Mt68 History



Trang Mậu Thân 68 thiết lập từ 18-6-06 - Đã đăng 11,179 bài và bản tin - Hacker phá hoại vào Ngày 04-6-2012. Tái thiết với Lập Trường chống Cộng cố hữu và tích cực tiếp tay Cộng Đồng Tỵ Nạn nhằm tê liệt hóa VC Nằm Vùng Hải Ngoại.


Saturday, 20 May 2017

TRẦN CAO LÃNH PHÚC ĐÁP THƯ CỦA ANH LINCOLN NGUYỄN CÔNG LƯỢNG./-TCL

 Thưa Anh Lincoln Nguyễn Công Lượng;

Trước tiên tôi xin thay mặt Mt68 có lời chân thành kính xin lỗi Anh vì đã chạm tự ái quá nặng của tác giả, "học giả" về Trung Cộng. 

Thưa anh bút hiệu Trần Cao Lãnh của tôi cũng là dân QGHC như anh nhưng vì không có nhu cầu tên tuổi nên xin anh miễn thứ cho việc không công khai lộ diện cá nhân. Tôi sẵn sàng gỡ phần bình luận của tôi xuống nếu có lời chính thức yêu cầu của anh. Xin anh vui lòng hiểu cho "bình luận" là quyền phát biểu của mọi đọc giả sau khi xem bài viết của bất cứ ai trên báo chí hay internet. Như anh có lẽ hiểu thì "bình luận" bao gồm cả khen hay chê hoặc thậm chí đến nặng nề, thất học hơn nữa mà tác giả cũng đành phải chấp nhận khi mà mình dám và quyết đưa ý kiến của riêng mình ra trước sân khấu dư luận !!! Thưa anh khả năng chấp nhận phê phán là thước đo bản lãnh của người cầm bút khi múa bút trước thiên hạ !!!

Thư anh gởi riêng cho anh bạn mà nay không còn đóng góp thường xuyên cho trang Mt68 nữa và trong thư anh đã đề cặp rất "nhẹ nhàng" và nhiều lần đến Trần Cao Lãnh ngu dốt tôi đây nên tôi xin mạn phép phải công khai phúc đáp thư của anh. Và vì hơn nữa tôi cũng là người điều hành Mt68 nên xin được nhận trách nhiệm về những ý kiến của Mt68 đính kèm các bài mà chúng tôi tiếp tay phổ biến luôn có kèm theo quan điểm riêng của trang Mt68 chúng tôi.

Thưa anh Lincoln;

Tôi xin mạn phép trích y câu viết của anh: 

" Tháng 3 năm 1979 trên tạp chí “Thi San” xuất bản ở Bắc Kinh, thơ Mông Lung mới được biết đến như là một trường phái thơ thực sự. Mặc dù trước năm 1979 những bài “thơ Mông Lung” đã xuất hiện nhưng phải đến thập niên 80 thơ Mông Lung mới có mặt trên khắp các tạp chí ở Trung Quốc như Tinh Tinh, Văn Học Thượng Hải, Nhân Dân Văn Học, Văn Hối Nguyệt San, Văn Học Phúc Kiến, Văn Học Tứ Xuyên, Mãng Chủng, Manh Nha, Thanh Xuân…"

 Thưa để cho vắn tắt và rõ ràng hơn, tôi xin mạn phép "marqué" 3 xác nhận của anh như sau:

1- Anh viết, anh tránh không dùng chữ TRUNG CỘNG là vì:"Sở dĩ tôi không thể dùng chữ Trung Cộng vì có phần bàn đến Thơ Đường thơ Tống thì hồi đó làm gì có Trung Cộng."

 Thưa anh Lincoln, bài viết của anh với tựa đề là "Thơ Mông Lung", ai cũng hiểu chính yếu là thơ mông lung chứ không phải thơ đường, thơ đậu gì cả có đúng không ??? Mà buồn cười và mỉa mai cho anh hay cho tôi ? là vì chính anh đã hài rõ ở đọan trích dẫn trên là thơ mông lung được biết đến từ THÁNG 3 NĂM 1979 !!! Như vậy 1979 chưa có TRUNG CỘNG sao hả anh Lincoln alaham ???!!! Lý do anh đưa ra để tránh xa chữ TRUNG CỘNG có phải quá ngụy biện, quá chủ quan, quá cưỡng từ đọat lý không anh ???

2- Trong phần trích y bên trên anh cũng đã liệt kê một lô tên tạp chí văn học của TRUNG CỘNG như: "các tạp chí ở Trung Quốc như Tinh Tinh, Văn Học Thượng Hải, Nhân Dân Văn Học, Văn Hối Nguyệt San, Văn Học Phúc Kiến, Văn Học Tứ Xuyên, Mãng Chủng, Manh Nha, Thanh Xuân…"

Tôi đây rất tò mò là các tạp chí của TRUNG CỘNG viết bằng tiếng VIỆT hay tiếng gì mà anh đọc hết trơn hết trọi vậy anh Lincoln ??? Hay là nó viết bằng tiếng QUANG THỌAI và anh đọc trơn tru như 6 câu vặn cổ??? TÔI XIN HÒAN TÒAN KHÔNG TIN ANH LINCOLN CÓ KHẢ NĂNG ĐỌC TRỰC TIẾP TỪ CÁC TẠP CHÍ MÀ ANH HÃNH DIỆN LÀM BẰNG CHỨNG CHO LUẬN CỨ HỌC GIẢ TRUNG CỘNG CỦA ANH !!!

Xin lỗi anh, anh biểu tôi phải biết người biết ta và tôi cũng xin mạn phép được lập lại anh cũng nên biết người biết ta một chút mới tọai lòng nhau chứ !!! * Lưu ý rất sơ đẳng là khi nêu tài liệu ngọai ngữ mà mình không biết thì phải nói rõ là mình thu nhặt bằng tài liệu dịch thuật VIỆT NGỮ của tác giả là người Việt nào? để đọc giả phán đóan có đáng tin cậy hay không mới đúng điệu nghệ của một nhà biên khảo thứ thiệt chứ ?!

3- Anh khẳng định là xứ Việt Nam ta bị TRUNG CỘNG ĐÔ HỘ TỪ NGÀY 30-4-1975. Chuyện nầy về Ý NGẦM (Innuendo) thì tôi xin hòan tòan đồng ý với anh. NHƯNG chữ ĐÔ HỘ mà anh chánh thức xác nhận thì tôi e rằng trên phương diện Quốc Tế không ai CHÁNH THỨC xác nhận như anh cả. Chữ ĐÔ HỘ mà tôi dùng trong phần bình luận về bài viết của anh nó chỉ gói gọn trong ý nghĩa y hệt trong câu" 1000 NĂM ĐÔ HỘ GIẶC TÀU" nghĩa là TRUNG CỘNG sẽ chánh thức chiếm cứ, cai trị và đô hộ như một ngàn năm trước kia.

Thưa anh Lincoln, tôi nghĩ bài viết công phu, học giả của anh, ngon lành không một ai dám cà phê, cà pháo gì cả mà tôi dám cả gan ném đá vài câu làm cho bài viết hết linh khiến cho anh đã phải cởi bỏ áo thụng mà không cần suy nghĩ gì cả !!!

Kính thưa Bà Con Tỵ Nạn khắp nơi: Chúng tôi phê phán thẳng thừng vì bài viết tỏ vẻ RẤT RÀNH VĂN HÓA TRUNG CỘNG và kiêng nễ không dám xài chữ TRUNG CỘNG mà cứ xài chữ TRUNG QUỐC, TRUNG QUỐC, TRUNG QUỐC y như VIỆT CỘNG trong nước.

Nhân đây Mt68 cũng rất hy vọng bất cứ ai mang danh là Học giả không nên tỏ ra rất thuộc làu văn hoá trung cộng trong hoàn cảnh hiện nay; tự nó RẤT PHẢN TÁC DỤNG đối với mọi quyết tâm chống trung cộng với ý đồ xăm lăng việt nam ta.


Một lần nữa vì lập trường chống cộng chung của người việt tỵ nạn mà tôi đành phải thẳng thừng phật lòng bằng hữu đồng môn QGHC chúng ta./-

Thân kính;

trần cao lãnh

ĐH Trang Mt 68 

Tháng /5/2017

==========================

 

Lincoln Nguyen


Kính gởi: Anh (mauthan68hue)
Tôi nhận được email của huynh trưởng Nguyễn Kim Dần ĐS/8 đã mấy tuần nay, suy nghĩ là có nên viết cho anh hay không. Như Đức Phật đã dạy những lời thị phi về mình thì không nên biện bạch làm gì. Tuy nhiên suy nghĩ lại, đây không phải là một việc của “đời thường” mà liên quan đến vấn đề tranh đấu cho một Việt Nam có tự do, dân chủ, việc mà anh và tôi đang theo đuổi. Và dù sao anh cũng là người khởi xướng và hiện nay cũng đang trong Ban ĐH/Biên tập của một Website có tiếng chống Cộng nên tôi phải viết thư nầy.
Trước hết, tôi rất buồn cười và thất vọng cho Website mauthan68hue hiện nay vì đã để cho anh TCL (Trần Cao Lãnh) viết một đoạn văn mà anh NKD đã gởi cho tôi bên dưới. Tôi xin có nhận xét:
1.     Trần Cao Lãnh không biết gì về hiện tình đất nước của Việt Nam cả. Xin hỏi quý anh ngày 30.04.1975 là ngày gì vậy ? Ngày mất toàn cõi đất nước đó quý anh ơi! Kể từ ngày đó coi như bọn Trung Cộng đã đô hộ Việt Nam rồi đó chứ không phải bây giờ chúng đang tiến gần đô hộ Việt Nam ta đâu… Đừng nhìn cạn cợt rồi hô hào đoàn kết với Hà Nội để chống Tàu Cộng….
2.     Nghiên cứu một vấn đề của người là để biết người biết ta, chứ tranh đấu mà không biết người thì làm sao mà thắng được người hởi quý anh. Mà nói thực Trần Cao Lãnh chắc đọc bài viết “Thơ Mông Lung” của tôi chắc anh ta cũng không hiểu được nội dung nói gì nên mới viết lách bừa bãi như thế. Chỉ vì trình độ thấp kém mà thôi…
3.     Như việc Trần Cao Lãnh nói rằng xài chữ Trung Quốc mà không xài chữ Trung Cộng là e dè cái gì . Xin hỏi quý anh rằng bài viết của tôi tuy là một bài viết về văn học nhưng là một bài đấu tranh các anh có hiểu không ?.Sở dĩ tôi không thể dùng chữ Trung Cộng vì có phần bàn đến Thơ Đường thơ Tống thì hồi đó làm gì có Trung Cộng. Nếu tôi nói thơ Đường thơ Tống của Trung Cộng thì chắc chắn đến đứa trẻ có chút hiểu biết nó cũng cười cho. Bài của tôi không gởi cho mauthan68hue mà quý anh lưu ý phê bình thì rất cảm ơn. Nhưng hiện nay thì trên các diễn đàn nhất là diễn đàn của (Dân Làm Báo) có tác giả Nguyễn Thị Thảo An viết bài có tựa để”Chặt Tay Trung Quốc, Ván Cờ Mới của Mỹ” vậy thì các anh nghĩ sao ? Đó là chưa kể Trần Cao Lãnh đang ở Mountain View, Cali. mà tôi có thấy lên tiếng gì khi các đài TV tiếng Việt ở đây phát ra bao nhiều điều đáng nói vì rất bất lợi cho cuộc đấu tranh sao không thấy Trần Cao Lãnh lên tiếng gì cả???...
4.     Một điều đáng buồn cười nữa là các anh ghi tên Lê Anh Dũng (tức letamanh) trong danh sách 111 Việt Cộng nằm vùng trong đám Vặn Nghệ Sĩ Hải Ngoại, thế mà một bài viết của letamanh giới thiệu một nhân vật “anh hùng” sắp ra mắt quyển “Vượt Tù- Vượt Biển” mà thực chất thì chính letamanh cũng như các anh chắc chưa biết gì về tác giả và cũng chưa đọc quyển sách nầy bao giờ, chứ đã đọc rồi mà có “cái nhìn” thì chắc chắn không bao giờ các anh dám quảng cáo trên website mauthan68hue như vậy. Cứ thử tìm đọc đi thì biết.
Thư nầy mong rằng quý anh nên tỉnh táo, đừng để thiên hạ phải mỉa mai về những việc làm của các anh là để chính tổ chức của mình lại lọt vào một tên VC nằm vùng phá bỉnh mà không biết.
Tôi cũng xin khuyên các anh rằng để được đọc giả tín nhiệm mà ủng hộ chúng ta thì mọi việc nên hết sức cẩn thận, nhất là không nên đưa tên một người mà mình không biết rõ về họ vào danh sách nầy danh sách nọ. Tôi xin dẫn chứng nhà văn Huy Phương mà các anh đưa vào danh sách có mở ngoặt dề tên thật của ông là (Lê Huy Phương) là không đúng, tôi nghĩ chắc một người nào đó cung cấp cho các anh chỉ vì thù oán gì đó với NV/HP. Hơn nữa, NV Huy Phương là một thầy giáo đáng kính, ông ta viết nhiều bài chống Cộng rất có giá trị và làm Cộng Sản phải khiếp sợ. Ông cũng là chú ruột của anh Lê Hiếu Nghĩa ĐS/17 đang ở Nam Cali. Mong quý anh xem lại….
Chúc quý anh sức khỏe và bình an

Kính thư

Nguyễn Công Lượng
20.05.2017

From: dan nguyen [mailto:dankimng99@hotmail.com]
Sent: Sunday, May 14, 2017 6:38 PM
To: luong nguyen
Subject: Chưa Gỡ Xuống

Mậu thân 68 hãy còn bài của em, anh vừa lấy ra....
........................................

LỜI THẬT MẤT LÒNG- XIN LỖI ! XIN LỖI!!!

BÀI NGHIÊN CỨU CÔNG PHU NẦY XUẤT HIỆN TRONG HÒAN CẢNH TRUNG CỘNG ĐANG TIẾN GẦN ĐÔ HỘ VIỆT NAM TA - NÓ TỰ PHẢN TÁC DỤNG VÀ MỈA MAI KHÔNG ÍT !!!? CHỨNG TỎ NGƯỜI VIỆT CHÚNG TA CÓ NGƯỜI LUÔN THEO DÕI QUAN TÂM "SÂU SẮC" (chữ VC) ĐẾN VĂN THƠ TÀU CỘNG- RÀNH RẼ VĂN HÓA TÀU HƠN CẢ TRĂM TRIỆU NGƯỜI TÀU NỮA ! NHƯ VẬY THÌ VÔ TÌNH CẢM THẤY TÀU ĐÔ HỘ VIỆT NAM LÀ OK CHĂNG???!!! HƠN NỮA ANH BẠN QGHC NẦY LÀ NGƯỜI RẤT CHỐNG CỘNG TRƯỚC KIA MÀ NAY VẪN XÀI CHỮ "TRUNG QUỐC"- KHÔNG DÁM GỌI THẲNG "TRUNG CỘNG" LÀ E DÈ CÁI GÌ CHĂNG ??? VÔ TÌNH HAY CỐ Ý TRÁNH NÉ CHỮ TRUNG CỘNG!!!./-TCL

Thơ MÔNG LUNG 
Nguyễn Công Lượng

Thơ Mông Lung là một hiện tượng mới lạ trên thi đàn đương đại Trung Quốc. Hiện tượng này chưa được phổ biến sâu rộng. Bởi vì nói đến thơ Trung Quốc người ta chỉ nói đến thơ Đường, thêm vào thì người ta nói đến thơ Tống, còn thơ của các đời Nguyên, Minh, Thanh về sau chỉ bước theo lối xưa của thơ Đường, Tống mà thôi.

Tháng 3 năm 1979 trên tạp chí “Thi San” xuất bản ở Bắc Kinh, thơ Mông Lung mới được biết đến như là một trường phái thơ thực sự. Mặc dù trước năm 1979 những bài “thơ Mông Lung” đã xuất hiện nhưng phải đến thập niên 80 thơ Mông Lung mới có mặt trên khắp các tạp chí ở Trung Quốc như Tinh Tinh, Văn Học Thượng Hải, Nhân Dân Văn Học, Văn Hối Nguyệt San, Văn Học Phúc Kiến, Văn Học Tứ Xuyên, Mãng Chủng, Manh Nha, Thanh Xuân…

Thơ Mông Lung là gì ? Cứ theo tên gọi của nó thì “mông lung” là lúc ánh trăng sắp lặn, lúc mặt trời chưa mọc, trời còn tối. Rộng và lờ mờ, không rõ nét, gây cảm giác hư ảo, tràn lan không trung. Nên thơ Mông Lung là loại thơ chẳng có niêm luật, ý thơ thì không rõ ràng, nó thường dùng thể thơ tự do, có vần hoặc không có vần. Vấn đề mà nó đề cập, sự vật mà nó miêu tả rất là mơ hồ, như bị một màn sương mỏng che phủ nhưng vẫn làm cho người đọc cảm thấy sản khoái vì cái lung linh trước mắt. Lẽ dĩ nhiên mỗi người đọc sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng nó bắt buộc người đọc phải có một trình độ thưởng thức nhất định mới hiểu nổi và một khả năng cảm thụ để nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính tinh vi. Thơ mông Lung đi từ tả thực sang tả ý, chú trọng đến sự chân thực của chủ thể mà không nhằm phản ảnh chân thực khách quan cũng không mô phỏng trung thực hiện thực khách quan.

Nếu nói rằng đời Đường (618-907) là thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc với một Bộ Toàn Đường Thi đồ sộ, ấn hành năm 1707, gồm 900 quyển, chứa đựng 48.900 bài thơ của 2.200 thi nhân đời Đường. Có thể nói là một thời đại thi ca vô tiền khoáng hậu. Nhưng nguyên nhân nào đã tạo nên sự hưng thịnh của Đường thi, tuy là một vấn đề khó lý giải nhưng qua một số sự kiện người ta có thể xem đó là những nhân tố góp phần. Trải qua gần 300 năm của một triều đại với biết bao biến cố đổi thay về nhiều phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo giáo … thì lẽ đương nhiên thi ca cũng phải chịu ảnh hưởng. Thời Sơ Đường (618-713) Trung Quốc sống trong cảnh thái bình, an lạc; vì vậy thơ của thời kỳ nầy có văn từ hoa lệ ca ngợi cảnh đất nước thanh bình, tán dương thịnh đức của triều đại, mà người đời thường gọi là Ý Mỹ Phái. Trong thời kỳ nầy cũng xuất hiện những nhà thơ chủ trương chú trọng đến ý hơn văn từ, khôi phục phong cách các đời Hán Ngụy, chống lại quan niệm của Ỷ Mỹ Phái, nên được gọi là Phản Động Phái. Qua đời Thịnh Đường (713-766), cuộc khởi nghĩa của An Lộc Sơn (755) phân chia thời nầy làm hai giai đoạn: Thái bình và Tao loạn. Trước loạn An Lộc Sơn là thời của thơ chứa đầy tình, nhạc và rượu; sau cuộc loạn nầy thi ca phản ảnh một xã hội điêu tàn thống khổ vì chiến chinh. Nên thơ thời Thịnh Đường đã chia làm ba phái: Biên Tái, Điền Viên, và Xã Hội. Có thể nói tiêu biểu cho giai đoạn nầy là Lý Bạch và Đỗ Phủ. Lý thì mặc cho cảm hứng phát xuất tự nhiên, nói lên niềm khao khát siêu thoát nên thơ đầy tình cảm lãng mạn; còn Đỗ thì dụng công điêu luyện, nặng tính chất hiện thực, vẽ đầy đủ thảm trạng xã hội khiến cho độc giả ngậm ngùi ngao ngán. Đến thời Trung Đường (766-835), có thêm một phái mới gọi là Quái Đản Phái, ưa chuộng sự kỳ dị hiểm tích trong việc đặt câu, dùng chữ, gieo vần. Tiêu biểu có thể kể là Hàn Dũ. Rồi tới Vãn Đường (836-907), với tình trạng chính trị, kinh tế suy đồi làm sụp đổ một triều đại với loạn Vương Tiên Chi (874) rồi Hoàng Sào trong hơn mười năm. Tái diễn lại cảnh rối ren hỗn loạn cuối đời Tùy, thi ca trở lại con đường duy mỹ lúc sơ Đường với phái Chi Chấn tràn ngập phong khí hoa diễm lãng mạn. Nhà thơ thần tiên Tào Đường với những bài “Thiên Thai” đã đem lại cho thi ca thời nầy một sắc thái mới.

Đến thời Nhà Tống thì thơ Tống lại vượt gấp bội thơ Đường về số lượng, có sắc thái riêng. Ngoài nỗi ưu tư, sầu muộn trước cảnh ly loạn của đất nước, sự thống khổ của nhân dân do nạn ngoại xâm của Tây Hạ, Kim, Nguyên gây ra đưa đến họa vong quốc. Thơ Tống có thêm niềm phấn kích, tình bi lụy với nỗi sỉ nhục vì nạn quốc phá, gia vong do ngoại tộc thống trị. Nhà Tống cũng trị vì trên 300 năm (960-1279), thời Bắc Tống (960-1126) có các phái Cửu Tăng, Tây Côn, Giang Tây. Phái Cửu Tăng được người đương thời khen là trong sáng và điêu luyện, nhưng ngày nay phê bình là qúa trau chuốt, thiếu cảm hứng tự nhiên nên đọc thấy nhạt nhẽo. Phái Tây Côn thì phong thái phù hoa dùng nhiều điển cố, chữ hiểm hóc nên rất khó hiểu. Nhưng phong trào “Kiểu Chính Tây Côn”, chú trọng khí thế, thì được người đương thời khen thơ Mai Nghiêu Thần là thanh viễn, Tô Thuấn Khâm là hào tuấn, còn Âu Dương Tu thì có nhiều ý vị. Hậu sinh của ba nhà thơ trên thì thi tài của Vương An Thạch và Tô Đông Pha vượt xa các bậc tiền bối. Trên thi đàn Vương An Thạch có địa vị rất cao. Ông sở trường về cổ thể lẫn cận thể. Thơ ông có ba đặc điểm là: bút lực mạnh, nghị luận sâu sắc, và tình điệu nhàn nhã. Tô Đông Pha một nghệ sĩ đa tài, một đại thi hào của đời Tống, đã đem vào thơ cái bút pháp “hành vân, lưu thủy”. Rồi đến phái Giang Tây với chủ trương làm thơ phải chú trọng đến kỹ thuật và phương pháp; phải suy diễn về ý cảnh, phải kỳ lạ về cú pháp và phải cứng mạnh về cách điệu. Ảnh hưởng của phái Giang Tây rất sâu rộng trong giới sĩ phu và văn nhân đương thời.

Thời Nam Tống (1126-1279) Triều đình dời xuống miền nam đóng đô ở Hàn Châu sau biến cố Tĩnh Khang năm 1126. Thi đàn cũng biến chuyển. Thi nhân từ bỏ lối sáng tác theo phái Giang Tây, trở về với phong cách bình dị, tự nhiên, tác phẩm đều đượm màu sắc thời thế. Tiêu biểu có thể kể danh tướng Nhạc Phi với những bài thơ hào hùng, khẳng khái; đại thi nhân Lục Du được xưng tụng là “người làm thơ yêu nước nhất xưa nay” với hơn 14.000 bài thơ, phong cách rất nhiều vẻ, khi thì bình đạm, khi thì hào hùng, lúc thì sảng khoái. Có phái Tứ Linh còn gọi là Vĩnh Gia Phái thì chú trọng gọt dũa, trau chuốt nhưng thơ không nhiều nên gọi là “tiểu gia”. Rồi phái Giang Hồ, về phong cách chỉ là sự hợp lưu của phái Giang Tây và phái Tư Linh, thịnh hành một thời nhưng không có thành tựu đáng kể. Thời nầy phải nhắc đến Chu Hy với chủ trương “không cầu cao xa mà tự nhiên cao xa” qua những bài thơ thuyết lý. Và Văn Thiên Tường với bài “Chính Khí Ca”, một tuyệt tác bất hủ, làm nguồn cảm hứng cho bao nhà ái quốc, cần vương trong nhiều thế hệ sau.

Dài dòng về sự chuyển biến của thi ca qua những đổi thay và theo hoàn cảnh của thời đại, để thấy thi ca là hình thái ý thức của một dân tộc, và trong lãnh vực văn học nghệ thuật thi ca tiên phong trong việc phản ảnh mọi sinh hoạt của cuộc sống.

Sau khi chế độ độc tài đảng trị của Cộng Sản áp đặt trên toàn cõi Trung Quốc với bao sự kiện xẩy ra như: Cải Cách Ruộng Đất, Cách Mạng Văn Hóa, Thanh Trừng, Thiên An Môn, Pháp Luân Công… mỗi lần như vậy con số người chết lên đến hằng triệu người. Nếu như vậy thì thi ca Trung Quốc không có chuyển biến, không có biểu hiện nào thì đó mới là chuyện lạ. Với sự cai trị khắc nghiệt nhất trong lịch sử Trung Quốc như vậy dù cho dân tộc Trung Hoa có bừng tỉnh sau những cơn ác mộng đó, và dù đứng trước một thế giới đang tiến như vũ bão thì sự đòi hỏi phải cải cách xã hội, cải cách chính trị … là lẽ dương nhiên, nhưng nhất định không thể theo những mô thức đấu tranh cũ kỹ.

Buổi ban đầu là những dòng thơ Thiên An Môn rực lửa nhưng không hiệu quả trong cuộc đấu tranh. Thơ Mông Lung xuất hiện sau nhưng trở thành một trào lưu rộng khắp. Các nhà “Thơ Mông Lung” từng chứng kiến những cảnh đàn áp dã man tàn bạo trong những sự kiện trên, cảm nhận được một cách sâu sắc sự hận thù và xa cách giữa con người và con người, nên cách biểu hiện của họ là làm sao để nhà cầm quyền không đủ chứng cớ để hài tội nhưng vang lên tính nhân bản trong tinh thần nhân đạo chủ nghĩa. Bài thơ “Sau Cơn Bão Táp” của Thư Đình là một ví dụ tiêu biểu :
Ai nói sinh mệnh là một phiến lá. 
Lá tàn rồi, rừng cây vẫn rậm rạp tốt tươi ? 
Ai nói sinh mệnh là bọt trắng.
Bọt tan rồi, đại dương vẫn chuyển động không thôi ?
Ai nói anh hùng đã được truy tặng.
Chết chóc kia có thể lãng quên không ?
Ai nói nhân loại tương lai sẽ hiện đại hóa.
Phải lấy sinh mệnh để làm vật tế thần đầm đìa máu đổ ? 
Trong thời Cách Mạng Văn Hóa không cho phép biểu hiện “cái tôi” của nhà thơ, chỉ nhấn mạnh phản ánh khách thể là chính, thì thơ Mông Lung lại nặng nề về cảm giác riêng, cảm giác tâm linh của bản ngã. Một đặc trưng của thơ Mông Lung.
Bài thơ “Cảm Giác” của Cố Thành : 
Trời màu xám
Đường màu xám
Cây màu xám
Trong không gian xám xịt
Có hai đứa trẻ đi qua
Một đỏ tươi
Một xanh nhạt
Đây là một bài thơ tả cảnh mưa, nhưng lại thể hiện một ảo giác trong cơn mưa. Mưa có thể làm cho mỗi người có những cái nhìn khác nhau, nhưng ở tác giả thì nhìn thấy trời đất vạn vật nhuộm một màu xám xịt, đã làm cho tâm tình của tác giả buồn bã hoặc vì tâm tình của tác giả buồn bã nên nhìn thấy mọi vật toàn là màu xám xịt.

Cái cảm giác đó bị phá vỡ khi hai đứa trẻ xuất hiện với những màu sắc đối chọi làm bức tranh trở nên sinh động.

Một bài thơ khác của Cố Thành “Một Lớp Người” chỉ có hai câu :
Đêm đen cho ta đôi mắt đen
Ta lại dùng nó để tìm ánh sáng
Chủ đề súc tích nhiều ý nghĩa cũng là một đặc trưng của thơ Mông Lung. Tất cả mang những hình tượng ẩn dụ tượng trưng cho một giai đoạn đen tối của lịch sử Trung Quốc dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản. Những nhà thơ như Thư Đình, Cố Thành,Trương Học Mộng, Bắc Đảo, Dương Luyện, Giang Hà, Xa Tiền Tử, Lương Tiểu Bân . . . đều trưởng thành trong “Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc”, chịu ảnh hưởng sâu đậm của Tư Tưởng Xã Hội trong những thập niên 70, 80 . Họ hoang mang, dao động, bi phẫn, oán hờn nhưng không thối chí, xuôi tay, vẫn yêu cuộc sống và ý thức trách nhiệm đối với xã hội và dân tộc. Họ đã trở thành những nhà thơ tiêu biểu của phái Mông Lung.

Vì thơ Mông Lung hoàn toàn khác với thi ca truyền thống của Trung Quốc, nên để được xã hội chấp nhận nó phải trải qua nhiều tranh luận đầy sóng gió. Từ năm 1980, trên thi đàn Trung Quốc người ta bắt đầu tranh luận về thơ Mông Lung.

Những người bênh vực như: Tôn Thiệu Chấn với bài “Hãy Cho Nhà Cách Tân Nghệ Thuật Không Khí Tự Do Hơn Nữa” (Thi San, tháng 9/1980) cho rằng sự xuất hiện của thơ Mông Lung là “Sự Trỗi Dậy Mới” trên lịch sử thơ mới, là “một sự phản kháng và thách thức của thi ca đối với những mô thức cứng nhắc minh họa khái niệm chính trị, là một loại phát triển của thi hứng mỹ học, là hy vọng của thi đàn tương lai”. Tạ Miên với bài “Sau Khi Mất Thăng Bằng” (Thi San, tháng 12/1980) cho rằng Thơ Mông Lung là một “sản phẩm hợp lý của một thời đại bất hợp lý”.

Một số người không chấp nhận như Đinh Lực, Hoàng Dược Miên, Phương Băng, Chương Minh, Tang Khắc Gia… thì cho rằng: Thơ Mông Lung xa rời truyền thống, thoát ly hiện thực, cổ súy cho phong trào thơ nầy là “làm hại cho con cháu” sẽ làm cho các tác giả trẻ nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm sẽ đi vào ngõ cụt. Phương Băng qua bài "Cách nhìn Của Tôi Đối Với Thơ Mông Lung” (Quang Minh Nhật Báo, 23/01/1981) cho rằng: “Thơ Mông Lung là sản phẩm tinh thần của lớp thanh niên chưa chín chắn, họ bị 10 năm tao loạn dày vò, không thấy được tiền đồ. Thơ Mông Lung không chỉ là mông lung về mặt hình thức, mà đầu tiên là mông lung về tư tưởng nhận thức”.

Một số khác khoan dung hơn với thơ Mông Lung như Ngãi Thanh, Lý Nguyên Lạc với bài “Bắt Đầu Từ Mông Lung Nói Đi” và “Ngãi Thanh Bàn Về Thơ” (nhà xuất bản Hoa Thành 1982) cho rằng thơ Mông Lung có thể tồn tại, nhưng không nên đề cao quá.

Thực chất của cuộc tranh luận nầy là qua trao đổi về Thơ Mông Lung để nêu ra nhận thức mới về thẩm mỹ và về sáng tác trong thời kỳ mới. Điểm chính là nhấn mạnh vấn đề “Cái Ta”,     “ không phải là trực tiếp ca ngợi cuộc sống mà đi tìm cái bí mật của cuộc sống đã ẩn tàng trong tâm linh”. Cuộc tranh luận do đó không dừng lại ở thơ Mông Lung mà đề cập đến những vấn đề khác trong văn nghệ.

Nhưng cuối cùng Hội Nhà Văn Trung Quốc cũng phải tặng thưởng cho hai tập “Thơ Mông Lung” vào năm 1982; một là tập “Con Thuyền Hai Cột Buồm” của nữ thi sĩ Thư Đình, hai là tập “Nốt Nhạc Màu Xanh” của Phó Thiên Lâm. Từ đó thơ Mông Lung có chỗ đứng đàng hoàng trên Thi Đàn Trung Quốc.

Một câu hỏi được đặt ra là “Thơ Mông Lung” có phải là phương hướng phát triển của thơ ca trong tương lai không ?  Chắc chắn là không. Vì chủ nghĩa Cộng Sản cũng đã coi như cáo chung, ánh sáng của tự do dân chủ một khi rọi vào thì việc gì phải nói “mông lung” nữa. Trên thi đàn Trung Quốc giờ đây đang xuất hiện một trào lưu mới gọi là “Tân Sinh Đại” (Thời Đại Sinh Sau). Thơ Mông Lung không còn là đỉnh cao của thi ca đương đại nữa, nhưng những thành tựu về sáng tác và sự thúc đẩy đổi mới của nó không thể phủ nhận được. Những thi nhân tiền phong của nó phải có một vị trí xứng đáng trong lịch sử thi ca Trung Quốc.

•    Nguyễn Công Lượng

KHÚC THƠ SẦU

(THƯƠNG CHA NHỚ MẸ)

Ngày con rời đất nước

Mẹ đứng tựa bên song
Mắt già hoen lệ ứa
Lòng con buồn xót xa

Cha già lòng chẳng núng

Tiễn con tận đầu ngõ
Nhớ hoài lời cha dặn
“Con ơi giữ chí trai…”

Hành trang con mang theo

Nỗi buồn hờn vong quốc
Nỗi sầu hận ly hương
Tranh đấu trong đau thương

Ca nhi nào có biết

Quốc hận là cái chi
Quốc sĩ vẫn bất tri
Hậu Đình Hoa thưởng thức !

Đất khách vui buồn đủ

Bút pháp phải trăm rèn
Áo cơm từ nước mắt
Sá gì phận nam nhi

Xuân đến rồi xuân đi

Bao năm con chẳng về
Lệ lòng lại cứ tuôn
Quốc thù: làm sao trả !

Luật trời ai cải được

Cha về cõi vĩnh hằng
Mẹ thân già sức yếu
Con bất hiếu miền xa

Con luôn luôn nhớ mẹ

Và mãi mãi thương cha
Chỉ vì quân xâm lược
Nên đành phải cách xa

Công cha cao bằng trời
Tình mẹ rộng hơn biển
Trời biển thật bao la
Làm sao con báo đáp ?!

Hôm nay ngày Hiền Mẫu

Con làm khúc thơ sầu
Cha linh thiêng chứng giám
Xin mẹ hiền thứ tha !

Nguyễn Công Lượng

( LittleSaigon, Ngày Hiền Mẫu 10.05.2015)

6:58 AM (2 hours ago)


to me, dankimng99, tiengthongreov., saunguyen66, thieutran3003, tranbachthu, thuvufamily, tranvietlong, Ngo, huong, vangduong4025, Nam, ruougiangho2, Vang, duychinh, hung2201, landam640, levanbinh4303, Le, qghc_global, lanatk39, hoaibao1942

No comments :

Post a Comment

Note: only a member of this blog may post a comment.