Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Tuesday, 2 June 2020

GÓC NHÌN HÒANG DUY HÙNG TỪ ĐỈNH DƯỚI KIM NGÂN .....HDH NHỔ RÂU CỤ HỒ CẮM CÀM DƯỚI KIM NGÂN ....

https://youtu.be/ScDLA4nJFbw

*HÒANG DUY HÙNG TREO CỜ VC NGƯỢC - TRONG VIDEO NẦY HDH ĐỀ CẬP ĐẾN NGƯỜI VIỆT SINH SỐNG Ở NAM MỸ. NHƯNG HDH THAY VÌ PHẢI NÓI NƯỚC THUỘC ĐỊA CÓ TÊN LÀ "FRENCH GUIANA" THÌ LẠI NÓI BẬY QUA NƯỚC GUYANA - SAU 75 PHÁP NHẬN MỘT SỐ LỚN NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN VÀ ĐƯA HỌ SANG TÁI ĐỊNH CƯ Ở FRENCH GUIANA LÀ ĐẤT THUỘC PHÁP Ở NAM MỸ.
Image result for french guianaMap of French Guiana

Thay vì nói đến FRENCH GUIANA thì HDH lại nói lộn qua nước GUYANA thuộc địa cũ của Anh:

Image result for guyanaMap of Guyana

HDH giống như NNNgạn copy trên internet rồi phun ra như mình hiểu thuộc lòng khiến thiên hạ rất nễ sợ. HDH đang nói về nước GUYANA thuộc Anh mà lại lầm lẫn ghép nối SỐ NGƯỜI VIỆT SỐNG TẠI FRENCH GUIANA THUỘC PHÁP. HDH lầm lẫn vì cứ tưởng 2 nước, 2 nơi cũng thuộc Nam Mỹ là MỘT. Sự thật GUYANA và FRENCH GUIANA là 2 nước khác nhau.
Chỉ có Frech Guiana thuộc Pháp mới có chuyện gắn bó và có liên quan tới Việt Nam. Mới có chuyện Pháp đưa một số tù nhân VN qua lưu đày ở Guiana và sau 1975 một được Người Việt Tỵ Nạn được đưa tới định cư ở French Guiana chứ Pháp làm sao đưa người qua nước GUYANA thuộc địa cũ của Anh sinh sống được ? Rõ ràng HDH đang đề cập đến chuyện Pháp lưu đài mấy trăm QDĐảng qua French Guiana mà HDH lại mô tả đất đai của nước GUYANA, LÀ MỘT NUỚC KHÁC. Tổ trác HDH lòi ra NGU DỐT mà VC trong nước cũng ngu theo KHEN HDH THÔNG MINH (XẠO) ĐÁO ĐỂ !!!!./-TCL
==========

Những người bị quên lãng ở nhà tù Guiana thuộc Pháp (p1)


Trần Giao Thủy

Cayenne là thủ đô của Guiana thuộc Pháp (French Guiana hay Guyane Française) nằm trên bờ Bắc của Đại Tây Dương ở Nam Mỹ giáp với Brazil ở phía Nam và Đông, phía Tây giáp Surinam (thuộc địa cũ của Hòa Lan, trước kia thường được gọi là Guiana thuộc Hòa Lan hay Dutch Guiana).


Nguồn: photopix.com
Mười một năm trước đây, tháng Sáu năm 2008, phóng viên Danh Đức đã viết một loạt bài 13 kỳ đăng trên tờ Tuổi Trẻ, tựa đề “Nhà lao An Nam ở Guyane”, nói đến một số tù nhân Việt Nam đã bị lưu đầy ở một nhà tù Guyanne của thực dân Pháp. Họ là những nghĩa quân Việt Nam Quốc Dân Đảng (V.N.Q.D.Đ.) 1930, các tù nhân trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và nghĩa quân của Đề Thám (những năm đầu thế kỷ 20), v.v.
Câu chuyện về những tù nhân của thực dân Pháp đã bị bỏ quên gần một thế kỷ và được Danh Đức nhắc lại vì tình cờ gặp con cháu của một người Việt Nam bị lưu đây ở Guyane khi sang lãnh thổ Guiana làm phóng sự về vụ phóng vệ tinh Vinasat-1 vào ngày 8 tháng 4, 2008 tại Trung tâm Không gian Kourou cách Cayenne khoảng 60 cây số.
Tại sao những người tù Việt Nam ở Cayenne gần như bị quên lãng gần một thế kỷ? Thứ nhất vì đa số họ không liên quan gì đến đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay. Thứ hai, bằng sắc lệnh ngày 17 tháng 6 năm 1938 chính phủ Pháp bãi bỏ việc đầy biệt xứ những người bị kết án tù khổ sai. Đến năm 1942, Pháp đã quyết định giam tù nhân pháp ở Pháp bằng sắc lệnh ngày 6 tháng 7 năm 1942. Từ đó trở đi, những nhà tù ở Guiana không còn nhận phạm nhân và đóng cửa vào năm 1944[1]. Những người tù Việt Nam ở Cayenne “gần như bị quên lãng” vì thực sự có ít nhất hai tác giả không cộng sản đã viết về đề tài này.
  1. Một là Hoàng Văn Đào, với cuốn “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An”, Nhà xuất bản Sống Mới, Saigon, 1957, 87 trang.
  2. Hai là Nguyễn Văn Hầu với cuốn “Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, Thi ca và Cuộc đời một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du miền Nam”, Nhà xuất bản Xây Dựng, 1964, 219 trang. Ngoài ra tác giả đã viết về những nhân vật trong phong trào Đông Du miền Nam bị Pháp bắt vào đầu thế kỷ XX như “Nguyễn-Thần-Hiến, một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du miền Nam”, Bách Khoa, số 124, 125, năm 1962, hay đã bị thực dân pháp đầy đi Guiana  như “Lý Liễu và Phong trào Đại Đông-Du”, Bách Khoa số 145, 15-1-1963, trang 39-50.

Hoàng Văn Đào Và Tác Phẩm

Hoàng Văn Đào, trong lời mở đầu cuốn “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An” viết,
“May mắn thay! Tháng giêng năm 1955 một số chiến sĩ Yên-Bái bị lưu đầy từ 1930 tại Guy-an (Guyane, Francaise) được trở về nước nhà, tôi hân hạnh được gặp, các bạn ấy đã vui lòng cấp thêm tài liệu để tôi viết nên tập: “TỪ YÊN-BÁI ĐẾN CÁC NGỤC-THẤT HỎA-LÒ, CÔN-NÔN, GUY-AN” này  nhằm mục đích cung cấp thêm tài liệu bổ-khuyết các văn phẩm cùng loại này đã xuất bản từ trước.
Chúng tôi luôn-luôn tôn-trọng sự thật trong khuôn khổ văn nghệ.
Viết tại Sài-gòn tháng 10 năm 1957
HOÀNG VĂN ĐÀO”
Hoàng Văn Đào, Ibid., trang 6-7.
“Sự thật trong khuôn khổ văn nghệ” là một khái niệm không dễ hiểu. Nó có thể phức tạp hơn cả quan điểm của Plato về nền tảng siêu hình của sự thật. Hay tác giả ngụ ý nói ông luôn tôn trọng “sự thật” của một xã hội “văn nghệ” nào đó? Tương tự như ông Donal Trump ngày nay tin như thật rằng biến đổi khí hậu là tin vịt trong khi giới khoa học xem đó là một sự thật dựa trên dữ liệu khoa học đã chứng minh.

Tác giả Hoàng Văn Đào là ai?

Độc giả cần đọc lời giới thiệu cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng,  Lịch-sử đấu-tranh cận-đại 1927-1954” [1965, NXB Giang Đông, Sài Gòn; 1970, Khai Trí, Sài Gòn], của Hoàng Văn Đào mới có thể hiểu chút ít về thân thế của tác giả. Người viết lời giới thiệu cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng” là Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, nguyên Chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuần báo Tân Dân. Theo Thế Phong[2], Nguyễn Đắc Lộc là Chủ nhiệm Tân Dân (Hà Nội) từ 1948 đến 1954 chuyển vào Sài Gòn, “tòa soạn đặt tại 58 Phạm Hồng Thái, Saigon bị chính quyền  miền Nam  cho côn đồ đốt phá máy in, đốt tòa soạn, đóng cửa báo.”
Trong khi đang là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Tân Dân, Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc lại chọn đăng tập “Thử tìm hiểu Chủ nghĩa Phan Chu Trinh” trên nhật báo Bạn Dân, Số đặc biệt ngày 24 tháng 3, 1953. Chủ nhiệm Quản lý của nhật báo này là Hoàng Văn Đào. Dường như có điều gì không ổn.



Trong lời giới thiệu cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng”, Nguyễn Đắc Lộc viết,
“… Thì hôm nay Việt dân Hoàng Văn Đào tiên sinh, một vị lão thành đồng chí và một trong các nhà sáng lập ra V.N.Q.D.Đ. đã bổ khuyết được chỗ thiếu sót của lịch sử, viết ra cuốn sách này mà tác giả lại có nhã ý nhờ tôi viết bài tựa…”
Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, Tựa, “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng”, trang 7.
Người đọc câu ‘giới thiệu tác giả’ trên đây của Nguyễn Đắc Lộc có thể hiểu, một, cả hai Nguyễn Đắc Lộc và Hoàng Văn Đào là đồng chí, đảng viên V.N.Q.D.Đ., và hai, Hoàng Văn Đào lại còn là một trong những “nhà sáng lập” V.N.Q.D.Đ.
Văn học sử Việt Nam cận đại không có thông tin về tiểu sử và tác phẩm của Hoàng Văn Đào trừ hai cuốn “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An” (1957) và “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng,  Lịch-sử đấu-tranh cận-đại 1927-1954” (1966, 1970).
Mặt khác, Nguyễn Đắc Lộc (1897-1975) là một người hoạt động trong làng báo Việt Nam có tiểu sử và tác phẩm tương đối rõ ràng hơn. Theo Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Đắc Lộc có chân trong “Đảng Cách mạng Phục Việt” sau sát nhập với Nhóm “Việt Nam Hồn” của Nguyễn Thế Truyền biến thành “Đảng An Nam Độc lập” tại Paris (Parti de  L’Indépendance Annamite à Paris). Đầu năm 1929, ông bỏ làm báo “Ami du Peuple”, vì vừa mất con gái sơ sinh và bị tình nghi là đảng viên V.N.Q.D.Đ.,  bỏ xứ sang Lào, làm việc cho hãng vận tải Malpuech nên không bị mật thám Tây theo dõi[3].
Nhiều nguồn tài liệu[4] đều cho biết V.N.Q.D.Đ. xuất phát từ  một tiệm sách và cơ sở ấn loát do hai anh em Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài thành lập năm 1925[5] Nam Đồng Thư Xã (N.Đ.T.X.) rồi Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân) đến tham gia, sau đó Nguyễn Thái Học mới gia nhập N.Đ.T.X.
Cuối tháng 10, 1927 Nguyễn Thái Học lập tổ chức bí mật, muốn dùng võ lực lật đổ chế độ thực dân phong kiến gọi là “Chi Bộ Nam Đồng Thư Xã”. Việt Nam Quốc Dân Đảng chính thức thành hình ngày 25 tháng 12, 1927 tại Hà Nội, chủ tịch là Nguyễn Thái Học. Từ năm 1928 đến 1929, V.N.Q.D.Đ.  phát triển nhanh chóng. Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đã thành công trong việc chiêu mộ được nhiều sinh viên, chủ doanh nghiệp nhỏ và công chức[6]. Đến năm 1929, V.N.Q.D.Đ. đã có khoảng 1.500 đảng viên và ít nhất 120 chi bộ[7]. Đến năm 1930, ước tính V.N.Q.D.Đ. đã có khoảng 70.000 đảng viên, chứng thực tài năng và sự thành công của những cán bộ chiêu mộ và tuyên truyền của đảng này[8]. Trong số người mới gia nhập này có Hoàng Văn Đào ở Thanh Hóa[9].
Trong những tài liệu bằng tiếng Pháp và Anh dù có rất nhiều tên những nhân vật quan trọng từ  N.Đ.T.X. đến khi V.N.Q.D.Đ. thành hình như Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Nguyễn Thế Nghiệp, v.v.  nhưng không có tên “nhà sáng lập” Hoàng Văn Đào như Hoàng Văn Đào đã viết trong cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng”.
Như vậy tác giả Nguyễn Đắc Lộc đã thổi phồng vai trò “nhà sáng lập” V.N.Q.D.Đ. của đảng viên Hoàng Văn Đào.
Nhưng nếu trở lại cuốn “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An”, cuối chương XIII, trước khi sang phần “Phụ lục thi văn”, người đọc sẽ thấy tác giả viết,
“Mỉa-mai thay! Số phận người chiến-sĩ cách-mạng Quốc-gia Việt Nam!
Viết tại Sài-gon, tháng 10 năm 1957
Nghĩa-viên Hoàng Văn Đào”
Hoàng Văn Đào, Ibid., trang 78.
Từ tháng 10, 1957 đến tháng 3, 1964, Hoàng Văn Đào từ một nghĩa viên trở thành đảng viên và còn là “nhà sáng lập” V.N.Q.D.Đ. Tại sao đã gia nhập đảng từ ngày đầu (1927) và đến 30 năm sau vẫn là “nghĩa-viên” rồi bất chợt thành đảng viên “nhà sáng lập” 7 năm sau đó? Chỉ phẩn tiểu sử tác giả thôi đã có nhiều phức tạp, khó hiểu, nói chi đến tập sách “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An” do ông viết theo lời một số chiến sĩ Yên-Bái bị lưu đầy từ 1930 về nước thuật lại. Sẽ trở lại sau với “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An”.
Thêm một dấu hỏi khác, tại sao gọi các “chiến sĩ Yên-Bái” là “các bạn ấy” chứ không là đồng chí? Kế đến, lý do nào khiến Hoàng Văn Đào không nêu đích danh “một số chiến sĩ Yên-Bái bị lưu đầy” không còn bị tù, trở về nước, hoàn toàn tự do để kể chuyện cho tác giả viết thành sách?
Và suốt tập sách, tác gỉa, một người không có liên hệ gì với V.N.Q.D.Đ. đã dùng đại danh từ nhân xưng số nhiều, ngôi thứ nhất, “chúng tôi”, để thuật lại mọi sự việc tỉ như chính ông là chiến sĩ V.N.Q.D.Đ. đã tấn công đồn Yên Bái (hay Yên Báy), rồi đi tù từ Hỏa Lò đến Côn-Lôn (Côn Đảo), và bị đầy sang Guiana dù trong cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng”, Hoàng Văn Đào đã viết,
“Khi viết tập sách nhỏ này, chúng tôi giữ vững lập trường một công dân cầm bút chép sử của Dân tộc, chứ không quan niệm là một Đảng viên V.N.Q.D.Đ. chép sử để tuyên truyền cho Đảng mình, …”
Hoàng Văn Đào, “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng” (1970), Lời nói đầu (không có số trang).
Văn phong của Hoàng Văn Đào ngày ấy xem chừng không khác gì diễn ngôn định hướng, đầy uyển ngữ cường điệu của đảng cầm quyền độc nhất ở Trung Hoa và bù nhìn ở Hong Kong hiện nay.
Với những chi tiết (hay thiếu chi tiết) về tiểu sử của Hoàng Văn Đào và liên hệ hoạt động của ông với Nguyễn Đắc Lộc, cùng tính cách bí mật của những chính đảng Việt Nam thời Pháp thuộc và dưới hai nền Cộng Hòa thì Hoàng Văn Đào có thể là một bút danh khác, như Nguyễn Càn Khôn hay Mai Lâm, của Nguyễn Đắc Lộc.

Nguyễn Văn Hầu (1922-1995) | Chí sĩ Đông Du miền Nam và nhà tù ở Guiana thuộc Pháp



Nguyễn Văn Hầu (1922-1995). Nguồn: Huệ Khải văn tập
Để hiểu về tác giả Nguyễn Văn Hầu có lẽ độc giả có thể đọc những nhận xét của Nguyễn Hiến Lê, người viết Tựa cho cuốn“Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, Thi ca và Cuộc đời một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du miền Nam”, Nhà xuất bản Xây Dựng, 1964.
“Ông Hầu quê ở cù lao Giêng, khoảng giữa miền Hồng-Cao, hồi nhỏ có lần nuôi cái mộng được làm học trò của cụ [Nguyễn Quang Diêu], lớn lên luôn luôn tưởng niệm cụ, gần đây bỏ ra mấy năm điều-tra , phỏng-vấn, rồi thu thập tài-liệu về đời cụ cùng thi văn của cụ mà soạn nên cuốn này. […] Tôi tin rằng mỗi tỉnh ít gì cũng có một hai nhà tân học biết chút ít Hán-tự lại lưu tâm tới sử học. Phần nhiều những vị đó ở trong giáo-giới như ông Nguyễn Văn Hầu. Nếu viện khảo-cổ biết tìm họ, mời họ về Sài Gòn một vài tháng để truyền lại cho những kiến-thức căn-bản về việc khảo-cổ […]
Long Xuyên, ngày 30-11-1961,
Nguyễn Hiến Lê”
Nguyễn Văn Hầu, Ibid., trang XIV-XVI
“… Trong hai chục năm nay, người có công nhất với lịch sử miền Hậu Giang là Giáo sư Nguyễn Văn Hầu… năm nay Ông lại công bố cuốn Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang mà Ông mất công khảo cứu tìm kiếm trong sách báo và nhất là tại chỗ trong hai chục năm mới xong. […]
Tài liệu rất dồi dào hơn hẳn mấy cuốn trước, lối suy diễn thận trọng, cách ghi chép rành rọt kĩ càng. Những chương Đào Thoại Hà, Đào Vĩnh Tế Hà, Khai cương thác địa viết công phu, đọc hứng thú, người sau khó mà viết hơn Ông được. […]
Tôi nghĩ người có học thức nào ở Hậu Giang cũng nên có cuốn đó trong tủ sách để biết công tổ tiên đã bảo vệ và khai thác miền mình hiện đương sống, một miền phì nhiêu nhất của non sông.”
Nguyễn Hiến Lê, “Người có công với lịch sử miền Hậu giang”, Bách Khoa, số 395 ngày 8 tháng 8 năm 1973.
“Thông chữ Hán, chữ Pháp. Tính tình điềm đạm, siêng năng, làm việc cẩn thận, thu thập nhiều tài liệu. Bốn cuốn có giá trị nhất của Ông là Đức Cố Quản (một vụ khởi nghĩa ở Long Xuyên, Châu Đốc thời Pháp thuộc), Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu (một nhà Cách mạng ở Cao Lãnh trong những năm giữa hai thế chiến), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang và Nửa tháng trong miền Thất Sơn …”
Nguyễn Hiến Lê, “Hồi ký Nguyễn Hiến Lê”, mục bạn Văn, NXB Văn Học 1997.
Cuốn “Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, Thi ca và Cuộc đời một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du miền Nam” (1964), và những biên khảo đã đăng trên tạp chí Bách Khoa về NguyễnThần Hiến (1962) và Lý Liễu (1963) đều nói về những nhân vật cách mạng trong Phong trào Đông Du của miền Nam.
Huỳnh Hưng, người gốc Vĩnh Long tên thật là Huỳnh Văn Nghị thường được gọi là Bẩy Nghị Huỳnh Hưng là biệt hiệu do Kỳ Ngoại Hầu đặt, dùng trong giới cách mạng. Ông là bạn thân của Nguyễn Thần Hiến, người đã được Cường Để giao giữ chức Bộ trưởng Tài chánh chính phủ lâm thời tại đại hội năm 1912 ở Quảng Đông. Tuy ở nước ngoài nhưng Nguyễn Thần Hiến giữ được liên lạc chặt chẽ với người trong nước nhất là ở miền Hậu Giang. Cuối tháng Năm 1913, một nhóm chí sĩ miền Nam sang Hong Kong gặp Nguyễn Thần Hiến gồm có Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật. Sau khi mua được vũ khí (tạc đạn), cả bốn người đang họp bàn phân chia công tác tại nhà Huỳnh Hưng đều bị cảnh sát Anh bắt; đó là ngày 16 tháng 6, năm 1913. Sau khi nhận tội hết về mình, Huỳnh Hưng bị phạt tiền và 9 tháng tù. Ba đồng chí của ông gọi là trắng án nhưng thực ra vẫn bị tạm gian chờ ngày giải về Hà Nội cho chính quyền thuộc địa ở Việt Nam. Cả ba người đều lãnh 10 năm tù bị tạm giam ở Hỏa Lò chờ ngày bị đầy sang Guiana thuộc Pháp. Nguyễn Thần Hiến, lớn tuổi không chịu đựng nổi tra tấn của lao tù, lâm trọng bệnh, đến khi được đưa đi bện viện thì ông tuyệt thực phản đối và qua đời ở đó[10].
Thật ra vụ án tạc đạn ở Hong Kong năm 1913 còn có 3 bị can khác; đó là Trần Ngọ, Nguyễn Truyện và Lý Liễu.
Công nhận không đủ tài liệu về Trần Ngọ và Nguyễn Truyện, tác giả Nguyễn Văn Hầu chỉ viết về người học trò trẻ tuổi trong phong trào Đông Du bị bắt ở Hong Kong. Đó là Lý Liễu. Thân phụ của Lý Liễu, Lý Chánh (Vĩnh Long), là chỗ thâm giao với Nguyễn Quang Diêu (Cao lãnh), Nguyễn Thần Hiến (Cần Thơ). Lý Chánh gia nhập phong trào Đông Du từ năm 1906, hợp tác với Nguyễn Thần Hiến lập Khuyến Du Học Hội (KDHH) cổ động học sinh xuất dương du học. Vì vậy Lý Liễu được cha gởi đi du học Hong Kong khi ông mới 14-15 tuổi. Lý Liễu là học sinh của Trung Anh học đường (St Joseph College ở Hong Kong). Theo Lorraine M. Paterson, Lý Liễu sang Hong Kong đi học năm 1905 khoảng 12 tuổi[11], nghĩa là Lý Liễu sinh khoảng 1893.
Nguyễn Truyện và Lý Liễu vừa là đồng chí lại là đồng hương thường lui tới nhà Huỳnh Hưng để nhận tin gia đình và nghe ngóng tình hình trong nước. Ngày 16 tháng 6, Lý Liễu vừa ghé nhà Huỳnh Hưng như thường lệ và cũng để gặp phái đoàn trong nước mới qua, nên bị cảnh sát bắt. Nguyễn Truyện vì nóng lòng biết tin của bằng hữu nên đã đến tòa án ở Hong Kong nghe ngóng và bị cảnh sát Anh tình nghi, tra vấn và bắt luôn tại chỗ. Khi bị đưa về Hà Nội, Nguyễn Truyện bị tuyên án chung thân khổ sai, còn Lý Liễu bị án 5 năm khổ sai, cũng như Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật, tất cả bị tạm giam ở Hòa Lò chờ ngày đi tù biệt xứ. Nguyễn Truyện bị xử án nặng nhất vì thực dân biết cha ông, cụ Xã Trinh, là một cán bộ cách mạng đắc lực, và Truyện cũng khẳng khái nhận mình là du học sinh của Phong trào Đông Du đi học để về khai hóa dân trí. Trong nhà tù Hỏa Lò, Nguyễn Truyện giả đau, đi bệnh viện rồi dùng dao mổ bụng tự vẫn. Huỳnh Hưng mãn tù ở Hong Kong bị Anh đưa về cho Pháp đầy đi Côn Lôn. Năm 1914, bốn người còn lại, Lý Liễu, Nguyễn Quang Diêu, Đinh Hữu Thuật và Trần Ngọ đều bị đưa đi đầy ở Guiana thuộc Pháp ở Nam Mỹ[12].

Hai cách viết sử

Cách viết lịch sử của hai tác giả Hoàng văn Đào và Nguyễn Văn Hầu rất khác nhau. Ông Nguyễn Văn Hầu trích dẫn nguồn rõ rệt, ông Hoàng Văn Đào thì không được như thế.  Điển hình, trong phần “Tài liệu tham khảo” ở đầu cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng”, tác giả Hoàng Văn Đào ghi 7 cuốn sách của 6 tác giả Pháp và một của Nhượng Tống, cùng tên tờ báo Phụ nữ Tân Văn trong mục (A) sách báo. Ở mục (B) tác giả ghi tên khoảng 30 nhân vật ông trực tiếp tham khảo – một loại lịch sử truyền khẩu – trong đó có một số đảng viên V.N.Q.D.Đ., nhưng đặc biệt không có tên Vũ Hồng Khanh (Vũ Văn Giản). Và suốt cuốn sách tác giả ít cho biết ai hay tác giả cuốn sách nào là nguồn chính của những thông tin ông chép hay trích dịch lại.  Và như thế, dữ kiện Hoàng Văn Đào trình bầy trong tác phẩm của ông thật rất khó kiểm chứng hoặc có thể biết rõ nguồn chính.
Nguồn Hoàng Văn Đào trích dẫn trong cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng” là Lê Thành Vỵ (một nhân vật tác giả tham khảo trực tiếp) ở cuối mục “Ngày Đản-sinh Việt-Nam Quốc-Dân đảng”, trang 27-40; trích dịch Louis Marty về chuyện phát triển đảng, trang 50 và ở một số trang khác, đặc biệt là nguyên Chương X, Cuộc tranh đấu tiếp tục không ngừng; trong mục “Dư luận báo chí thời đó” tác giả đương nhiên phải trích dịch một số báo chí, như tờ Franco Annamite (R.F.A. số 3 ngày 1-8-1929, trang 25), Avenir du Tonkin (không đề ngày), báo L’Action française (2 tháng 6, 1929, [trang 5]); 8 lần trích dịch Louis Roubaud, “Viet-nam, la tragédie indo-chinoise” (1931); 3 trích dẫn thông tin của tuần báo Phụ nữ Tân văn; tham khảo với Nguyễn Tiến Hỷ (Phan Trâm) để viết mục “Thống Nhất “Đại Việt Quốc Dân Đảng”, “Việt Nam Quốc Dân Đảng” và “Đại Việt Dân Chính Đảng” Lần Thứ Nhất” (220-222).
Tóm lại, đọc cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng,  Lịch-sử đấu-tranh cận-đại 1927-1954”, bạn đọc rất khó có thể đánh giá những chuyện trong nội bộ của một đảng hoạt động bí mật. Ví dụ, về vụ ám sát Bazin, theo Hoàng Văn Đào thì Vũ Hồng Khanh tuyên bố có mặt trong cuộc họp của Tổng bộ V.N.Q.D.Đ. tuyên án tử hình y, nhưng Hoàng Văn Đào lại khẳng định,


Bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện ngày 3-9-1967. Liên Danh 10 (Bó Đuốc): Ứng cử viên Tổng thống Vũ Hồng Khanh (trái) và ƯCV Phó Tổng thống Dương Trung Đồng. Nguồn: http://virtual-saigon.net

“Tổng bộ V.N.Q.D.Đ. kể từ ngày Bazin bị giết trở về trước, không hề có ủy viên nào mang tên Vũ Văn Giản tức Vũ Hồng Khanh sau này cả.”
Hoàng văn Đào Ibid., trang 58.
Về việc vụ ám sát Bazin ngày 9 tháng 2 năm 1929, Hoàng Văn Đào viết,
“Bước vào Khách sạn Việt Nam Nguyễn Văn Viên gặp Nguyễn Thái Học, Hoàng Văn Đào và Nguyễn Hữu Đạt, đồng chí Viên đưa đề nghị của các đại biều Chi đoàn Công nhân yêu cầu Tồng bộ xét, xin ra lệnh cho ban ám sát giết Bazin. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học trả lời:
– Nếu nay vội giết Bazin, tất nhiên chính quyền thực dân sẽ khủng bổ dữ dội, mà đa sổ đồng chí trong cấp lãnh đạo của Đảng chúng ta phần đông có tên trong “SỒ ĐEN” của sở mật thám…”
Hoàng văn Đào, Ibid., trang 55.
Tuy nhiên trong cuốn “Việt Nam Quốc Dân Đảng – Đảng sử” (1966) tác giả Vũ Hồng Khanh không ghi là ông có mặt trong phiên họp Tổng bộ, chỉ thuật lại vụ ám sát Bazin,
“Hai người thanh niên này chính là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Viên, người được đảng ủy cho việc tổ chức cuộc ám sát này.”
Vũ Hồng Khanh, Ibid., trang 47
Hoàng Văn Đào viết tiếp,
“Vụ án Bazin tuy phòng dự-thẩm Tòa Án Đại-hình có đòi Lê Thành Vị, Nguyễn Thái Thác, Hoàng Văn Đào và Nguyễn Hữu Đạt ra hỏi cung nhiều lần, nhưng không một ai chịu tiết lộ một đỉều nào; nên vẫn không tìm ra manh mối.”
Hoàng văn Đào, Ibid., trang 69.
Khi tác giả viết cuốn “Việt Nam Quốc Dân Đảng” có lẽ chỉ mình Hoàng Văn Đào còn sống thì lấy ai để xác nhận, làm chứng cho câu chuyện? Nếu tác giả kèm theo phóng ảnh trát đòi ông đến để hỏi cung thì câu chuyện sẽ có sức thuyết phục hơn nhiều.
Vấn đề của Hoàng Văn Đào nằm ở chủ đề của tác phẩm. Nó với ông như hai mà một, khi ông sử dụng đại danh từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số nhiều, “chúng tôi”, trong cuốn “Từ Yên-Bái Đến Các Ngục-Thất Hỏa-Lò, Côn-Nôn, Guy-An”, và dù biện bạch gì đi nữa thì cuốn “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng,  Lịch-sử đấu-tranh cận-đại 1927-1954” cũng là tài liệu do một  người tự nhận là đảng viên viết về đảng của mình. Đọc “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng” của Hoàng Văn Đào thì cũng nên đọc “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng, Đảng Sử” Tập I (1966) của Vũ Hồng Khanh xuất bản và tham khảo những văn bản của chính quyền thực dân Pháp, nhất là của sở mật thám và báo chí đương thời, kể cả những nghiên của quân đội Mỹ và của học giả trong giới hàn lâm viết tiếng Anh, Pháp sau này.
Mặt khác, Nguyễn Văn Hầu trích dẫn nguồn khá cẩn thận, ví dụ:
“Trong cuốn Cuộc đời cách-mạng Cường-Để, đoạn thuật lại khúc mắc nạn ở Hồng-Kông năm 1913, Kỳ Ngoại Hầu có nói:
‘Khi ấy, (Nguyễn Thần Hiến) vừa từ Thượng-Hải về tới Hồng-Kông thì tiếp được thư đồng-chí ở Nam-Kỳ viết ra bảo mua tạc đạn gởi về,…’”
[…]
“Trong bài Hà-Thành lâm nạn, làm tại nhà pha Hỏa lò, cụ Nguyễn Quang Diêu – một trong số mấy người bị bắt trong vụ vừa nói – sau khi cho biết mình bị án mười năm, có kể rõ tên các nạn nhân khác cũng bị tòa án thực-dân bức xử như cụ,
‘Thương ông Thần Hiến râu mày,
Cùng Đinh-Hữu-Thuật đều đày mười năm…’”
Nguyễn Văn Hầu, “Lý Liễu và Phong trào Đại Đông-Du”, Bách Khoa số 145, 15-1-1963, trang 39.
Viết về Nguyễn Thần Hiến, không đầy 6 trang đăng trên tạp chí Bách Khoa, tác giả Nguyễn Văn Hầu cho biết năm tài liệu chính ông đã tham khảo: 1/ “Tài liệu của gia đình Nguyễn Như” do Bs Nguyễn Như Giui (Cần Thơ) cháu nội cụ Nguyễn Thần Hiến cung cấp. 2/ “Nguyễn-Quang sưu la ký” do miêu duệ dòng Nguyễn-Quang cung cấp. 3/ “Cảnh sơn thi văn sưu tập” do Nguyễn Công Rau, chủ tịch hội Tàm-tang Tân Châu, cung cấp. 4/ “Phong trào Đại Đông Du: của Phương Hữu, Nam Việt Xuât bản 1957. 5/ “Cuộc đời Cách mạng Cường Để” in tại nhà Tôn Thất Lễ, xuất bản 1957, và một số tài liệu phụ thuộc khác.

Những người Việt Nam bị đầy biệt xứ ở nhà tù Cayenne ở Guiana thuộc Pháp

Năm 1931, sau cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái, thực dân Pháp đã đưa 535 chính trị phạm Việt Nam đi đầy khổ sai ở Guiana thuộc Pháp [từ đây sẽ viết gọn là “Guiana”]. Họ bị giam ở những nhà tù mới xây năm 1930 trong lãnh thổ Inini. Những phạm nhân Việt Nam thường xuyên tổ chức những cuộc nổi dậy, sau đó đã lần lượt được hồi hương cho đến năm 1964[13].
Thực ra, người Việt Nam bị thực dân đầy biệt xứ không chỉ có ở Cayenne, Guiana mà còn ở nhiều nơi khác trên thế giới. Trong suốt thời Pháp thuộc (1863–1954), thực dân Pháp đã đưa khoảng 8000 tù nhân đi đầy ở 12 nhà tù trên khắp Đế quốc Pháp[14]. Những người tù này không chỉ là chính trị phạm mà số lớn là những thường phạm. Ngoài mục đích đưa tù nhân đi đầy để “đền tội”, chính quyền Pháp còn bóc lột sức lao động của người bị lưu đầy[15] để thành lập một xã hội định cư và góp phần phát triển một phần thuộc địa của đế quốc thực dân Pháp[16] còn hoang sơ mà Guiana là một ví dụ. Chính sách đầy phạm nhân sang những nhà tù thuộc địa được áp dụng cho cả tù nhân người Pháp và tù nhân từ thuộc địa của đế quốc Pháp.
Những nhà tù thuộc địa do Pháp dựng lên để giam chính trị phạm bị đầy biệt xứ (“deportation” hay “les deportés”), thường phạm bị án khổ sai (“transportation” hay “les transportés”). Dưới thời Đệ tam Cộng hòa Pháp, đó cũng là nơi giam tù nhân tái phạm (“relegation” hay “les relégués”)[17].



Nhà tù Guyanne, được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi tù nhân chỉ có đến mà không có đi; nhà tù ở đây là “máy chém khô” (guillotine sèche, dry guillotine) vì nó giết người không khác gì đoạn đầu đài, chỉ khác nhau ở quãng thời gian giữa sự sống và cái chết; một cách khác nhà tù ở Guiana là nơi phạm nhân thọ án tử hình không đổ máu. Những nhà tù ở Cayenne cũng được xem là nhà tù không thể thoát được vì đó là những nhà tù trên đảo hoặc ở giữa rừng già.


Tàn tích của nhà tù thuộc địa tại Cayenne ở giữa rừng nhiệt đới ở Guiana là bức tường hoen ố rêu phong và những phòng giam trần là song sắt dù không còn cửa ra vào, bên lối đi hẹp. Nguồn: GettyImages.

Người Việt Nam bị đầy khổ sai biệt xứ sang Cayenne không phải là chuyện mới xẩy ra sau cuộc khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái năm 1930 mà đã có từ nhiều năm trước đó.
Năm 1890, 80 trong 133 người Đông Dương bị đầy biệt xứ, lãnh án biệt xứ vĩnh viễn. Cũng năm này, Toàn quyền (1888-1891) Anne Léodor Philotée Metellus Gerville-Réache[18] (1849 – 1911) của Guiana đã hứa với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp rằng các tù nhân chính trị từ Đông Dương sẽ bị tách ra ngay lập tức và giao cho những nhiệm vụ tương xứng với bản án của họ. Nhưng theo các tài liệu lưu trữ và giai thoại khác, lời hứa này đã không được thực hiện vì trước năm 1910 không có sự phân biệt về mặt luật pháp giữa tù chính trị và thường phạm ở Đông Dương. Các tù nhân từ Đông Dương hầu như luôn được giao cho một trong ba việc. Một là người giúp việc gia đình, hai là làm nông dân hay ba là đi đánh cá. Thật vậy, định kiến của người Phương Tây cho rằng người Đông Dương, đặc biệt là người Việt Nam, là những người làm việc siêng năng đôi khi đã giúp tù nhân Việt Nam được giao cho những công việc nhẹ hơn, không phải canh chừng khắt khe. Người tù Campuchia thường được đưa vào làm công việc trồng trọt, đồng áng, kể cả việc trồng lúa, được coi là ít gian nan hơn so việc với phá rừng, cắt cây.


Làng Việt Nam ở bên kinh đào Laussat, Guyane. Nguồn: cartespostales.eu

Trong suốt những năm 1890, phạm nhân Việt Nam được phép xây nhà kiểu Việt Nam – tuy tài liệu lưu trữ không nói rõ thế nào là nhà “kiểu Việt Nam” – và được độc quyền đánh bắt cá; Cá bắt được có lẽ được dùng để bù đắp một phần cho mức lương ít ỏi của lính gác nhà tù. Người ta kể lại rằng bên con kinh Laussant, đào năm 1777, dài khoảng 1 cây số chạy từ cửa sông Cayenne vào thủ đô người Việt đã có một ngôi làng Việt Nam, chữa trị giúp người bệnh trong cộng đồng[19].
(Xem tiếp p2, p3, Kết)
© 2019 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

Nguồn: DCVOnline biên tập và minh họa.
[1] Marc Renneville, translated by Patricia Bass, “The penal colonies: from utopia to potential case dismissal”, Criminocorpus [Online], The penal colonies, Présentation du dossier, Online since 01 January 2007, connection on 01 November 2016. URL: http://criminocorpus.revues.org/2965
[2] Thế Phong, “Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc (1897-1975): nhà văn “bất đắc dĩ” (vanchuongviet.org, 2011) trích và hoàn chỉnh theo cuốn “Chiêu niệm 4 nhà văn Saigon”, cùng tác giả, Nxb Đồng Nai 1999.
[3] Thế Phong, Ibid.
[4] Le Colon français républicain. Journal de défense des intérêts français et annamites (Hải Phòng), 1929-07-06, Bibliothèque nationale de France, département Droit, économie, politique, JO-94309, 1929/07/06 (A4,N521)-1929/07/06. Trang 12157-12161.
[5] Study by the Senior Liaison Office, U.S. Embassy, Vietnam, “Nationalist  Politics in Vietnam”, Douglas Pike Collection, Unit 06 Democratic Republic of Vietnam, Item #2321601006.
[6] Study by the Senior Liaison Office, U.S. Embassy, Vietnam, Ibid.
[7] Scott McConnell, Left ward Journey: The Education of Vietnamese Students in France, 1919–1939 (New Brunswick: Transaction Books, 1989).
[8] Study by the Senior Liaison Office, U.S. Embassy, Vietnam, Ibid.
[9] Hoàng Văn Đào, “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng,  Lịch-sử đấu-tranh cận-đại 1927-1954”, tái bản lần thứ hai, Sài Gòn, 1970, trang 28-29.
[10] Nguyễn Văn Hầu, “Nguyễn-Thần-Hiến, một lãnh tụ trọng yếu trong phong trào Đông Du miền Nam”, Bách Khoa, số 125, năm 1962. Trang 9-14.
[11] Loraine M. Paterson, “Ethnoscapes of Exile: Political Prisoners from Indochina in a Colonial Asian World”, IRSH 63 (2018), Special Issue, pp. 93.
[12] Nguyễn Văn Hầu, “Lý Liễu và Phong trào Đại Đông-Du”, Bách Khoa số 145, 15-1-1963. Trang 39-50.
[13] Jean-Lucien Sanchez, “French Guiana. The Penal Colonization of French Guyana 1852-1953”. 2016. halshs-01409186
[14] Nguyễn Quang Diêu, Lý Liễu, Đinh Hữu Thuật và Trần Ngọ đều bị đưa đi đầy ở Guiana, Loraine M. Paterson,  “Ethnoscapes of Exile: Political Prisoners from Indochina in a Colonial Asian World”, IRSH 63 (2018), Special Ibid., p. 93.
[15] Christian G. De Vito et al., “Transportation, Deportation and Exile: Perspectives from the Colonies in the Nineteenth and Twentieth Centuries”, IRSH, Page 1 of 24 doi:10.1017/S0020859018000196 © 2018 Internationaal Instituut voor Sociale Geschiedenis, p. 22.
[16] Jean-Lucien Sanchez, Ibid.
[17] Louis-José Barbançon, “Déportation, Transportation Et Relégation Française (1540-1970)”, https://criminocorpus.org, 7 juillet 2006.
[18] “Leonore : Reache, Anne Leodor Philothee Metellus”. Culture.gouv.fr. Truy cập 15 tháng 9, 2019.
[19] Loraine M. Paterson, Ibid., p 98

NGUYỄN LƯƠNG NÀO ĐÂY ? HẮN VIẾT NỘI DUNG NẦY KHÔNG SAI NHƯNG KHÔNG THỰC TẾ HIỂU BIẾT ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ....


NƯỚC MỸ THỰC TẾ CÓ NHỮNG CÁI XẤU NHƯ THẾ THÌ LÀM SAO GIẢI QUYẾT ĐÂY? NƯỚC MỸ ĐÃ TRẢI QUA HÀNG NGÀN LẦN KHỦNG HỎANG: CHIẾN TRANH NAM-BẮC- KINH TẾ SỤP ĐỔ- KỲ THỊ GIẾT NGƯỜI .V.V... NHƯNG RỒI NƯỚC MỸ VẪN ĐỨNG DẬY CÓ PHẢI VÌ NƯỚC MỸ CÓ NHỮNG "CÁI TỐT" KHÁC VƯỢT TRÊN NHỮNG CÁI XẤU KHÔNG? LƯƠNG NGUYỄN SỐNG Ở MỸ 45 NĂM MÀ BẤT MÃN CÙNG TẬN VÀ TRIỀN MIÊN... THÌ SAO KHÔNG VỀ NƯỚC SỐNG VỚI VC? NGUYỄN LƯƠNG KHÔNG VỀ LÀ BỞI VÌ Ở MỸ VẪN NGON LÀNH HƠN ĐÚNG KHÔNG? CHO NÊN SỐNG Ở MỸ PHẢI TỰ MÌNH GẶT HÁI NHỮNG KIẾN THỨC THỰC TẾ ĐỂ HIỂU, ĐỂ ĐỐI PHÓ NHỮNG TỆ HẠI CỦA MỸ MÀ VƯỢT QUA NHỮNG CÁI XẤU ĐÓ - NƯỚC MỸ CÓ NHỮNG CÁI KHÁC CAO ĐẸP HƠN KHIẾN CHO NHỮNG AI TUY BẤT MÃN MỸ CÙNG CỰC VẪN SỐNG NHĂN VỚI MỸ- NHIỀU VC CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC NAY VẪN XẾP HÀNG XIN VISA QUA MỸ??? RIÊNG TRUMP, JOE BIDEN, NGUYỄN PHÚ TRỌNG NGUYỄN LƯƠNG CỨ THA HỒ CHỌN KHỎI CẦN PHẢI PHÔ TRƯƠNG NHỮNG SUY NGHĨ RẤT LÀ ẤU TRĨ VÀ TRẺ CON TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN PHẢI CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC TẾ./-TCL

-----------------

Nước Mỹ và Nạn Kỳ Thị Chủng Tộc

06/02/20

Cuối tháng 5, năm 1975, tôi được đến phi trường Middle Town trên chuyến máy bay đầu tiên chở người Việt tị nạn từ đảo Guam đến tiểu bang Pensylvania Mỹ định cư. Trại Indian Town Gap, nơi đã dùng cho lính Mỹ sử dụng thời thế chiến thứ 2, nay dùng tập trung những người Việt bỏ nước ra đi sau ngày 30 tháng 4, để chờ người bảo lãnh đi định cư một nơi nào đó trên nước Mỹ.


Buổi sáng sớm trời còn mờ sương, từ trên máy bay nhìn ra những cánh đồng, hoa lê, hoa táo nở trắng đẹp như một bức tranh vẽ. Ông bà Thống Đốc tiểu bang và đoàn tùy tùng ra tận phi trường đón những người tị nạn với vòng hoa choàng lên cổ, cùng những lời chúc mừng đến vùng đất tự do cho những người vừa mất quê hương. Nhìn mọi người hân hoan cho tôi có cảm giác như mình đi du lịch thay vì đi tị nạn.

Xe chở chúng tôi ra khỏi phi trường thì một cảnh tượng hoàn toàn khác ập vào mắt. Những biểu ngữ chống đối người tị nạn Việt như: "Yellow dogs go home", "Charity begin at home"...và nhiều biểu ngữ kỳ thị khác nữa của người biểu tình dọc đường giăng lên. Tôi vừa vui hí hửng nghĩ đến những ngày sắp tới sống trên vùng đất hứa, thì buồn muốn rơi nước mắt. Tôi mới biết nước Mỹ không hoàn hảo như tôi tưởng, và thực tế trong 45 năm qua sống trên đất nước này, vấn đề kỳ thị màu da và chủng tộc vẫn còn nặng hơn những gì tôi đã chứng kiến buổi sáng ngày đầu tháng 6 năm đó.

Đi học lại Đai Học tháng 9, tôi biết được nhiều về lịch sử hình thành nước Mỹ, về những gì người da trắng Âu Châu đã làm với người da đỏ từ năm 1737 để chiếm đất nước này và làm chủ. Đất Bắc Mỹ nguyên thủy của người da đỏ sau này được người Âu Châu xâm chiếm và đặt tên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Hiệp Chủng lúc đầu là nói đến những người gốc Âu Châu như Anh, Đức, Ái Nhỉ Lan, Hà Lan, Pháp, Ý...đến đây từ 5 thế kỷ trước. Trong số người da trắng, người gốc Đức nay chiếm đa số (16.0%) sau đó là người Ái Nhĩ Lan, Anh Quốc. Những thời gian đầu người Anh mới qua Bắc Mỹ định cư, họ sống bình yên với người Da Đỏ (gọi là da đỏ không phải vì da họ màu đỏ mà vì họ thường vẽ sơn đỏ lên mặt) nhưng từ thế kỷ 17 đến 19, người da trắng Âu Châu bắt đầu thảm sát người địa phương để dành đất. Lịch sử ghi nhận là có từ 97 đến 114 triệu người da đỏ bản địa đã bị sát hại liên tục trong 4 thế kỷ. Đây là một cuộc diệt chủng lớn nhất, và khủng khiếp nhất của lịch sử nhân loại.

Người Mỹ da đen gốc Tây Phi, bị bắt cóc làm nô lệ đến từ các nước Iglo, Mandé, Congo...đã bị bán cho các ông chủ người da trắng ở Châu Mỹ, sử dụng và bóc lột sức lao động trong các nông trại bắt đầu từ thế kỷ thứ 17. Nội chiến nước Mỹ vì bất đồng chính kiến về cách đối xử người nô lệ da đen nổ ra năm 1861, 4 năm sau đó phe miền Bắc thắng và tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ. Những người Mỹ chủ trương duy trì nô lệ đã thành lập ở miền Nam một tổ chức kỳ thị màu da KKK năm 1865, cũng là năm TT Lincoln bị ám sát. Quyền lợi dân sự cho người da màu chưa bao giờ được chấp nhận đúng như trong luật pháp. Vấn đề kỳ thị (discrimination) qua cách đối xử không công bằng và bất bình đẳng (ineaquality) như bị từ chối một số quyền lợi, vẫn còn đầy dẫy trong xã hội Mỹ ở thế kỷ 21 này.

Kỳ thị xảy ra trên thế giới nói chung và Mỹ nói riêng, không chỉ ở màu da, mà có thể vì giới tính, chủng tộc, tôn giáo, tuổi tác, học lực và nguồn gốc thiểu số. Trên nước Mỹ những người thường bị kỳ thị là người Mỹ gốc Phi Châu, người Da Đỏ, người Á Châu, người Ả Rập, phụ nữ, cao tuổi, đồng tính, và những người tàn tật. Sau nội chiến Nam Bắc Mỹ, người Mỹ gốc Phi Châu được quyền cho bầu cử, nhưng trên thực tế họ vẫn không được trao quyền bình đẳng như người gốc Âu Châu. Sau 100 năm tranh đấu với máu đổ và tù tội, người da màu mới được hoàn toàn giải phóng năm 1963, nước Mỹ mới chính thức bãi bỏ các điều luật mang tính phân biệt chủng tộc chống người da đen được ban hành dưới thời TT Lyndon Johnson, một người miền Nam theo đảng Dân Chủ.

Người Việt chúng ta được cho định cư ở Mỹ và sống bình yên, dung hòa trong hơn 45 năm qua trên đất nước này cũng nhờ người da đen trong suốt 5 thế kỷ đổ máu tranh đấu mới dành được quyền sống bình đẳng. Chúng ta, cũng không quên cảm ơn những người gốc Á như Trung Hoa, người Nhật Bản, người Phi Luật Tân... đã đến đây từ thế kỷ thứ 18, đã phải chịu đựng nạn kỳ thị không khác người da đen trong suốt một thời gian dài. Nhưng họ vẫn kiên trì đấu tranh trong ôn hòa, tham gia vào các tầng lớp lãnh đạo chính trị từ địa phương đến trung ương. Tiếng nói của họ đã có ảnh hưởng mạnh trong chính quyền và giúp cho quyền lợi của chúng ta được tôn trọng, con cháu chúng ta có cơ hội tiến thân.

Quyết định giúp cho người Việt Nam được định cư ở Mỹ trong 45 năm qua không là chủ trương riêng của một đảng phái nào. Thời TT Ford (CH) với đợt tị nạn đầu tiên, sau đó thời TT Carter (DC) với sự cứu giúp tận tình người vượt biển. Đến thời TT Reagan và Bush Cha (CH) giúp cho ODP, HO và con lai. TT Clinton (DC) đã giúp đem hết những người tị nạn còn sót lại tại các trại tị nạn ở vùng ĐNÁ vào Mỹ trước khi chương trình định cư thuyền nhân bị Liên Hiệp Quốc chấm dức. Khi nói nhờ đảng CH mà quý vị HO hay ODP được đến Mỹ sống là không đúng hoàn toàn. Nước Mỹ, dù dưới thời TT nào cũng luôn mở rộng vòng tay đón tiếp và cưu mang những người đi tìm tự do, cho đến thời TT Trump bắt đầu thay đổi chính sách nhân đạo này.

Ông Trump, có gốc là người Đức, một thành phần chiếm đa số người Âu Châu di cư qua sống trên nước Mỹ. Dưới con mắt người Đức mà người chủ trương là Hitler đã viết trong cuốn sách "Cuộc Đấu Tranh Của Tôi - Mein Kampf" như sau: " Kẻ mạnh hơn phải thống trị và không được pha trộn với kẻ yếu, vì như thế là đánh mất sự vĩ đại của chính mình. Chỉ có những kẻ sinh ra yếu kém mới có thể coi điều này là độc ác, nhưng rốt cuộc thì anh ta vẫn chỉ là một kẻ yếu với năng lực hạn chế; vì nếu quy luật này thắng thế thì khó mà hình dung được một sự phát triển cao hơn của các sinh vật sống có tổ chức..."

Ông Trump đã khôn khéo khai thác tinh thần hoài cổ của người Mỹ bảo thủ gốc Âu Châu như là cách để gia tăng quyền lực, lấy lại thế thượng phong cho người da trắng. Ông khơi dậy tính làm chủ nhân ông của những người da trắng như thời mới chèo thuyền qua Bắc Mỹ, giết sạch người da đỏ để chiếm lĩnh đất nước rộng lớn này. Ông gãi đúng chỗ ngứa của đám con cháu những người đã di cư đến vùng đất hứa, tạo dựng một quốc gia hàng đầu thế giới. Ông gợi nhớ cho dân Mỹ là ủng hộ ông là làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Ngụ ý, 8 năm dưới thời Obama, một người con của nô lệ da đen, đã làm cho nước Mỹ lụn bại. Ông có trách nhiệm là làm cho nước Mỹ trở lại vị trí thượng đẳng. Một lần, trong cuộc vận động tranh cử TT năm 2016, ông đã phát biểu: “Sợ hãi, có nghe chưa, ‘đây không phải là đất nước mà cha tôi đã biết.’ Không, không phải. Và khi cha bạn còn sống, thì đây không phải là đất nước của cha ông ấy đã biết. Nhưng chúng ta đã thay đổi quá nhiều, quá nhanh sau khi Đạo Luật Cải Cách Di Trú năm 1964 dẫn tới nhiều sợ hãi của người dân. Chúng ta đã chia rẽ… cùng với những lằn ranh chủng tộc… thật rất là quan trọng để chúng ta lắng nghe nhau.”

Nói như thế để lấy lòng những người mỹ gốc da trắng, trong nhiều lần phát biểu khác, với những ngôn ngữ đầy tính răn đe ông Trump đã làm bùng nổ nạn kỳ thị trên nước Mỹ từ ngày ông lên làm TT, sau một thời gian tương đối lắng đọng. Ông Trump chủ trương chia rẽ, hận thù chủng tộc và tôn vinh những người da trắng ông cho là những anh hùng lập quốc nên những người nhập cư khác thấy bị xúc phạm. Súng đã rất nhiều lần, nhiều nơi, bao nhiêu sinh mạng đã bị hy sinh oan uổng và dân Mỹ lúc nào cũng lo sợ bạo động xảy ra. Và hiện tại bạo động đã xảy ra liên tục trong 1 tuần lễ qua là hậu quả của hình ảnh "con giun xoắn mãi cũng oằn".

Là một lãnh tụ đất nước, hỗn loạn và bạo động đang xảy ra khắp mọi nơi, không nghe ông Trump nói một lời nào để trấn an người dân, ngược lại ông đổ dầu vào lửa, làm cho lòng thù hận và tức giận, đập phá, cướp bóc càng gia tăng. Ông dọa dùng súng mạnh, chó săn để làm chùng bước người đấu tranh. Bạo động và cướp bóc, đập phá không phải là cách tranh đấu hiệu quả, nhưng không có bạo động, tiếng nói của người dân thấp cổ bé miệng không bao giờ được những chính trị gia chú ý tới. Bao nhiêu năm đấu tranh quyết liệt, người da màu, phụ nữ mới có được quyền sử dụng ước muốn của mình qua bầu cử một cách bình đẳng. Nhưng bình quyền thì còn rất xa vời.

Một vị Tổng Thống không có lương tâm, một ông Tổng Trường Tư Pháp ngồi xổm trên pháp luật, một đảng nắm đa số tại thượng viện luôn đồng lõa và chấp nhận những điều tệ hại và sai trái mà người cầm đầu đảng của mình hành xử...thì người dân thất vọng chán nản chỉ còn biết ra tay và lên tiếng theo cách của mình.

45 năm hơn sống trên đất nước mà quyền tự do ngôn luận được đề cao và tôn trọng, tôi đã chứng kiến bao nhiêu cuộc xuống đường đấu tranh, nhưng chưa bao giờ thấy có tình trạng như hiện nay. Vì đất nước phân cực, vì nạn kỳ thị gia tăng hay vì nước Mỹ đang có một vi lãnh đạo bất tài, vô lương tâm, thiếu đạo đức nên nội loạn xảy ra tràn lan, không kiểm soát được.

Nước Mỹ vĩ đại của ông Trump và những người ủng hộ ông đang rơi xuống vực. Từ dịch virus Corona trong 4 tháng qua đã cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng, người thất nghiệp tăng cao từng ngày, kinh tế lụn bại, tình người ly tán, xã hội điên loạn...liêu những lời đe dọa của ông Trump có làm cho dân sợ và nghe theo?

Còn 5 tháng nữa đến ngày bầu cử để quyết định chuyện đi ở của đương kiêm TT nhưng hình như người dân không còn kiên nhẫn chờ đợi đến ngày này. Ông Trump đã bỏ mất cơ hội ngàn vàng để ra tài lãnh đạo khi Covid tấn công nước Mỹ. Nay là chuyên kỳ thị chủng tộc đưa đến cái chết vô lý cho một người Mỹ gốc Phi Châu, ông như hùa theo tên sát nhân và những bọn da trắng thượng tôn, chọn giải pháp đàn áp để giữ trật tự.

Ông Trump đã chứng tỏ cho dân Mỹ và thế giới thấy ông không có một khả năng nào để lãnh đạo nước Mỹ phức tạp dù trong bình an hay hỗn loạn.

Floyd đã chết thay cho chúng ta, cho dân Mỹ và thế giới thấy nước Mỹ còn quá nhiều bất công và luật pháp không đủ nghiêm minh và công bình để che chở người dân vô tội.

Luật pháp vẫn còn thiên vị kẻ có quyền, có súng trong tay. Án mạng của Floyd lần này chưa phải là lần chót và đấu tranh bạo động cũng sẽ xảy ra nữa nếu những kẻ thi hành luật coi thường luật pháp.

Nguyễn Lương

NGƯỜI VIỆT CỘNG CHƠI NỔI-ĐỀ NGHỊ 5 NĂM TÙ VÀ TRỤC XUẤT VỀ VỚI VIỆT CỘNG ....


SỞ DĨ Mt68 ĐỀ NGHỊ NHƯ TRÊN LÀ VÌ: XÉT RA TÊN NẦY CỐ Ý LÁI XE VÀO CON ĐƯỜNG ĐÓ ĐỂ KHIÊU KHÍCH BIỂU TÌNH- XÉT RA TÊN MICHAEL TRẦN LÀ VC MỚI CÓ THÁI ĐỘ KIỂU VC DÃ MAN- NẾU LÀ CON CHÁU TỴ NẠN SẼ KHÔNG BAO GIỜ CÓ HÀNH ĐỘNG NGU XUẨN NHƯ THẾ./-TCL

===============

Cảnh sát bắt giữ người đàn ông gốc Việt bị cáo buộc lái xe qua đám đông đang biểu tình và đụng

01/06/2020


Cảnh sát bắt giữ người đàn ông gốc Việt bị cáo buộc lái xe qua đám đông đang biểu tình và đụng một cô gái

Tin từ BAKERSFIELD, California – Cảnh sát cho biết một người đàn ông 31 tuổi đã bị bắt vì tội cố ý giết người. Người này tên là Michael Trần, bị buộc tội lái xe qua đám đông người biểu tình vì vụ anh George Floyd vào tối thứ Sáu vừa qua tại khu phố của Bakersfield. Sở cảnh sát cho biết người đàn ông trên lái một chiếc Toyota Rav4 chạy qua đám đông và đụng vào một cô gái 15 tuổi, khiến cô bị thương nhẹ.

Theo tin từ KGET, vào sáng sớm thứ Bảy tuần này, cảnh sát Bakersfield cho biết, Michael Trần lái xe đến đám đông trên đại lộ Truxtun Avenue nhiều lần, và nói chuyện với người biểu tình trên đường phố ít nhất hai lần. Các viên chức cho hay, Michael Trần có thể đang chống lại những người biểu tình.



Theo cảnh sát, Michael Trần còn hạ cửa sổ xuống và ra hiệu cho đám đông khi họ đến gần chiếc xe, sau đó Michael Trần tăng tốc độ xe và đụng một cô gái 15 tuổi. Hành động này của Michael Trần được quay lại bởi người xung quanh và các phóng viên. Cảnh sát ước tính có khoảng 200 đến 300 người biểu tình trước trụ sở cảnh sát.

Theo cơ sở dữ kiện tù nhân của Quận Hạt Kern, Michael Trần bị đưa vào Nhà tù Kern County Jail với mức tiền thế chân tại ngoại là 500,000 Mỹ Kim. Dự kiến Michael Trần sẽ bị buộc tội vào ngày 9 tháng Sáu. Bất cứ ai có thông tin về sự việc, vui lòng liên lạc cho cảnh sát Bakersfield theo số 661-327-7111./-

Monday, 1 June 2020


Với kết quả khám nghiệm tử thi của George Floyd, viên cảnh sát đè cổ cũng "chết nốt"

Theo kết quả khám nghiệm tử thi độc lập của gia đình nạn nhân cho thấy, công dân da màu của Mỹ George Floyd chết do ngạt thở, mâu thuẫn với kết luận trước đó.


Kết quả khám nghiệm độc lập cho thấy Floyd chết do ngạt thở. (Ảnh: Reuters)

AFP dẫn lời ông Ben Crump, luật sư riêng của gia đình Floyd, cho biết: "Các chuyên gia y khoa độc lập đã tiến hành khám nghiệm tử thi Floyd vào ngày 31/5 và kết luận ngạt thở do lực tác động từ bên ngoài là nguyên nhân dẫn đến tử vong".

Kết quả khám nghiệm độc lập do hai bác sĩ Michael Baden và Allecia Wilson thực hiện kết luận rằng, vì cổ và lưng của ông Floyd bị ép đưa đến tình trạng máu không được đưa lên não và sức nặng ép trên lưng, kèm với tư thế bị còng tay sau lưng khiến cơ hoành, giúp phổi thở, không làm việc đúng chức năng. Hai bác sĩ nhận định, có bằng chứng rằng ông Floyd đã chết ngay tại hiện trường.

Bác sĩ Aleccia Wilson, Giám đốc Viện khoa học pháp y và khám nghiệm tử thi thuộc Đại học Michigan, cho biết: "Bằng chứng cho thấy ngạt thở dẫn đến tử vong, đây là một vụ giết người".

“Chúng ta có thể thấy chỉ sau chưa đầy 4 phút ông Floyd đã bất động, không còn sự sống”, bác sĩ Baden nói và cho biết thêm rằng ông không thấy có bằng chứng nào về việc các bệnh lý nền gây ra cái chết của Floyd.

Công dân da màu Mỹ George Floyd, 46 tuổi, chết hôm 27/5 sau khi bị một cảnh sát dùng đầu gối ghì cổ trong khoảng 9 phút. Viên cảnh sát này tiếp tục ghì lên cổ ông Floyd trong khi 2 cảnh sát khác đè lên lưng Floyd mặc dù người đàn ông da màu này không có phản ứng sau 3 phút và cố van xin vì "không thở được". Một đoạn video do người đi đường ghi lại vụ việc được công bố sau đó đã thổi bùng sự bất bình của dư luận về hành động bạo lực của viên cảnh sát.

Derek Chauvin, viên cảnh sát đã ghì cổ Floyd, bị bắt giữ hôm 29/5 và bị buộc tội ngộ sát dựa trên kết quả khám nghiệm tử thi ban đầu rằng Floyd tử vong không phải do ngạt thở mà do các bệnh lý nền sẵn gồm bệnh động mạch vành và tim.

Với kết quả khám nghiệm tử thi mới này, gia đình Floyd đề nghị tăng nặng mức án đối với Chauvin và yêu cầu trách nhiệm pháp lý với một số người có liên quan khác.

Kết quả khám nghiệm tử thi độc lập được đưa ra giữa lúc các cuộc biểu tình đòi công lý cho Floyd tiếp tục nổ ra ở các thành phố của Mỹ và thậm chí lan ra một số thành phố khác trên thế giới. Hơn 40 thành phố ở Mỹ đã phải ban bố lệnh giới nghiêm song vẫn không thể ngăn được các cuộc biểu tình bạo loạn.

VietBF@sưu tập