TỴ NẠN HẢI NGỌAI CHẮC CHƯA QUÊN VC NẰM VÙNG HÒANG DUY HÙNG KHI VỀ VỚI VC TRONG NĂM 2013 ĐÃ LÀM BỘ ĐẾN VIẾNG ĐỀN HÙNG PHÚ THỌ DO VC TIẾP ĐÓN và KHI VÀO NHÀ LẠY VC NGUYỄN THANH SƠN THÌ ĐƯỢC TẶNG TƯỢNG MÀU VÀNG VUA HÙNG ĐỂ ĐEM VỀ HOUSTON GÂY TIẾNG VANG -
KHÔNG BIẾT VỤ GIỖ TỔ NẦY
CÓ BÀN TAY LÔNG LÁ VC
THÒ VÀO TRONG SỜ MÓ HAY
KHÔNG ?./- Mt68
VIETNAMESE COMMUNITY OF HOUSTON & VICINITIES
Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận
7100 Clarewood Dr, Houston, TX.77036
THƯ MỜI THAM DỰ LỄ GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
Kính thưa Hôi Đồng Liên Tôn, qúy hôi đoàn, đoàn thể, truyền thông và qúy đồng hương.
Từ thời lập quốc, người dân nước Việt luôn tưởng nhớ đến công lao Vua Hùng đã có công dựng nước, để thể hiện lòng biết ơn đó bằng lễ Giỗ hằng năm nơi Thái Miếu, và ngày nay mỗi năm vào ngày 10 tháng Ba âm lịch hàng vạn người đến đến Hùng ở Phú Thọ dâng lễ tạ ơn. Tại hải ngoại, sau 39 năm người dân Việt vẫn không quên ơn nghĩa này. Năm nay, Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận lại một lần nữa được vinh dự đảm nhận trách vụ tổ chức lễ giỗ quốc tổ Hùng Vương. Buổi lễ sẽ bắt đầu vào lúc
11 giờ trưa ngày Chủ Nhật 6-4-2014.
Tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng,
7100 Clarewood Dr. - Houston, TX 77036.
Ban tổ chức trân trọng kính mời tòan thể quý đồng hương bỏ chút ít thời gian đến Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng để chúng ta cùng nhau thắp một nén hương dâng lên quốc tổ Hùng Vương, cầu nguyện cho đất nước thoát khỏi ách độc tài đảng trị của CSVN và nạn xâm lăng của giặc Tàu, cho dân tộc Việt Nam được sớm có tự do và hạnh phúc.
Lễ giỗ tổ Hùng Vương năm nay phần Tế Lễ do ông Cù Minh Khánh đảm nhận, chương trình văn nghệ do ca sĩ Mai Hoa phụ trách với nhiều tiết mục đậm nét quê hương dân tộc. Gồm những tiêng hát đang được yêu mến như: Kim Loan Nhật Hạnh, Kim Phượng, Nguyễn Quỳnh Vinh Quang, Anh Tuấn, Việt Hoàng, Anh Việt, Phương Nga nhóm Quan Họ Bắc Ninh, nhóm Âu Cơ, nhóm múa Cộng Đồng và ban họp ca Hương Lam Nhạc sĩ Nguyễn Kim Bằng. Âm thanh Anh Tài.
Dù ai đi ngược về xuôi.
Nhớ ngày giổ Tổ mồng mười tháng ba.
Ngoai ra đồng hương cũng có thể đóng góp tài chánh và thực phẩm, giúp ban tổ chức có phương tiện để trang hòang mâm tế được thêm phần hòan hảo. Mọi sự yễm trợ cho chương trình GIỔ TỔ HÙNG VƯƠNG , xin quí đồng hương vui lòng liên lạc các thành viên trong ban tổ chức như sau:
Ông Văn Đình (281-610-5297),
Ông Trịnh Du (713-253-2110),
Cô Vân Yêu (832-276-9446),
Ca sĩ Mai Hoa (281-610 -9175),
Ông Cù Minh khánh (281-975-9782).
Ban tổ chức xin chân thành cám ơn quý đồng hương đã góp giỗ:
Bà Lương Y Lê Thị Thu Cúc, Nha sĩ Chu văn Cương, Bác sĩ Trần Văn Thuần, Tiệm vàng Thành Lợi, Tiện Bánh mì Nguyễn Ngọ, Tiệm uốn tóc Expo Salon Hồng Không 4, Ông bà Văn Đình Mai Hoa, Ông bà Đỗ Hữu Huân, Bà Thu Trần, Ông Việt Nguyễn, Đông Y sĩ Nhất Nguyên, Tiệm vàng Ngọc Trâm, tiệm vàng Ngọc Minh, Tiệm vàng Kim Hòan, Tiệm Gìay GIA, Tiệm vàng Phước Tài… và nhiều vị ẩn danh, danh sách này sẽ được đọc tiếp kỳ sau.
Vua Hùng Dựng Nước Đã Lâu
Giờ Đây Con Cháu Hãy Mau Quay Về
Từ Thành Thị Đến Thôn Quê
Tự Do Dân Chủ Mọi Bề Yên Vui
Thay mặt ban tổ chức
Luật sư Phan Quốc Cường
Chủ tịch CĐNVQG Houston va Vùng phụ cận
Trân Trọng thông báo & Kính mời
Ban tổ chức cám ơn quý đồng hương đã góp giỗ:
ĐÀI BYN-TV 57.3, BÁC SĨ TRẦN VĂN TÍNH, LƯƠNG Y LÊ THỊ THU CÚC, NHA SĨ CHU VĂN CƯƠNG, BÁC SĨ TRẦN VĂN THUẦN, HỘI PHỤ NỮ ÂU CƠ, ÔNG BÀ ĐỖ HỮU HUÂN, ÔNG BÀ MAI HOA VÂN ĐÌNH, BÀ THU TRẦN, ÔNG BÀ NGUYỄN THỰC, TIỆM BÁNH MÌ NGUYỄN NGỌ, TIỆM CẮT TÓC EXPO’S SALON, TIỆM VÀNG THÀNH LỢI, TIỆM VÀNG KIM HOÀN, TIỆM VÀNG NGỌC MINH, TIỆM VÀNG NGỌC TRÂM, TIỆM VÀNG PHƯỚC TÀI, TIỆM GIÀY , BÀ CHẤT NGUYỄN, VÀ NHIỀU VỊ ẨN DANH ….
Mt68 History
Wednesday, 2 April 2014
NHỮNG AI MUỐN GIỮ QUỐC TỊCH "NGƯỜI CHÓ" VIỆT CỘNG
PHẢI ÙN ÙN LÀM ĐƠN KÈM ĐÔ LA TRƯỚC NGÀY 1-7-2014 = NẾU KHÔNG, SẼ KHÔNG CÒN QUỐC TỊCH NGƯỜI CHÓ VIỆT CỘNG NỮA./-
VC CHÚNG BÂY NHỚ NHÉ SAU 1-7-2014 THÌ CHÚNG BÂY CHỈ ĐẠI DIỆN CHO 6000 MỌI RỢ CÓ LÀM ĐƠN XIN THÔI NHÉ ./- Mt68
Phải chăng 99,99% người Việt hải ngoại không công nhận nước CHXH CHÓ NGƯỜI (NGƯỜI CHÓ) VN?
Trần An Lộc (Danlambao) - Một bản tin vừa được Thanh niên online đăng ngày 30/3/2014 với tựa đề “Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch”, đã cho nhiều người Việt hải ngoại một trận cười no nê hơn cả những phim hài ăn khách nhất. Bản tin viết như sau (trích):
“TP - Hàng triệu kiều bào có nguy cơ mất quốc tịch Việt Nam nếu đến ngày 1/7/2014 không đăng ký giữ quốc tịch theo quy định ở Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và Nghị định hướng dẫn số 78/2009/NĐ-CP. Theo thống kê của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đến ngày 31/12/2013, mới chỉ có hơn 6.000 người làm thủ tục đăng ký, trong khi đang có 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài”.
Nghiêm túc hơn, tôi, Trần An Lộc lại thấy vấn đề không phải chỉ là một chuyện để cười, mà chính nó lại là một bằng chứng hùng hồn về tinh thần chống cộng và thái độ không công nhận nhà nước CSVN của hầu hết người Việt trong và ngoài nước.
Thật thế, bản tin viết: “Mới chỉ có hơn 6.000 người làm thủ tục đăng ký, trong khi đang có 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài”, nghĩa là mới chỉ có 0.13% tổng số người Việt đang sinh sống tại nước ngoài làm đơn xin làm công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam. Nói cách khác là 99.87% người Việt ở nước ngài không muốn dính dáng gì đến cái gọi là CHXHCNVN này.
Đây quả thực là một cuộc bỏ phiếu, một cuộc trưng cầu dân ý, một thái độ rõ ràng minh bạch nhất của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại trên khắp thế giới về mức tín nhiệm của họ với đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN do đảng này độc tôn lãnh đạo.
Bài báo sau đó dù có con cà con kê loanh quanh đổ lỗi cho hết lý do này đến lý do kia, nhưng càng nói thì lại càng “lạy ông tôi ở bụi này” là họ đã hoàn toàn thất bại trong việc thi hành nghị quyết 36-NQ/TW và mọi tuyên truyền xảo trá, bịp bợp của đảng cộng sản cho tính chính danh của chế độ và về mức ủng hộ của người Việt hải ngoại nói riêng và của toàn dân Việt Nam nói chung đối với đảng CSVN.
Cũng cần nói thêm về con số 6000 người đã xin “đăng ký giữ quốc tịch”. Họ là những ai? Dù là con số nhỏ nhoi trong con số khổng lồ 4,5 triệu, nhưng chính con số này cũng còn nhiều nghi vấn - 6000 người này xin “giữ quốc tịch” có thật sự là họ muốn làm công dân của nước CHXHCNVN chịu sự lãnh đạo toàn diện của đảng CSVN hay không? Câu trả lời dứt khoát là không, bởi lẽ phần lớn những người này phải mất công làm cái chuyện ruồi bu này, chỉ vì họ vì công việc nên thường xuyên phải đi lại giữa nước tạm dung và VN nên họ buộc lòng phải xin cái mảnh giấy lộn này, để được dễ dãi, an toàn và tiết kiệm được gần trăm đô tiền lệ phí mỗi lần xin visa nhập Việt Nam. Vì vậy con số người thật sự muốn “làm công dân nước CHXHCNVN” mà xin “giữ quốc tịch” thì lơ thơ tơ liễu muông mành, vài ba mạng đếm trên đầu ngón tay là điều khó có thể chỗi cãi. Như vậy thì cái tỷ lệ 99.87% kia cũng chỉ gần đúng, con số thật sự của nó chí ít cũng phải là 99.99% hi hi hi...
Nói tới “chọn” hay “bỏ phiếu” hay “trưng cầu dân ý” thì dân tộc Việt Nam của chúng ta (khốn thay) chưa hề có diễm phúc này.
Trong lịch sử 4000 năm dựng nước, chỉ có 2 lần “một bộ phận không nhỏ” người dân được quyền “bỏ phiếu”, nhưng lại là “bỏ phiếu bằng chân” theo cách nói của truyền thông quốc tế. Nói nôm na thì những người Việt khốn khổ ấy đã buộc phải chạy. Vắt chân lên đầu mà chạy. Gạt nước mắt từ bỏ mồ mả ông cha, thân bằng quyến thuộc, ruộng vườn đất đai mà chạy. Chạy thục mạng. Chạy bán sống bán chết. Chạy mà không dám ngoái cổ lại.
Lần “bỏ phiếu bằng chân” thứ nhất diễn ra vào năm 1954, khi đảng CSVN bắt tay với đế quốc Pháp và quan thầy Nga Tầu cắt đất nước Việt Nam ra làm hai theo Hiệp định Geneve, lấy sông Hiền Lương vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Xin mở dấu ngoặc ở đây là trong hội nghi Geneve, đại diện của những người không cộng sản là Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, ngoại trưởng Bác sĩ Trần Văn Đỗ đã khóc mà không ký vào văn bản chia đôi đất nước này.
Như kết qủa của Hiệp định, Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên là nước VNDCCH do đảng Cộng sản lãnh đạo, và miền Nam tứ vĩ tuyến 17 đổ xuống là Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu. Dân 2 miền được quyền chọn miền Nam hay miền Bắc. Và dù đảng CSVN dùng trăm mưu ngàn kế, kể cả bạo lực, mã tấu và súng... người dân ở những nơi ít bị Việt cộng ngăn cản đã bế bồng nhau mà chạy. Con đường ngắn và dễ nhất là chạy ra biển: nơi có tầu há mồm của hải quân Pháp và đồng minh chờ đón chở họ vào miền Nam. Những vùng không có biển thì đành chịu, cũng có một số đi đường bộ (qua Lào, qua Miên, vượt Trường Sơn) nhưng số này không đáng kể. Điều này giải thích tại sao những người di cư năm 1954 toàn dân các vùng ven biển: Hải tiền, Hải hậu, Nam Định, hoặc Bùi chu, Phát Diệm... có hơn một triệu người đã “bỏ phiếu” bằng đôi chân và tìm được tự do nơi miền Nam trù phú yên bình mà cộng sản tuyên truyền là “không có lá trầu mà ăn”! Lương tâm nhân loại rúng động và từ ngữ “Bỏ phiếu bằng chân” ra đời từ đó.
Lần “bỏ phiếu bằng chân” thứ hai xẩy ra sau khi Bắc quân cộng sản “giải phóng” miền Nam. “Giải phóng” kiểu gì mà sau khi 200,000 quân cán chính VNCH bị trả thù mút chỉ trong các trại khổ sai lao động gọi là “cải tạo” thì đảng đã lột sạch, vét sạch tất cả của cải miền Nam đem về bắc bằng các lần đổi tiền và chiến dịch đánh tư bản. Người dân miền Nam bây giờ mới té ngửa là họ bị “phỏng dái” (nói theo văn chương Nguyễn Bá Chổi) chứ không hề được “giải phóng” và thế là họ lại tìm cách chạy. Lần chạy này bi thảm, khó khăn hơn hơn vì Việt cộng đã nắm chính quyền ở cả hai miền và vì quốc tế đã đến lúc kiệt quệ không còn quan tâm đến một nơi có cái tên gọi là Việt Nam nữa. Con đường “dễ nhất” vẫn là chạy ra biển. Bất chấp đại dương mênh mông, bất chấp cướp biển hãm hiếp, bất chấp làm mồi cho cá, người ta cứ chạy. Già chạy. Trẻ chạy. Con nít cũng chạy. Nông dân chạy. Người thành thị chạy. Trí thức chạy. Bác đạp xích lô chạy. Chị bán hàng rong chạy. Cái cột điện nếu có chân thì cũng chạy... Người dân miền Nam bây giờ mới biết thế nào là cộng sản, nên vắt đầu lên cổ mà chạy... Nước Biển đông bỗng chốc đổi thành mầu máu... hai triệu người chạy ra biển bằng những chiếc tầu ọp ẹp chỉ dùng trong sông. Cướp biển hãm hiếp hàng trăm ngàn thiếu nữ rồi quăng xác xuống biển. Kệ. Chạy. Không chạy thì chết mà chạy thì có cơ thoát và nếu có chết cũng chết nhanh chứ không chết khắc khoải, chết từ từ, chết tủi nhục dưới bàn tay cộng sản... Vì thế người ta bất chấp. Hơn hai triệu người (sân Mỹ Đình chỉ chứa được 70,000 người) loi ngoi ngoài biển mà không có một cái tầu há mồm nào hứa hẹn ngoài biển cả mênh mông để cứu vớt... thế mà vẫn lao ra biển. Mất những số tiền kếch xù để được ra biển... Thật kinh dị và phi thường. Kết quả là chỉ có hơn triệu người thoát, còn một nửa thì mất xác trong lòng biển Đông. Điểu này chứng minh Còn nỗi sợ nào hơn nỗi sợ cộng sản. Cuộc “bỏ phiếu bằng chân” bi thảm này một lần nữa lại rúng động lương tâm thế giới. Và từ ngữ “Boat people” ra đời. Cả thế giới đã mở vòng tay nhân ái cứu giúp những con người can trường liều chết vì hai tiếng Tự Do. Và Cộng đồng Người Việt tỵ Nạn cộng sản ra đời trên khắp năm châu bốn biển từ đấy.
Để kết luận bài viết này tôi có vài lời gửi ông Hà Sĩ Phu - một người mà tôi ngưỡng mộ - Về vấn đề “chọn lựa” này. Số là tôi có đọc được bài viết “Dư Âm Của Những đám Tang“ của ông Tưởng Năng Tiến trong đó trích lại đoạn viết của ông Hà Sĩ Phu, như sau:
Trích: “- Hà Sĩ Phu: Nếu đoàn tàu Việt Nam thuở ấy rẽ vào đường rầy Phan Chu Trinh, nhằm hướng xã hội dân chủ như Na Uy, Thuỵ Điển bây giờ thì sao nhỉ? Nếu nương vào Pháp để đi lên thành công, không thành cộng sản, thì giản ước được bao nhiêu thứ:
- không có cuộc đánh Pháp 9 năm
- không có cuộc “Nam Bắc phân tranh lần thứ 2” dẫn đến cuộc đánh Mỹ
- không phải tham chiến ở Căm-pu-chia
- không tranh giành gì để phải đánh Tàu năm 1979
- không có lý do gì phải tiến hành cuộc “đổi mới hay là chết”
- không có lý do gì để xuất hiện làn sóng đòi dân chủ-nhân quyền, dẫn đến hài kịch bịt miệng bị cáo trước tòa cho thiên hạ xem, vân vân…”
“Nghĩa là tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, bao nhiêu gương anh hùng, bao nhiêu nạn nhân, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu hận thù… và tăng thêm được bao nhiêu là hạnh phúc…”
“Nhưng bất hạnh thay, lịch sử đã không chọn Phan Chu Trinh. Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh.”
Thưa ông Hà Sĩ phu, ông bảo rằng: “Không, đừng nói lịch sử, phải nói: dân tộc này đã không chọn Phan Chu Trinh.” tôi e có điều không ổn. Vì theo tôi, đối chiếu với những gì tôi viết ở trên thì dân tộc Việt Nam chúng ta, thật sự đã có lần nào được “bỏ phiếu” để lựa chọn đâu? Nếu có thì chỉ có hai lần “một bộ phận nhỏ” người Việt bất hạnh đã tự mình “bỏ phiếu bằng chân” (như đã viết ở phần trên) chứ cả dân tộc chưa một lần được diễm phúc này, ông ạ.
Tất cả những gì mà đảng CSVN có ngày hôm nay chỉ là do người dân hiền lành chất phác mà đa số chưa được “khai dân trí - chấn dân khí” bị lừa bịp và do bị khủng bố, bị ép buộc, mà ra thôi.
Tôi mong rằng cuộc bỏ phiếu thứ ba của cộng đồng người Việt Hải ngoại này - một nơi nằm ngoài sự kiểm tỏa của đảng CSVN - nơi có tự do lựa chọn giữ hay không giữ, xin hay không xin quốc tịch của nước CHXHCNVN dưới sự lãnh đạo toàn trị của đảng CSVN (mà số không xin, không giữ lên đến gần 100%, theo tài liệu của cộng sản)- sẽ làm ông công tâm minh định lại điều mình đã viết, vì nó chẳng những không đúng sự thật mà còn nhục mạ biết bao vong linh người đã nằm xuống vì muốn chọn sống trong tự do thay vì chọn sống trong thiên đường cộng sản. Tôi nghĩ rằng ông Hà Sĩ Phu đã nợ dân tộc Việt Nam một lời xin lỗi về sự khẳng định vội vã này.
Tuesday, 1 April 2014
NGUYỄN THANH SƠN QUA MỸ, CANADA ĐỂ LÀM CẦU TIÊU KIỂU HỒ CHÍ MINH./- Mt68
Phỏng vấn TT Ngoại Giao VN Nguyễn Thanh Sơn về chuyến đi Canada và Mỹ
| ||||
| | ||||
NHÀ MỘT NHÀ THƠ THÂN HỮU CỦA TTR BỊ ĐỘNG ĐẤT CHỈ BỂ MẤY CHAI RƯỢU KHÔNG ... THÔI - CŨNG MAY LÀ KHÔNG BỂ BẦU... THƠ CHO NÊN SẼ CÒN THƠ THẨN DÀI DÀI .../- Mt68
California quake
Nhà thi sĩ Lan Đàm (Brea) sau trận chấn động: Quầy rượu đổ vỡ nhưng ..."vẫn còn mấy chai đỏ quý để "nửa ly" cùng Bạn Hiền..."
Tâm chấn của trận đầu tiên cách Brea 1 dặm, cường độ 5.1. Hai dư chấn cách La Habra khoảng 3 dặm.
Thêm một trận động đất cường độ 4.1 với tâm chấn phía Ðông Nam Rowland Heights, lan khắp địa bàn quận Cam lúc 2:32 phút chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Ba.
Các khoa học gia cảnh báo đây mới chỉ là mấy món ăn chơi, chuyện chính yếu xẩy ra sẽ tệ hại hơn. Cầu mong bạn hữu và đồng bào ta tại Cali được an lành.
Các khoa học gia cảnh báo đây mới chỉ là mấy món ăn chơi, chuyện chính yếu xẩy ra sẽ tệ hại hơn. Cầu mong bạn hữu và đồng bào ta tại Cali được an lành.
Tâm chấn của trận động đất tối 28 Tháng Ba. (Hình: U.S. Geological Survey) |
VÔ LIÊM SỈ NHƯ VŨ ÁNH, NGUYỄN CON KY ... VẪN MÃI CÒN ĐAU XÓT LÒNG NGƯỜI HẬU THẾ./- Mt68
LIÊM SỈ VÀ NGƯỜI CẦM BÚT
- LÃO MÓC-
Vào hồi đầu thế kỷ, lúc phong trào Đông du rộ lên, có một ông Cử nhân Hán học là Nguyễn Bá Trác theo cụ Sào Nam Phan Bội Châu dấn thân vào đường cách mạng. Ông Trác trên bước đường cách mạng có phiêu lưu bên Tàu một thời gian. Lúc đó có lẽ cảm khái trước cảnh cô đơn nơi đất khách, ông Nguyễn Bá Trác làm ra bài “Hồ Trường”, đọc lên nghe rất là bi tráng:
Hồ Trường
Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường hà tất tiêu dao
Bốn bể, luân lạc tha hương
Học chẳng thành, thân chẳng đạt
Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi:
Trời đất mang mang, ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết, sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương
Rót về Nam phương, trời Nam nghìn dặm thẳm, có người quá chén như điên, như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!”
Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường hà tất tiêu dao
Bốn bể, luân lạc tha hương
Học chẳng thành, thân chẳng đạt
Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi:
Trời đất mang mang, ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết, sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương
Rót về Nam phương, trời Nam nghìn dặm thẳm, có người quá chén như điên, như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!”
Sau ít năm lưu lạc, có lẻ vì nản lòng hay vì bả lợi danh sao đó mà ông về đầu thú. Khi về đầu thú với chính quyền bảo hộ Pháp và Nam triều, thì coi như ông đã phản lại thầy mình là cụ Phan Sào Nam. Chẳng những thế, ông còn tố giác cả những người cùng hoạt động với mình. Trong số người bị tố giác có một người gốc ở Cần Thơ, tên Đặng Văn Phương. Ông Phương có xuất dương sang Nhật du học; lấy tên Đặng Đình Thanh vào học ở trường Đồng Văn.
Bị ông Trác tố giác, ông Phương bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo, mang số tù 193. Còn ông Cử nhân Nguyễn Bá Trác thì được bổ đi làm quan. Ông Cử nhân có một thời đi làm cách mạng này chẳng bao lâu lên chức Tổng Đốc, về trọng nhậm tỉnh Thanh Hóa. Ngày nhậm chức, ông có làm một tiệc rượu, mời toàn những bạn bè hoặc những người quen biết cũ xưa nay.
Tiệc rượu họp mặt của những bạn bè của ông tân Tổng Đốc, xuất thân Cử nhân thì dĩ nhiên là chuyện thơ phú không thể thiếu. Có một ông vốn xuất thân là một chân Phó bảng, bạn cũ của quan Tổng Đốc đã dùng bốn câu trong truyện Kiều ghép lại thành một bài thơ để tặng. Cách này gọi là lẩy Kiều. Ông Phó bảng lẩy Kiều như sau:
Kể từ lạc bước bước ra
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Giang hồ quen thú vẫy vùng
Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Giang hồ quen thú vẫy vùng
Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?
Dĩ nhiên ông tân Tổng Đốc không thể không hiểu ngụ ý xỏ xiên của ông bạn cũ: “vừa bụng ông chưa?” cho nên ông xạm mặt ngay sau khi nghe ông Phó bảng bạn cũ lẩy Kiều!
Trong thời gian làm quan, ông Nguyễn Bá Trác có chu cấp tiền bạc cho gia đình, vợ con của các đồng chí cũ. Nhưng ông cũng không tránh được miệng đời dị nghị: bán bạn, phản thầy, đầu giặc. Bài “Hồ trường” ai cũng phải khen là hay. Thử hỏi đã là người nặng lòng với đất nước, đang lưu lạc quê người; một đêm kia rượu đã ngà ngà say, ngồi ngâm lên bài này thì dẫu ai cũng phải sinh lòng cảm khái. Nhưng tiếng xấu ông Nguyễn Bá Trác khó lòng tránh khỏi. Ngâm nga bài “Hồ trường” thì người ta vẫn ngâm nga, mà trách ông Nguyễn Bá Trác thì người ta vẫn trách. Trách ông cái tội phản bạn, phản thầy.
*
Tháng Chạp năm Giáp Thân 1284, 50 vạn quân Mông Cổ do Thoát Hoan làm Tổng chỉ huy chuẩn bị tiến sang xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Cũng trong tháng Chạp năm đó, Thượng Hoàng Thánh tông cho triệu các bô lão tới điện Diên Hồng để hỏi nên chiến hay nên hòa. Câu trả lời: Quyết chiến!
Ba ngày trước Tết Nguyên Đán Ất Dậu 1285, đạo tiền quân của Thoát Hoan vượt qua cửa ải Nội Bàng. Tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng âm lịch) Thăng Long thất thủ.
Trong khi đó ở mặt trận phía Nam, đạo quân của Toa Đô, sau khi vượt biển đổ bộ lên Bắc Bố Chánh đánh ngược ra Nghệ An. Ngày mồng một tháng Hai năm Ất Dậu, trấn thủ Nghệ An, một quý tộc của nhà Trần là Chương Kiến hầu Trần Kiện và một gia nhân là Lê Tắc đem quân hàng giặc.
Giữa tháng Hai, để tạm thời hòa hoãn trong khi tình thế quá đen tối, Thượng Hoàng Thánh tông sai Trung Hiếu hầu Trương Dương đưa quốc muội là An Cư công chúa sang dinh Thoát Hoan để xin cầu hòa. Nhưng không được. Giữa tháng Ba, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc cùng các gia thần là Phạm Cự Địa, Lê Diễm và Trịnh Long đem gia quyến ra hàng giặc Nguyên.
Thượng tuần tháng Năm năm đó, quân ta chiếm lại Thăng Long, Thượng tướng Trần Quang Khải kéo quân vào thành mở tiệc khao thưởng quân sĩ, cao hứng ngâm bài thơ nổi tiếng:
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.
Dịch Nôm:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu.
Cầm Hồ Hàm tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.
Dịch Nôm:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu.
để ghi hai chiến tích Chương Dương, Hàm Tử mới đạt được vài ngày trước đó trên đường trở lại thu phục Thăng Long.
Ngày 17-5, Phó tướng Toa Đô bị chém đầu tại trận. Thoát Hoan được tùy tướng Lý Quán dấu vào một chiếc ống đồng kéo chạy trối chết về châu Tư Minh (Quảng Tây).
Các tùy tướng Lý Hằng, Lý Quán liều chết đoạn hậu cho chủ tướng thoát thân đều bỏ mạng.
Chương Kiến hầu Trần Kiện được quân Nguyên đưa về Yên Kinh. Hưng Đạo Vương cho người đi đường tắt đuổi theo đến Lạng Sơn thì giết được Trần Kiện. Gia thần là Lê Tắc cướp được thây chủ, đem chôn ở gò Ôn Khâu rồi trốn sang Tàu.
Còn phần Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc theo đoàn quân chạy thoát về Tàu, được Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cho ra ở Ngạc Châu.
Tháng Mười năm Đinh Hợi (1287) mượn tiếng đưa An Nam Quốc vương Trần Ích Tắc về nước, Thoát Hoan kéo binh sang Đại Việt lần thứ 3. Lê Tắc cũng có mặt trong đoàn quân xâm lược với 5.000 quân bản bộ. Chuyến xâm lược lần thứ 3 của quân Mông Cổ kết thúc bằng trận thủy chiến trên Bạch Đằng giang vào tháng 3 năm Mậu Tí (1288). Trần Ích Tắc, Lê Tắc suýt chết nhiều lần trên đường đào tẩu. Khi về đến Châu Chiên trên đất Tàu, Trần Ích Tắc chỉ còn 60 thuộc hạ.
Trần Ích Tắc là con thứ của vua Trần Thái tông, tức em của Thượng Hoàng Thánh tông và là chú của vua Nhân tông. Trong lúc anh và cháu của mình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, thì Trần Ích Tắc đầu hàng giặc.
Tháng Tư năm Kỷ Sửu (1289), triều đình mở cuộc định công luận tội, ai có công đều được thăng thưởng. Các tôn thất hàng giặc như Trần Kiện, Trần Lộng dù đã chết rồi, con cháu đều phải đổi ra họ Mai. Còn Trần Ích Tắc thì vì tình thân cận nên Thượng Hoàng Thánh tông không nỡ tước họ, nhưng từ đó không được gọi tên mà phải gọi “ả Trần”, tức ý nói nhút nhát như đàn bà!
Trần Ích Tắc về sau chết ở bên Tàu. Còn Lê Tắc lúc sống ở Tàu có viết bộ sử An Nam Chí Lược. Bộ sử này hiện thời còn lưu giữ ở Trung Quốc và Nhật Bản. Các nhà viết sử của Trung Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam mình sau này, đôi khi cũng trích từ quyển sử này của Lê Tắc.
Chuyện đáng tiếc là cả Trần Ích Tắc lẫn Lê Tắc đều là hai danh sĩ của nước ta thời ấy. Sợ thế giặc, hám lợi riêng, làm bậy nhất thời để gặt lấy tiếng xấu muôn đời!
Nguyễn Bá Trác cũng là một tay chữ nghĩa không phải tầm thường. Cứ xem bài “Hồ trường” thời rõ. Lúc thiếu thời cũng đã từng theo đuổi chuyện cách mạng đuổi Tây. Nhưng chí lớn nửa đường mòn mỏi, lại thấy cái bả lợi danh trước mắt, một phút quay lưng thành kẻ phản bạn, lừa thầy. Có lẽ ông Trác sợ: “Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương” nên quay về đầu thú với chính quyền Bảo hộ. Nhưng cũng chính ông viết: “Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ…” Có những người lời nói và việc làm không đi đôi với nhau. Ông Tôn Thọ Tường lúc nào cũng lo bào chữa cho thái độ hợp tác với Pháp của mình. Ông làm rất nhiều thơ để giải bày tâm sự. Trong đó có bài “Tôn phu nhân quy Thục”. Nhưng ông vẫn bị người đời, đại diện bởi ông Cử nhânPhan Văn Trị, vạch mặt!
Hồi trào Tây còn thịnh cũng vậy, có nhiều ông chữ nghĩa đầy mình, cũng là loại danh sĩ một thời, nói năng thì cũng ra vẻ quốc gia dân tộc, nhưng trong bụng lại rất “tâm tồn mẫu quốc”, lại còn chụp hình mấy thằng Tây Toàn quyền, Thống sứ mà treo đầy nhà.
Thời nay, cũng có nhiều tay “danh sĩ”, tiếng tăm tên tuổi kêu như pháo, trước giờ nói năng viết lách hô hào kêu gọi “xây dựng cộng đồng, giải phóng quê hương” chẳng thua ai. Tới gần đây, khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và ký hiệp ước giao thương với Việt Nam mới lòi ra mặt là những tay đón gió trở cờ. Phó Thủ tướng VC đến San Francisco kêu gọi giao thương thì có “bộ tam sênh” tự xưng đại diện cộng đồng áo cồn, cà vạt lúp xúp chạy vào khách sạn “dâng” thỉnh nguyện thư về kinh tế.
Có những nhà văn thậm thụt về Việt Nam xin xỏ được in sách phát hành trong nước để giao lưu văn hóa. Có ông “nhà văn con lươn” đã từng đoạt Giải Thưởng Văn Chương của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà mang sách “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” để xin xỏ được in sách ở trong nước, ra hải ngoại bợ đỡ bọn Việt gian, Việt Cộng chê bai những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản là “những cái đầu đông đá”.
Về cuối đời, in vài cuốn sách để gỡ gạc, bị dư luận vạch cái mặt mo thì xua con cái, tay chân bộ hạ ra để chống đỡ chẳng ra làm sao cả.
“Đã vô liêm sỉ rõ ràng
Đấy là sự thật xóm làng đều trông
Thuở nào con sáo sang sông
Để mong được hót trong lồng sơn son
“Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”
Buôn lầm, cụt vốn, dính nhơ
Tưởng rằng thiên hạ ngu khờ chóng quên?
Giờ đây chiêng trống vang rền
Khoe khoang liêm sỉ bước lên diễn đàn
Thuở nào theo đóm ăn tàn
Thất cơ lỡ vận bẽ bàng trở ra
Cuối đời, phấn trét son thoa
Rằng tôi cốt cách vốn là thanh tao
Rõ ràng bịp bợm tào lao
Sau lưng tà lọt ồn ào hung hăng
Lương tâm cầm bút thối hoăng
Lại còn cà khịa nhố nhăng đủ trò
Biết rồi, khổ lắm, mặt mo
Thôi đừng hống hách hố to nữa rồi!
Năm xưa giọng hót cu mồi
Vẫn còn vang vọng thu hồi được đâu?
Đấy là sự thật xóm làng đều trông
Thuở nào con sáo sang sông
Để mong được hót trong lồng sơn son
“Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”
Buôn lầm, cụt vốn, dính nhơ
Tưởng rằng thiên hạ ngu khờ chóng quên?
Giờ đây chiêng trống vang rền
Khoe khoang liêm sỉ bước lên diễn đàn
Thuở nào theo đóm ăn tàn
Thất cơ lỡ vận bẽ bàng trở ra
Cuối đời, phấn trét son thoa
Rằng tôi cốt cách vốn là thanh tao
Rõ ràng bịp bợm tào lao
Sau lưng tà lọt ồn ào hung hăng
Lương tâm cầm bút thối hoăng
Lại còn cà khịa nhố nhăng đủ trò
Biết rồi, khổ lắm, mặt mo
Thôi đừng hống hách hố to nữa rồi!
Năm xưa giọng hót cu mồi
Vẫn còn vang vọng thu hồi được đâu?
Xin mượn bài thơ “Liêm sỉ và người cầm bút” của nhà thơ Nguyễn Đạt để kết thúc bài viết này.
LÃO MÓC
tieng-dan-weekly.blogspot.com
tieng-dan-weekly.blogspot.com
MỘT NGƯỜI MẸ VNCH GƯƠNG MẪU./- Mt68
Đôi lời trong đám tang mẹ tôiKiều Tiến Dũng
Nhà thương là một cảnh đời thu nhỏ nhưng phản ánh đầy đủ những bước ngoặc trong cuộc đời của con người. Tôi đã phải trực diện cái sân khấu sanh bệnh lão tử của đời người này trong hơn 3 tháng ra vào bệnh viện thăm mẹ tôi khi bà lâm trọng bệnh.
Mẹ tôi bị xuất huyết não vào 3 tháng trước đây, chỉ vài ngày trước dịp Lễ Giáng Sinh năm 2013, và đã ra đi vĩnh viễn vào thứ Hai 17/3/2014, sau khi hưởng được một sinh nhật sau cùng trong nhà thương Princess Alexandra Hospital tại Brisbane.
Mẹ tôi sinh năm Giáp Tuất tại Hải Phòng. Khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954 thì mẹ tôi theo gia đình vào Nam. Là một cô gái tuổi vừa mới lớn mẹ tôi đã tình nguyện nhập ngũ vào binh chủng Nhảy Dù. Đây là một quyết định khác thường khi phái nữ không bắt buộc phải đi lính trong thời loạn ly ấy. Đây cũng là một quyết định ngược lại ước muốn của gia đình và nhất là trái lại ý kiến của hai ông anh đã là sĩ quan trong quân đội thời bấy giờ.
Điều này phần nào đã nói lên cá tính cương quyết và tinh thần bất khuất của một người phụ nữ Việt. Trong quân ngũ bà đã lấy được bằng nhảy dù với nhiều sô nhay biểu diễn khắp nơi. Bà cũng đã phục vụ trong nhiều chức vụ và cơ quan khác nhau từ Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Bộ Binh qua đến Cục Xã Hội và Cục An Ninh Quân Đội. Và cũng chính trong binh chủng Dù bà đã gặp bố tôi và hai người đã lấy nhau vào cuối năm 1958. Cho đến nay là 56 năm.
Sau 16 năm trong quân ngũ cấp bậc cuối cùng của mẹ tôi là Chuẩn Úy. Bà giải ngũ năm 1973. Và song thân của tôi qua định cư ở Brisbane Úc Châu vào năm 1989.
Là một người vợ, người mẹ và cũng là một người lính, mẹ tôi đã phải chu toàn bao nhiệm vụ và vai trò có những đòi hỏi nhiều khi mâu thuẫn với nhau. Ngay lúc đang mang thai đứa con đầu lòng là tôi thi mẹ đã vẫn phải đi trực thăng công tác ở Huế và khắp Quân Khu I.
Tuổi thơ của tôi vì vậy phải bú sữa đặc có đường của quân tiếp vụ nhiều hơn sữa mẹ. Tuổi thơ của tôi phải giựt mình vì tiếng bom đạn hơn là được ngon giấc trong tiếng ầu ơ của mẹ. Nhưng tôi đã học được phần nào cá tính kiên cường, lòng dũng cảm từ một người mẹ Việt Nam.
Và tôi luôn luôn tự hào về mẹ tôi. Phận nữ nhi mà không quản ngại công việc gánh vác kiếm cung.
**
Là đàn bà nhưng tôi chưa bao giờ thấy mẹ tôi khóc trước mặt người ngoài. Ngay cả khi mẹ tôi phải đi chôn cất đứa con gái còn trẻ của mình, dù lúc ấy bà tuy sống nhưng cũng như đã chết.
Ít khi nào tôi nghe mẹ tôi than thở, chỉ trừ hai lần trong đời bà. Lần thứ nhất là vào cái ngày cuối cùng của tháng Tư Đen năm 1975 khi chỉ có hai mẹ con với nhau. Lúc ấy trong mệt mõi và tuyệt vọng giọng của bà vẫn chứa đựng nỗi uất hận và có phần tự than trách chính mình trong cái trách nhiệm chung đã để mất nước.
Mẹ tôi tánh ít nói và vô cùng chịu đựng về thể xác lẫn tinh thần. Tôi nhớ mãi ngày bà đưa tiễn tôi vượt biên tại Vũng Tàu. Không biết có phải vì quá lo âu hay không thì đang trong lúc dặn dò tôi bà đã thổ huyết những ngụm máu tươi ngay trên bãi cát trắng. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy được máu sao lại có thể có màu tươi như thế. Có hỏi nhưng bà cũng không cho biết tại sao. Bà chịu đựng đã quen rồi.
Bà luôn chịu đựng trong âm thầm nhưng cương quyết trong hành động.
***
Ba tháng trong nhà thương bà đã chống chỏi và đã chiến thắng bao trận. Ngay đến trong chận chiến cuối cùng, khi bác sĩ chỉ cho bà một đêm để sống thì bà đã vẫn còn mãi đến 10 ngày sau mới trút hơi thở cuối cùng, mặc dù không còn thức ăn, không còn nước biển.
“Bây giờ tội nghiệp Mẹ tôi
Tám mươi ba tuổi xếp đôi cánh cò
Mùi của Mẹ quanh co giường chiếu
Mùi trần ai khô kiệt xác thân
Mùi da xương bên ướt Mẹ nằm
Để cả đời bên ráo con lăn
Khuya nay quỳ xuống ôm chân
Mẹ ơi đã lạnh toàn thân
Mất rồi!”
Những lời thơ vay mượn trên đây của Nguyễn Văn Anh có lẽ đã nói lên phần nào cảnh cuộc đau lòng của mẹ tôi trong những giờ phút cuối cùng.
Qua 3 tháng, qua một khoảng thời gian rất ngắn ngủi này chúng tôi đã phải trải qua bao thăng trầm tình cảm của con người. Đầu tiên là sự sợ hãi, cuống cuồnglo lắng khi mẹ tôi lâm trọng binh. Kế đến là những bực dọc, lo âu khi mẹ có vẽ không được chăm sóc, thuốc men theo ý mình. Rồi những tia hy vọng lại lóe lên khi mẹ hồi phục phần nào mặc dù bác sĩ có lẽ đã bó tay. Nhưng những vui mừng đó lại phải sớm nhường bước cho sự ngỡ ngàng, để đi đến việc chối bỏ sự thật mặc dù bà đã xuống dốc một cách nhanh chóng. Rồi bám víu. Rồi tuyệt vọng đến cùng cực. Và rồi đã phải nhìn thẳng vào và chấp nhận sự thật, dù đấy là một sự thật bế tắc.
Cuối cùng là cái khổ đau khi phải bất lực nhìn bà ra đi. Có lẽ ít có sự tra tấn nào đau khổ sánh bằng khi phải chứng kiến từng giờ, từng ngày nối tiếp mẹ của mình héo khô không đồ ăn không nước biển để rồi lịm dần vào hôn mê. Dù đau khổ biết bao khi biết sắp sửa phải mất đi người yêu quý nhất trong cuộc đời này thì mặt khác cũng phải tự hỏi mẹ có nên ra đi ngay bây giờ để có thể chấm dứt tức khắc những khổ đau, dày vò thân xác hay không.
**
Từ đây sẽ không còn bao giờ được đánh tam cúc với mẹ vào những dịp đầu năm để được nhìn bà cười hả hê khi kết được tốt đen. Từ đây sẽ không còn người mẹ kiên cường, bất khuất nhưng lại luôn lo lắng chăm sóc cho đàn con:
“Cây cau già ngoài sân chết đứng
Ngọn trầu không héo úng rụng rời
Gió khóc ngoài giậu mồng tơi
Tre trúc quờ quạng tìm hơi Mẹ già
Mẹ hiền đi chuyến chợ xa
Mùi Mẹ cánh Hạc bay ra cõi Trời
Con thành đứa trẻ mồ côi
Lặng chiều nhang khói tìm hơi Mẹ hiền”
(Nguyễn Văn Anh)
Xin mẹ hãy tha thứ cho những gì thằng con ngỗ nghịch, ngang tàng này đã làm buồn lòng mẹ. Chúng con luôn khắc tâm ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.
Nhưng mẹ hãy an tâm ra đi, hãy an nghĩ.
Mọi vướng bận còn lại trong cuộc đời này chúng con sẽ gánh vác. Và chu toàn.
Kiều Tiến Dũng
Brisbane
20 tháng Ba năm 2014
NHIỀU SƯ SÃI NGÀY NAY TU HÀNH CŨNG CHỈ LÀ 1 CÔNG VIỆC ĐỂ SINH SỐNG GIỐNG NHƯ BAO NHIÊU NGHỀ KHÁC- THẬT RA TU HÀNH ĐỂ CHO CON NGƯỜI SỐNG TỐT HƠN CHỨ KHÔNG PHẢI ĐỂ SAU KHI CHẾT ĐƯỢC NGON LÀNH -
CHO NÊN NẾU TRÁNH ĐƯỢC VỊ KỶ THÌ TRO CỐT NÊN RẢI TRÊN ĐỒI NÚI, SÔNG, BIỂN ... ĐỂ KHỎI BẬN TÂM, NỢ NẦN CHO CON CHÁU VỀ SAU-
CÚNG GIỖ LÀ MỘT PHONG TỤC TỐT ĐỂ LƯU NHỚ ÔNG BÀ, CHA MẸ VÀ ĐỒNG THỜI ĐỂ CON CHÁU CÓ CƠ HỘI GẶP LẠI NHAU ĐÔNG ĐẢO- GIÚP CHO CON CHÁU SỐNG GẦN GŨI , GẮN BÓ NHAU HƠN./- Mt68
CÚNG GIỖ LÀ MỘT PHONG TỤC TỐT ĐỂ LƯU NHỚ ÔNG BÀ, CHA MẸ VÀ ĐỒNG THỜI ĐỂ CON CHÁU CÓ CƠ HỘI GẶP LẠI NHAU ĐÔNG ĐẢO- GIÚP CHO CON CHÁU SỐNG GẦN GŨI , GẮN BÓ NHAU HƠN./- Mt68
Hũ hài cốt là con tin trong chùa.
Rãi tro xuống biển hoặc trên núi, trong rừng, chứ đừng gửi tro trong chùa .
Những người Việt sinh sống ở hải ngoại, đối với những gia đình đã ổn định đời sống, khi có người thân qua đời nếu chọn chôn cất tại các nghĩa trang với những thảm cỏ xanh, hoa nở tươi tốt, để người thân đến thăm viếng trong những dịp lễ Father’s Day, Mother’s Day, Vu Lan v..v cũng rất là hay và đẹp. Cho nên, với câu hỏi là nên chôn hay hoả táng cha mẹ khi qua đời thì câu trả lời là điều đó còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, nhất là quan niệm cá nhân về sự sống và chết của con người. Phật Giáo không chủ trương hoả táng cũng như địa táng. Vì thế việc chọn lựa này là do quyết định của người qua đời lúc còn sống đã để lại di chúc còn không thì người thân trong gia đình nên bàn thảo để có quyết định chung. Dù thiêu hay chôn thì thân xác của người chết không còn cảm giác nóng hay lạnh vì khi tứ đại tan rã, hệ thần kinh ngừng hoạt động, thần thức đã ra khỏi thân xác để đi tái sanh sang cõi khác. Sau khi hoả thiêu, thân xác người chết sau khi được đốt 3,000 độ thì không còn là gì nữa. Sau khi đốt xong, nhà quàn còn cho vào máy nghiền. Chỉ còn là chất Calcium, màu đen hay xám trắng. Thịt da đã bay tiêu hết, không mùi không vị. Cốt không là gì hết, đó chỉ là chất âm. Vấn đề được đặt ra là có nên chôn tro cốt xuống đất, gìn giữ để thờ cúng tại nhà, tại chùa hay đem rải xuống sông biển. Đức Phật không để lại một huấn thị rõ ràng về vấn đề này, vì Ngài muốn chúng ta hiểu xác thân chỉ là sự hỗn hợp của vật chất và sau khi chết, những thứ này lại trở về các nguyên tố Đất, Nước, Gió, Lửa. Phần tro cốt còn lại chỉ là biểu tượng của nguời qua đời, là người thân mà ta thuơng yêu. Chúng ta nên kính trọng, tuy nhiên, không nên quyến luyến quanh những biểu tượng này, không nên sống mãi với quá khứ của họ hay nghĩ rằng chúng ta chẳng còn liên hệ gì với người đã chết. Đạo Chúa nói là “thân xác là cát bụi phải trở về cát bụi”, đạo Phật nói “thân xác là nhân duyên, thần thức vô mượn xác làm con người”. Do đó, nếu bị chết đi, không bao giờ thấy lại được hình dáng cũ nữa. Không bao giờ thấy lại. Một số người thích thờ cúng tro cốt tại chùa hay tại nhà, một số người khác lại đem chôn, hoặc đem tro cốt rải xuống biển hay xuống sông hay rải xuống rừng hay một nơi nào đó theo ý muốn v..v... Năm xưa trong một trận baseball tại cầu trường San Francisco, trong khi đang diễn ra trận đấu, một chiếc máy bay nhỏ bay trên cầu trường và thả ra một chất bụi mầu hơi đỏ. Nước Mỹ vừa chứng kiến biến cố 9-11, rồi lại nghe vụ Anthrax nên khán giả chạy tán loạn. Cầu thủ phải ngưng ngay trận đấu. Về sau báo chí cho biết chất bụi mầu hơi đỏ đó là tro cốt của người quá cố mà khi còn sống ông ta là fan của đội cầu San Francisco Giants đã để lại di chúc là khi ông ta chết phải thiêu xác và rải trên cầu truờng San Francisco cho ông. Đức Phật dạy: con người ai ai cũng phải chết, sau 49 ngày là đi đầu thai qua kiếp khác, hoặc thiên đàng hay địa ngục đều do nghiệp thiện hoặc ác, tất cả do ta làm ra. Chính chúng ta chứ không phải một thần linh nào khác quyết định đời sống chúng ta, và chúng ta quyết định nó bằng các hành động qua thân, khẩu, ý hàng ngày, hàng giờ, hàng phút trong cuộc sống hiện tại. Là Phật tử chúng ta đừng nghĩ rằng để tro cốt ở những nơi thiêng liêng như chùa chiền, người quá vãng sẽ được an toàn, được nghe câu kinh tiếng kệ và không bị nghiệp lực lôi kéo. Việc để tro cốt trong chùa không có ý nghĩa gì hơn là việc biểu lộ niềm kính trọng và thương yêu với người đã khuất, nhưng điều đó cũng có thể làm níu giử hương linh của người chết ở trần gian và làm cho hồn người chết bị lẩn quẩn ở cõi trần không sớm được siêu thoát.Hũ hài cốt là con tin trong chùa:
Câu hỏi: Hiện nay, một số người giàu có tiền muốn báo hiếu cho thân nhân của mình nên đến các chùa có diện tích đất rộng bỏ tiền ra mua một miếng đất để xây một cái mồ rồi đưa xác thân nhân về chôn cất ở đó hoặc gửi tro vào tháp hài cốt trong chùa. Nhà chùa gặp cơ may này làm giàu, tính giá rất cao cho những người cần nhà chùa làm lễ cầu siêu độ cho các vong linh. Các người này họ rất hoan hĩ được đưa thân nhân về chùa “nằm trong đất chùa, được nghe kinh, được theo Phật v.v....”. Kính thưa Thầy, ý nghĩa của việc làm nầy thật sự là thế nào đối với người quá vãng, với thân nhân của họ và đối với nhà chùa? Chúng con xin Thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con được rõ.Câu trả lời: Phong tục mê tín của dân tộc Việt Nam xuất phát từ trong các chùa cho rằng người chết được chôn trong đất chùa hoặc gửi nắm tro tàn trong tháp hài cốt thì hằng ngày linh hồn sẽ được nghe kinh, nhờ đó được siêu thoát lên cõi Cực Lạc, Thiên Đàng....Do lòng thương yêu và sự hiếu hạnh khiến cho người ta không còn sáng suốt, nên nghe quý thầy, quý cô trong chùa bảo sao làm vậy chứ không có suy nghĩ chín chắn. Sự tin tưởng thiếu thực tế, không trí tuệ của một số phật tử đã làm giàu cho các chùa và biến các chùa thành một nơi sinh hoạt mê tín chứ không còn là nơi tu hành của tăng ni và cư sĩ nữa. Chùa nào hiện giờ cũng xây tháp hài cốt, khi có thân nhân chết, người ta đem thiêu xác gửi vào chùa và khi gửi nắm tro tàn như vậy thì phải tốn bao nhiêu tiền đóng vào và còn phải cúng dường tiền cho chùa rất nhiều hằng năm. Nếu thân nhân không cúng dường tiền thì hũ hài cốt ấy sẽ bị dẹp vào chỗ khuất lấp, còn ai cúng dường tiền nhiều thì hũ hài cốt sẽ được để trên chỗ sang trọng trong tháp. Nhà chùa hiện giờ lấy hài cốt của những thân nhân phật tử làm con tin để làm tiền một cách phi nghĩa, thiếu đạo đức. Tháp hài cốt là núi tiền, là những mẫu ruộng mầu mỡ xài hoài không hết. Ví dụ: Nhà chùa muốn làm một việc gì thì nhắm vào những phật tử có gửi hài cốt hoặc chôn những thân nhân trong đất chùa. Họ kêu gọi những phật tử nầy đóng góp làm từ thiện hoặc xây cất chùa hay bất cứ việc gì trong chùa cần v.v... Nghe kinh được siêu thoát về Cực lạc, Thiên đàng đâu không thấy mà chỉ thấy những người còn sống phải gánh một gánh nặng của tôn giáo mê tín. Cho nên chùa nào có đất rộng làm nghĩa địa hoặc xây tháp hài cốt là chùa đó giàu to, giàu không mất sức lao động chút nào cả. Chúng ta thấy tệ nạn lừa đảo phật tử hiện giờ trong các chùa rất lộ liễu. Nhà chùa vô hình đã biến nơi tu hành thành nơi nhà mồ nghĩa địa, nơi thực hiện sự mê tín của dân gian. Bây giờ Thầy xin hỏi quý phật tử rằng hiện giờ quý phật tử thường đến chùa không những nghe thuyết pháp mà còn ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, lạy hồng danh sám hối v.v.....thế mà quý vị có thấy ai đã được lên Thiên Đàng, Cực Lạc chưa? Có thấy hết khổ chưa? Có ai làm chủ sanh, già, bệnh, tử hay chưa? Có thấy sự giải thoát chưa? Quý vị cứ thành thật trả lời xem, có sao nói vậy đừng tự dối mình. Trong lúc quý vị còn sống mà còn chưa biết được Cực Lạc, Thiên Đàng ở đâu? Có hay không có? Huống là là người chết, họ còn nghe thấy được những gì. Nếu quả thật nghe kinh được sanh về Cực Lạc Thiên Đàng thì người ta tu làm gì cho cực khổ phải không quý vị? Đó là những mánh khóe lừa đảo mà chúng ta nên cảnh giác
Subscribe to:
Posts (Atom)

