Sau khi đã “thoát” khỏi phải tập trung đi “tù” (tôi đã có dịp trình bầy lý do trong những bài hồi ký trước), tôi nghĩ mình phải có công ăn việc làm, CS rất ghét kẻ nào không làm việc, họ gọi lười lao động… Tôi làm đủ mọi nghề: bơm mực bút “bic”, sửa khóa xe, v.v. nhưng nghề nào Công an cũng cấm và cho là phi sản xuất.
Tình cờ, một hôm tôi gặp một người quen thân với gia đình tôi tên là Hoàng Văn Tú, người Bắc. Năm 1953 anh cả tôi tốt nghiệp khóa 8 Trường Võ Bị Đalạt và được bổ nhiệm lên Pleiku làm Trung đội trưởng bộ binh, mấy tháng sau anh Tú tốt nghiệp khóa 4 trường Võ Khoa Thủ Đức, được bổ nhiệm lên Pleiku và làm Trung Đội Phó cho ông anh cả tôi. Từ đó 2 người thân nhau và anh quen biết với đại gia đình tôi. Mấy năm sau hiệp định Geneve 1954, anh Tú được giải ngũ và cư ngụ tại đường Trương Minh Ký . Năm 1958 anh cả tôi về làm việc tại Tổng Tham Mưu, và ở chung với đại gia đình (đường Trương Minh Giảng), chính nhờ ở gần nhau nên tôi biết anh Tú là người đứng đắn và làm mọi công chuyện đều tốt đẹp (buôn bán).
Tôi và anh Tú rủ nhau làm đường ly tâm (trong khi anh cả tôi thì đi tù cải tạo), chúng tôi mua các máy móc và đồ nghề cần thiết để làm đường tại nhà anh, chúng tôi mua mật mía ở Hóc Môn rồi về cho vào máy ly tâm và sản xuất ra đường, hàng ngày tôi đến nhà anh HVT từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều để làm việc…..công việc cũng không vất vả lắm. Nhờ làm việc chung tại nhà anh nên chỉ vài ngày sau tôi biết rõ gia cảnh của anh. Anh Tú có vợ và 10 người con, 5 trai, 5 gái, vợ anh Tú cũng người Bắc, rất lanh lợi. Tôi thấy anh có đông con, cháu lớn nhất mới 16 tuổi và cháu nhỏ còn phải bồng trên tay, tôi hỏi anh Tú:” tại sao anh sanh nhiều con thế ?” Anh bảo anh là con trai duy nhất trong gia đình cùng 2 người chị. Khi có hiệp định Geneve 1954 anh Tú ở trong Nam còn mẹ anh và hai người chị ở lại Bắc, không di cư vào Nam. Vì là con trai duy nhất nên khi lập gia đình anh cố tình đẻ thật nhiều con, hơn nữa đời sống trong Nam thời đó cũng dễ dàng. Khi Cộng sản chiếm miền Nam anh Tú gặp rất nhiều khó khăn về sinh kế, đồng thời anh còn định sẽ đón người mẹ già vào Saigon sau hơn 20 năm xa cách…..
Vào năm 1978, đúng như điều tôi tiên đoán, mấy tháng sau, người chị anh Tú đem người mẹ vào Saigon, mẹ con xa nhau trên 20 năm, cuộc hội ngộ thật vui vẻ và cảm động. Bà cụ đã 85 tuổi nhưng còn khỏe mạnh, đi đứng tự nhiên và rất ít nói… Tôi nghĩ anh Tú sẽ săn sóc bà mẹ cho tới lúc cụ ra đi (chết) ở Saigon. Thời gian qua mau, tôi và anh Tú tuy là làm lao động nhưng cũng không kiếm đủ ăn, lý do là tiền của Việt cộng mỗi ngày một mất giá khiến việc làm ăn của chúng tôi càng ngày càng đi vào chỗ bế tắc, thí dụ khi bắt đầu làm đường chúng tôi mua được 10 lu mật về làm ra đường cát, nhưng khi bán xong số đường đó, đi mua mật lần thứ hai, mật lên giá, chỉ còn mua được 8 lu và cứ diễn tiến như vậy, tức là vốn của chúng tôi mỗi ngày một hao hụt.
Tuy đang làm đường với anh Tú nhưng lúc nào tôi cũng tìm đường vượt biên, tôi có lời thề là dù có chết giữa biển tôi cũng phải ra đi vì tương lai của hai đứa con gái chúng tôi, nhưng nhiều chuyến ra đi rồi lại trở về, may mắn là chưa bị bắt lần nào. Khi Cộng sản chiếm miền Nam, vợ chồng tôi thu vén chỉ có được 25 lượng vàng, vì thế khi mà chánh quyền mới tổ chức cho đi bán chính thức (khoảng năm 1979, 1980) vợ chồng tôi cũng không đủ vàng để ra đi bán chính thức…..
Tình trạng của gia đình anh Hoàng văn Tú lại càng bi đát hơn, với 10 người con, nay lại thêm bà mẹ già từ Miền Bắc vào ở chung nên gánh nặng gia đình tăng thêm, sau khoảng 2 năm sống trong nghèo khổ như vậy, tôi biết là gia đình anh HVT sẽ gặp cảnh “mẹ chồng nàng dâu”, tuy tôi chưa chứng kiến cảnh cãi nhau, lời nặng nhẹ qua lại, nhưng tôi cũng hiểu nhiều về tình trạng gia cảnh của anh (hàng ngày tôi làm việc ở nhà anh từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều). Quả nhiên vào một ngày trong lúc đang việc, anh tâm sự với tôi là có lẽ bà mẹ già của anh lại phải về sống tại Miền Bắc với hai người chị!
Khi nghe vậy, tôi cũng vô cùng xúc động vì sau trên 20 năm xa cách, nay tưởng vào Saigon bà sẽ được con trai và 10 đứa cháu nội quây quần với nhau cho đến khi nhắm mắt, ngờ đâu nó lại rơi vào hoàn cảnh thật trớ trêu mà tôi cho là ” một thảm cảnh gia đình “. Đây chỉ là cảnh chính tôi chứng kiến, tôi còn được nghe còn nhiều “thảm cảnh gia đình” khác trong dân chúng sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, diễn ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau… chính vì thế cái Tết ta đầu tiên (1976) tôi gọi là cái Tết của “nước mắt” và cái Tết thứ hai (1977) tôi gọi là cái tết của “chia ly”…
Trước hoàn cảnh đau lòng của anh Tú, tôi cũng cảm thấy thương tâm và thương cho bà mẹ của anh, tôi cũng biết đây là trường hợp thật nan giải; Tôi cố tìm xem có giải pháp nào để giúp anh Tú hay không? Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, tôi biết vấn đề này chẳng qua là sự eo hẹp về tiền bạc, một cách giúp Anh mà tôi tiên đoán chỉ có hy vọng 5% là bà mẹ già của anh Tú không phải trở lại Miền Bắc!
Biện pháp của tôi là đem tặng anh chị Tú một lượng vàng. Như trên đã nói, khi Cộng sản chiếm miền Nam vốn liếng của vợ chồng tôi chỉ có 25 lượng vàng và trong vài năm qua, mỗi tháng bà xã tôi phải bán vàng đi để duy trì cuộc sống chờ ngày vượt biên; tuy vậy dù sao hoàn cảnh của chúng tôi cũng còn may mắn hơn tình trạng ‘bi đát’ của anh Tú. Tuy biết là việc làm này hy vọng kết qủa rất ít, nhưng sau nhiều đêm suy nghĩ tôi thực hiện ý định đó. Tôi đến bà chị ruột của tôi để lấy một lượng vàng trong số mấy cây vàng tôi gởi bà giữ giùm. Vợ tôi và bà chị cũng không biết tôi lấy vàng để làm gì.
Như mọi buổi sáng, tôi đến nhà anh Hoàng văn Tú để làm đường ly tâm, sáng hôm đó khi gặp anh chị Tú tôi nói :” hôm nay tôi có một câu chuyện riêng cần nói với anh chị, chúng tôi ngồi trên một tấm phản làm bằng gỗ.
Tôi đưa một lượng vàng ra và nói :” Tôi biết anh chị rất eo hẹp, khó khăn về vấn đề tiền bạc, tôi nghĩ dù sao gánh nặng gia đình của tôi cũng không đáng lo ngại vì thế hôm nay tôi đem tặng anh chị một lượng vàng để giúp phần nào sự khó khăn đó”. Vợ chồng anh Tú rớt nước mắt… vì qúa cảm động và bất ngờ. Anh Tú nói : “Trước đây tôi nghe người ta nói về anh rất nhiều, nay tôi thấy những điều người ta nói về anh là sự thật”. Tôi nói tiếp:” Tôi tặng anh chị một lượng vàng nhưng cũng có điều kiện”. Anh hỏi tôi điều kiện gì ? Tôi trả lời : “Có hai điều kiện 1) Không bao giờ anh chị được nói vấn đề ơn nghĩa với tôi. 2) Anh chị không bao giờ nghĩ đến vấn đề hoàn trái, nghĩa là trả nợ tôi dưới hình thức này hay hình thức khác”. Thực ra anh Tú có nghe nhiều điều ca ngợi và nhắc lại những lời người ta nói tốt về tôi nhưng ở đây tôi xin bỏ qua những lời khen ngợi đó…
Tôi vẫn đi làm bình thường ở nhà anh Tú, vài hôm sau chị Tú nói với tôi :” Anh Dần ơi giá vàng mấy hôm nay xuống quá nên chúng tôi chưa bán”. Tôi bảo chị: “Khi tôi đã tặng anh chị lượng vàng đó thì tôi không còn có ý kiến gì, nên khi nào chị bán hay không bán là quyền của anh chị không phải hỏi ý kiến gì tôi cả”.
Khoảng vài tháng sau tôi nghe tin là bà chị của anh Tú sẽ vào Saigon để đón bà mẹ già về Bắc, sự việc diễn ra tôi cũng không ngạc nhiên vì tôi đã tiên liệu hoàn cảnh đau lòng này sẽ xẩy ra; Đồng thời việc làm đường ly tâm của chúng tôi cũng không tiếp tục được vì hết vốn. khi mẹ anh Tú về lại Bắc, tôi và anh cũng chấm dứt việc làm đường, tất cả các máy móc và dụng cụ tôi cho anh hết để có dịp nào thì làm lại một mình hoặc bán đi mà chi dùng, phần tôi không muốn chia chác gì (tính ra máy móc và dụng cụ cũ khoảng 1/2 triệu tiền VNCH cũ).Tôi xin được một việc làm tại sở gia công kim khí Đức Thành (một sở tư nhân 100%), vì nhờ người quen biết nên tôi được thu nhận dễ dàng và làm cho đến tháng 2/1980 thì gia đình tôi vượt biên, một cuộc vượt biên thật ly kỳ, bị hải quân Cộng sản bắt giữ 8 ngày trên đảo nhưng lại có người cứu, đi tiếp đến Thái Lan và sau đó định cư tại thành phố Edmonton tỉnh Alberta, Canada từ tháng 5/1980 cho đến nay.
Vượt Biên Tìm Tự Do
Khi đến được trại tị nạn Songkhla, Thái Lan vào trưa ngày 15 tháng 02 năm 1980 và lưu lại đó 2 tháng, tôi mới biết hầu hết các cuộc vượt biên bằng ghe đều có thể viết thành câu chuyện lôi cuốn người đọc vì nó quá nguy hiểm, gần với cái chết và có những trường hợp rất thương tâm…

Cuộc vượt biên của chúng tôi là một trường hợp khá đặc biệt, tuy không “đau thương” nhưng cũng nguy hiểm và ly kỳ. Sở dĩ tôi nhớ được ngày 15 tháng 2 đến được Thái Lan vì nhờ trong 2 tháng lưu tại trại tị nan, khi có thư từ của thân nhân gởi tới, ban Bưu Chính của trại dùng loa phóng thanh đọc tên người có thư và đọc số người trên ghe, số ghe và ngày nhập trại, chính vì thế mà ngày 15 tháng 2 đã in sâu vào trí nhớ của tôi. Sau nhiều lần đi vượt biên thất bại, tôi và anh Lê Quế (tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khóa ĐS7, 1962) đã quyết định đi Rạch Giá nhờ người mua ghe, máy móc để vượt biên, vì anh Quế có quen mấy gia đình cư ngụ tại một vùng gần bờ biển Rạch Giá, cách biển khoảng 25 cây số. Ghe của chúng tôi chỉ có 26 người, đều là chỗ quen biết trong vài gia đình. Ngoài gia đình tôi và gia đình anh Lê Quế còn có gia đình anh Đặng Xuân Hùng ĐS17 QGHC.
Tôi và anh Quế đi Rạch Giá vài lần để nhờ mua ghe, mua máy móc và thực phẩm cho chuyến vượt biên, mọi việc hoàn tất khoảng đầu tháng 2 năm 1980. Mọi người bắt đầu di chuyển xuống Rạch Giá, quả thật lúc đó tôi cũng không nhớ rõ ngày tháng tới Rạch Giá, vì còn phải hoãn lại vài ngày mua nhiên liệu và thực phẩm… Ghe bắt đầu khởi hành lúc tờ mờ sáng vào một ngày khoảng đầu tuần tháng 2/1980, từ con sông nhỏ ra phía biển. Ghe có 2 tầng, mọi người đều nằm ở hầm ghe, tầng trên chỉ có 2 người tài công, mỗi lần đi qua những trạm kiểm soát họ phải đưa tiền hối lộ cho Công An nên không bị kiểm soát, vả lại ghe thuộc loại đi sông nên các trạm gác không nghi ngờ gì. Đến độ 7 gìơ sáng ghe ra đến cửa biển, coi như đã thoát được phần nào nguy hiểm. Ghe trang bị 2 máy chạy xăng, một máy chạy dầu độ 4,5 ngựa. Khi đi trong sông chỉ có một máy chạy còn 2 máy kia phủ kín không trông thấy được, khi ra tới biển thì cả 3 máy đều chạy.
Đi trên biển như vậy đến khoảng 6 giờ chiều, nhìn lại đất liền chỉ thấy lờ mờ hàng cây xanh, tôi thấy tim thót lại vì nghĩ mình đã xa rời quê hương mà không biết bao giờ trở lại. Tình cảm với quê hương qúa sâu đậm và nó là một tình cảm tự nhiên, vì chính tôi muốn chạy trốn một chế độ không có nhân tính, cực kỳ vô luân, chứ không phải muốn xa lìa quê hương. Lòng tôi đang tê tái chợt nghe tiếng người tài công hô lên: ” Có ghe cướp biển Thái Lan” mang tôi trở về với thực tế nguy hiểm. Anh tài công cho 3 máy chạy hết tốc lực, độ nửa giờ sau không còn thấy bóng ghe của Thái lan đâu nữa, nhưng khoảng một giờ sau 2 máy chạy xăng đều bị hư, có lẽ vì máy quá nóng, thế là chỉ còn lại một máy dầu rất yếu, lúc chạy lúc không, ghe bắt đầu trôi lênh đênh trên biển suốt đêm thứ nhất, lại thêm nước vào ghe nên thỉnh thoảng phải tát nước đổ đi
Cứ như vậy cho tới sáng ngày hôm sau… Đêm thứ hai, vài lần chúng tôi thấy những thương thuyền to như những tòa nhà lớn. Chúng tôi tẩm xăng vào một cái áo, máng vào cái sào đốt sáng rực cả một phương trời, nhưng các thương thuyền vẫn đi mà không ngừng lại cứu… Qua đến sáng sớm ngày thứ ba thì thấy một hòn đảo, vì vấn đề sinh tồn chúng tôi cố gắng tới hòn đảo đó, gần tới nơi mới thấy một ghe chở bộ đội CS đang tiến lại gần, chúng tôi được dẫn vào bờ, lúc đó mới biết đó là đảo Thổ Chu (hay Thổ Châu), thuộc một nhóm gồm vài hòn đảo
Sau khi lên bờ, Hải quân CSVN lập danh sách những người bị bắt, cho lên ghe và đưa đến hòn đảo có bộ chỉ huy của họ. Chúng tôi được chỉ định ở trong một căn nhà bỏ trống (nghe nói chủ nhà đã vượt biên). Họ làm thủ tục giao cho anh Tám, một đại diện Xã trong đất liền coi giữ, cứ mỗi tối sau khi điểm danh chúng tôi, anh Tám về nhà, cũng ở trên đảo, để ngủ, chúng tôi cũng không rõ nơi anh Tám ở cách bao xa. Trên đảo có vài gia đình đánh cá địa phương, trong đó có gia đình ông Chín Hải là người hay tiếp xúc với chúng tôi nhất. Ông Chín Hải có đề nghị là cho một người trong nhóm chúng tôi về Saigon, đem vàng ra nộp cho ông ta, mỗi đầu người một cây, thì sẽ được cứu đi tiếp. Chúng tôi trả lời Ông là dù có cho người về Saigon cũng không có vàng mà lấy, vì chúng tôi toàn là những người nghèo cả.
Qua những cuộc điều đình với ông, sau cùng ngã giá là khi ra được ngoại quốc, mỗi người phải trả ông Chín 2000 dollars (trả góp, trên 18 tuổi mới phải trả, dưới 18 tuổi cho miễn), chúng tôi đồng ý điều kiện này. Tuy vậy ông Chín nói chưa chắc có cứu được vào giờ chót hay không, ông đề nghị cứ viết thư về gia đình báo tin đang bị bắt ở đảo Thổ Chu và sẽ bị dẫn về Rạch Gía ngồi tù. Chúng tôi ai cũng viết 2, 3 lá thư về cho gia đình, để ông Chín Hải đem vào Rạch Giá dán tem và gởi giùm.
Chúng tôi lên đảo là đúng ngày 23 tháng chạp ta (ngày ông Táo lên chầu trời).
Thời gian trôi qua, mỗi ngày chúng tôi đều đánh dấu để nhớ xem đã ở đảo bao nhiêu ngày. Tình trạng sống thật bi đát, gạo mua của dân địa phương, ăn cơm phải dùng vỏ dừa làm chén, muỗng thì là những muỗng gẫy nhặt ở bãi cát, đồ ăn có cá khô… Ông Chín cho biết ông đi Rạch Giá mua kẹo bánh, thuốc lá để bán cho binh sĩ CS đóng trên mấy hòn đảo nhân dịp tết, ông hứa sẽ trở lại đảo cứu chúng tôi đi tiếp, cùng với gia đình ông. Đáng lẽ ngày 26 ta ông ta sẽ trở lại đảo, nhưng qua ngày 26, không thấy tăm tích gì, chúng tôi bắt đầu chán nản, đến ngày 27 ta, nghe tiếng máy ghe của Ông Chín Hải ra, chúng tôi mừng rỡ…
Đêm 27 rạng ngày 28 ta, chúng tôi xuống ghe cùng gia đình ông Chín rời đảo giữa đêm khuya. Vì đã sửa soạn cho cuộc vượt biên này từ lâu nên ông đã tổ chức rất chu đáo: đặc biệt trên ghe có 2 cây súng AK47 để đề phòng cướp biển Thái Lan. Ghe của chúng tôi may mắn tấp vào đảo Thổ Châu gần dịp Tết ta và trên ghe chỉ có 26 người, nếu đông qúa ông Chín Hải cũng không chịu cứu, ông cho biết từ ngày phong trào vượt biên bắt đầu, có khoảng 50 ghe bị hư máy và tấp vào đảo như trường hợp ghe của chúng tôi. Ghe chạy đúng 36 giờ là tới bờ biển Thái Lan vào giữa trưa ngày 29 ta. Trên đường đi, càng gần tới Thái Lan càng gặp nhiều tầu đánh cá, tôi không phân biệt được tầu nào là tầu cướp biển vì tầu của Thái Lan biết ghe của chúng tôi có súng nên không dám lại gần…
Khi trông thấy mấy ông sư mặc áo vàng và mấy chục người dân Thái Lan đứng trên bờ, ông Chín Hải quyết định cho tấp vào bờ, dân địa phương liền nhảy lên ghe, cướp hành lý và khám xét xem chúng tôi có dấu vàng ở bắp chân hay cánh tay không? Họ làm rất mau lẹ trước mặt mấy nhà sư, chúng tôi gọi đó là màn cướp cạn. Cảnh tượng diễn ra rất nhanh không đầy 5 phút, rồi dân làng bỏ chạy vì sợ Cảnh sát tới…
Sau đó người địa phương chỉ cho chúng tôi đến trạm Cảnh Sát, làm thủ tục và chuyển chúng tôi lên cấp trên (cấp Tỉnh?) bằng xe vận tải. Ngay chiều hôm đó chúng tôi được nhập trại Songkhla do Liên Hiệp Quốc quản trị. Khi vào trại trời đã nhá nhem tối, chúng tôi thấy đồng bào tị nạn tới trước đang mổ gà, vịt… Hỏi ra mới biết là sắp đón giao thừa (năm đó chỉ có ngày 29 ta mà không có ngày 30 tết).
Thế là cuộc vượt biên của chúng tôi đã kết thúc một cách êm đẹp, tính tới nay đã đúng 30 năm, một kỷ niệm không bao giờ có thể quên được trong cuộc đời còn lại… Nếu có ai hỏi điều gì làm cho tôi xúc động, vui mừng nhất khi đến bến bờ tự do, tôi sẽ không do dự trả lời: khi vào trại tị nạn Songkhla, điều làm tôi xúc động và sung sướng nhất là được nhìn lại cờ vàng ba sọc đỏ, lá Quốc Kỳ thân yêu của chúng ta…
Khi đã định cư yên ổn, chúng tôi đã liên lạc và trả tiền cho Ông Chín Hải (định cư tại Texas HK), vị ân nhân của chúng tôi, theo đúng lời cam kết. Gia đình tôi và gia đình anh Lê Quế định cư ở Canada, gia đình anh Đặng Xuân Hùng định cư tại Hoa Kỳ. Đến nay tôi cũng chưa một lần nào trở lại thăm quê hương vì chế độ CS còn trên quê hương thân yêu của tôi……
Nay đã bước vào tuổi hoàng hôn của cuộc đời, tôi vẫn tin tưởng vào một ngày rất gần đây chế độc tài CS sụp đổ, để tôi có thể trở về thăm Quê Hương trước khi nhắm mắt ra đi vĩnh viễn. Mong lắm thay !!!
Nguyễn Kim Dần
No comments:
Post a Comment