Mt68 History

Trang Mậu Thân 68 do QUÂN CÁN CHÁNH VNCH và TÙ NHÂN CẢI TẠO HẢI NGỌAI THIẾT LẬP TỪ 18 THÁNG 6 NĂM 2006.- Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Bị Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.

Monday, 12 September 2016

VC CHỜ ĐI SẼ CÓ MỘT NGÀY ... NHỮNG TAY SÚNG GỐC VIỆT NẦY SẼ THẲNG TAY DÀN CHÀO CHÚNG BÂY./-TCL

Nữ Đại Tá Danielle J. Ngô nhậm chức Lữ đoàn trưởng, Lữ Đoàn 130 Công Binh Lục Quân Hoa Kỳ.


Vào ngày 20 tháng 7 năm 2016, tại căn cứ quân sự Hamilton Field, nữ Đại Tá Danielle J. Ngô đã chính thức nhậm chức Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 130 Công binh Lục quân Hoa Kỳ. Trong buổi Lễ bàn giao cấp Chỉ huy Lữ đoàn dưới sự chủ tọa của Thiếu Tướng Susan Davidson, hiệu kỳ của Lữ đoàn 130 Công binh đã được Đại Tá tiền nhiệm Blace C. Albert chuyển giao lại cho Đại tá Danielle J. Ngô, tân Lữ đoàn trưởng.
alt
Đại tá Danielle J Ngô nhận hiệu kỳ Lữ đoàn 130 Công binh trong buổi lễ nhậm chức. (ảnh: 130th Engineer Brigade).
Phát biểu trong buổi Lễ nhậm chức, Đại Tá Danielle J. Ngô cho biết: "Tầm quan trọng của lực lượng Lục quân vùng Thái Bình Dương là ở vị trí hoạt động cấp chiến lược. Tôi mong muốn được nhìn thấy năng lực của Lữ đoàn 130 Công binh đạt được trong nhiệm vụ cung cấp, và yểm trợ, để đáp ứng được mục tiêu lợi thế chiến lược trong một tình hình phức tạp ! ".
Quân nhân và gia đình cùng với quan khách, thân hữu của Lữ đoàn 130 được Ban tổ chức mời đến tham dự làm cho buổi lễ tăng thêm phần trang trọng và thân mật. Sau Nghi lễ Nhậm chức trong ngày hôm đó, Đại tá Danielle J. Ngô đã gặp gỡ thân mật các quan khách, và quân nhân các cấp trong Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Và cũng ngay ngày đầu tiên nhận nhiệm sở mới, Danielle J. Ngô đã được các quân nhân trong Lữ đoàn dành cho nhiều cảm tình và sự kính trọng. 
Lữ đoàn 130 Công binh Lục quân là một đơn vị lâu đời, nguyên là Trung Đoàn Công Binh 1303 Yểm Trợ, hoạt động vào tháng 7 năm 1943. Và một thời gian ngắn sau đó, Trung đoàn được khai triển yểm trợ cho Lục quân Hoa Kỳ vùng châu Âu, và Thái Bình Dương trong Đệ nhị Thế chiến. Lữ đoàn 130 Công binh Lục quân cũng đã phục vụ chiến đấu trong các cuộc hành quân quy mô như: Joint Operations Endeavor, Desert Shield, Desert Storm, Iraqi Freedom và Enduring Freedom. Là Lữ đoàn Công binh hàng đầu trong Lục quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ (U.S. Army Pacific), Lữ đoàn 130 có hai Tiểu đoàn Công binh cơ hữu, đó là Tiểu Đoàn 84, và Tiểu Đoàn 8 trong nhiệm vụ yểm trợ kỹ thuật của ngành Công binh, và tiếp liệu cho Lục quân vùng Thái Bình Dương.
Đại tá Danielle J. Ngô gia nhập Lục quân Hoa Kỳ năm 1990, và trở thành một binh sĩ thuộc binh chủng Công binh. Sau đó, cô theo thụ huấn một khóa Sĩ quan, rồi tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu úy vào năm 1994. Cô lần lượt phục vụ tại các đơn vị Công binh như:                                                                                                                                                                                                      -Trung đội trưởng kiêm Đại đội phó Tiểu đoàn 62 Công binh;                                                                                                                    -Sĩ quan phụ tá Ban 4, Lữ đoàn 20 Công binh Nhảy dù;                                                                                                                           --Sĩ quan Ban 1 kiêm Ban 3, Tiểu đoàn 37 Công binh Nhảy dù;                                                                                                                  -Phân đội trưởng, Phân đội Công binh 610;                                                                                                                                                -Đại đội trưởng, Đại đội Chỉ huy, Tiểu đoàn 299 Công binh chiến đấu;                                                                                                      -Phó ban 4, Lữ đoàn 1, Sư đoàn 4 Bộ binh tham dự cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom I, Iraq;                                                    -Sĩ quan Bộ tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff Intern) tại Washington D.C.;                                                                                 -Sĩ quan phụ tá Phòng 5, Sư đoàn 1 Bộ binh;                                                                                                                                             -Phó phòng 5, Bộ tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại A Phú Hãn (Operation Enduring Freedom Afganistan);                                              -Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 52 Công binh;                                                                                                                                              -Sĩ quan Phụ tá Quân sự cho Chủ tịch Ủy ban Quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc.
Đại tá Danielle Ngô tốt nghiệp Cử nhân ngành Tài chánh tại Đại học Massachusetts. Cô cũng đã hoàn tất 2 Văn bằng Cao hoc tại Trường Chỉ huy và Tham mưu (Command and General Staff College), và Đại học Georgetowns.
Những thành tích nổi bật của Đại tá Danielle Ngô đã được cấp Chỉ huy ngành Công binh Lục quân khen ngợi. Trong suốt thời gian hơn hai năm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Công binh, Trung tá Danielle Ngô đã chỉ huy Tiểu đoàn góp phần đáng kể cứu nạn cháy rừng tại Waldo Canyon, và thực hiện phương pháp đề phòng cháy rừng tại đây. Tiểu đoàn cũng đã yểm trợ xây cất lại căn cứ Không quân Cheyenne Mountain sau cơn lũ lụt. Trong buổi Lễ bàn giao Tiểu đoàn lại cho Trung tá Ralph W Radka, Trung tá Danielle Ngô phát biểu: "Tôi đoán các bạn có thể gọi chúng tôi là Tiểu đoàn Thiên tai. Thật là tuyệt vời, vì chúng tôi đã sống sót qua hai trận cháy rừng xảy ra tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử Tiểu bang Colorado, và một cơn lũ lụt tàn bạo nhất đã làm bị thương 12 binh sĩ của chúng tôi, giờ đây họ đã bình phục. Các thiên tai  mà chúng tôi đã không được tham dự là sóng thần và động đất ! ".  Đại tá Heath Roscoe, Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 36 Công binh tại Fort Hood, đã hết lời khen ngợi Trung tá Danielle Ngô, ông nói:"Trung tá Danielle Ngô đã đi thêm những dặm đường. Cô ấy luôn lo lắng và giúp đỡ cho gia đình các binh sĩ trong đơn vị ! ". Dưới sự chỉ huy của Trung tá Danielle Ngô, Tiểu đoàn 52 Công binh cũng đã từng hoạt động tại các chiến trường Bahrain, Afghanistan, và Kuwait.
Đến tháng 2 năm 2014, Trung tá Danielle Ngô nhận nhiệm vụ trong vai trò Sĩ quan Phụ tá Quân sự cho Chủ tịch Ủy ban Quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc. Vài tháng sau, cô có tên trong danh sách 234 Trung tá Lục quân được chọn thăng cấp Đại tá, và đã được chính thức thăng cấp Đại tá trong năm 2015.
Đại tá Danielle Ngô là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên mang cấp Đại tá trong Binh chủng Công binh Lục quân Hoa Kỳ. Ngoài Đại tá Danielle J Ngô, trong quân đội Hoa Kỳ còn có một số nữ Đại tá Lục quân, Hải quân, Không quân và Đoàn Y tế Công cộng (USPHS) gốc Việt khác như:
- Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.
- Đại tá Phương Person, Lục quân.
- Đại tá Lynda Vũ, Bác sĩ Quân y Không quân.
- Đại tá Vũ Minh Châu, Bác sĩ Đoàn Y tế Công cộng/USPHS.
- Đại tá  Vũ Thế Thùy Anh, Dược sĩ Đoàn Y tế Công cộng/USPHS.
- Tân Đại tá Mimi Thanh Uyên Phan, Dược sĩ Đoàn Y tế Công cộng/USPHS.
- Đại tá Trần Ngọc Nhung, Bác sĩ Nha khoa Hải quân (hồi hưu).
- Đại tá Mylene Trần Huỳnh, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu).
Hơn 26 năm phục vụ trong quân đội, Đại tá Danielle Ngô được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý như: Bronze Star Medal (2), Defense Meritorious Service Medal, Meritorious Service Medal, Joint Service Commendation Medal, Army Commendation Medal (3), Joint Service Achievement Medal (3), Army Achievement Medal (5), Joint Meritorious Unit Award (2), Valorous Unit Award, Army Superior Unit Award (3), Army Reserve Component Achievement Medal, National Defense Service Medal (2)... và một số huy chương cao quý khác nữa .
Dự đoán sau nhiệm kỳ chỉ huy Lữ đoàn 130 Công binh, Đại tá Danielle J. Ngô cũng có thể sẽ được thuyên chuyển để đảm nhận chức vụ cao hơn trong Binh chủng Công binh Lục quân. Tính đến khoảng năm 2018, hay 2019, Đại tá Danielle Ngô cũng có thể được đề cử để trở thành Chuẩn tướng! Cầu chúc cho đường binh nghiệp của cô sẽ thăng tiến như Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, Chuẩn tướng Lapthe C. Flora, và tân Chuẩn tướng William H, Seely III.
alt
Đại tá Danielle J Ngô thăm một Quân y viện. (ảnh của USA Health Clinic Schofield Barracks).


Hết.

SỨC KHỎE KHÔNG PHỤC VỤ CHO THAM VỌNG CỦA HILLARY CLINTON

Bà Clinton hủy bỏ chuyến đi vận động ở California vì BỊ SƯNG PHỔI


Bà Clinton hủy bỏ chuyến đi vận động ở California vì sức khoẻ

Cali Today News












Hôm thứ hai 12/9 bà Hilary Clinton hy vọng là câu nói nổi tiếng của ông Strass không sai là bao nhiêu. Trong tuần qua bà đã chịu nhiều cơn “thoái trào nghiêm trọng”, cao điểm là sự loạng choạng của bà vì sức khỏe khi dự lễ kỷ niệm 15 năm biến cố 9/11 ở NYC.
Sau khi thông báo ngay tức khắc là bà chỉ cảm thấy khó chịu vì cảm thấy thấy “quá nóng”, cuối cùng bác sĩ riêng và ban vận động của bà công bố bà bị sưng phổi và phải uống thuốc trụ sinh chữa trị.
Tình hình sức khỏe yếu kém đã khiến bà Clinton phải hủy bỏ chuyến đi vận động dự tính kéo dài trong 2 ngày ở tiểu bang California.
Bất lợi cho bà là nếu trước đây các ủng hộ viên của bà còn cho những bình phẩm của ông Trump và phe ông ta về sức khỏe của bà là “đầy thiên kiến và có tính cách phân biệt giới tính” thì bây giờ hình ảnh tai hại này sẽ gây sức ép lên việc công bố hồ sơ bệnh lý của bà.
datauri-file.png
***Hillary tập họp cử tri vài chục người.
Cảm nghĩ là bà thiếu trung thực sẽ càng gia tăng nếu bà Clinton cứ giấu diếm bệnh tình và không chịu công bố bản record về sức khỏe, vì ông Trump trong ngày thứ hai đầu tuần nói sẽ làm chuyện này rất sớm.
An ủi duy nhất cho bà Clinton là kết quả trên toàn quốc về tỉ lệ cử tri Mỹ ủng hộ bà vẫn cao nhất với 41.8%, trong khi ông Trump được 39.6%, ông Johnson được 9.1% và ông Stein được 2.9%. Cảm giá bất an cho bà là hố ngăn cách giữa bà và ông Trump đã “ngày càng thu ngắn lại”
Trần Vũ (USA Today)
VUA RÁC DAVID DƯƠNG BỊ ĐÁNH TƯ SẢN


*
*   *


Phản bội như loài chó trực xương.
Đó là vua rác Đá Vịt Dương.
Lúc đầu phấn khởi, làm ăn khá.
Về sau bị Vẹm trở mặt lường.
Đón gió, ý đồ mong hốt bạc.
Trở cờ về nước, mặt bắt lương.
Bây giờ bị Vẹm đánh tư sản.
La làng, rát họng, chẳng ai thương.

   Vẫn như cũ, đại đa số Vẹm kiều Ngũ Du:" du lịch, du hý, di dâm, du thương, du hôn" thường hay bị vạ, dù nhỏ như bị trấn lột tại phi trường do " hải quan tặc", cưới vợ dỏm bị đá đít sau khi" lỡ đưa em sang đây", về du lịch bị các" thiên thần hay thánh nhân xã hội chủ nghĩa chôm chỉa hành lý, móc túi, giựt dọc"…trong số nầy có thành phần Vẹm Kiều du thương là nổi bật nhứt, vì càng dính vô làm ăn là càng bị trấn lột kỷ. Một số Vẹm kiều du thương như vua chả giò" Hòa Lan" Trịnh Vĩnh Bình bị vớt đẹp, cuối cùng phải thưa kiện tốn kém mà còn mang tiếng ngu; Vẹm kiều Úc Châu là Nguyễn Trung Trực, dù có bà dì làm lớn trong bộ nội vụ, lúc làm ăn khá là có cả công an bảo vệ, vậy mà cũng bị đánh tư sản nên:

Cũng đành bỏ của lấy người.
Từ đây mất hết, chúng cười ngu si.

    Đau nhứt là" cháu ngoan ghẻ khỉ Hồ" Trần Trường, kẻ hy sinh" cúng dường" cho bác và đảng cái tiệm Hi-Tech, treo cờ" máu hòe và ảnh khỉ chủ tặc Hồ Chí Minh" nên bị những người bỏ nước ra đi vì hai chữ" tự do" phản đối mạnh. Sau khi biểu biểu tình ròng rã gần 2 tháng, hắn phải đóng cửa thương nghiệp. Trần Trường tưởng là đã lập công to dâng đảng nên bán tài sản về làm ăn và cũng bị đánh tư sản, cuối cùng đành phải về Mỹ, được một số băng đảng Vẹm Tân tổ chức hợp báo, vận động xin tiền người Việt hải ngoại để về Việt Nam kiện lấy lại tài sản, trở thành" Vẹm kiều khiếu kiện", thêm một thành phần mới trong hàng ngũ" dân oan khiếu kiện".

    Tuy nhiên cũng có một vài Vẹm Kiều làm ăn thành công, khỏe re như bò kéo xe là mụ Nâng Sờ Buồi, giám đốc công ty" cà phê đa cứt" (cà phê cứt chồn, cứt chó, cứt mèo, cứt ….và cứt Vẹm), khi qua Mỹ mở hội" bảo vệ văn hóa" thật là" đá cá lăn dưa". Cháu của chúa thảo khấu Hoàng Cơ Minh là Carina Hoàng Oanh cũng thành công làm ăn và an toàn lại viết sách tiếng Anh, tự xuất bản, được đại tá tiếp liệu Vũ Văn Lột, tức là nhà dzăng Nghĩa Địa là người của Vẹm Tân ca tụng.

    Lần nầy tới lượt vua rác David Dương, là người Việt tỵ nạn quá độ" Vẹm kiều du thương" làm ăn lớn trong nghề" xử lý rác" theo định hướng Karl Marx ở THIỀN ĐƯỜNG cộng sản là chốn THƯỜNG ĐIÊN. Làm ăn qui mô và có kế hoạch" vĩ mô" nên được đảng và nhà nước ưu ái cho phép lập một" vương quốc rác". Theo tin của VNEXPRESS ghi như sau:

"Vua rác gốc Việt đầu tư 450 triệu USD vào Long An
Dự án Khu công nghệ môi trường xanh trị giá 450 triệu USD có khả năng tiếp nhận và xử lý 40.000 tấn chất thải mỗi ngày.
Vua rác gốc Việt ký kết hợp đồng hơn một tỷ USD / Vua rác gốc Việt thắng thầu 2,7 tỷ USD"

Giấy chứng nhận đầu tư dự án được Chủ tịch UBND tỉnh Long An - Đỗ Hữu Lâm trao cho ông David Dương - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Xử lý chất thải Việt Nam - Long An hôm 12/9.
Theo đại diện Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh, dự án có tổng vốn 450 triệu USD, diện tích khoảng 1.760 ha tại xã Tân Lập, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Nơi đây có thể tiếp nhận, xử lý 40.000 tấn rác một ngày, gồm chất thải thông thường, công nghiệp, điện tử, y tế, phân hầm cầu, bùn cống rãnh..."

      Vua rác David Dương quả là thiên tài đón gió, biết khác thác những gì mà người ta bỏ, đoạn từ đó tiến tới:

Từ đồ dơ, làm nên tất cả.
Lấy rác xài, biến chế biến tiền đô.

    Sau khi vua rác được đảng thái thú Vẹm" cắt đất" phong vương với một vùng đất rộng tới 1.760 ha thì ả Ma Đít Sần Nguyên về" tham qua" và ngửi RÁC khen thơm, ca ngợi" thành công, thành công, đại thành công" của vua rác David Dương. Tuy nhiên gần đây, vua rác thấm đòn khi bị con cháu Karl Marx có ý đồ" vắt chanh bỏ vỏ" nên về Mỹ kêu gọi ĐỒNG HƯƠNG giúp kẻ có trái tim ĐƯƠNG HỒNG làm ăn không xong tại thiên đường lừa bịp.

Chuyện nầy giống y như Trần Trường, ca sĩ Duy Quang…lúc ăn được thì ngậm câm hưởng, khi lâm nạn là kêu gọi người Việt hải ngoại giúp. Người Việt hải ngoại đâu phải là" hậu cần vĩ đại" đã từng bị hại, móc túi trường kỳ của: đảng bất hợp pháp Vẹm Tân, cám ơn anh của nhọt sĩ Nam Lột, quỹ tù nhân lương tâm (cũng là Vẹm Tân), giải thưởng nhân quyền (Vẹm Tân)….

    Vương quốc rác càng ngày càng bị" âm mưu diễn biến tham ô của quan chức Vẹm, lợi dụng luật rừng để biến vua rác David Dương thành vô sản" nên mới đây có tin từ trong nước:

" Dự kiến, Cơ quan thuế của TP HCM sẽ truy thu 120 tỷ đồng đối với Công ty TNHH Xử lý Chất thải Việt Nam (VWS), chủ đầu tư khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước, huyện Bình Chánh.

Lãnh đạo Cục thuế TP HCM cho biết sẽ truy thu 120 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với VWS. Đây là số tiền VWS đã được hoàn thuế VAT trước đây. Theo giấy phép đầu tư, VWS được hưởng ưu đãi đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế.

Tuy nhiên, đến nay VWS không có hoạt động kinh doanh, mua sắm đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.
Dựa vào các cơ sở trên, cơ quan thuế dự kiến truy thu các dịch vụ đã hoàn cho VWS. Cụ thể, những máy móc, thiết bị nhập khẩu của VWS không thuộc đối tượng miễn thuế theo giấy phép đầu tư.

Nguồn: http://www.phapluatplus.vn/cong-ty-cua-dai-gia-rac-david-duong-se-bi-truy-thu-thue-120-ty-dong-d23605.html".

    Lần nầy vua rác David Dương khó thoát vì nước Mỹ hay các nước Tây phương không thể can thiệp, giúp cho những tội danh như: trốn thuế, vận chuyển và buôn bán ma túy…đó là tội hình sự chớ không phải chính trị, nên vua rác David Dương không thể réo Human right watch, Amnesty International…và càng bất lợi hơn là băng đảng Vẹm Tân vừa bị Nguyễn Thanh Tú bứng gốc, lòi ra là tổ chức lậu, bất hợp pháp. Do đó vua rác David Dương đã mất hết hậu thuẫn, hoàn cảnh thật bi đác như gánh hát bị rả gánh…tuy nhiên cũng còn có kẻ có thể cứu giá là ả Ma Đít Sần Nguyễn, ả từng khen rác của David Dương" thơm như là rác", nếu ả may mắn giành được một chiếc ghế dân biểu địa phương thì may ra vua rác có thể thoát nạn vì ả nầy có khả năng đi đêm với thái thú Vẹm.

    Vua rác David Dương bị đánh tư sản là đáng kiếp, ham lợi mà thân bại danh liệt, trở thành nạn nhân của thái thú Vẹm. Biết đâu sau khi bị đánh tư sản, tan nhà nát cửa, thì David Dương sẽ trở thành một người chữi cộng sản mạnh như một số kẻ bị mất của sau khi làm ăn ở Việt Nam: như một tay về làm hãng, bị đánh tư sản và về nước tạm dung viết báo chống đảng mạnh, tưởng là chống THẬT TÌNH, nhưng nhìn kỷ thì mới biết là vì bị mất THỊT TIỀN chớ nào có lý tưởng./.

TRƯƠNG MINH HÒA
Ngày 12.09.2016

Sunday, 11 September 2016

ĐẢNG THU TIỀN -DÂN BẦU ....

Bà Thu Nga chạy 1,5 triệu USD và ông Vũ Hoa Sen bị tống tiền

 LÊ THANH PHONG 
Nguyên đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga khai “chạy” đại biểu Quốc hội hết 1,5 triệu USD.
Nguyên đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga khai “chạy” đại biểu Quốc hội hết 1,5 triệu USD. Dân gian nói “không có lửa làm sao có khói”, vậy thì khói đây rồi, còn lửa ở đâu? Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc bất ngờ trước thông tin này và ông cho rằng số tiền 30 tỉ đồng rải đi đâu cho hết.
Ông Nguyễn Hạnh Phúc cương quyết: “Phải làm rõ đưa ai, bao nhiêu, đưa làm gì? Nếu có thì đó là chuyện tày trời. Bỏ một khoản tiền lớn như thế vào Quốc hội làm gì, giải quyết vấn đề gì?”.
Rất nhiều chuyện “tày trời” từng xảy ra và cũng không lo tiền rải đâu cho hết, ba chục tỉ đồng chứ 3.000 tỉ đồng rải cũng hết. Bỏ tiền “chạy” để có một chân đại biểu Quốc hội để làm gì, đạt những mục đích gì là việc của cá nhân bà Nga và các đối tác của bà, họ biết rõ. Với nhiều người, làm đại biểu Quốc hội để lo việc nước việc dân, nhưng cũng không loại trừ trường hợp lo chuyện cá nhân.
Chuyện chạy chức, chạy quyền nghe đã nhiều, nhưng “chạy” đại biểu Quốc hội với số tiền lớn có lẽ mới nghe lần đầu. Đại biểu của dân, do dân bầu, nếu có chạy thì chạy từ “cửa” nào trước khi dân cầm lá phiếu đi bầu, chắc chắn không chạy cửa của dân được. Cho nên, vấn đề ở đây là phải làm rõ lời khai của bà Châu Thị Thu Nga, có hay không, để trả lời cho dân công khai và minh bạch.
Tại Đại hội cổ đông bất thường niên độ tài chính 2015-2016 của Cty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen diễn ra ngày 6.9 vừa qua, ông Lê Phước Vũ - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn - nói công khai có tổng biên tập của một tòa báo đi tống tiền 500 triệu đồng, sau đó là 700 triệu đồng của một viện thẩm mỹ, bị công an bắt nhưng không truy tố. Sau đó ông Vũ nói tiếp là “nó đến tống tiền tôi”.
Đây không phải là chuyện riêng của tổng biên tập tờ báo nào đó, mà là chuyện chung của báo giới và sự tôn nghiêm của pháp luật. Ai tống tiền, tống tiền 700 triệu đồng bị công an bắt sao không truy tố? Nhà báo nào đến tống tiền ông Lê Phước Vũ, phải làm rõ để loại trừ nhà báo đó ra khỏi đội ngũ những người làm báo. Qua thông tin tố giác tội phạm của ông Lê Phước Vũ, thiết nghĩ công an nên vào cuộc.
Chúng tôi, những người làm báo, rất mong làm sáng tỏ nhà báo nào, tờ báo nào tống tiền ông Lê Phước Vũ, nếu cứ nói không căn cứ, sẽ ảnh hưởng đến uy tín của báo chí chúng tôi.
GHI CHÚ MÀO ĐẦU NẦY LÀ CỦA BÁO LÀNG VĂN./-TCL

Tài liệu:
                LTS.- Nằm trong mục đích xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam, trong nhiều năm nay, Trung Cộng và tay sai là CSVN đã cố tình nhồi sọ dân Việt rằng“người Tàu có công khai hóa người Việt; nếu không nhờ người Tàu khai hóa thì cho đến ngày nay người Việt vẫn còn là khỉ sống trên cây như tổ tiên của họ.” Đây là sự bẻ cong lịch sử văn minh một cách thô bỉ và lăng mạ cả một dân tộc bất khuất, nhưng có một số người Việt đã ăn phải bả và vẫn tiếp tục làm cái loa tuyên truyền không công cho Trung Cộng, tự phỉ nhổ tiền nhân của chính họ.
                Bài viết sau đây là một trong những công trình nghiên cứu có căn bản, chứng minh rằng người Việt là một trong các dân tộc Bách Việt từng sống ở Giang Nam (tức phía Nam của con sông – tức sông Dương Tử), đã có một nền văn minh rực rỡ, và chính dân tộc “Hán” (tức người gốc Sở) tuy chiếm được một dải giang sơn rộng lớn của Bách Việt (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến) nhưng đã bị đồng hóa ngược lại, thấm nhuần một phần văn hóa Bách Việt. Người Hán chiếm được gần như toàn bộ Bách Việt nhưng không chiếm nổi Lạc Việt (Việt Nam ngày nay). Người Hán đã xóa sạch văn tự Việt nhưng không tiêu diệt được ngôn ngữ Việt; ngay cả các bộ tộc Bách Việt còn sống rải rác trên vùng đất cũ bị người Hán xâm chiếm vẫn còn nói tiếng Việt cổ.
                Chúng tôi phổ biến bài viết này như một tài liệu tham khảo, dù tác giả ở phía bên kia “giới tuyến”. Điều lý thú là trước giả đã dùng toàn tài liệu của người Hán, và điều đó tự nó đã chứng minh tính cách trung thực của những điều ông lý giải.
(nếu có các hình bản đồ không hiện lên, xin xem trong bản pdf kèm theo)
Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt
Tác giả: Trần Gia Ninh
Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt. 
Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?
Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?
Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt  (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là  và , đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi  là Việt bộ tẩu  (đi, chạy) và Việt  là Việt bộ mễ -(lúa)2.
Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu  là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch . Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt bộ mễ  ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ  là vì vậy).
Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.
Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.
Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.
Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán
Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt   thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐(496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.
Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương(Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.
Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng ( – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết  – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương  này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.
china5bchttp://tiasang.com.vn/Portals/0/NL-%20anh%201.jpgCác nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).
Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán
Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…
Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.
Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.
Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.
Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.
Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.
Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.
Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20“Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc  của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.
Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
  • Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
  • Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
  • Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!
Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
  • Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
  • Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.
Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
  • Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
  • Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
  • Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).
Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
  1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
  2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
  3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.
Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.
Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.
Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.
Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…
Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.
Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.
———————-
CHÚ DẪN
  1. 为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml 越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html
  2. Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt  và Việt  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là , “Hán thư” viết là . Âm đọc  là từ âm đọc của chữ Vu , người cổ đọc  là. Vu  viết theo lối chữ triện  là, hài thanh là chữ vũ -mưa, viết lên trên thành . Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt  đều cải viết thành, sau theo lối chữ lệ , chữ khải  mới viết thành ra , tức biến hóa hình chữ vũ  đặt trên chữ Vu.
  3. 路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳雒越瓯越瓯,  且瓯西瓯供人目深摧夫禽人苍梧越区桂国损子产里(西双版纳), 海癸九菌稽余,仆句区吴(), 谓百越
  4. http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina
  5. 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
  6. 屈原在《离帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
  7. 《史.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰我蛮夷也不与中国之号- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
  8. Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
  9.  Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城(Việt Thành)、都 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
  10. Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  , thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
  11. 《淮南子·间训:(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
  12. 《史·南越列传》赵佗上呈汉文帝的谢罪书且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).
  13. 吕氏春秋·孝行·本味篇》:和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。诱注:骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
  14.  常璩(347华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
  15. 华阳国志·蜀志:周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及 太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
  16.  
  17. 岱依人
  18. 《越史略》卷一载:周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越 勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
  19. 《水·榆水注》中注引《交州外域记》云:交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡 县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
  20. 《旧唐·地理志》则引《南越志》云:交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交 趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
  21.  So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ (bộ thủ “chuy  “) nguyên chỉ là chữ  (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các thành chữ thạch  hay chữ quăng ) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!
  22. Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域, Thái Bình Ngự Lãm 太平御. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
  23. 《交州外域: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
  24. 《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王 女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
  25. Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
  26. Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
  27. Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
  28. Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/09/11/nhin-lai-lich-su-bach-viet-va-qua-trinh-han-hoa-bach-viet/#sthash.KgdoNK59.At5EAMbd.dpuf