt nhưng cũng không thể đóng quân lại Miền Nam quá lâu, vì họ không muốn bị buộc tội là có âm mưu chiếm đóng.
Ông Nguyễn Xuân Phong cho tôi biết là Trung Quốc, mà cụ thể là phái viên của Chu Ân Lai, lần đầu tiếp xúc với ông vào tháng 12 năm 1970.
Theo tôi, kế hoạch can thiệp quân sự của Trung Quốc mà ông Nguyễn Xuân Phong tiết lộ trước khi qua đời năm 2017 là một trong những bí ẩn. Bí ẩn này sẽ được làm sáng tỏ hơn nữa nếu các nhà nghiên cứu tiếp cận được những tư liệu lịch sử chính thức mà các chính phủ liên quan công bố.
hhiohiiiooo.jpg
(Ảnh:Lực lượng Nhảy dù của PLA trong lễ kỷ niệm 10 năm chiến thắng 1949-1959. Lực lượng này được Đặng Tiểu Bình và Lưu Bách Thành thành lập năm 1947.)
RFA: Làm thế nào để kiểm tra tính chính xác của những câu chuyện ông Nguyễn Xuân Phong kể lại?
George Jay Veith: Hiện tôi chưa có nhiều tư liệu chính thức của các bên để xác minh thêm những gì ông Phong nói với tôi. Nhưng có nhiều người đã kể những câu chuyện liên quan về việc Trung Quốc cố gắng thuyết phục Tướng Dương Văn Minh trong những ngày cuối cùng là hãy yêu cầu sự giúp đỡ của Trung Quốc để cứu Miền Nam Việt Nam. Tôi tin rằng điều đó đã xảy ra. Tuy nhiên, ý định thực sự của Trung Quốc là gì vẫn còn là một bí ẩn. Có vẻ như Hà Nội cũng đã tin rằng Trung Quốc có một kế hoạch như vậy. Họ đã tra khảo ông Phong về điều đó.
RFA: Trong sách “Tuốt kiếm viễn chinh”, ông có nói Trung Quốc còn tiếp xúc với cả ông Nguyễn Cao Kỳ và tìm cách tiếp xúc với ông Nguyễn Văn Thiệu nữa?
George Jay Veith: Không rõ chính xác thời điểm Trung Quốc tiếp cận ông Nguyễn Cao Kỳ vì ông ấy không nói cụ thể lắm. Đại khái vào tháng 9 năm 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ trả lời phỏng vấn William Buckley trên tờ Firing Line, kể rằng Trung Quốc đã cử đặc vụ đến tận nhà ông tại Sài Gòn vào khoảng cuối năm 1972. Họ đề nghị ông ấy đảo chính ông Thiệu rồi “tuyên bố Miền Nam Việt Nam trung lập, không thân Mỹ cũng không thân Nga”.
Theo ông Kỳ kể lại, Trung Quốc “không muốn bị hở sườn phía Nam, vì bị Bắc Việt, một vệ tinh của Nga trấn giữ”. Rồi đến tháng 12 năm 1975, ông Kỳ cũng kể lại lần nữa chuyện này trong một bài phát biểu ở Mỹ, được tường thuật trên tờ Baltimore Sun, ngày 6 tháng 12 năm 1975. Nhưng tôi không hiểu tại sao ông Kỳ không nhắc đến vụ này trong sách của ông.
Ngoài tìm cách tiếp xúc với ông Kỳ, Trung Cộng còn tìm cách tiếp xúc với ông Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, họ trao trả tù binh Việt Nam Cộng Hòa qua ngả Hồng Kông và gửi thông điệp qua Tổng Lãnh sự Việt Nam Cộng Hòa ở Hồng Kông tới Tổng thống Thiệu, yêu cầu thu xếp một cuộc hội đàm bí mật. Năm 2007, tôi phỏng vấn ông Jim Eckes, một bạn thân của ông Nguyễn Xuân Phong và là Giám đốc một hãng hàng không ở Sài Gòn lúc đó. Gia đình ông Jim sống ở Hồng Kông và ông ấy đi lại giữa Hồng Kông và Sài Gòn thường xuyên. Do đó, Tổng Lãnh sự Việt Nam Cộng Hòa ở Hồng Kông nhờ Jim chuyển thông điệp của Trung Quốc về cho ông Thiệu. Ông Jim Eckes kể tôi nghe là ông lại chuyển thông điệp cho Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam Cộng Hòa, và thông điệp “nằm chết” tại đó.
RFA: Tại sao Trung Quốc hỗ trợ Bắc Việt trong suốt cuộc chiến nhưng không muốn Bắc Việt chiến thắng? Các nhà nghiên cứu trước đây đã nói gì về điều này?
George Jay Veith: Trung Quốc muốn Việt Nam bị chia nhỏ ra. Họ muốn Bắc Việt không quá mạnh, vì lúc đó họ nhìn thấy Việt Nam và Liên Xô có thể sẽ ký một Hiệp ước liên minh.
Kosal Path, Phó Giáo sư sử học tại Trường Đại học Brooklyn (Brooklyn College), nhận định rằng “giới nghiên cứu chia sẻ một nhận định chung là các nhà lãnh đạo Trung Quốc vào năm 1973 đã càng ngày càng lo ngại việc Hà Nội nghiêng về phía Mạc Tư Khoa”.
Lo lắng này của Trung Quốc hình thành trong bối cảnh cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc Trung Quốc và Liên Xô trong khối Cộng sản trở nên khốc liệt từ thập niên 1960s. Hai cường quốc Cộng sản này đã giao tranh dọc biên giới vào tháng 3 năm 1969. Đến tháng 5 năm đó, Ấn Độ và Bắc Hàn đã đồng ý tham gia liên minh với Liên Xô chống Bắc Kinh. Trung Quốc lo ngại họ sẽ nguy hiểm về an ninh nếu có thêm Bắc Việt Nam ở phía Nam của họ tham gia liên minh này. Do đó, việc Bắc Việt Nam lấy thêm được Nam Việt Nam sẽ đi ngược lại lợi ích của họ.
Nhà báo Nayan Chanda trong cuốn sách “Người anh em thù địch” (Brother Enemy: The War After the War,) xuất bản năm 1986 cũng viết rằng Bắc Kinh đã “thực thi một cách nhất quán chính sách duy trì tình trạng chia cắt của Đông Dương bằng mọi giá. Họ cũng ngăn chặn các cường quốc khác hiện diện. Để làm điều này, họ thực thi thủ thuật “ngoại giao thầm lặng”, cố gắng gây ảnh hưởng kinh tế, và tất nhiên, không loại trừ sức mạnh quân sự”.
Khi tiếp xúc với Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ Alexander Haig để tiền trạm cho chuyến thăm tới Trung Quốc của Tổng thống Nixon tháng 2 năm 1972, Chu Ân Lai đã làm cho Haig sửng sốt khi khẳng định rằng: “Các ông đừng thua ở Việt Nam”, và rằng Trung Quốc “xem việc Hoa Kỳ thất bại và rút quân khỏi Đông Nam Á là nguy hiểm đối với Trung Quốc”.
RFA: Xin cảm ơn Tiến sĩ George Jay Veith đã dành cho độc giả của chúng tôi cuộc phỏng vấn này./-
 
VC NẰM VÙNG DAVID GOAT TỔ CHỨC BUỔI TIỆC 12 MÓN RÁC KỨT DÊ ĐA PHƯỚC ĐỂ ĐÃI DÂN CỬ GỐC VIỆT CALI- MIẾNG ĂN LÀ MIẾNG TỒI TÀN DƠ BẨN MÀ BỌN ĐẦU ỐC BU VÀO NHƯ RUỒI XANH BU KU DÊ./-Mt68
______________

KHI “TRÙM RÁC” DAVID DƯƠNG CÔNG KHAI TUYÊN TRUYỀN CHO VIỆT CỘNG.
Đầu năm Quý Mão, Tổng lãnh sự VC Hoàng Anh Tuấn công khai tổ chức tiệc mừng tại San Francisco, tại Quận Cam và tuyên bố: “Trong năm nay, chúng tôi sẽ có kế hoạch tiếp xúc với các cộng đồng người Việt tại hải ngoại, đặc biệt là giới doanh nhân và chính trị gia người Việt tại hải ngoại để giúp đất nước Việt Nam phát triển”.
Ngay lập tức, ngày 25-2-2023, “Việt kiều yêu nước VC” David Dương, tức “Trùm Rác" David Dương ở San José, Oakland và nhà máy rác Đa Phước ở Việt Nam đã tổ chức buổi tiệc quy tụ 500 doanh nhân, 30 dân cử chính trị gia và 20 nhóm truyền thông và youtube đã đến tham dự.
Trong bài viết “Từ “trọc phú” Hoàng Kiều đến “trùm rác" David Dương: CSVN thực hiện chủ trương chính quyền vận của CSVN”, tôi có đưa ra câu đối của dân gian, như sau:
“Cho ăn một con tôm hùm, trọc phú Hoàng Kiều sỉ nhục người lính Quân lực Việt Nam CộngHòa,
Đãi tiệc mười hai món, trùm rác David Dương bắt các dân cử Hoa Kỳ nói “một tiếng nói chung".
***
Theo đài BBC ngày 10-5-2017 với tựa đề: Đảng viên cộng sản sẽ có thể làm công chức California”, có nội dung như sau:

“Là đảng viên cộng sản sẽ có thể không còn là lý do đuổi việc công chức tiểu bang California, theo một dự luật vừa mới được thông qua. Dự luật AB-22 sẽ còn gửi lên thượng viện California chờ thảo luận và biểu quyết .
Nhiều người Mỹ gốc Việt tại tiểu bang đang phản đối việc này. Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn, đảng Cộng Hòa, đại diện địa hạt 34 lên tiếng chống đối dự luật này.
Bà nói: “Dự luật AB-22 là một sự xúc phạm đáng kinh ngạc đối với hơn 500.000 người Mỹ gốc Việt tại California là quê hương thứ hai của họ và đối với các chiến binh VNCH và Hoa Kỳ đã chiến đấu chống lại chế độ CS tại Việt Nam, một chế độ đã giết hàng triệu người VN như gia đình tôi".
Nên biết người đưa ra dự luật AB-22 là dân biểu Rob Bonta của đảng Dân Chủ. Hiện nay ông này là Bộ Trưởng Tư Pháp của California. Và là VIP của đêm tiệc do “trùm rác" David Dương tổ chức vào đêm 22-2-2023 tại Mlilpitas. Do đó nên mới có câu:
“Đãi tiệc mười hai món, “trùm rác" David Dương bắt các dân cử Hoa Kỳ nói “một tiếng nói chung" .
Trong quá khứ đã có bà nghị viên hai mặt, phó thị trưởng hai lòng Madison “khen" rác ở nhà máy Đa Phước của “trùm rác" David Dương ở VN “thơm” hơn rác của ông này ở Mỹ.
Nay, không biết có vị dân cử Hoa Kỳ nào có “MỘT TIẾNG NÓI CHUNG" với ông Rob Bonta - người chủ trương “đảng viên cộng sản sẽ có thể làm công chức California”.
Do đó, không nên ngạc nhiên gì khi nghe “trùm rác" David Dương công khai kêu gọi trên youtube là “ba triệu người Việt tỵ nạn VC tại hải ngoại:
- Nên về VN bằng hãng hàng không Vietnam Airlines;
- Nên chạy xe VINFAST;
- Nên mua hàng hóa, thực phẩm từ VN... để giúp đỡ VN... phát triển.
*
Có người thắc mắc vì sao Tổng lãnh sự VC Hoàng Anh Tuấn ở Săng Phăng không có mặt trong “bữa tiệc lạp bát" của “trùm rác" David Dương?
Theo Lão Móc, thắc mắc này dư thừa vì với những lời tuyên bố trên youtube Phố Bolsa, “VIỆT KIỀU YÊU... RÁC" DAVID DƯƠNG rất xứng đáng với chức vụ Bộ Trưởng Thông Hầm Cầu kiêm Bộ Trưởng Thương Mãi Dâm của VC./-


LÃO MÓC
DOG TÈ RÁC DAVID GOAT CẮN NHẰM LỰU ĐẠN SÉT VIỆT CỘNG GIỐNG HỆT TRỊNH VĨNH BÌNH (HÒA LAN) - TUYÊN BỐ THƯA VC THIẾU NỢ 200 TRIỆU ĐÔ - NHƯ VẬY LÀ HẾT ĐƯỜNG VỀ VỚI VC RỒI - COI CHỪNG BỊ MỸ MÀU DẠY GIÙM 1 PHÁT NHÉ./-Mt68
__________________



Việt kiều Mỹ David Dương đòi Sài Gòn trả khoản nợ $170 triệu .


April 15, 2023 Facebook Twitter Email Print SÀI GÒN, Việt Nam (NV) –

 Ông Nguyễn Toàn Thắng, giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi Trường ở Sài Gòn, xác nhận với báo VTC News hôm 15 Tháng Tư rằng họ “đã thanh toán hết số tiền theo hợp đồng” cho công ty Xử Lý Chất Thải Việt Nam (VWS) và “không còn vấn đề gì với VWS.” VWS là đơn vị vận hành bãi rác Đa Phước, do ông David Dương, Việt kiều Mỹ, làm chủ. Ông David Dương, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm tổng giám đốc công ty VWS. (Hình: VTC News) Việc trả tiền được đại diện Sở Tài Nguyên và Môi Trường mô tả là “hoàn tất các thủ tục để thanh toán cho doanh nghiệp vào ngày 10 Tháng Tư theo quy định.” Tuy nhiên, VTC News dẫn phản hồi của đại diện VWS rằng, tính đến đầu giờ chiều 15 Tháng Tư, doanh nghiệp này vẫn chưa hề nhận được số tiền nói trên và nêu suy đoán rằng “có thể tiền chưa về đến nơi vì còn qua nhiều thủ tục.” Trước đó, công ty VWS kêu cứu vì bị Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố nợ 4,000 tỷ đồng ($170 triệu) tiền xử lý rác chưa thanh toán trong nhiều năm liền. Khoản nợ, bao gồm nợ phát sinh, khiến công ty “cạn” nguồn tài chính. Tình trạng này dẫn đến việc công nhân, người lao động của công ty VWS bãi công trong vòng hai giờ vì bị nợ lương vào ngày 8 Tháng Tư. Tuy nhiên, sau khi được ban giám đốc cam kết trả đầy đủ lương thì toàn bộ những người bãi công đã quay trở lại làm việc bình thường. Theo thống kê của Ban Quản Lý Các Khu Liên Hợp Xử Lý Chất Thải Thành Phố (MBS), mỗi ngày, bãi rác Đa Phước tiếp nhận, xử lý trên dưới 7,000 tấn rác, chiếm hơn 70% lượng rác của toàn thành phố. Đến nay, VWS chỉ có duy nhất một khách hàng khi đầu tư ở Việt Nam đó chính là Ủy Ban Nhân Dân thành phố mà đại diện là Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Do đó, doanh nghiệp này chỉ có một nguồn doanh thu duy nhất từ việc tiếp nhận, xử lý chất thải rắn cho thành phố. Công nhân, người lao động của công ty VWS bãi công vì bị nợ lương hôm 8 Tháng Tư. (Hình: VTC News) Việc Sở Tài Nguyên và Môi Trường trì hoãn việc thanh toán số công nợ tồn đọng lớn như hiện nay “làm cho VWS gặp nhiều khó khăn về tài chính.” VWS cho rằng việc Sở Tài Nguyên và Môi Trường chậm trả tiền đã kéo dài nhiều năm đã khiến doanh nghiệp này “không thể thanh toán nghĩa vụ thuế” trong lúc đối mặt với các vụ tranh chấp với các đối tác dịch vụ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc VWS phải gánh chịu thêm chế tài vi phạm thanh toán phát sinh do không đáp ứng nghĩa vụ với các đối tác, nhà cung cấp dịch vụ. (N.H.K) [qd]

Monday, 1 May 2023

NHỮNG ĐỨA TRẺ DU ĐÃNG NẦY HOÀN TOÀN LỚN LÊN TRONG LỀ LỐI TRỒNG NGƯỜI CỦA KU HỒ- CÔN AN DÀY ĐẶC MÀ TÈO CHÙA NGANG NHIÊN HÀNH NGHỀ ANH CHỊ - ĐỔ THỪA CHO NGỤY ĐƯỢC SAO???./-Mt68
_____________
'Đại ca Tèo Chùa' ở chợ đêm Đà Lạt bị bắt.

Click image for larger version

Name:	3018b4dbc6962fc87687.jpg
Views:	0
Size:	9.6 KB
ID:	2213483  
“Tèo Chùa” tụ tập một nhóm thanh niên có các hoạt động vi phạm pháp luật ở khu vực chợ đêm Đà Lạt.
Ngày 1-5, Công an TP Đà Lạt (Lâm Đồng) cho biết đã bắt giữ Hồ Quốc Khánh ("Tèo Chùa", 23 tuổi, ngụ phường 2, TP Đà Lạt) để điều tra về tội cố ý gây thương tích.

Các quyết định tố tụng đã được VKS cùng cấp phê chuẩn.

Theo điều tra, ngày 17-4, tại một tiệm sửa điện thoại trên đường Nguyễn Công Trứ, “Tèo Chùa” và Nguyễn Đình Tuấn A (41 tuổi, ngụ Phường 1, TP.Đà Lạt) đã xảy ra mâu thuẫn.

“Tèo Chùa” lấy dao chém A bị thương nặng phải nhập viện cứu. Kết quả giám định, nạn nhân bị liệt nửa người, tỉ lệ thương tật 62%.

Ngoài vụ án nói trên, trước đây “Tèo Chùa” còn nhiều lần hành hung học sinh trên địa bàn TP Đà Lạt rồi quay clip tung lên mạng xã hội gây bức xúc cho nhiều phụ huynh và học sinh.

Ngoài bị bắt về tội danh trên, công an tiếp tục làm rõ các hành vi vi phạm khác của "đại ca" và nhóm đàn em
THẦM CẦU MONG CHO CẬU TIẾN SĨ CON CHÁU NẦY SẼ TRƯỚC, SAU NHƯ MỘT, VẪN Ở BÊN NẦY CẦU HIỀN LƯƠNG - KHÔNG NHƯ NHIỀU ĐỨA KHỐN NẠN TRỞ CỜ KHÁC - PHILIPP ROSLER (Germany) QUÝ BÁC CÒN NHỚ CHỨ?./-Mt68
______________
‘Thua là đúng rồi’ – câu chuyện tiến sĩ Mỹ gốc Việt nỗ lực thay đổi cái nhìn ‘thiên lệch’ về VNCH.

Theo như một người đàn ông tên Alex Thái Đình Võ xin giới thiệu là giáo sư nghiên cứu tại Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ ở Đại học Texas Tech, chuyên nghiên cứu về Á Châu, đặc biệt là về vấn đề cuộc chiến Việt Nam đã đi qua gần 50 năm qua.
Giáo sư - Tiến sĩ Alex Thái Đình Võ.

Cuộc chiến Việt Nam đã đi qua gần 50 năm, nhưng những tác động của nó vẫn từng ngày ảnh hưởng lên cuộc sống của bao người Việt Nam, kể cả những thế hệ sinh sau đẻ muộn, trưởng thành ở một đất nước xa xôi bên nửa kia địa cầu của dải đất hình chữ S.

Câu chuyện của một đứa trẻ Việt lớn lên ở Mỹ, từ nhỏ đã bị chế nhạo ở trường rằng “Miền Nam của mày thua là đúng rồi”, nay trở một học giả, tiến sĩ chuyên nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, có thể sẽ đặt ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ về những gì đã và đang diễn ra sau cái ngày được gọi là “thống nhất đất nước”.

“Thua là đúng rồi”

“Mình xin giới thiệu là tên là Alex Thái Đình Võ. Mình hiện là giáo sư nghiên cứu tại Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ ở Đại học Texas Tech, chuyên nghiên cứu về Á Châu, đặc biệt là về vấn đề Việt Nam”, vị giáo sư trẻ tuổi với nước da đậm màu Á châu bắt đầu câu chuyện với VOA về cái duyên đến với cái nghề “ít tiền mà nhiều ưu phiền” này của mình.

“Thái sang Hoa Kỳ năm 8 tuổi. Khi mình còn nhỏ, lúc người Mỹ bắt đầu dạy trong nhà trường về cuộc chiến Việt Nam hay lịch sử Việt Nam, mình nhớ là khoảng lớp 7, lớp 8, khi giáo viên bắt đầu cho học sinh xem những bộ phim gọi là bộ phim documentary (phim tài liệu) về cuộc chiến Việt Nam, thì sau khi xem bộ phim đó và học sơ về cuộc chiến, có một cậu học sinh đặt ra câu hỏi cho mình là ‘Gia đình của bạn thuộc phe nào trong cuộc chiến?’. Ở lứa tuổi đó thì thú thật khi sang Hoa Kỳ, bố mẹ cũng không nói gì nhiều cho mình về cuộc chiến, cũng không dạy mình phải hận thù hay biết bên này, bên kia… Nhưng khi cậu đó đặt câu hỏi đó thì mình mới nhớ ở nhà thường hay nói gia đình mình là thuộc miền Nam Việt Nam. Mình mới nói ‘The South’ (miền Nam), thì cậu đó mới chỉ tay vào mặt mình mà cười kiểu chế nhạo và nói ‘À, vậy thì gia đình mày thua là đúng rồi!’. Đối với một đứa học với lớp 7, lớp 8, mà khi một người khác nói với mình là gia đình mày thua là đúng rồi thì nó đánh một dấu hỏi trong đầu mình là ‘Thua là một chuyện, nhưng mà thua là đúng rồi có nghĩa là như thế nào?’”.

Về nhà, Alex Thái hỏi và xin phép bố cho đọc tất cả những cuốn sách có trong nhà viết về Việt Nam. Cậu bé chẳng bao giờ ngờ rằng câu chuyện ở lớp ngày hôm đó đã khởi đầu cho một hành trình lớn, đặt viên gạch đầu tiên cho sự nghiệp nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam và lịch sử Việt Nam của mình sau này.

“Đến khi mình bắt đầu học ở trường Đại học University of California Berkeley là một trường rất nổi tiếng, nhưng trong thời chiến cũng nổi tiếng là trường phản chiến, mình mới lấy một lớp gọi là ‘Peace and Conflict’ (tạm dịch ‘Hòa bình và Xung đột’) với một vị giáo sư khi xưa là một người lính trong binh chủng của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam”, Alex Thái hồi tưởng.

Cậu sinh viên Alex Thái lúc đó nhận thấy những điều vị giáo sư người Mỹ chủ trương phản chiến này giảng dạy “tương đối một chiều”. Vị giáo sư cho rằng nước Mỹ đã đưa ra quyết định không đúng. Lẽ ra Mỹ phải giúp cho phe thắng cuộc (tức miền Bắc), còn phe mà Mỹ giúp là Việt Nam Cộng Hòa là một phe nhu nhược, không có lập trường, không có chủ trương, và thường bị gọi là “con rối của Hoa Kỳ”.

“Khi đó, một cô trợ giảng cho ông, gọi là graduate student, sau buổi học đó, cô mới nghiêng qua người bạn của cô nói, mà cô lại ngồi trước mặt mình, cô nói một câu là ‘À, bây giờ tôi hiểu vì sao gia đình tôi thua là đúng rồi’. Khi đó, nó tạo cho mình một cảm giác là người giáo sư này có một ảnh hưởng rất lớn, kể cả đối với những người qua bên này để tị nạn, qua Hoa Kỳ định cư”.

“Đến mùa Mid-term (giữa kỳ), giáo sư ra đề cho mình viết. Mình mới quyết định không viết bài theo đề giáo sư đưa ra, mà mình viết bài yêu cầu giáo sư vào nửa mùa sau nên dạy cho có sự công bằng hơn, đưa vào thêm những tư liệu có nhiều khía cạnh hơn… Thế rồi mình nhận lại điểm giáo sư cho là điểm F trừ (F-). Ngoài điểm F trừ, giáo sư còn cho viết thêm một trang giấy và nói rằng ‘Tôi cho anh điểm này vì anh không viết theo yêu cầu của tôi, mà anh lại có những quan điểm như vầy đối với tôi là tại vì anh chưa thoát ra được sự cay đắng của việc gia đình anh thua cuộc trong cuộc chiến vừa rồi’”.

Từ câu chuyện ở lớp và nhận xét của vị giáo sư đại học, Alex Thái bắt đầu có ý định thay đổi lựa chọn nghề nghiệp.
GS-TS Alex Thái Đình Võ là một trong những khách mời của "Hội thảo về Di sản chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia" tại Viện Hoà Bình ở thủ đô Washington, Hoa Kỳ.

Như bao đứa trẻ người Việt lớn lên ở Mỹ, Alex Thái cũng gánh trên vai ước mơ và hy vọng của một gia đình tị nạn. Để từ bỏ giấc mơ trở thành luật sư (vốn là một trong những nghề nghiệp danh giá mà nhiều người Việt hướng cho con cái như bác sĩ, kỹ sư…), Alex Thái đã phải nghĩ đến một bức tranh lớn hơn, đó là ngành nghề nào sẽ giúp anh mang lại những tác động tích cực, hiệu quả cho xã hội hơn, theo lời khuyên của một chuyên gia tư vấn tâm lý người Mỹ. Và Alex Thái đã chọn nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một ngành anh “đam mê” hơn là một công việc mang lại sự thoải mái tài chính, để có thể có tiếng nói cho mình và “nói lên những khía cạnh đa chiều” của cuộc chiến, của lịch sử Việt Nam để cả người Việt lẫn người Mỹ, hay bất cứ ai quan tâm tới Việt Nam, họ sẽ biết đến Việt Nam trong chiều kích đa chiều ấy.

“Mình chạy trốn khỏi Việt Nam cũng là mục đích để thấy được sự đa chiều, để có tự do, để thấy được cái đúng cái sai, thì tại sao bây giờ mình sống ở một đất nước tự do thì mình không đi làm việc đó”, Alex Thái lý giải thêm cho quyết định lựa chọn ngành nghề của mình.

Quyết tâm thành nhà nghiên cứu thực thụ

Chọn học, ra trường, trở thành tiến sĩ không khó đối với Alex Thái cho bằng những trở lực mà anh gặp phải trên con đường thực hiện những dự án nghiên cứu, từ cả phía Việt Nam lẫn ở Mỹ.

“Khi mình bắt đầu viết hay nói lên những tiếng nói mà xưa nay người ta không muốn mình nói thì sẽ gặp nhiều cản trở. Từ khía cạnh người Mỹ trong ngành khoa cử-giáo dục, nhiều người đã nắm hệ thống nghiên cứu bao nhiêu năm rồi thì họ không muốn những tiếng nói của mình được nói lên. Cơ hội dành cho những người giống như mình lại ít hơn. Họ không xem trọng mình. Họ thường hay nói là ‘Anh là con em của VNCH nên anh sẽ nói như vậy thôi’, hay là họ xem thường những nghiên cứu của mình. Nhưng chính vì vậy nên mình phải cố gắng vươn lên. Mình làm nghiên cứu thì mình phải làm nghiên cứu tốt hơn để khi nghiên cứu của mình ra, mình có buổi phát biểu hay hội thảo thì mình phải đưa ra chứng cớ rõ ràng, mình chứng tỏ với người ta là ‘Tôi không phải chỉ là con em của một người VNCH không, mà tôi là một nhà nghiên cứu đứng đắn, làm việc đúng và đang nói lên những tiếng nói mà xưa nay các vị đã không viết, không nói về, không cho được lên sách, không đưa đến giảng đường”.

Cản trở từ Việt Nam và tại Việt Nam trong những lần Alex Thái trở về để thực hiện các dự án nghiên cứu thì không thể kể hết, nhất là sau khi nhà nghiên cứu trẻ bắt đầu có những công bố hay phát biểu về công trình của mình trên báo chí, truyền thông.

“Mình gặp những đe dọa, nghe nói là từ phía nhà cầm quyền Việt Nam, nói là Thái không nên làm những cái nghiên cứu như vậy. Nhưng mình cứ tiếp tục làm công việc của mìn. Vì sao? Vì mình nghĩ công việc mình làm là đúng và mình cũng không lựa chọn phe này phe nọ về mặt chính trị. Mình là một người làm sử, mình chỉ có thể nói ra những gì mình tìm hiểu được và mình biết được. Còn sự cản trở thì nó luôn luôn đến với mình…”

Sách “Toward A Framework For Vietnamese American Studies” (“Hướng tới xây dựng ngành học Người Mỹ gốc Việt – Lịch sử cộng đồng và ký ức”) do Tiến sĩ – Giáo sư Linda Ho Peché, Tiến sĩ – Giáo sư Alex-Thai Dinh Vo và Tiến sĩ – Giáo sư Tường Vũ chủ biên.

Thế là, những dự án nghiên cứu về các chủ đề “nhạy cảm” đối với Việt Nam như: Cuộc cải cách ruộng đất, với những phân tích tỉ mỉ cho thấy vai trò của Hồ Chí Minh, của các cố vấn Trung Quốc trong cuộc cải cách đẫm máu và nước mắt với khoảng nửa triệu người dân mất mạng; vụ án nhân văn giai phẩm, tù cải tạo, vấn đề lý lịch… cứ thế lần lượt ra đời sau rất nhiều lần Alex Thái lặn lội về Việt Nam và “ăn dầm nằm dề” tại các trung tâm, thư viện…

Những công trình nghiên cứu của Giáo sư Alex Thai Vo đã được tập hợp lại cùng với một nhóm học giả gốc Việt và xuất bản dưới dạng một bộ sách về lịch sử Việt Nam, nhằm bổ sung góc nhìn khác, “đa chiều” hơn về nền Cộng hoà vốn đã tồn tại ở Việt Nam từ trước khi chủ nghĩa cộng sản du nhập. Bộ sách được giới học thuật Mỹ đánh giá cao này hiện đang được giới thiệu ở các bang của Hoa Kỳ với mục tiêu đưa chúng trở thành sách giáo khoa được giảng dạy trong các trường học hay được giới thiệu trong các thư viện trên đất Mỹ.

Cuộc chiến đau lòng giữa anh em

Sau những ngày tháng đắm chìm trong nghiên cứu, tìm tòi về một chính thể Cộng hoà từng tồn tại và đang bị lãng quên, bị nhìn "thiên lệch, khi được hỏi liệu đâu là những điểm mấu chốt mà vị giáo sư trẻ tuổi muốn lưu ý trong cuộc chiến và lịch sử Việt Nam, Alex Thái nói:

“Khi nói tới lịch sử, người ta hay nói lịch sử được viết bởi những người thắng cuộc. Từ những trang sử sinh viên học trong nhà trường từ lớp 1 cho đến đại học, hầu như không nhắc tới giai đoạn của cuộc nội chiến giữa chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ gói gọn trong những câu nói ‘nguỵ quyền’, ‘nguỵ quyền theo Mỹ’ và tất cả đều là cuộc chiến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chứ không phải là cuộc nội chiến giữa những anh em với nhau, mà mỗi bên đều mất và tổng cộng là gần 2 triệu người, trong khi người Mỹ chỉ mất có 58.000 người thôi”.

Theo học giả trẻ này, trên thực tế, không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của người Mỹ, nhưng “vai chính” trong cuộc chiến vẫn thuộc về những người Việt Nam, hay nói khác hơn, đó là cuộc chiến giữa những người anh em.

“Nếu chúng ta không ghi nhận sự thật đó, sự tồn tại của nhau thì khó mà chúng ta có thể làm cho đất nước mạnh hơn, làm cho con người tin tưởng hơn, mang lại cái mà nhà nước Cộng sản hay kêu gọi là ‘hoà hợp, hoà giải’ giữa người Việt với nhau. Anh kêu gọi hoà hợp, hoà giải mà anh không công nhận sự tồn tại của tôi, lịch sử của tôi thì làm sao hoà hợp, hoà giải được?”

“Hay như vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, nếu một bên cứ tối ngày nói bên kia là ngụy quân ngụy quyền thì làm sao anh có thẩm quyền để nói Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về Việt Nam? Vì trước kia, Hoàng Sa và Trường Sa trước năm 1975 thuộc về Việt Nam Cộng Hòa 03:33 trên danh nghĩa quốc tế. Bây giờ anh cứ gọi họ là chính thể bù nhìn, không có thật, thì làm sao anh bây giờ đứng trên cương vị gì để nói đó là thuộc về Việt Nam?”, GS. Alex Thái đặt câu hỏi.

Ngoài ra, theo nhà nghiên cứu trẻ, việc nghiên cứu tới nơi tới chốn về nền cộng hoà tại Việt Nam, vốn đã du nhập vào từ những năm 1920, khi các nhà hoạt động chính trị thời đó như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… mang “chủ nghĩa cộng hoà”, “tinh thần cộng hoà” từ châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc về.

“Thể chế Việt Nam Cộng Hòa được thành lập vào năm 1954 cho đến năm 1975 đứng vững trên cái nền tư tưởng gọi là Chủ nghĩa Cộng hòa đó. Chủ nghĩa Cộng hòa là mang đến gì? Nó đòi hỏi cái tự do của con người, tự do cá nhân, xuất phát từ cuộc cách mạng của Pháp đòi hỏi quyền công dân của con người cũng như quyền trước pháp luật. Tất cả những yếu tố đó nó khác với chủ nhịp cộng sản. Thành ra, cuộc chiến 1954-1975 nó xuất phát từ những sự khác biệt đó. Và cũng chính từ những khác biệt đó mà sự kiện xảy ra năm 1975, nó đưa đẩy nhiều người phải đành bỏ nước ra đi, vì họ không sống được dưới cái thể chế mới đó, cái thể chế mà mất đi hết tất cả các quyền tự do đó, tự do báo chí, tự do ngôn luận… Tất cả những cái đó khi người ta bị mất đi thì họ đành phải bỏ nước ra đi”.
TS. Alex Thái Đình Võ (phải) và Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel.

Khi nằm xuống, tất cả là con người

Công việc nghiên cứu đã mang đến cho vị giáo sư trẻ nhiều cơ hội công việc và trải nghiệm khác ngoài giảng đường. Alex Thái cho biết anh từng cộng tác chính phủ Mỹ trong công việc tìm hài cốt của quân nhân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

“Khi đó mình đang đi làm thì trường Đại học Texas Tech có một cái vị trí cần một nhà nghiên cứu để nghiên cứu tìm hài cốt quân nhân của người cộng sản. Để tôn trọng cha mẹ, là những người đã trải qua dưới thể chế cộng sản và trải qua tù đày, mình gọi cho bố và hỏi ‘Ba ơi, con bây giờ nhận công việc này để làm nghiên cứu tìm hài cốt của những người mà khi xưa gọi là địch, là kẻ thù của những người giống như ba đó. Thì ba nghĩ như thế nào? Vì con thấy đây là một công việc mà theo con, là một công việc nhân đạo mà mình cần phải làm’. Thì thay vì người cha mình giống như mình suy nghĩ là sẽ cản trở và sẽ nói không, thì bố mình không một giây suy nghĩ và nói là ‘Con nên đi làm. Công việc này phải làm, vì dù sao cuộc chiến đã qua rồi, mình biết mình là ai. Nhưng tất cả khi ngã xuống cũng là người Việt Nam và cũng là con người. Thành ra, công việc mà mình cần phải làm là công việc mang tính nhân đạo và phải làm để mang lại sự an ủi cho tất cả. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam”./-

 THIỆN Ý TÊN THẬT LÀ NGUYỄN VĂN THẮNG- SV LUẬT KHOA THEO VC TRƯỚC 1975 HÔ HÀO ĐÒI MỸ RÚT QUÂN VÔ ĐIỀU KIỆN - HẮN TỰ XƯNG LÀ "ĐẠI DIÊN SV, THANH NIÊN SÀI GÒN VÀ HÀ NỘI" - HẮN NẰM TRONG HỘI LUẬT KHOA VÀ CHU VĂN AN - MẤY NĂM TRƯỚC HẮN VIẾT SÁCH GỌI CUỘC CHIẾN TRƯỚC 1975 GIỮA VNCH và QUÂN THỔ PHỈ BẮC VIÊT LÀ CUỘC "NỘI CHIẾN" - RẤT TIẾC TRONG BUỔI HẮN RA MẮT SÁCH CHÍNH LS LÊ DUY SAN SJ LẠI LÊN BỤC GỖ GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG MỚI KHÓ HIỂU và ĐAU ĐẦU CHỨ !!!!!!

THIỆN Ý NGUYỄN VĂN THẮNG HIỆN NẰM VÙNG TẠI HOUSTON- Mt68 CHỈ MUỐN CHỨNG MINH LẠI "ĐỌC BÁO CHÍ, SÁCH VỞ LUÔN PHẢI BIẾT TÁC GIẢ LÀ AI?" - ĐỌC MÀ KHÔNG BIẾT TÁC GIẢ LÀ DỄ BỊ ĐÁNH LẬN CON ĐEN LẮM QUÝ BÁC ƠI !!!./-Mt68- TC Lãnh

______________________ 

TẠP CHÍ DÂN VĂN

Email: danvanmagazin@gmail.com

         -------------------------------

 

TÊN GỌI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

Kính thưa Qúy Độc Giả, Qúy Chiến Hữu.

Trên mặt báo này, ngay từ ngày xuất bản đầu tiên, tờ Tạp Chí Dân Văn đã khẳng định cuộc chiến VN từ 1954 đến 30.04.1975, là một cuộc chiến xâm lược với lập luận rõ ràng, ai muốn tranh luận, TCDV sẵn sàng đón tiếp với ngôn ngữ của người có văn hoá.

 

Kính qúy Anh Chị,

Thấy các Anh Chị „tranh luận“ về tên cuộc chiến tại VN vừa qua, tôi mới chợt nhớ tới cái quan điểm của tờ TẠP CHÍ DÂN VĂN, tờ báo này do một số anh chị em quân nhân VNCH chủ trương và xuất bản trước thời điểm bức tường Bá Linh sụp đổ, tên cuộc chiến này tờ Tạp Chí Dân Văn đã gọi là cuộc chiến XÂM LƯỢC do bọn miên Bắc theo cộng sản phát động, với LẬP LUẬN thật „logic“ như sau:

Đảng cộng sản Việt Nam với 3 triệu đảng viên, cốt lõi của chủ nghiã cộng sản là TAM VÔ, Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình, Vô Tôn giáo, như vậy từ Hồ Chí Minh đến tất cả đảng viên đảng cộng sản Việt Nam không còn là người Việt Nam nữa vì chúng đã theo cộng sản là không có Tổ Quốc Việt Nam. Chúng là người ngoại quốc đem quân từ miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam.

Người ta định nghiã, một cuộc chiến xâm lược, là người một nước  đem quân chiếm đất, chiếm dân một nước khác, thí du như bọn Tầu đã từng xâm lược Việt Nam trong quá khứ, nay  chúng tinh vi hơn, dùng bọn cộng sản Việt Nam cầm quyền để dâng nước Việt Nam cho chúng, không phải mở những cuộc chiến xâm lược như trước đây.

Qúy Anh Chị „tranh luận“ mà quên đi cái điểm vô cùng quan trọng trên đây. Bọn cộng sản chủ trương thế giới đại đồng, đã gia nhập công sản là không còn cái căn cước người nước này nước khác, nhưng cái chủ trương này là không tưởng, chẳng bao giờ thực hiện được.

Lập luận của tờ Tạp Chí Dân Văn trùng khớp với quan điểm của anh NGUYỄN NHƠN, tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, nguyên Phó Tỉnh Trưởng Biên Hoà trước 30.04.1975. tôi cũng đồng  quan điểm này.

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM dứt khoát là một cuộc chiến XÂM LƯỢC do bọn cộng sản miền Bắc không còn là người Việt Nam, đem quân đánh chiếm miền Nam Việt Nam tức nước Việt Nam Cộng Hoà.

 

--------------------------

Viết thêm để bổ túc cho lập luận của TẠP CHÍ DÂN VĂN:

Từ hôm tôi đưa ra cái quan điểm của tờ Tạp Chí Dân Văn về tên gọi của Cuộc Chiến vừa qua với lập luận rõ ràng là bọn csvn không còn là người Việt Nam, dĩ nhiên chúng cũng không có Tổ Quốc Việt Nam, không thấy một ai phản bác cái lập luận này cả, như vậy quan điểm của tờ Tạp Chí Dân Văn mặc nhiên được công nhận là đúng, chính xác. Tôi là độc giả dài hạn của tờ báo, giống như ông BS Tôn Thất Sơn bên Norway, tờ báo rất đứng đắn, chưa hề loan tin vịt hay chụp mũ bất cứ ai, chỉ không nhân nhượng  với bọn Việt cộng và Việt gian.

Như vậy tên cuốn sách của tác giả Thiện Ý: Cuộc nội chiến Quốc-Cộng, ai thắng ai, đã bị sổ toẹt ngay từ đầu, không cần phải tranh cãi, ngay cái tên cuốn sách cũng đã chứng tỏ tác giả  nhìn cuộc chiến Việt Nam rất phiến diện, không sâu sắc.

Ở đây tôi xin nói thêm, tên Lê Duẩn công khai tuyên bố: Ta đánh chiếm miền Nam là đánh cho Trung Quốc, Liên Xô (Vô Tổ Quốc). Câu này được chúng dựng thành cổng chào để mọi người chiêm ngưỡng.

Tên cáo già Hồ Chí Minh đã không tiếp người chị ruột  khi bà này đến Phủ Chủ Tịch thăm hỏi Hồ Chí Minh (Vô Gia Đình).

Tên Lê Duẩn đã cho người sang Liên Xô để thủ tiêu cô con gái đã lấy chồng người Liên Xô vi phạm điều cấm kỵ của bọn cộng sản Bắc Bộ Phủ (Vô Gia Đình).

Tên Nguyễn Minh Triết lúc làm Chủ Tịch Nước khi qua La Mã đã trả lời là không có tôn giáo  khi được các Phóng Viên hỏi (Vô Tôn Giáo).

Những trường hợp trên đây để xác định bọn cộng sản Việt Nam không có Tổ Quốc Việt Nam, không có gia đình, không có tôn giáo.

Như vậy chúng xua quân mở cuộc chiến xâm lược nước Việt Nam Cộng Hoà, không còn gì để phải „tranh cãi“ về cái tên gọi của cuộc chiến này nữa, ai còn chưa „thông“ hãy dùng đầu óc để suy xét thêm.

Tôi không đồng ý gọi là cuôc nội chiến Quốc-Cộng hoặc nội chiến vì ý thức hệ, bởi chúng đâu còn là người Việt Nam khi đã gia nhập đảng cộng sản, như lập luận của tờ Tạp Chí Dân Văn trên đây.

Trong lịch sử Việt Nam, Trịnh-Nguyễn phân tranh là cuộc nội chiến.

Thời thập nhị sứ quân là nội chiến.

Lịch Sử Mỹ, chiến tranh Nam-Bắc là nội chiến.

Hitler là một tên giết người, sách báo của chính người Đức đã khẳng định như vậy, nhưng tên đồ tể này chưa từng giết hại người dân Đức, 5 triệu người Do Thái bị hắn cho vào lò hơi ngạt, còn bọn cộng sản thì sao? Cộng Sản Liên Xô giết khoảng 40 triệu dân Nga, tầu cộng giết khoảng hơn 70 triệu người Tầu, bọn cộng sản Việt Nam giết khoảng 2 triệu người dân Việt, công khai và hàng loạt giết dân trong đấu tố Cải Cách Ruộng Đất chừng 170.000 người, tết Mậu Thân 1968 chúng giết hơn 6.000 người ở Thành Phố Huế. Thời đại quân chủ ngày trước cũng không có ông Vua nào giết chính dân mình nhiều như vậy! Xem như thế, tất cả các đảng cộng sản trên thế giới  khi các đảng viên vào đảng đã trở thành Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình, Vô Tôn giáo, chúng sẵn sàng giết người dân nước họ.

Thời đại này chúng không còn dấu diếm được tội ác của chúng.

LÊ THỊ HY VỌNG, độc giả dài hạn của TẠP CHÍ DÂN VĂN.