Hướng Đạo Việt Nam: Những Đóng Góp và Di Sản Từ Hơn 50 Năm Trước.
*Nguyễn Văn Thuất
Đánh dấu 50 năm từ khi Hội Hướng Đạo Việt Nam bị đình chỉ hoạt động do sự thay đổi chế độ chính trị tại miền Nam Việt Nam hẳn đúng là lúc để nhìn lại những đóng góp và di sản của Hội, một thành viên chính thức của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới (World Organization of Scouting Movement – WOSM) và là một đoàn thể giáo dục thanh thiếu nhi được tổ chức rất quy cũ, đạt được nhiều thành quả lớn lao, được chính quyền đương thời công nhận là "có ích lợi chung", chẳng những đã có nhiều đóng góp lớn lao cho xã hội vào thời đó và cũng đã lưu lại một di sản quý báu cho xã hội rộng lớn hơn mà người viết đã may mắn có cơ hội tham dự một phần trong rất nhiều thập niên qua.
Vài nét về Hướng Đạo Thế Giới và Hướng Đạo Việt Nam
Hướng Đạo là một phong trào giáo dục có phạm vi toàn cầu nhằm bổ túc cho giáo dục gia đình và học đường, giúp tất cả hội viên, nhất là giới trẻ phát triển các kỹ năng và những đức tính cần thiết để trở nên những công dân tốt, sống thành công và hạnh phúc. Tên gọi "Hướng Đạo" được dùng để chỉ chung tất cả nam và nữ Hướng Đạo Sinh (HĐS) nhưng đôi khi cũng được dùng để chỉ riêng nam HĐS. Trong khi đó “Nữ Hướng Đạo” được dùng để chỉ riêng nữ HĐS.
Tác giả (bên trái) cùng 2 bạn tại Trại Họp Bạn Phục Hưng (Trảng Bom, Long Khánh) vào cuối tháng 12.1959
Phong Trào Hướng Đạo bắt đầu vào năm 1907 khi Huân Tước Robert Baden-Powell tổ chức một cuộc cắm trại Hướng Đạo đầu tiên cho 20 thiếu niên tại đảo Brownsea ở Anh quốc. Trưởng Sáng Lập Phong Trào Hướng Đạo Baden-Powell đã viết nhiều sách để trình bày và hướng dẫn về sinh hoạt đầy hấp dẫn nầy, đặc biệt quyển sách căn bản “Scouting for Boys” đã được tái bản vô số lần bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên khắp thế giới trong ngót 120 năm qua, được ước lượng lên đến hơn trăm triệu ấn bản.
Phong trào Hướng Đạo sử dụng một số phương pháp, một chương trình giáo dục, chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời và làm việc đồng đội, bao gồm cắm trại, kỹ năng sinh tồn trong thiên nhiên, trò chơi lớn và nhỏ, đi bộ đường dài, và các trò chơi thể thao. Một đặc điểm để dễ được nhận ra là đồng phục Hướng Đạo với khăn quàng và huy hiệu có hình hoa bách hợp trên áo và mũ, cũng như các chuyên hiệu (bằng chuyên môn hay huy hiệu chuyên môn) và những phù hiệu đẳng cấp khác. Phong trào Hướng Đạo tôn trọng tất cả các tôn giáo hay tín ngưỡng và khuyến khích HĐS làm tròn bổn phận đối với tín ngưỡng tâm linh của mình.
Ba lời hứa Hướng Đạo đề cập đến nghĩa vụ của HĐS đối với Đấng Thiêng Liêng của Tín Ngưỡng Tâm Linh và Tổ Quốc, giúp ích mọi người và làm việc thiện mỗi ngày, tuân theo Luật Hướng Đạo. Mười điều luật Hướng Đạo đại ý đề cao các giá trị như Trung thực, Trung thành, Giúp ích, Thân thiện, Lễ độ, Tiết kiệm, Vâng lời, Vui vẻ, Trong sạch, Can đảm, Liêm khiết, Kỷ luật. Đây là kim chỉ nam hình thành nhân cách cho mọi thanh thiếu nhi.
Lời hứa và Luật Hướng Đạo của các quốc gia hội viên có nội dung tương tự, nhưng cách trình bày có thể không hoàn toàn giống hệt nhau. Nhiều Hội Hướng Đạo quốc gia có khuynh hướng cập nhật Luật và Lời Hứa và cả Điều Lệ của Hội mỗi khi thấy cần thiết để đáp ứng với tình hình thay đổi hoặc nhu cầu của chính quốc gia đó.
Vào năm 2025, theo Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới, có khoảng 60 triệu thành viên trong 176 quốc gia hội viên. Theo ước tính, đã có khoảng 500 triệu người trên khắp thế giới lần lượt tham gia Phong Trào Hướng Đạo trong ngót 120 năm qua. Hai tổ chức Hướng Đạo chính lớn nhất thế giới: là Tổ chức Phong trào Hướng Đạo Thế giới (WOSM) dành cho nam và các hội Hướng Đạo có cả nam lẫn nữ. Hội Nữ Hướng Đạo Thế giới lớn nhất là The World Association of Girl Guides and Girl Scouts (WAGGGS).
Tác giả trước bảng chào đón tại VP Hướng Đạo Thế Giới tại
Geneva (Switzerland) ngày 2.6.2004 khi hướng dẫn phái đoàn
Hội Đồng Trung Ương HĐVN (hải ngoại) đến họp tại đây
Phong trào Hướng Đạo đến Việt Nam vào cuối thập niên 1920, nhưng đến năm 1930 mới xuất hiện các đơn vị Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) đầu tiên tại Hà Nội nhờ nỗ lực vận động thành lập của hai Trưởng Sáng Lập Hoàng Đạo Thúy và Trần Văn Khắc. Phong trào HĐVN từ từ lan rộng đến khắp cả nước và Liên Hội HĐ Đông Dương được thành lập vào năm 1937 có cả Hội Hướng Đạo Lào và Hội Hướng Đạo Cambodia. Khi đất nước bị chia đôi vào tháng 7.1954, trụ sở Hội HĐVN được dời từ Hà Nội vào Saigon và từ đó sinh hoạt Hướng Đạo chỉ tiếp tục phát triển tại miền Nam Việt Nam.
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Hướng Đạo áp dụng một số phương pháp riêng biệt. Có thể liệt kê một số phương pháp chính như sau: Luật và Lời Hứa, Học Hỏi qua Sự Thực Hành, Hướng Dẫn Bằng Sự Nêu Gương, Sống gần Thiên Nhiên, Phương Pháp Hàng Đội… Sự ứng dụng các phương pháp nầy sẽ tùy theo từng lứa tuổi, vì hiển nhiên là mỗi lứa tuổi đều có nhu cầu và tâm lý khác nhau. Phương pháp “Luật và Lời Hứa.” bao gồm ba lời hứa và 10 điều luật Hướng Đạo ấn đinh các nguyên tắc chỉ đạo của Phong trào mà mỗi HĐS tự nguyện cam kết tuân theo trong Lễ Tuyên Hứa được trang trọng tổ chức.
Trong quá trình tự rèn luyện của mỗi HĐS, Lời hứa và Luật HĐ, vốn là những quy tắc mà mỗi HĐS đều cố gắng tuân theo trong cách suy nghĩ và hành động của mình, cùng những phương pháp khác của Hướng Đạo đã có những tác động lớn lao đối với các HĐS:
Khơi Dậy và Nuôi Dưỡng Tình Yêu Quê Hương và Tổ Quốc
Từ khi được thành lập cho đến cuối tháng 4.1975, nghĩa vụ “Trung Thành với Tổ Quốc” luôn được long trọng ghi nhận trong điều luật thứ nhì của HĐVN. Điều này cũng dễ hiểu vì nội dung tương tự vốn đã được minh định trong Luật Hướng Đạo tại Anh quốc là nơi đã khai sinh ra Phong Trào Hướng Đạo. Các Hội Hướng Đạo tại các nước khác cũng đều mô phỏng theo các khuôn mẫu sẵn có tại Anh quốc, ngoại trừ một vài thay đổi nhỏ trong cách diễn đạt nội dung để thích hợp với tình hình tại các quốc gia đó. Với phương pháp sinh hoạt gần thiên nhiên, câu chuyện dưới cờ, các trò chơi lớn và nhỏ, thi đua, bài hát, chuyện kể bên ánh lửa bập bùng hay trong những buổi sáng tinh mơ hoặc trong lúc tạm nghỉ chân trên đường di chuyển đã giúp các HĐS có nhiều cơ hội dễ dàng ghi nhận được những ý tưởng cao đẹp nầy trong khi vẫn thưởng ngoạn phong cảnh xinh đẹp của đất nước, từ đó tình yêu Quê Hương và Tổ Quốc càng được khơi dậy và nung nấu, và ngày trở nên đậm đà trong tâm hồn của mỗi người.
Trong khung cảnh nầy, nhạc sĩ Hoàng Quý, một tráng sinh Hướng Đạo và là Trưởng nhóm Đồng Vọng cùng với các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Hoàng Phú …từ đầu thập niên 1940 đã sáng tác các bài hát đề cao tinh thần dân tộc và ca ngợi non song gấm vóc Việt cùng các chiến công hiển hách với các bài “Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn, Anh Hùng Xưa, Trên Sông Bạch Đằng …”. Những bài hát nầy vẫn đang được thịnh hành trong các sinh hoạt thanh thiếu niên tại hải ngoại. Trưởng Hướng Đạo Võ Thanh Minh đã tuyệt thực và thổi sáo bên hồ Leman để thể hiện nỗi buồn và sự phản đối của mình khi Quê Hương sắp bị chia đôi theo hiệp định Geneve vào tháng 7.1954. Trong hoàn cảnh của một quốc gia đang phát triển và đang bị chiến tranh tàn phá, ý tưởng “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho Bạn! Hãy hỏi Bạn đã làm gì cho Tổ Quốc” (Ask not what your country can do for you – and what you can do for your country) với sức cuốn hút mạnh mẽ do vị Tổng Thống trẻ tuổi của Hoa Kỳ John F. Kennedy nêu ra vào ngày 20.1.1961 đã lại góp phần củng cố thêm tinh thần yêu nước vốn sẵn có của giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là trong Phong Trào Hướng Đạo.
Từ giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, một Trưởng Hướng Đạo trẻ tại Đà Lạt, linh hồn của Phong Trào Du Ca, cũng đã có nhiều sáng tác thể hiện tình yêu Quê Hương Tổ Quốc, kêu gọi dấn thân giúp đỡ đồng bào như “Gươm Thiêng Hào Kiệt, Đường Về Công Trường, Đoàn Ta Ra Đi, Người Yêu Tôi Bệnh, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Anh Em Tôi”… nhưng được yêu mến hơn cả hẳn phải là bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”, bài hát diễn tả được nỗi niềm và khí phách của một dân tộc luôn ngạo nghễ vươn lên trước mọi nghịch cảnh, và vẫn đang được rất ưa chuộng trong các sinh hoạt chung tại hải ngoại và ngay cả tại quốc nội nữa!
Biết bao bài hát khác ngợi ca non song gấm vóc Việt Nam, kêu gọi tình yêu Quê Hương Tổ Quốc cũng đã được các nhạc sĩ Hướng Đạo sáng tác và tất cả HĐS cùng hát vang lên trong những khi sinh hoạt, cắm trại qua nhiều thập niên đã góp phần phong phú hóa kho tàng văn hóa Việt và vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay. Do vậy, tình yêu Quê Hương Tổ Quốc luôn được in đậm trong tâm hồn và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mỗi HĐS Việt Nam.
Đề cao và nhắc nhở tinh thần Giúp Ích
Cũng chính qua Lời Hứa và Luật Hướng Đạo, các Hướng Đạo Sinh luôn được nhắc nhở về nghĩa vụ “Giúp Ích”, tuy cách diễn đạt có phần khác nhau đôi chút theo thời gian. Tất cả HĐS đều tâm niệm về tinh thần Giúp Ích và nghĩa vụ làm một việc thiện mỗi ngày. Việc thiện đối với HĐS có nhiều mức độ khác nhau: có thể chỉ đơn giản như việc lượm một mảnh chai vỡ hay cây đinh nằm bên đường để tránh gây thương tích cho một người khác vô tình dẫm phải. Cũng có thể là nhường cơm sẻ áo để giúp một kẻ khốn cùng. Hoặc lớn lao hơn như góp phần cứu trợ nạn nhân thiên tai, đồng bào chiến nạn, cùng những người bất hạnh khác...
Hướng Đạo Sinh giúp tải thương tại một khu chiến nạn
Các Tráng Sinh Hướng Đạo (tuổi từ 18 trở lên) được khuyến khích theo học các khóa huấn luyện về cứu cấp và cứu hỏa để được trang bị thêm kỹ năng cần thiết khi dự phần vào các công tác nầy. Trong hoàn cảnh của một quốc gia đang phát triển và bị tàn phá vì chiến tranh như Việt Nam hơn 50 năm trước, hệ thống y tế và an sinh xã hội rất yếu kém nên có vô số trường hợp mà nạn nhân cần được cấp thời trợ giúp. Do vậy, tinh thần sẵn sàng giúp ích mà HĐVN đề ra và theo đuổi đã luôn chứng tỏ là rất hữu dụng, được mọi người tán thưởng và tri ân.
Trong lời tựa của tác phẩm “Giải Khăn Sô Cho Huế”, nhà văn Nhã Ca cho biết là nhân khi trở về Huế để chịu tang thân phụ vào những ngày cuối năm Đinh Mùi, tác giả bị kẹt trong vòng chiến của biến cố Mậu Thân năm 1968 và đã trải qua những tình huống hiểm nghèo như đông đảo người dân cố đô khác. Gần 2 năm sau, chờ cho những xung động xô bồ đã tạm lắng xuống và những suy tư đã được nghiền ngẫm kỹ càng hơn, nhà văn mới cho ấn hành tập hồi ký của mình.
Trong tác phẩm nầy, tác giả đã cung cấp nhiều chi tiết về gương hy sinh giúp đỡ những nạn nhân trong cuộc chiến Mậu Thân 1968 tại Huế đầy bi thảm của Trưởng Võ Thanh Minh, một Trưởng Hướng Đạo lớn tuổi rất được kính mến vào thời đó. Dưới đây là một vài đoạn ngắn trong số các chi tiết được nhà văn ghi lại:
“… Đúng lúc ấy, tôi bỗng bàng hoàng vì có tiếng động ngoài sân. Rồi có tiếng gọi:
- Má ơi. Giọng con gái. Má tôi ngồi rột dậy. Cả nhà túa ra miệng hầm. Má ơi, má ơi, má ơi, má ơi... Tiếng gọi má ơi không dứt. Cánh cửa mở tung. Chiếc xe đạp rơi bịch xuống đất và Hà nhảy xổ vào nằm gọn trong lòng má tôi: Má, má, má...
- Con, con... Ui cha con Hà. Ba hồn bảy vía con Hà... Con về được, con về được. Tôi chợt nhìn ra sân, một ông già mặc áo dài đen, đang đứng cầm ghi đông xe đạp nhìn vào nhà mà mỉm cười. Má tôi kêu lên:
- Ôn Minh. Ôn về răng rứa? Rồi má tôi khóc, khóc sung sướng, khóc ồn ào:
- Ôn ơi, ôn vô đây. Ôn vô đây ôn. Ông già bình tĩnh dựng xe đạp, vuốt lại vạt áo dài đen rồi bước lên từng bực cấp đi vào nhà. Má tôi vẫn còn ôm chặt cứng Hà trong tay. Ông già mà má tôi gọi là ôn Minh chỉ vào Hà:
- Tui đem con lỏi xuống cho bác đó. Mấy hôm ni hắn đòi đi, hắn hành tui bất tội thân mà.
- Ông đem con xuống đó má. Ông Minh vừa ngồi xuống ghế vừa nhìn quanh nhà:
- May phước, nhà không bị hư hại chi nặng hết. Má tôi vừa giục tôi pha nước vừa hỏi:
- Ôn ơi, tụi còn ở trên ra răng ôn?
- Không răng. Tụi nó còn ở trên. Thầy Lễ thầy nóng lòng lắm, cứ nhất định đòi đi xuống dưới ni tìm bác. Tui phải cản. Hai ôn con tui ngày mô cũng tìm cách đi xuống dưới ni mà đi khôn được đó chớ - Có đứa mô bị... Má tôi dừng lại, mặt tái xanh chờ đợi. Ôn Minh uống một ngụm nước:
- Không răng. À, chỉ có con Hy bị trúng một miểng đạn vô chân. Mà không răng, trên đó có mấy tên y khoa, hắn băng bó cho rồi. Nhờ có ông già mặc áo the đen và Hà thuật lại, tôi biết thêm rất nhiều về tình hình trên Từ Đàm…”
“- Chị biết ai đây không? Ông Võ Thành Minh đó. Thấy tôi ngơ ngác, nó nói thêm:
- Ông là người thổi sáo bên hồ Genève phản đối chia đôi đất nước hồi 54 tề, chị. Tôi nhìn ông già, ông đang bận kể chuyện cho má tôi nghe. Hà nói tiếp: - Ông Minh mà chị không biết há? Ông còn tên là Võ Song Thiết đó.” Tôi hỏi nhỏ:
- Bây giờ ông làm gì? - Ông giữ nhà thờ cụ Phan, ông là đồng chí của cụ Phan mà chị. Mấy ngày đánh nhau, nhờ có ông mà nhiều người khỏi chết đó nghe. Vui lắm.Tôi trợn mắt: - Mày nói vui? Trời ơi, chết như vậy mà mày nói vui sao? - Ông Minh nói ở hoàn cảnh mô, mình cũng cố gắng vui sống. Ông Minh có sợ chết mô. Ông đi hoài cả ngày chị. Ông đi phát gạo, đi tải thương, đi thăm các nơi... Tôi nhìn kỹ ông già. Ông mặc áo the đen, quần vải trắng, đầu đội chiếc mũ bê rê đen. Không biết má tôi kiếm đâu ra trầu mà bà đem ra mời ông nhai trầu bỏm bẻm. Khuôn mặt ông thông minh, hiền lành. Nhìn ông, người ta dễ bắt nhạy cảm tình hơn là nghi kỵ, dò xét…
và
“- Ôn mần rằng mà tải thương đó ôn? - Tau đặt họ lên xe đạp đẩy đi. Nhà thương bỏ hoang rồi, tau đưa đại họ vô mấy trạm cứu thương bắt băng bó. À này Oanh, mi tìm cho tau mấy thằng sinh viên y khoa. Quanh mấy nhà này, tau biết tụi nó trốn thiếu chi. Mi đi liên lạc dùm hỉ?
- Ông nội con cũng không dám. Ra ngoài cho bị đạn chết hả?
- Con ni nhát quá, thôi để tau lo!
“… Một ngày rồi một ngày nữa trôi qua. Tai chúng tôi ù đi vì súng, mắt mờ đi vì đói và đầu óc tê liệt vì những tiếng nổ dội ình ình, chung quanh. Nhưng lạ lùng, chúng tôi vẫn chưa ai chết cả. Gạo đã cạn, ôn Minh đem đâu về được mấy bịch cơm khô chia đều cho mỗi gia đình một ít. Chúng tôi nhai cơm khô mà cũng phải hết sức dè xẻn. Khát nước quá, một vài người ra sân lấy nước ở bể cạn. Một vài người chạy không kịp bị mảnh đạn ghim vào người, nhưng may thay, không một ai chết hết. Chúng tôi không còn ai nhắc tới chuyện tản cư nữa. Ra khỏi miệng hầm là có thể chết rồi, huống chi ra tới sân, tới đường…
“- Răng anh không nói ôn về một lần luôn. - Ôn còn bận cứu thương, tải thương. Ôn nói ôn chưa đi được, ôn đi mà để lại bao nhiêu người kẹt trong vòng súng đạn, ôn không yên tâm. Tôi rót nước mời người thanh niên uống. Anh ta khoảng ba mươi tuổi, nét mặt rắn rỏi. Anh tôi không ngớt lời cám ơn. Hà thì buồn rầu lo lắng cho ôn Minh không hết. Má tôi hỏi thăm những người hàng xóm.”
“Hàng ngày tôi ra đứng bên đường, hy vọng trong đám người tản cư về, có ông Võ Thành Minh. Mới gặp ông có mấy ngày, tôi đã hết sức yêu kính ông. Ai hèn, ai can đảm trong cơn biến loạn này đều lộ diện ra hết. Hôm nay, nghe tin Mỹ đã tràn lên tới Từ Ðàm và hai bên đang đánh nhau, giành từng tấc đất, chắc ông Minh không còn có thể ở yên đó mà tải thương theo tinh thần hướng đạo của ông nữa. Không ai còn sức để sống đến hôm nay mà chết cho súng đạn. Tôi hy vọng ông Minh sẽ về. Họ bắt ông để làm gì? Chắc ông sẽ thoát được và tôi sẽ gặp ông trước ngày bỏ Huế.”
Paul Dreyfus, nhà báo và nhà văn người Pháp, trong quyển “et Saigon Tomba” (và Saigon Sụp Đổ, trang 183-185, nxb Arthaud, 1975) đã ghi lại vài câu tuy ngắn ngủi sau đây nhưng lại là những nét chấm phá rất rõ nét về nỗ lực Giúp Ích của các HĐS dù trong hoàn cảnh thật hiểm nguy vẫn thực thi lời hứa “Sẵn sàng Giúp Ích” mà ông đã chứng kiến trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam:
CẢ MỘT KHU PHỐ SÀI GÒN BỐC CHÁY TRONG ĐÊM
Chủ Nhật 27 tháng 4
Khoảng bốn giờ sáng, tôi bị bật dậy khỏi giường vì một tiếng nổ lớn.
Một quả đạn rốc két 122mm vừa rơi trên nóc nhà hàng Majestic ngay giữa trung tâm Sài Gòn, chỉ cách chỗ tôi nằm vài trăm mét. Tiếp đó là liên tiếp ba tiếng nổ tiếp theo, rất dữ dội, làm rung chuyển cả thành phố.
Tôi lập tức chạy lên sân thượng là nơi có thể bao quát toàn bộ thành phố và những vùng phụ cận. Từ trên cao, tôi nhìn một cảnh tượng kinh khủng: phía sau nhà ga cả một khu phố bốc cháy. Những lưỡi lửa màu da cam vọt lên cao hàng vài chục mét, trong khi một lớp khói đen bốc cao che phủ một góc trời. Từ phía xa, tiếng còi của những đoàn xe chữa cháy vang lên inh ỏi. Những xe cứu thương lao nhanh trên những đường phố vắng người.
Lúc này, bên Pháp mới là hai mươi mốt giờ. Nhưng không phải là lúc chạy ra bưu điện đánh telex về nước. Bởi vì các ngả đường đều có lính gác trang bị đến tận răng.
Tôi đành đứng lại rất lâu trên sân thượng nhìn đám cháy khổng lồ, có cảm giác như không bao giờ tắt…
Cách chợ Bến Thành một quãng đường, một quả rốc két khác, có lẽ nhằm vào dinh Tổng thống, đã rơi xuống giữa phố khoét một mảng trên đại lộ.
Đó là một lời cảnh cáo.
Nhưng cảnh tượng ngao ngán nhất chính là chỗ xảy ra cháy lớn trong đêm.
Quả đạn rốc két, hẳn là định nhằm vào trụ sở tổng nha cảnh sát, đã rơi xuống giữa một khu nhà nhỏ làm bằng gạch, mái tôn, bị thổi bay như một toà lâu đài bằng giấy bồi. Sau đó, lửa đã lan rộng, lần lượt thiêu cháy thêm hơn ba trăm năm mươi gian nhà nhỏ nữa, nay chỉ còn lại những đống gạch đen thui. Mọi người đang tìm bới các xác chết. Có khoảng năm người bị thiệt mạng…
Từ khắp mọi nơi, những nhân viên cấp cứu và những hướng đạo sinh trẻ tuổi mặc đồng phục chạy thật nhanh tới cứu trợ. Không một giọt nước mắt. Không một lời phàn nàn…
Đào luyện nhân cách và phát triển kỹ năng: Trong mọi sinh hoạt nhất là qua các cuộc cắm trại, xuất du, và sinh hoạt ngoài trời khác, HĐS được nhiều cơ hội để phát triển những kỹ năng và đức tính cần thiết hầu thích nghi với mọi hoàn cảnh và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Là một quân nhân từ năm 1963 cho đến những ngày tháng cuối cùng của miền Nam Việt Nam, nhà văn Hoàng Khởi Phong, một người có mặt trong đoàn quân triệt thoái đầy bi thảm trên Liên Tỉnh Lộ 7 từ Pleiku về Tuy Hòa vào tháng 3.1975, đã ghi nhận tình bạn Hướng Đạo thắm thiết và đầy cảm động của ba HĐS hãy còn nhỏ tuổi như sau trong quyển “Ngày N+ …” phát hành năm 1988.
“ Ngày N + 7, 6 giờ 30 sáng “…Từ rạng sáng nhiều toán người đã tới, họ đã đi ngay sau khi cuộc đột kích chấm dứt. Trận đánh chỉ kéo dài mười lăm phút. Một số xe bị phá hủy, một số người chết và bị thương. Một số khác qua sông ngay trong đêm, lầm lũi đi giữa rừng. Lác đác đã tới đây, từng tốp. Có người ngừng lại ở cuối đoàn xe, nhiều người nét mặt sợ hãi còn vương trên đôi mắt, hốt hoảng tiến lên, ngừng lại ở đầu đoàn xe. Cả ngàn chiếc còn kẹt lại bên kia sông Ba. Có tiếng xì xầm trong bụi lau trước mặt, những cây lau rung rinh. Sợ địch quân có thể tấn công bất ngờ như đã làm trước đó, tôi vẫy hai người lính, cùng rón rén lại gần. Một cảnh thương tâm trước mặt, một em nhỏ chừng mười ba tuổi nằm trên cáng. Cáng được cột bởi những cây gậy đi rừng, rõ ràng là một cáng hướng đạo. Em bé chân trái bị mảnh đạn cắt gần lìa đầu gối, máu ướt đầm lớp quần áo buộc quanh vết thương, đôi mắt em thất thần, em vẫy ba người bạn lại, hai em chừng mười bốn và một em chừng mười một. Em nói với các bạn một cách rõ ràng cương quyết:
“Minh, Ngọc, hãy bỏ tao lại đây, hãy đi với mọi người. Chắc tao không thể sống được. Mang theo tao tụi mày sẽ không thoát khỏi đây."
Tôi thấy vẻ ngập ngừng của hai đứa lớn. Tôi tiến lại gần và nói với tất cả: "Các em đi trước đi. Để em bị thương ở lại đây, tôi có bác sĩ lo hộ." Tôi đã nói dối. Tôi biết chắc em bị thương không thể sống nổi. Cái chân trái gần cụt hẳn, máu ra như suối cả mấy tiếng đồng hồ rồi. Tôi biết một bác sĩ Thiết giáp, tôi nhớ xe ông ta cách xe tôi chừng trăm thước. Tôi bảo người lính đi tìm, rồi hối hai em Minh và Ngọc phải đi ngay đi. Em nhỏ nhất bây giờ mới tiến lên mở ba lô lấy một chiếc chăn mỏng, đắp lên người bạn bất hạnh. Cả ba lùi lại tôi thấy các em chào nhau bằng kiểu chào hướng đạo. Ba đứa trẻ quay đi, nước mắt dàn dụa. Bóng ba đứa lúp xúp trên mặt đường. Dường như mọi người còn ngủ cả. Chập sau vị bác sĩ tới, ông ta nói với tôi kín đáo, em nhỏ không thể cứu nổi, mạch đập loạn lắm rồi. Vả lại ông ta cũng chằng có gì để hành nghề cả, ông chỉ có được một mũi an thần cho nó dịu bớt cơn đau. Chỉ còn có thể để giúp em bình yên đi vào giấc ngủ sau cùng.”
Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lê Văn Cẩn, tác giả của một số sách (Đất Sài Gòn và sinh hoạt của người Sài Gòn xưa, Thành cổ Sài Gòn và các vấn đề về triều Nguyễn, Xã hội Đại Việt theo bút ký của người nước ngoài, Xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, Akio Morita và Sony – Kiến tạo nền giải trí tương lai, Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử, Những điều có thể bạn chưa biết, Vận hành toàn cầu hóa (dịch) ), hiện sinh sống tại Saigon, nguyên là cựu công chức VNCH, từng bị tù cải tạo 7 năm, đã phát biểu như sau trong cuộc phỏng vấn được thu hình và phổ biến trên mạng do Dương Quốc Chính thực hiện mới vài tháng vừa qua:
"... Bản thân tôi cũng chưa tham gia phong trào Hướng Đạo bao giờ. Nhưng mà phải công nhận là những người cùng thế hệ với tôi mà ở trong Hướng Đạo sau nầy cuộc sống của họ rất là nghiêm túc và rất tốt so với mặt bằng của cái thế hệ của chúng tôi. Đó là một phong trào mà nó tạo ra cho con người một sự hoàn chỉnh hoàn thiện về mặt nhân cách rất tốt...."
Đáp ứng được ước vọng sống một đời có ý nghĩa Hội HĐVN đã thành công trong sự áp dụng và Việt Nam Hóa các phương pháp giáo dục của Phong Trào Hướng Đạo Quốc Tế, tổ chức được nhiều trại Họp Bạn Quốc Gia (Phục Hưng vào năm 1957, Giữ Vững vào năm 1970, Tự Lực vào năm 1974), tạo dựng được một số mô hình vừa thi vị lại vừa hào hùng mang đến nhiều thích thú cho Hướng Đạo Sinh (Tên Rừng, Hướng Đạo Hiệp Sĩ (Thiếu sinh Việt Nam), Tráng Sinh Lên Đường…). Những sáng kiến nầy không chỉ đã đáp ứng được nhu cầu có một cuộc sống ý nghĩa của các thanh thiếu niên mà còn góp phần lưu giữ và thúc đẩy những nguồn năng lực nầy tiếp tục thật dài lâu theo hướng đi đã vạch sẵn. Hình ảnh của Tráng Sinh Lên Đường cũng chính là hình ảnh của người thanh niên tuấn kiệt đã hoàn tất mọi sự rèn tập, học hỏi, sẵn sàng vào đời (lên đường) để bắt đầu một cuộc sống đầy ý nghĩa và hữu ích, thành công và hạnh phúc. “Tráng Sinh Lên Đường” có thể được xem như là một Hướng Đạo Sinh đã trưởng thành toàn diện, “Người Hướng Đạo Lý Tưởng”, một danh hiệu giúp giữ những Tráng Sinh sau khi đã đạt được danh hiệu nầy sẽ tiếp tục sống một cách xứng đáng với vinh dự đã nhận được sau nhiều năm dài rèn tập bản thân trong các ngành nhỏ tuổi hơn. Hội Hướng Đạo Việt Nam được World Organisation of the Scouting Movement (WOSM) công nhận là một thành viên chính thức vào năm 1957, được chánh quyền đương thời công nhận là hội “có ích lợi chung” vào ngày 29.11.1968, một sự vinh danh quý báu mà rất ít các tổ chức thanh thiếu niên trước 1975 đạt được. Danh hiệu nầy được trang trọng ghi nhận trên mỗi thẻ Hội Viên để các Hướng Đạo Sinh đều thấy hãnh diện mà cố gắng giữ gìn và phát huy. Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam cũng được World Association of Girl Guides and Girl Scouts (WAGGGS) công nhận là thành viên chính thức vào năm 1966.
Từ những đóng góp quý báu hơn 50 trước đến di sản tiếp tục ngời sáng Với những thành quả lớn lao nêu trên, Phong Trào HĐVN đã liên tục góp phần đào tạo, khuyến khích hoặc tạo hứng khởi cho nhiều thế hệ công dân có nhân cách và muốn sống một đời đầy ý nghĩa, liên tục nỗ lực dự phần vào các công cuộc có ích lợi chung của cộng đồng và xã hội, dù có thể khác biệt nhau về quan điểm chính trị. Một số nhân sự tiêu biểu có ít nhiều liên hệ trực tiếp đến HĐVN được nêu ra sau đây cho thấy những tác động mà HĐVN đã góp phần tạo nên hoăc vun bồi tình yêu Quê Hương và Tổ Quốc, tinh thần Giúp Ích cùng sự quyết tâm trong những nỗ lực lớn lao của họ: Đó là giáo sư bác sĩ Phạm Biểu Tâm, giáo sư và Bộ Trưởng Tạ Quang Bửu, bác sĩ Trần Duy Hưng, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Trưởng Hướng Đạo Võ Thanh Minh, bác sĩ và Tổng Trưởng Nguyễn Văn Thơ, bác sĩ và Tổng Trưởng Nguyễn Tấn Hồng, luật sư Trần Văn Tuyên, Nghị Sĩ Trần Điền, nữ họa sĩ Lê Thị Lựu…
Kế thừa những truyền thống quý báu được tạo dựng bởi các thế hệ đi trước, ngay khi vừa đến bến bờ tự do dù các điều kiện vô cùng giới hạn trong cuộc sống tạm cư tại các trại tỵ nạn, các đơn vị HĐVN đã lập tức sống dậy để tiếp tục góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa, giúp ích, rèn luyện kỹ năng và nhân cách. 50 năm sau sau ngày bị bắt buộc phải ngưng hoạt động tại quê nhà, trong các quốc gia dân chủ tự do như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Pháp, Đức… và tại những nơi có đông người Việt cư ngụ, sinh hoạt HĐVN vẫn tiếp tục tưng bừng, rộn rã, đươm hoa và kết trái.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhận thấy rằng hiện nay trong số những người nhiệt tình với các sinh hoạt chung của cộng đồng người Việt tại khắp mọi nơi luôn luôn có nhiều nhân sự trong Phong Trào HĐVN tiếp nối nhau cùng kề vai sát cánh để góp phần phát huy văn hóa Việt và hiện thực tinh thần “Uống Nước Nhớ Nguồn”, “Ăn Trái Nhớ Kẻ Trồng Cây”, “Those who expect to reap the blessings of freedom must undergo the fatigue of supporting it”, “But the real way to get happiness is by giving out happiness to other people. Try and leave this world a little better than you found it…”
Đó chính là tinh thần Hướng Đạo, tinh thần yêu Tổ Quốc, yêu các giá trị cao đẹp của văn hóa dân tộc, tinh thần sống có nhân cách, sẵn sàng giúp ích, đóng góp vào các công cuộc có lợi ích chung, là cái di sản quý báu mà Phong Trào HĐVN qua nhiều thế hệ, từ hơn 50 năm trước, đã tạo dựng nên và hiện vẫn tiếp tục ngời sáng.
Lễ chào cờ tại trại hè 1993 của HĐVN Úc Đại Lợi
Giờ từ giã nhau sau khi kết thúc trại họp bạn HĐVN hải ngoại “Thẳng Tiến 5” tại Sydney, 1995
No comments:
Post a Comment